Song bất bình đẳng về giới vẫn còn phổ biến ở nhiều lĩnh vực, quyền quyết định những việc quan trọng trong gia đình cũng như tiếng nói và cơ hội tiếp cận các nguồn lực trong cộng đồng củ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS TRẦN THỊ KIM XUYẾN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2009
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong qúa trình học tập và nghiên cứu theo chương trình đào tạo Cao học Xã hội học tại Khoa Xã hội học, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn TPHCM, tôi đã học hỏi được rất nhiều kiến thức do qúy Thầy Cô truyền đạt Xin chân thành cám ơn qúy Thầy Cô đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho chúng tôi
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm Khoa Xã hội học, phòng Sau đại học, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn TPHCM và qúy Thầy Cô trong khoa đã tạo điều kiện về mặt thời gian cho tôi trong suốt qúa trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời tri ân đến giáo viên hướng dẫn PGS TS Trần Thị Kim Xuyến, đã hướng dẫn tôi trong thời gian tôi học tập
và thực hiện luận văn tốt nghiệp này Đồng thời, trong qúa trình viết luận
văn, tác giả cũng tham khảo ý kiến và nhận được sự góp ý nhiệt tình từ PGS
TS Nguyễn Hữu Minh, PGS TS Phạm Văn Bích, TS Văn Thị Ngọc Lan và ThS Trần Đan Tâm Xin cám ơn qúy Thầy Cô
Xin gửi lời cám ơn chân thành đến linh mục Ngô Sĩ Đình, OP Linh
mục Ngô Kỉ, linh mục Nguyễn Văn Huân, gia đình và người thân, đặc biệt là
Trang 4người thân tại hai xã Bình Giã và Xuân Sơn đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho con trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin cám ơn các học viên cao học Xã hội học khóa 2005, đặc biệt là ThS Nguyễn Huy Hường, Nguyễn Hồng Thủy, nhóm sinh viên Xã hội học
khóa 2003-2007 và chính quyền địa phương hai xã Bình Giã và Xuân Sơn đã
hỗ trợ tôi trong thời gian khảo sát và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 09 năm 2009
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Dữ liệu nghiên cứu và kết qủa nêu trong luận văn chưa từng
được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 09 năm 2009
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
BẢNG
1 Hoạt động sản xuất tạo thu nhập cho gia đình 54
2 Mức đóng góp của các thành viên vào kinh tế gia đình 58
3 Quan niệm “Người phụ nữ cũng cần và có thể đóng góp thu
nhập cho gia đình”
58
4 Mức độ quyết định về sản xuất làm ăn, mua bán, xây dựng,
sửa chữa nhà cửa và mua các đồ dùng đắt tiền
59
5 Mức độ quyết định về nghề nghiệp của chồng và nghề
nghiệp của vợ
65
9 Trình độ học vấn và người quyết định vay tiền 68
10 Trình độ học vấn và người quyết định sử dụng số tiền vay 69
11 Trình độ học vấn và người sử dụng số tiền vay tốt nhất 69
12 Hoạt động tái sản xuất của người chồng và người vợ 71
13 Mối tương quan giữa nhóm nghề chính và công việc đi chợ 75
14 Mối tương quan giữa nhóm nghề chính và công việc nấu
Trang 717 Giới tính và quan niệm về sự chia sẻ của người chồng trong
công việc gia đình
83
18 Giới tính và quan niệm “Không ai có thể thay thế được
người phụ nữ trong việc giáo dục con cái”
84
19 Giới tính và quan niệm “Cả cha và mẹ đều có nghĩa vụ và
trách nhiệm trong việc chăm sóc con cái”
84
20 Người quyết định việc chi tiêu hằng ngày 85
21 Người quyết định một số việc liên quan đến con cái 86
22 Người quyết định việc theo đạo của con dâu, con rể tương
lai
88
23 Người quyết định việc giúp đỡ gia đình bên chồng/bên vợ 89
24 Mức độ tham gia của vợ/chồng trong hoạt động cộng đồng 91
26 Quan niệm về “Người phụ nữ có thể tham gia như nam giới
một cách bình đẳng”
96
27 Người quyết định công việc liên quan đến chính quyền 100
28 Người quyết định công việc liên quan đến lễ lạt, tang ma,
giỗ chạp và các việc khác
101
31 Người giúp đỡ khi gia đình có việc hiếu hỉ, đột xuất 106
Trang 9MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 12
1 Lý do chọn đề tài 13
2 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 15
2.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.2 Khách thể nghiên cứu 15
2.3 Phạm vi nghiên cứu 15
2.3.1 Về mặt không gian: 15
2.3.2 Về mặt thời gian: 15
3 Mục tiêu nghiên cứu 16
4 Nội dung nghiên cứu: 16
5 Phương pháp nghiên cứu 17
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 21
7 Thuận lợi và khó khăn 22
8 Kết cấu của luận văn 23
PHẦN NỘI DUNG 25
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 26
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 26
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 38
1.2.1 Khái niệm Giới 38
1.2.2 Vai trò giới 38
1.2.3 Bình đẳng giới 41
1.2.4 Gia đình, hộ gia đình và hộ gia đình nhập cư theo cộng đồng 45
1.2.5 Phân công lao động theo giới 46
1.2.6 Mạng lưới xã hội 47
1.3 Lý thuyết áp dụng trong đề tài 48
Trang 101.3.1 Thuyết nữ quyền tự do 48
1.3.2 Lý thuyết Xã hội hóa giới 49
1.3.3 Lý thuyết vai trò giới 50
1.3.4 Lý thuyết chức năng giới 51
1.4 Giả thuyết nghiên cứu 53
1.5 Mô hình khung phân tích 54
CHƯƠNG 2: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH CÁC HỘ NHẬP CƯ THEO CỘNG ĐỒNG 55
