Hiện nay, trước sức ép của tốc độ gia tăng dân số ngày càng nhanh, nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng cao trong bối cảnh các nguồn tài nguyên đất liền ngày càng cạn kiệt càng đẩy mạnh [r]
Trang 1BÀI THAM DỰ CUỘC THI
“Viết về môi trường”
Họ và tên : LÊ ANH TUẤN Cấp bậc : Đại úy
Chức vụ : Trợ lý Tham mưu Đơn vị : Trung đoàn 125
Bộ CHQS tỉnh Hải Dương
Chủ đề: TÀI NGUYÊN BIỂN, ĐẢO
VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
Bản đồ hành chính Việt NamPHẦN 1 BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
Trang 2Việt Nam có diện tích hơn 330.000 km² bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.200 km² biển nội thuỷ, với hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ,
có vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa xác định gần gấp ba lần diện tích đất liền khoảng trên 1 triệu km²
28 trong số 63 tỉnh,thành phố nước ta nằm ven biển, diện tích các huyện ven biển chiếm 17% tổng diện tích cả nước và là nơi sinh sống của hơn 1/5 dân số cả nước
I BIỂN ĐÔNG.
1 Vị trí, giới hạn của Biển Đông :
Biển Đông là một biển lớn đứng thứ ba trong các biển của thế giới, với diện tích
3447 nghìn km2, chiều dài 1.900 hải lí (từ vĩ độ 30 N đến vĩ độ 260 B) chiều ngang nơirộng nhất là 600 hải lí ( từ kinh độ 1000 Đ đến kinh độ 1210 Đ) Có 9 quốc gia và vùnglãnh thổ nằm ven bờ biển Đông: Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Malaixia, Brunây,Inđônêxia, Thái Lan, Campuchia, lãnh thổ Đài Loan
Biển Đông là một biển nửa kín vì các đường thông ra đại dương đều có các đảo
và quần đảo bao bọc Từ biển Đông muốn ra đại dương hay các biển xung quanh phải điqua các eo biển: eo biển Đài Loan, Basi, Balabac, Carimanta, Malắcca
Biển Đông có 2 vịnh: Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan
Bản đồ Biển Đông của Việt Nam
2 Vị trí chiến lược và tiềm năng kinh tế của biển Đông:
a) Tầm quan trọng về chiến lược:
Trang 3Biển Đông có tuyến đường giao thông huyết mạch nối các nền kinh tế trên bờThái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương Nhiều nước châu Á như: Nhật Bản,Hàn Quốc, Xingapo, Trung Quốc…có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào giao thôngtrên biển Đông Lượng hàng hoá xuất khẩu của các nước ASEAN là qua biển Đông Hơn90% lượng vận tải thương mại của thế giới, trong đó 45% qua biển Đông.
b) Tiềm năng kinh tế của biển Đông:
Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng chođời sống và sự phát triển kinh tế cho các nước xung quanh, đặc biệt là tài nguyên sinhvật, khoáng sản, du lịch… Là nguồn đánh bắt, nuôi trồng hải sản quan trọng của thế giới.Biển Đông được coi là 1 trong 5 bồn trũng chứa nhiều dầu khí lớn nhất thế giới
+ Theo Hoa Kì: lượng dự trữ dầu được kiểm chứng ở biển Đông là 7 tỉ thùng vớikhả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày
+ Theo Trung Quốc: lượng dự trữ dầu ở biển Đông khoảng 213 tỉ thùng trong đótrữ lượng dầu ở quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỉ thùng
II VÙNG BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
Các vùng biển theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982
1 Các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam:
Vùng biển của các quốc gia ven biển được quy định bởi công ước của liên hợpQuốc về luật biển được các nước kí kết vào năm 1982 (gọi là công ước 1982) phê chuẩnvào ngày 16-11-1994 và từ đó bắt đầu có hiệu lực pháp luật quốc tế
Việt Nam là một quốc gia ven biển sẽ có 5 vùng biển là: nội thuỷ, lãnh hải, vùngtiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
a) Nội thuỷ: Là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở giáp với bờ biển.