2.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu 55
2.1.1 Xã Bình Giã 55
2.1.2 Xã Xuân Sơn 58
2.2 Vai trò giới trong gia đình các hộ nhập cư theo cộng đồng 61
2.2.1 Vai trò của vợ chồng trong hoạt động sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng 61
2.2.1.1 Thực trạng về phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động sản xuất 61
2.2.1.2 Quyền quyết định các việc quan trọng trong gia đình 67
2.2.2 Vai trò của vợ chồng trong họat động tái sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng 79
2.2.2.1 Biểu hiện về vai trò của vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất 79
2.2.2.2 Quyền quyết định của vợ chồng đối với các việc liên quan đến hoạt động tái sản xuất 93
2.2.3 Vai trò của vợ chồng trong họat động cộng đồng và các yếu tố ảnh hưởng 98
2.2.3.1 Vai trò của vợ và chồng trong hoạt động cộng đồng 98
Trang 112.2.3.2 Quyền quyết định của vợ chồng đối với những việc liên quan
đến chính quyền, cộng đồng 107
PHẦN KẾT LUẬN 121
1 Kết luận 122
2 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 126
PHỤ LỤC 131
Phụ lục 1 Bảng hỏi 132
Phụ lục 2 Bảng số liệu……… 143
Phụ lục 3 Hướng dẫn thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu……… 174
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 131 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, phạm trù Giới và Gia đình ngày càng được nhiều ngành khoa học quan tâm, đặc biệt là các ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội
Theo đánh giá của Liên hiệp quốc, Việt Nam là nước có các vai trò giới
đang ở trong giai đoạn qúa độ So với các nước trên thế giới và so với chỉ số
phát triển con người, nước ta xếp loại khá về chỉ số phát triển giới (GDI) Năm 2004, chỉ số phát triển con người của Việt Nam là 0,709 xếp thứ 109, chỉ số phát triển giới là 0,708 xếp thứ 80 trên 177 nước xếp hạng [2, tr.9] Song bất bình đẳng về giới vẫn còn phổ biến ở nhiều lĩnh vực, quyền quyết
định những việc quan trọng trong gia đình cũng như tiếng nói và cơ hội tiếp
cận các nguồn lực trong cộng đồng của người phụ nữ còn nhiều hạn chế, nhất là trong bối cảnh xã hội nông thôn ngày nay
Vấn đề bình đẳng giới trong xã hội Việt Nam nói chung và trong khuôn khổ gia đình Việt Nam nói riêng cũng gặp phải những thách thức mới Trong khi điều kiện kinh tế đang thay đổi nhanh chóng thì các giá trị văn hóa liên quan đến vai trò giới dường như thay đổi rất chậm Mặc dù phụ nữ Việt Nam tham gia tích cực vào lực lượng lao động nhưng vẫn còn tồn tại những bất bình đẳng đáng kể về tiếp cận các cơ hội kinh tế, thu nhập, loại hình nghề nghiệp/công việc, những bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục và đào tạo, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, qúa trình ra quyết định, Điều đó cũng có nghĩa là các thành qủa của phát triển chưa được phân chia bình đẳng giữa nam và nữ [3, tr.11]
Ở cấp độ gia đình, sự phân công lao động bất bình đẳng trong chia sẻ
việc nhà, chăm sóc con cái và các thành viên khác trong gia đình, cũng như
sự bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận giáo dục giữa con trai và con gái, là những vấn đề rất đáng được quan tâm dưới góc độ giới Đó cũng là những
Trang 14vấn đề đang đặt ra đối với sự phát triển của gia đình Việt Nam, với vai trò là tác nhân quan trọng cho sự ổn định và phát triển của xã hội [3, tr.11]
Đặc trưng phân công vai trò giới truyền thống trong gia đình là người
chồng giữ vai trò trụ cột về kinh tế và người vợ làm những công việc nội trợ Một trong những lĩnh vực chủ yếu còn tồn tại bất bình đẳng về giới là công việc nội trợ Người phụ nữ thường làm công việc nội trợ nhiều hơn gấp hai lần nam giới Vấn đề này không những làm mất thời gian nghỉ ngơi của phụ
nữ mà còn hạn chế cả thời gian họ tham gia vào các hoạt động sản xuất, đào tạo và các lớp bồi dưỡng kiến thức [36, tr.54]
Phân công lao động theo giới theo kiểu truyền thống dẫn đến hạ thấp vai trò và địa vị của người phụ nữ và đó là một trong những cơ sở căn bản
tạo nên sự bất bình đẳng nam nữ mang tính phổ biến của lịch sử phát triển
nhân loại Thông qua sự phân công lao động theo giới trong gia đình có thể thu nhận thông tin về công cuộc giải phóng phụ nữ được thực hiện như thế
nào trong các gia đình, cũng như gia đình có thể tác động như thế nào đến sự phát triển của phụ nữ [36, tr.54]
Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về vai trò của người vợ, người chồng trong gia đình các hộ nhập cư theo cộng đồng và các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò giới trong các gia đình này, những biểu hiện về vai trò giới trong cộng đồng nhập cư này có gì khác biệt so với các nghiên cứu về giới trước
đây Đồng thời, tác giả luận văn cũng muốn tìmhiểu sự phân công lao động trong gia đình, quyền quyết định các việc quan trọng trong gia đình, cơ hội tiếp cận các nguồn lực, quyền hạn và tiếng nói của mỗi giới trong cộng đồng này như thế nào? Liệu có sự khác biệt nào về vai trò giới giữa cộng đồng mà
đa phần người dân theo đạo Công giáo so với các cộng đồng khác hay
không?
Trang 15Đó là những lý do thúc đẩy tôi chọn đề tài “Các yếu tố tác động đến
vai trò giới trong gia đình các hộ nhập cư theo cộng đồng” (NCTH xã
Bình Giã và Xuân Sơn, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)
2 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
Luận văn được phân tích dựa trên nguồn dữ liệu đợt thực tập thực tế của sinh viên hệ chính quy ngành Xã hội học khóa 2003 – 2007 do khoa Xã
hội học trường ĐHKHXH&NV TPHCM thực hiện với đề tài “cơ cấu hộ gia
đình nhập cư theo cộng đồng” tại hai xã Bình Giã và Xuân Sơn, huyện
Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Trong đó, tác giả có tham gia xây dựng nội dung và hướng dẫn sinh viên đi thực tập thực tế tại địa bàn này
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò
giới trong gia đình thể hiện qua vai trò của người vợ và người chồng trong gia đình các hộ nhập cư theo cộng đồng
2.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài là những người vợ và người chồng trong gia đình các hộ nhập cư theo cộng đồng
2.3 Phạm vi nghiên cứu
2.3.1 Về mặt không gian: Đề tài thực hiện tại hai xã Bình Giã và Xuân
Sơn, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
2.3.2 Về mặt thời gian: từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2007: xây dựng nội
dung và tiến hành thu thập thông tin tại địa bàn
Trang 163 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát:
Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò giới trong gia đình các hộ nhập cư theo cộng đồng tại hai xã Bình Giã và Xuân Sơn, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
3.2 Mục tiêu cụ thể:
Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, đề tài sẽ tìm hiểu thực trạng các
biểu hiện về vai trò giới trong gia đình các hộ gia đình nhập cư theo cộng
đồng Đồng thời tìm hiểu các yếu tố liên quan đến việc phân công lao động,
quyền quyết định những việc quan trọng trong gia đình, vai trò của đoàn thể, tôn giáo và mạng lưới xã hội đã ảnh hưởng như thế nào đến vai trò của nam
và nữ trong gia đình các hộ nhập cư theo cộng đồng tại hai xã nêu trên
4 Nội dung nghiên cứu:
Để thực hiện được mục tiêu đã đề ra ở trên, đề tài luận văn sẽ tập trung
giải quyết các nội dung sau đây:
- Tìm hiểu bối cảnh kinh tế – văn hóa – xã hội của hai xã Bình Giã và Xuân Sơn
- Mô tả các biểu hiện của vai trò giới trong gia đình của các hộ nhập cư theo cộng đồng
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò giới trong gia đình thể hiện qua các hoạt động như sau:
Hoạt động sản xuất
Hoạt động tái sản xuất
Hoạt động cộng đồng
Trang 17- Thông qua đó để hiểu thêm về vấn đề bình đẳng giới được thể hiện qua quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói của mỗi giới trong gia đình và trong cộng đồng
Như vậy, những nội dung đề tài quan tâm tìm hiểu nhằm trả lời cho một số câu hỏi nghiên cứu như sau:
4.1 Bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội của hai xã Bình Giã và Xuân Sơn có ảnh hưởng như thế nào đến vai trò giới trong gia đình các hộ nhập cư theo cộng đồng?
4.2 Vai trò giới trong gia đình tại địa bàn hai xã nêu trên biểu hiện như thế nào?
4.3 Yếu tố nào ảnh hưởng đến vai trò giới trong gia đình? Cách thức phân công lao động giữa người vợ và người chồng có gì khác biệt? Ai là người có quyền quyết định những việc quan trọng trong gia đình? Quyền
hạn của mỗi giới được thể hiện như thế nào?
4.4 Người phụ nữ trong cộng đồng nông thôn này có cơ hội tiếp cận các nguồn lực và tham gia các hoạt động trong cộng đồng hay không? Tiếng
nói của mỗi giới thể hiện trong gia đình và cộng đồng này như thế nào?
4.5 Mạng lưới xã hội, các đoàn thể xã hội – tôn giáo tại địa phương
có ảnh hưởng như thế nào đối với gia đình các hộ nhập cư theo cộng đồng?
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng một số phương pháp thu thập thông tin sau đây:
5.1 Phương pháp thu thập và phân tích tư liệu sẵn có:
Tổng quan tư liệu thu thập được từ sách, tạp chí, các cuộc nghiên cứu liên quan đến đề tài này
Tổng hợp và phân tích các số liệu thống kê, bảng hỏi xã và các văn bản báo cáo tổng kết của hai xã Bình Giã và Xuân Sơn
Trang 185.2 Phương pháp định tính:
5.2.1 Phỏng vấn sâu bán cấu trúc
Luận văn đã sử dụng 20 biên bản gỡ băng phỏng vấn sâu bán cấu trúc (trong tổng số 64 cuộc phỏng vấn sâu tại hai xã Bình Giã và Xuân Sơn) Cụ thể như sau:
Trang 195.2.2 Thảo luận nhóm tập trung
Luận văn sử dụng 13 biên bản gỡ băng thảo luận nhóm thực hiện tại các ấp thuộc hai xã Bình Giã và Xuân Sơn) theo các tiêu chí như sau:
STT Biên bản
gỡ băng số
a Xã Bình Giã
2 2 Nam nữ Nhập cư sau 1975 và trước 1986
Trang 204 4 Nam Kết hôn dưới 10 năm
6 6 Nam nữ Kết hôn trên dưới 30 năm
b Xã Xuân Sơn
2 2 Nam nữ Nhập cư sau 1975 và trước 1986
7 7 Nam nữ Kết hôn trên dưới 30 năm
5.3 Phương pháp định lượng:
Luận văn sử dụng dữ liệu thô của đề tài “cơ cấu hộ gia đình nhập cư