Theo công bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đường cơ
sở của Việt Nam là đường gãy khúc nối liền 11 điểm, từ điểm A1 (hòn Nhạn, quần đảoThổ Chu, tỉnh Kiên Giang) đến điểm A11(đảo Cồn Cỏ tỉnh Quảng Trị)
Trang 4Vùng nội thuỷ được xem như bộ phận lãnh thổ trên đất liền có chủ quyền toànvẹn và tuyệt đối tàu thuyền nước ngoài muốn vào ra phải xin phép
b) Lãnh hải: Nằm phía ngoài nội thuỷ được coi là đường biên giới quốc gia ven
biển Công ước quốc tế về luật biển 1982 quy định chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lýtính từ đường cơ sở
Vùng này các quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn , đầy đủ và tuyệt đối.Tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trên lãnh hải và không tiến hành bất kì hoạtđộng nào
Đối các nước ven biển cũng không được ngăn cản hay phân biệt đối xử, khônggây hại trong việc đi qua của tàu thuyền bất cứ nước nào
c)Vùng tiếp giáp lãnh hải: Là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh
hải Theo công ước quốc tế vùng tiếp giáp lãnh hải không thể mở rộng quá 24 hải lý,nghĩa là chiều rộng của vùng tiếp giáp lãnh hải có chiều rộng không vượt quá 12 hải lý
Chính phủ nước CHXH Việt Nam tuyên bố chiều rộng của vùng tiếp giáp lãnhhải Việt Nam là 12 hải lí, hợp với lãnh hải, tổng cộng lãnh hải của Việt Nam là 24 hải lýphù hợp với công ước quốc tế về luật biển 1982 Vùng này các quốc gia ven biển cóquyền tiến hành các hoạt động kiểm soát nhằm ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật
vi phạm về hải quan, thuế khoá, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hoặc lãnh hải của mình
d) Vùng đặc quyền kinh tế: Theo Công ước quốc tế 1982 về Luật biển cũng quy
định chiều rộng của vùng này cũng không vượt quá 200 hải lí tính từ đường cơ sở
Các quốc gia ven biển có quyền thăm dò khai thác bảo tồn và quản lý các tàinguyên thiên nhiên Đối với các quốc gia khác được hưởng quyền tự do hàng hải , hàngkhông, được tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm Khi đặt phải thông báo và thoả thuậnvới các quốc gia ven biển
e) Thềm lục địa: Là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh
hải của các quốc gia ven biển
Theo Luật biển năm 1982 phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền cho đến bờngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải là 200hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa có khoảng cách gần hơn Trong trường hợp bờ ngoàicủa rìa lục địa kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở thìcác quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa với khoảng cáchkhông vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2500m mộtkhoảng cách không vượt quá 100 hải lý
Như vậy chiếu vào Luật biển 1982 chính phủ nước CHXHCN Việt Nam tuyên bố: thềm lục địa của Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thược phần kéodài tự nhiên của lục địa mở rộng ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lụcđịa , nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnhhải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từđường cơ sở
Trang 5+ Khi các quốc gia ven biển khai thác ngoài thềm lục địa phải có khoản đóng góptheo quy định của công ước
+ Các quốc gia ven biển khi thực hiện quyền của thềm lục địa không được đụngchạm chế độ pháp lí của vùng nước phía trên hay vùng trời trên vùng nước này
+ Các quốc gia ven biển có quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lụcđịa vào bất kì mục đích gì
2 Đảo và quần đảo trong vùng biển Việt Nam:
Cột mốc chủ quyền của Việt Nam trên Đảo Trường Sa - Việt Nam
Theo công ước về luật biển năm 1982 thì đảo là vùng đất tự nhiên có nước baobọc khi thuỷ triều lên xuống vùng đất này vẫn ở trên mặt nước Quần đảo là một tổng thểcác đảo, kể cả các bộ phận của đảo
Có những đảo và quần đảo nằm gần bờ hoặc xa bờ thuộc vùng biển của các quốcgia ven biển theo luật biển 1982
Về mặt pháp lí các đảo các đảo và quần đảo thuộc chủ quyền như một quốc giagiống như đất liền Tuy nhiên những đảo tồn dưới dạng tảng đất, đá hoang không cóngười ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng thỉ chỉ có lãnh hải mà không có vùng đặcquyền kinh tế và thềm lục địa
Vùng biển nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn, nhỏ Các đảo này nằm rải rác mộtmình như đảo Bạch Long Vĩ, đảo Lý Sơn hoặc các đảo họp thành nhóm như quần đảoHoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Thổ Chu…
Trang 6Trụ sở hành chính của Việt Nam trên Đảo Hoàng Sa trước năm 1945
Cột mốc chủ quyền của chính quyền Việt Nam Cộng hoà
trên Quần đảo Hoàng Sa - Việt Nam
Bản đồ Quần đảo Trường Sa - Việt NamPHẦN 2 TÀI NGUYÊN VÀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN
Trang 7BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
Rừng ngập mặn Nam Trung bộ Việt Nam
Trước 1945 rừng ngập mặn chiếm khoảng 400.000 ha chủ yếu phân bố Nam Bộ(Cà Mau trên 150.000 ha) Trải qua hai cuộc chiến tranh, khai thác quá mức, chuyểnsang nuôi thuỷ sản, hoạt động du lịch làm diện tích rừng ngập mặn bị giảm sút nhanh
Trang 8trong cả nước Theo thống kê, năm 1982 diện tích rừng ngập mặn là 252.000 ha, năm
Trang 9Khai thác rong ở biển Quảng Ngãi
Trang 102.500 loài thân mềm, cho khai thác 45.000-50.000 tấn rong biển Doanh số xuất khẩuthủy sản tăng liên tục qua các năm với mức tăng khoảng 15-20% năm.
Bên cạnh những loài cá biển, tôm, cua, mực, ốc, trai, sò, hàu, vẹm Biển Đông còn
có rùa biển, đồi mồi, vích, san hô… có giá trị kinh tế cao
Cá ngừ đại dương
Cá mú đỏ
Trang 11Cua biển Cà Mau
Cá mực
Tôm hùm
Trang 13Một số loài san hô
Trang 14Một số động vật rừng ngập mặn III TIỀM NĂNG KHOÁNG SẢN
1 Tài nguyên dầu khí:
Trang 15Tài nguyên dầu khí của nước ta phong phú với trữ lượng khoảng vài tỉ tấn dầu vàhàng trăm tỉ m3 khí Hầu hết nằm trên thềm lục địa với độ sâu không lớn phân bố chủ yếu: bể Sông Hồng, bể Phú Khánh, bể Cửu Long, bể Nam Côn Sơn, bể Thổ Chu - Mã Lai, bểVũng Mây, bể Hoàng Sa và Trường Sa