theo cộng đồng” với data nhập liệu 658 bảng hỏi hộ gia đình thuộc hai xã
Bình Giã và Xuân Sơn; xử lý một số nội dung liên quan đến vai trò giới trong gia đình các hộ nhập cư theo cộng đồng thuộc hai xã nêu trên bằng chương trình Excel và phần mềm SPSS
Về phương pháp chọn mẫu: mẫu nghiên cứu được chọn theo cách chọn xác suất, loại mẫu hệ thống Đơn vị thu thập và phân tích thông tin là các cá nhân người vợ và người chồng trong gia đình các hộ nhập cư theo cộng đồng
Người trả lời bảng hỏi là người đại diện hộ gia đình nhập cư: chủ hộ
hoặc vợ/chồng chủ hộ được phỏng vấn là người nhập cư (hoặc có cha/mẹ là
người nhập cư), am hiểu lịch sử gia đình
Khung mẫu được sử dụng dựa vào danh sách các hộ gia đình nhập cư
tại hai xã Bình Giã và Xuân Sơn, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Trang 215.4 Cách thức trình bày kết qủa nghiên cứu :
- Tác giả luận văn nêu vấn đề cần phân tích
- Kế đến, tác giả trình bày dữ liệu định lượng bằng các bảng biểu
và phân tích dữ liệu định lượng
- Tiếp theo, tác giả trích dẫn các thông tin định tính (thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu) nhằm bổ sung, giải thích thêm cho dữ liệu
định lượng
- Đồng thời, tác giả kết hợp với quan điểm của người nghiên cứu
và vận dụng lý thuyết để làm rõ các vấn đề liên quan
- Sau đó, tác giả đưa ra các nhận định, đối chiếu với giả thuyết và các nghiên cứu trước đó
- Cuối cùng là phần bàn luận của tác giả và kết luận từng vấn đề
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết qủa nghiên cứu của luận văn nhằm đóng góp phần nào cho hệ thống
lý luận và phương pháp luận về vấn đề Giới
Vận dụng một số lý thuyết xã hội học, lý thuyết Giới vào nghiên cứu vai trò giới trong các hộ gia đình nhập cư theo cộng đồng
Hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò giới trong các hộ gia đình ở nông thôn ngày nay, đặc biệt là hai xã Bình Giã và Xuân Sơn
Góp phần làm phong phú hơn nguồn tư liệu phục vụ cho hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học
Thông qua đề tài nghiên cứu này, tôi có thể vận dụng những kiến thức xã hội học đã học, các lý thuyết Xã hội học vào lĩnh vực khoa học nghiên cứu
về gia đình và giới Đồng thời rèn luyện thêm các kỹ năng trong nghiên cứu,
đặc biệt là kỹ năng viết bài nghiên cứu, phục vụ cho công tác giảng dạy và
nghiên cứu sau này
Trang 227 Thuận lợi và khó khăn
Kế đến là việc sử dụng dữ liệu thô của đợt khảo sát về “cơ cấu hộ gia
đình nhập cư theo cộng đồng” đã giúp tác giả tiết kiệm được thời gian và
kinh phí khảo sát
7.2 Khó khăn:
Khó khăn lớn nhất mà tác giả luận văn gặp phải đó là việc sử dụng dữ liệu thô của đợt khảo sát về “cơ cấu hộ gia đình nhập cư theo cộng đồng” với nhiều mục tiêu Vì vậy, khi xử lý dữ liệu và phân tích chuyên sâu về vai trò giới đôi lúc dữ liệu không đầy đủ và gặp nhiều khó khăn
Trang 238 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ lục, luận văn gồm có hai chương được kết cấu như sau:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1 Khái niệm Giới
1.2.2 Vai trò giới
1.2.3 Bình đẳng giới
1.2.4 Gia đình, hộ gia đình và hộ gia đình nhập cư theo cộng đồng
1.3 Các lý thuyết áp dụng trong đề tài
1.3.1 Thuyết nữ quyền tự do
1.3.2 Lý thuyết Xã hội hóa giới
1.3.3 Lý thuyết vai trò giới
1.3.4 Lý thuyết chức năng giới
1.4 Giả thuyết nghiên cứu
1.5 Mô hình khung phân tích
CHƯƠNG 2: KẾT QỦA KHẢO SÁT VÀ BÀN LUẬN
2.1 Mô tả về địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Xã Bình Giã
2.1.2 Xã Xuân Sơn
2.2 Vai trò giới trong gia đình các hộ nhập cư theo cộng đồng
2.2.1 Vai trò của vợ chồng trong hoạt động sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng.
2.2.1.1 Thực trạng về phân công lao động giữa vợ và chồng trong hoạt động
sản xuất
Trang 242.2.1.2 Quyền quyết định các việc quan trọng trong gia đình
2.2.2 Vai trò của vợ chồng trong họat động tái sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng
2.2.2.1 Biểu hiện về vai trò của vợ và chồng trong hoạt động tái sản xuất 2.2.2.2 Quyền quyết định các việc liên quan đến hoạt động tái sản xuất 2.2.3 Vai trò của vợ chồng trong họat động cộng đồng và các yếu tố ảnh hưởng
2.2.3.1 Biểu hiện về vai trò của vợ và chồng trong hoạt động cộng đồng 2.2.3.2 Quyền quyết định những việc liên quan đến chính quyền, cộng đồng 2.2.3.3 Mạng lưới xã hội và vai trò của các đoàn thể trong cộng đồng hai xã
Bình Giã và Xuân Sơn
Trang 25PHẦN NỘI DUNG
Trang 26CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong khuôn khổ những bài viết mà tác giả luận văn đã tiếp cận được trong qúa trình thu thập các tài liệu liên quan đến đề tài, bao gồm các công trình nghiên cứu chủ yếu được tổng quan như sau:
1.1.1 Về mặt nội dung
Về mặt nội dung, những chủ đề về Giới đã được nghiên cứu như: việc làm; điều kiện lao động; thu nhập của lao động nữ; việc nuôi dạy con cái; sự bình đẳng giới trong gia đình, vai trò của người chồng và người vợ trong hoạt động sản xuất, tái sản xuất và cộng đồng; vấn đề giới trong việc thực hiện kế họach hóa gia đình, phân công lao động và quyền quyết định trong gia đình, Nhìn chung, các nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến đời sống của phụ nữ, của nam giới trong các gia đình truyền thống
và hiện đại; sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình
Với đề tài này, tác giả luận văn đề cập đến các chủ đề đã được nghiên cứu về Giới như: Sự biến đổi vai trò của phụ nữ nông thôn trong qúa trình
đổi mới (Nguyễn Thị Hòa, 2005; Nguyễn Phương Thảo, 2007; Lê Ngọc Lân,
2007), phân công lao động trong gia đình và các yếu tố ảnh hưởng (Lê
Ngọc Văn, 1997; Trần Thị Vân Anh, 2001; Trương Xuân Trường, 2001; Nguyễn Linh Khiếu, 2003; Vũ Tuấn Huy, 2004; Trần Qúy Long, 2008),
quyền quyết định trong gia đình, cơ hội tiếp cận các nguồn lực trong cộng
đồng và các yếu tố ảnh hưởng (Trương Xuân Trường, 2001; Trần Thị Kim,
2003; Hoàng Thị Sen, 2003; Vũ Tuấn Huy, 2004; Vũ Thị Cúc, 2007; Trần Qúy Long, 2008)
Chủ đề 1: Sự biến đổi vai trò của phụ nữ nông thôn trong qúa trình
đổi mới Tác giả Nguyễn Thị Hòa cho rằng: ở vùng nông thôn Nam Bộ, sự
Trang 27tham gia của cả hai vợ chồng vào các công việc của gia đình đã tăng lên
đáng kể Về điểm này, nghiên cứu của Nguyễn Phương Thảo năm 2007 cũng
cho kết qủa tương tự: vai trò và trách nhiệm của nam/nữ đã có sự chuyển hướng theo cách có lợi hơn cho người phụ nữ Tuy nhiên, quyền quyết định các vấn đề chính trong gia đình vẫn thuộc về người đàn ông
Chủ đề 2: Phân công lao động trong gia đình và các yếu tố ảnh hưởng Đã có nhiều nghiên cứu thực hiện về chủ đề này, như Lê Tiêu La &
Lê Ngọc Hùng (1998), Vũ Tuấn Huy & Deboran S (2000), Nguyễn Linh Khiếu (2002), Vũ Mạnh Lợi (2004), Lê Ngọc Văn (2004) Các nghiên cứu này có chung một nhận định là phụ nữ vẫn là người đảm nhiệm chính công việc nội trợ trong gia đình Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy
sự tham gia của người chồng vào công việc nội trợ đã tăng lên [2, tr.143]
Nghiên cứu của tác giả Vũ Tuấn Huy cho thấy rằng phân công lao
động trong gia đình giữa người vợ và người chồng trong các hoạt động
không có sự thay đổi đáng kể: người vợ đảm nhận các công việc trong gia
đình, còn người chồng đại diện cho gia đình trong các hoạt động bên ngoài
gia đình Một số nghiên cứu khác cũng có nhận định tương tự, qúa trình đổi mới ở nông thôn Việt Nam bên cạnh việc tạo ra những cơ hội sản xuất và kinh doanh mới đồng thời cũng đặt ra những trở ngại lớn đối với phụ nữ Một mặt họ có điều kiện sản xuất và kinh doanh năng động hơn ở kinh tế hộ
và trên thị trường Nhưng mặt khác, gánh nặng chăm sóc gia đình vốn được chia sẻ bởi cộng đồng trước kia thông qua nhà trẻ, mẫu giáo và các qũy của hợp tác xã nay đặt lên vai phụ nữ (Lê Ngọc Văn, 1997) Mặc dù vai trò của
họ rất lớn trong đời sống kinh tế của gia đình, nhưng về cơ bản công việc nội trợ gia đình vẫn do những người phụ nữ đảm nhận (Nguyễn Linh Khiếu, 2003) Không có sự thay đổi đáng kể trong phân công lao động giữa người
vợ và người chồng trong các hoạt động nội trợ như nấu cơm, rửa bát, dọn
Trang 28nhà và giặt giũ Người vợ vẫn là người làm chính trong các hoạt động này (Vũ Tuấn Huy, 2004) Chăm sóc gia đình trên thực tế không còn là vấn đề của riêng từng phụ nữ mà trở thành vấn đề xã hội Trách nhiệm chăm sóc trẻ
em và công việc nội trợ có tác động đến thời gian và cơ hội của phụ nữ và trẻ em gái trong các hoạt động khác như học tập, nâng cao kỹ năng, nắm bắt thông tin, tham gia quản lý (Trần Thị Vân Anh, 2001)
Bên cạnh đó, tác giả Trần Qúy Long lại tập trung phân tích những đặc
điểm của những phụ nữ có số công việc nội trợ nhiều hơn, những phụnữ có các đặc điểm như độ tuổi cao hơn, học vấn cao hơn, có nghề nghiệp là phi nông, gia đình có nhiều thành viên hơn và đời sống kinh tế khá hơn thì có xu hướng phải làm ít các công việc nội trợ hơn so với các phụ nữ khác Tác giả cho rằng con cái là một nguồn trợ giúp giảm thiểu số lượng công việc nội trợ, nhưng có con dưới 6 tuổi là một trở ngại, những phụ nữ có con trong độ tuổi này phải làm nhiều công việc nội trợ hơn Học vấn của người chồng thấp hơn hoặc người chồng làm nghề phi nông thì người phụ nữ vẫn phải làm nhiều công việc hơn, trong khi đó tuổi người chồng không có ảnh hưởng, nghĩa là người chồng nhiều tuổi hay ít tuổi, người phụ nữ vẫn phải làm nhiều công việc nội trợ [37, tr.86]
Mặt khác, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hòa năm 2002 thực hiện tại xã Khánh Hậu, tỉnh Long An lại cho thấy kết qủa khác biệt: các công việc trong gia đình của người vợ giảm 2/3 so với năm 1992 Trong khi đó sự tham gia của cả hai vợ chồng trong công việc gia đình đã tăng lên đáng kể Sự chia sẻ của người thân trong công việc nội trợ, chăm sóc gia đình một mặt tạo điều kiện cho người phụ nữ tham gia các công tác xã hội của cộng đồng, mặt khác thể hiện sự thay đổi trong quan niệm đối với những công việc mang tính chất giới Hơn nữa, sự tham gia của người phụ nữ vào các công việc xã