Giàn khoan mỏ Bạch Hổ
Giàn khoan mỏ Đại Hùng
2 Tài nguyên muối:
Cả nước có khoảng 11.454 ha với sản lượng 630.000tấn/năm, đến năm 2009 tăng
lên 14.404 ha với sản lượng 1triệu tấn
Trang 16Cánh đồng muối ở Sa Huỳnh (Quãng Ngãi)
3 Các loại khoáng sản khác: Titan, đất hiếm, Phốt-pho-rít, cát thuỷ tinh
Khai thác cát thủy tinh ở Cam Ranh (Khánh Hòa)
IV GIAO THÔNG VẬN TẢI BIỂN
Với một vùng biển rộng hơn 1 triệu km2 mặt nước, đường bờ biển dài 3.260km
có rất nhiều cảng biển Trong đó có 3 cảng lớn: cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn
Vận chuyển và luân chuyển khối lượng hàng hoá của ngành vận tải nước ta năm
2010 là:
+ Vận chuyển : 64.717,4 nghìn tấn
Trang 18Vịnh Hạ Long - Quảng Ninh
Vịnh Lăng Cô - Thừa Thiên Huế
Trang 19Bán đảo Sơn Trà - Đà Nẵng
Thành phố biển Nha Trang
Thành phố biển Vũng TàuPHẦN 3 BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
Trang 20I THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG BIỂN
Trong những năm gần đây một số vùng biển nước ta xảy ra tình trạng ô nhiễm vàsuy thoái môi trường biển gây trở ngại và thiệt hại cho một số vùng kinh tế, ảnh hưởngđến đời sống của nhân dân như: sản lượng cá đánh bắt gần bờ giảm, nhiều loài thuỷ hảisản nuôi trồng chết hàng loạt, bãi biển vắng khách du lịch
1 Nguyên nhân do tự nhiên:
Hiện tượng biển tiến, biển lùi
Bão biển, nước dâng
Bão trên Biển Đông
Tràn dầu tự nhiên
Vết dầu loang trên biển
Sóng thần:
Trang 21Sóng thần đẩy chiếc tàu lên nóc nhà ở Nhật Bản
2 Nguyên nhân do con người:
Các chất thải sinh hoạt từ trên bờ đổ thẳng ra biển
Rác do con người thải trên bãi biển
Các chất thải từ tàu thuyền, công trình xây dựng qua hệ thống sông ngòi đổ rabiển cũng là nguồn gây ô nhiễm trực tiếp cho môi trường biển
Trang 22Khai thác cát làm ô nhiễm môi trường biển
Sự ô nhiễm không khí
Khí thải từ các nhà máy công nghiệp
Sự tàn phá rừng ngập mặn ven biển
Trang 23Rừng ngập mặn bị tàn phá
Sự tàn phá các rạn san hô
San hô khai thác trái phép bị thu giữ
II BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Trang 24Công tác bảo vệ môi trường biển trong những năm qua đã được Ðảng và Nhànước ta quan tâm, thông qua việc ban hành các chủ trương, chính sách, văn bản quyphạm pháp luật từ cấp Trung ương đến địa phương Lần đầu, Luật Bảo vệ môi trườngnăm 2005 đã dành một mục gồm bốn điều quy định về bảo vệ môi trường biển (các điều
từ 55 đến 58) Cụ thể hóa các quy định của Luật Bảo vệ môi trường, ngày 6-3-2009,Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2009/NÐ-CP về quản lý tổng hợp tài nguyên vàbảo vệ môi trường biển, hải đảo
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải phát biểu chỉ đạo trong Hội nghị tổng kết giai đoạn 2006 - 2011 và triển khai giai đoạn 2012 - 2020 của Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển.
Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Ðảng, chính quyền, đoàn thể và cộng đồngdân cư về biển, đảo thông qua các hình thức thông tin truyền thông, giáo dục, tập huấn;lập chính sách, công bố các vùng biển có tính đa dạng sinh học cao, xúc tiến việc thànhlập các khu bảo tồn biển, tiến hành đều đặn giám sát đa dạng sinh học, chất lượng môitrường và tình hình khai thác nguồn lợi thủy sản nhằm có những giải pháp kịp thời ngănchặn suy thoái đa dạng sinh học biển; thử nghiệm và mở rộng hoạt động phục hồi cácquần thể sinh vật quý hiếm hoặc đang bị đe dọa, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái vàtuân thủ các tiêu chí của Công ước đa dạng sinh học "bảo tồn, sử dụng hợp lý và chia sẻcông bằng"
Trang 25Hiện nay, trước sức ép của tốc độ gia tăng dân số ngày càng nhanh, nhu cầu pháttriển kinh tế ngày càng cao trong bối cảnh các nguồn tài nguyên đất liền ngày càng cạnkiệt càng đẩy mạnh khuynh hướng tiến ra biển, khai thác biển, làm giàu từ biển, nhưngthường đi kèm với đó lại là các phương thức khai thác thiếu tính bền vững; các họat độngkhai thác chủ yếu chỉ tập trung vào các mục tiêu phát triển kinh tế để đạt được các mongmuốn tối đa, trong khi xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường, hoặc không có hoặc thiếunhững qui hoạch, kế hoạch chi tiết, cụ thể, cùng với cơ chế quản lý lỏng lẻo của nhiềuquốc gia trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu với các biểuhiện chính là sự gia tăng mực nước biển và nhiệt độ của trái đất, Vấn đề khai thác tàinguyên và bảo vệ môi trường biển ở nhiều khu vực, quốc gia ngày càng đứng trước nhiềuthách thức, nhiều nguồn tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, môi trường biển nhiều nơi bị ônhiễm đến mức báo động.
Bảo vệ rạn san hô trên biển
Bên cạnh thực trạng nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản biển, tài nguyên dầu khí
và những nguồn tài nguyên biển không tái tạo khác đang bị khai thác quá mức, thiếu tínhbền vững, nạn phá hủy rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn cũng ngày một tăng ởnhiều nơi trên thế giới Các rạn san hô thường là môi trường sống của khoàng 1/4 các loài
cá, đồng thời còn là nơi cư trú của các loài sinh vật biển khác Sự mất dần của các rạn san
hô và sẽ khiến lượng cá bị suy giảm nghiêm trọng, thậm chí còn dẫn đến sự tuyệt chủngcủa một số sinh vật biển do chúng không còn nơi để cư trú và sinh sản Điều này khôngchỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà còn gây phát sinh nhiều vấn đề kinh tế -
xã hội do sự thiếu hụt thực phẩm cung cấp cho những cư dân sống ở các đảo và các vùngven biển, kéo theo những cuộc di dân hàng loạt từ các vùng ven biển vào các vùng trungtâm…
Cùng với sự suy giảm, cạn kiệt nhiều nguồn lợi biển do khai thác, sử dụng khônghợp lý và thiếu tính bền vững, môi trường biển ở nhiều khu vực trên trái đất đang chịunhiều thách thức và các mối đe dọa trầm trọng khi dân cư ven biển ngày càng tăng, cáchọat động kinh tế ven biển ngày càng phát triển, nhiều cửa sông ven biển bị ô nhiễm do
Trang 26nước thải từ các khu công nghiệp, khu đô thị thải ra cùng với nạn phá hủy rừng ngập mặnngày càng tăng, và sự gia tăng về tần suất và mức độ ảnh hưởng của thiên tai bão lũ dobiến đổi khí hậu…
Do đó, việc bảo vệ môi trường biển, đảo của nước ta ngày càng cấp bách và cầnthiết Để thực hiện được chúng ta phải tập trung làm tốt một số công việc quan trọngtrước mắt đó là:
+ Hạn chế việc xả các chất thải trực tiếp ra biển và xuống biển, các khu đô thị,
các điểm quần cư ở vùng hạ lưu của sông, ven biển
+ Cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống xử lí rác và nước thải các cơ sở nuôitrồng, chế biến thuỷ sản, các hoạt động du lịch, các phương tiện vận tải, công trình xâydựng, thăm dò và khai thác dầu khí trên biển
+ Tăng cường và thường xuyên tiến hành việc dọn dẹp vệ sinh, làm sạch môitrường Không để ô nhiễm tới nước biển, bờ biển và trên biển
1 Bảo vệ môi trường bờ biển, bãi biển:
Tích cực trồng rừng ngập mặn