Trang 29hội đã góp phần nâng cao mức thu nhập của gia đình Đây chính là cơ sở để người phụ nữ cảm thấy tự tin trong khi thể hiện vai trò xã hội [20, tr.17-18]
Tác giả Lê Ngọc Văn (1997) cho rằng việc chuyển sang nền kinh tế thị trường và sản xuất dựa trên đơn vị hộ gia đình ở nông thôn đã có một số tác động quan trọng đối với đời sống người phụ nữ Phân công lao động theo giới trong đơn vị sản xuất hộ gia đình ở một mức độ nào đó đã làm giảm vị trí của người phụ nữ trong xã hội so với thời kỳ kinh tế hợp tác xã trước đây Phụ nữ phải làm qúa nhiều việc - cả công việc sản xuất và công việc gia
đình, nhất là những hộ do phụ nữ làm chủ hộ So sánh giữa đồng bằng sông
Hồng và sông Cửu Long, tác giả cho rằng điểm tương đồng trong phân công lao động theo giới trong các gia đình nông dân ở Bắc Bộ và Nam Bộ là đàn ông vẫn có xu hướng duy trì chức năng “kiếm cơm” truyền thống của họ, trong khi phụ nữ đảm nhận các công việc trong phạm vi gia đình và nuôi con Vì thế, tất cả gánh nặng việc nhà, sản xuất, đều đổ lên vai người phụ
nữ Trong một nghiên cứu khác, tác giả cho rằng vai trò của người vợ và người chồng cũng dần dần tách biệt, sự phân công lao động giữa vợ và chồng thay thế cho sự chia sẻ lao động trước kia Người chồng tham gia vào các hoạt động kinh tế còn người vợ làm công việc nội trợ và nuôi con Sự phân công lao động này có thể dẫn đến hệ qủa tất yếu là hoạt động của người phụ nữ chủ yếu bị giới hạn trong phạm vi gia đình Họ bị gắn chặt với công việc nội trợ, trong khi đó nam giới được chuẩn bị để tham gia vào các hoạt
động kinh tế xã hội, có cơ hội để thăng tiến trong nghề nghiệp và thu nhập
cao (Lê Ngọc Văn, 2002)
Nghiên cứu một xã ở Bắc Bộ cho thấy sự phân công lao động trong công việc gia đình chưa có sự thay đổi nhiều so với qúa khứ Và trongnhững năm đổi mới gánh nặng của việc lao động nội trợ càng trở nên nặng
nề hơn Người phụ nữ vừa tham gia vào công việc đồng áng nhưng vẫn phải
Trang 30làm công việc bếp núc, chăm sóc con cái, chăm sóc người già, giặt giũ, chăn nuôi; trong khi nam giới thì không phải làm những công việc đó (Nguyễn Thanh Tâm, 1999)
Các nghiên cứu nêu trên đã xem xét và coi phân công lao động theo giới là một trong những biểu hiện của bất bình đẳng giới trong gia đình Tuy nhiên, các nghiên cứu đó chỉ mới đưa ra bức tranh chung mà chưa tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân công lao động theo xu hướng truyền thống đó, nếu có thì cũng chỉ đại diện cho đồng bằng Bắc Bộ
Nghiên cứu của chúng tôi sẽ cố gắng đi sâu vào phân tích để làm rõ hơn những yếu tố tác động đến phân công lao động theo giới trong gia đình các hộ nhập cư theo cộng đồng tại hai xã thuộc địa bàn của vùng Đông Nam
Bộ Đồng thời, tìm hiểu xem có sự khác biệt nào về phân công lao động trong gia đình mà đa số người dân theo đạo Công giáo hay không? Yếu tố tôn giáo có ảnh hưởng gì đến việc phân công lao động trong gia đình? Đây
là một trong những nét riêng, khác với các đề tài nghiên cứu về Giới trước
đây, mà luận văn sẽ đề cập đến ở phần kết qủa khảo sát và bàn luận
Liên quan đến vấn đề tôn giáo, nghiên cứu của Trương Xuân Trường
với đề tài: “Công giáo và việc xây dựng môi trường văn hóa ở nông thôn
vùng châu thổ sông Hồng hiện nay” thực hiện tại 3 xã thuộc vùng đồng bằng sông Hồng năm 2001 cho thấy trong gia đình người nông dân nói chung và người Công giáo nói riêng, công việc nội trợ vẫn thuộc về vai trò chủ chốt của người vợ Người vợ đảm nhận hầu hết mọi công việc trong đời sống sinh hoạt gia đình Người chồng hầu như rất ít khi tham gia công việc gia đình ngoài một số công việc có chỉ số cao vượt trội so với người vợ là thay mặt gia đình đi hội họp Và vẫn còn tồn tại quan niệm: việc đối ngoại là việc lớn thì thuộc về đàn ông, còn việc trong gia đình thuộc về đàn bà là việc nhỏ Sự bảo lưu quan niệm truyền thống này qua khảo sát cho thấy ở một
Trang 31chừng mực nào đó người phụ nữ hiện nay còn bị trói chặt vào công việc gia
đình và còn lâu nữa mới thực sự có được sự giải phóng cũng như sự bình đẳng với nam giới [52, tr.143]
Thực tế và quan niệm này là có tính chất phổ biến cho mọi nhóm xã hội trong cộng đồng công giáo được khảo sát Ngay ở những nhóm có khả năng nhận thức cao hơn như nhóm có học vấn cao, thu nhập cao, có nghề là phi nông nghiệp và nhóm tuổi trẻ thì trong thực tế phân công công việc gia
đình cũng không có gì khác biệt so với các nhóm khác
Tác giả cho rằng tôn giáo không có ảnh hưởng gì đến sự thay đổi về quan niệm cũng như cách thức phân công công việc trong gia đình, không có
sự khác biệt giữa cộng đồng người dân nói chung và cộng đồng người dân theo đạo Công giáo đối với vấn đề phân công lao động trong gia đình qua nghiên cứu này [52, tr.146]
Như vậy, với nghiên cứu này, yếu tố về nghề nghiệp, trình độ học vấn
và tôn giáo không có ảnh hưởng đến phân công lao động trong gia đình ở vùng đồng bằng sông Hồng Còn đối với khu vực Đông Nam Bộ thì sao? Các yếu tố về trình độ học vấn, nghề nghiệp và tôn giáo có ảnh hưởng như
thế nào đến cách thức phân công lao động trong gia đình các hộ nhập cư
này? Điểm tương đồng và khác biệt so với nghiên cứu trước đây là gì? Điều này sẽ được tác giả luận văn trình bày cụ thể trong phần trình bày về kết qủa khảo sát của đề tài
Chủ đề 3: Quyền quyết định trong gia đình, cơ hội tiếp cận các nguồn lực trong cộng đồng và các yếu tố ảnh hưởng (Trương Xuân Trường, 2001; Trần Thị Kim, 2003; Hoàng Thị Sen, 2003; Vũ Tuấn Huy, 2004; Vũ Thị Cúc, 2007; Trần Qúy Long, 2008) Tác giả Trương Xuân Trường khi đề cập đến vấn đề này đã đưa ra nhận định: quyền quyết định một số công việc gia đình đã có chỉ số cao hơn hẳn của việc hai vợ chồng
Trang 32cùng bàn bạc, thỏa thuận Cụ thể, có 3 loại công việc trên tổng số 7 loại công việc gia đình có các chỉ số cao hơn hẳn thuộc về phương án “thuận vợ, thuận chồng” là việc hiếu, hỉ; việc làng, việc đạo và dạy dỗ, chăm sóc con cái Xét trong tương quan vợ chồng thì có một loại công việc gia đình chủ yếu do người vợ quyết định đó là chi tiêu hàng ngày với chỉ số cao hơn gấp đôi người chồng Tuy nhiên, ở ba loại công việc khác thì vai trò quyết định hầu như hoàn toàn thuộc về người chồng Cụ thể là việc làm nhà; mua sắm đắt tiền; sản xuất kinh doanh Có thể nói trong 7 loại công việc chính yếu của
đời sống gia đình thì 3 việc vừa nêu có vai trò quyết định của người chồng là
rất lớn [52, tr.160]
Việc khảo sát về vai trò ra quyết định trong công việc gia đình đã cho thấy những biến chuyển đáng kể trong mối quan hệ giữa người chồng và người vợ trong gia đình nông thôn hiện nay so với truyền thống Tuy nhiên
sự biến đổi đó còn chậm hơn nhiều so với những biến chuyển về kinh tế - xã hội trong vòng 15 năm qua Tuy vai trò, địa vị của người phụ nữ - người vợ trong gia đình đã được nâng cao lên đáng kể nhưng thực tế người quyết định chủ yếu trong gia đình vẫn thuộc về người chồng - người đàn ông
Về độ tuổi thì xu hướng khá nổi rõ là những gia đình trẻ (dưới 30 tuổi)
thì sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc ra quyết định về các công việc gia đình là rõ rệt nhất Có tới 6 loại công việc mà chỉ số cả hai vợ chồng cùng quyết định là khá cao Cụ thể như: chi tiêu hàng ngày; làm nhà; mua sắm đắt tiền; hiếu, hỉ; việc làng, việc đạo; dạy dỗ và chăm sóc con cái Xu hướng bình đẳng vợ chồng cũng rõ rệt hơn ở nhóm những người có học vấn cao (từ cấp 3) trở lên [52, tr.165]
Liên quan đến vấn đề này, tác giả Trần Thị Kim phân tích ảnh hưởng
của học vấn đến sự tham gia và quyền ra quyết định của phụ nữ nông thôn
đối với một số công việc trong gia đình, thể hiện trong hoạt động sản xuất
Trang 33kinh doanh, chăn nuôi và dịch vụ Người vợ giữ quyền quyết định trong các khâu giống vật nuôi và bán sản phẩm Người chồng quyết định về giống cây trồng và vay vốn Nghiên cứu cho thấy học vấn của phụ nữ càng cao thì sự bàn bạc dân chủ cùng quyết định giữa hai vợ chồng càng lớn Cụ thể, trong quyết định về vay vốn, cả hai vợ chồng có trình độ học vấn phổ thông trung học cùng quyết định có tỉ lệ cao hơn nhóm có trình độ tiểu học Đối với việc mua sắm tài sản có giá trị, nhóm có học vấn phổ thông trung học thì cả hai
vợ chồng cùng quyết định có tỉ lệ cao gần gấp hai lần so với nhóm tiểu học Việc chi tiêu học tập cho con cũng tương tự
Tác giả cho rằng, học vấn có vai trò quan trọng trong việc nâng cao quyền quyết định trong gia đình của phụ nữ nông thôn Quảng Ngãi và có tác
động sâu sắc tới xu hướng dân chủ hóa trong việc ra quyết định những vấn
đề quan trọng trong gia đình Người phụ nữ tham gia vào việc ra quyết định
trong các hộ gia đình nông thôn thể hiện phần nào vai trò và vị thế của họ trong gia đình đang dần dần thay đổi theo chiều hướng tích cực Người phụ
nữ có trình độ học vấn cao có ảnh hưởng rõ rệt đến quyền ra quyết định của
họ [30, tr.62-63]
Ở một góc độ khác, khi đề cập đến vấn đề ảnh hưởng của yếu tố thu
nhập đến quyền quyết định giữa vợ và chồng trong gia đình nông thôn hiện
nay, tác giả Vũ Thị Cúc cho rằng: mặc dù trong các công việc gia đình người chồng quyết định chính vẫn chiếm tỉ lệ cao Tuy nhiên, một điểm mới được nhận thấy qua nghiên cứu này là quyền quyết định trong sản xuất kinh doanh của người vợ là cao hơn; mô hình hai vợ chồng cùng bàn bạc, cùng quyết
định trong các gia đình ở xã Phù Linh ngày càng phổ biến, vị thế của người
phụ nữ ngày càng được tôn trọng Tác giả cho rằng, thu nhập là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyền quyết định trong gia đình, đặc biệt là đối với người phụ nữ nông thôn Có sự khác biệt đáng kể về thu nhập giữa vợ và
Trang 34chồng, trong gia đình thu nhập của chồng thường cao hơn so với thu nhập của vợ
Cụ thể, trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, chênh lệch thu nhập có
ảnh hưởng tới quyền quyết định ở nhóm người vợ có thu nhập cao hơn
người chồng Nếu vợ có thu nhập cao hơn chồng thì vợ cũng là người quyết
định nhiều hơn chồng Tuy nhiên, chênh lệch thu nhập lại không có ảnh
hưởng nhiều ở nhóm chồng có thu nhập cao hơn vợ, mặc dù chồng có thu nhập cao nhưng tỷ lệ vợ quyết định vẫn nhiều hơn Như vậy, trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh (chủ yếu là sản xuất nông nghiệp) xu hướng quyết định nghiêng về người vợ nhiều hơn, có thể một phần do người chồng thường đi làm ăn xa nên người vợ chủ động quyết định mọi việc trong gia đình khi người chồng vắng nhà [10, tr.45]
Thế nhưng, trong việc mua đồ đạc đắt tiền, thu nhập của vợ cao hơn chồng hay thu nhập của vợ chồng bằng nhau thì quyền quyết định của người chồng nhiều hơn vợ vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong mọi trường hợp Trong khi tỷ lệ vợ quyết định nhiều hơn thấp hơn nhiều so với chồng ở cả ba nhóm thu nhập (vợ thu nhập cao hơn chồng, vợ chồng thu nhập bằng nhau và chồng thu nhập cao hơn vợ) Có thể nhận thấy chênh lệch thu nhập không
ảnh hưởng nhiều đến quyền quyết định trong gia đình của vợ và chồng, cho
dù vợ có thu nhập cao hơn thì quyền quyết định của chồng vẫn cao hơn vợ
đối với việc mua đồ đạc đắt tiền [10, tr.50]
Tương tự, đối với quyền quyết định các quan hệ xã hội chung và mối quan hệ của gia đình và họ hàng thì chênh lệch thu nhập cũng không có ảnh hưởng nhiều tới quyền quyết định giữa vợ và chồng Kết qủa nghiên cứu cho thấy, xu hướng chồng quyết định nhiều hơn và cả hai vợ chồng quyết định ngang nhau vẫn là chính Chỉ riêng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thì quyền quyết định nhiều hơn nghiêng về người vợ Và ai thường làm công
Trang 35việc nào thì thường quyết định công việc đó chứ không hẳn là người nắm quyền lực về kinh tế sẽ quyết định [10, tr.50-51]
Tác giả Vũ Tuấn Huy cũng cho rằng: một chiều cạnh khác của vấn đề bình đẳng giới trong gia đình là quyền quyết định các công việc trong gia
đình Những đặc điểm của phân công vai trò giới phù hợp với mô hình quyết định trong gia đình: người nào làm chủ yếu công việc gì thì cũng thường là
người quyết định công việc đó Trong khi người vợ là người làm và quyết
định chủ yếu các công việc nội trợ thì trong các quyết định quan trọng của
gia đình như mua đồ đạc đắt tiền, vai trò của người chồng lại tăng lên [27,
tr.17]
Nghiên cứu về gia đình Việt Nam năm 2006 cũng cho thấy, quyền quyết định cuối cùng đối với công việc gia đình giữa vợ và chồng là không giống nhau, tùy thuộc vào loại công việc Có công việc người vợ quyết định chính; có công việc người chồng quyết định chính; có công việc cả hai vợ chồng cùng quyết định Trong 8 loại công việc cần quyết định, chỉ có một loại công việc là “chi tiêu hàng ngày” có tỷ lệ người vợ quyết định cuối cùng cao hơn tỷ lệ người chồng quyết định và tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng quyết
định Trong khi đó, có 4 loại công việc có tỷ lệ người chồng quyết định cuối
cùng cao hơn tỷ lệ người vợ quyết định và tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng quyết
định, đó là các công việc: “sản xuất kinh doanh”; “mua bán, xây sửa nhà đất”; “mua đồ đạc đắt tiền” và “vay vốn” Có ba loại công việc có tỷ lệ cả
hai vợ chồng cùng quyết định cao hơn tỷ lệ một mình người vợ hay người chồng quyết định Đó là các công việc: “sử dụng vốn vay”; “tổ chức giỗ tết”
và “tổ chức ma chay, cưới xin” Xét về tính chất công việc, có thể thấy
người vợ là người quyết định chính những công việc nhỏ hàng ngày liên quan đến những khoản tài chính nhỏ Còn người chồng là người quyết định chính những công việc quan trọng hơn và có liên quan đến những khoản tài
Trang 36chính lớn hơn Khuôn mẫu quyết định chính các công việc gia đình hầu như không khác nhau giữa các nhóm tuổi [3, tr.79-80]
Nghiên cứu trên cũng đề cập đến quyền quyết định công việc giữa vợ
và chồng thay đổi theo khu vực (thành thị, nông thôn, vùng lãnh thổ, nhóm thu nhập) Nhìn chung, vai trò quyết định của người chồng đối với công việc sản xuất, kinh doanh ở nông thôn, miền núi Tây Bắc, và ở nhóm hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao hơn thành thị, các vùng lãnh thổ và các nhóm thu nhập khác
và cao hơn tỷ lệ chung
Đối với những công việc lớn như mua bán nhà, đất, xây dựng và sửa
chữa nhà thì vai trò quyết định của người chồng ở thành thị thấp hơn ở nông thôn Tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng quyết định ở thành thị cao hơn so với nông thôn Đối với việc mua sắm đồ đạc đắt tiền, xu hướng cả vợ và chồng ở khu vực thành thị chiếm tỷ lệ cao hơn nông thôn Vai trò của người chồng trong nhóm hộ nghèo có vị trí cao hơn nhiều so với nhóm hộ giàu Ngược lại, tỷ lệ
cả hai vợ chồng cùng quyết định của nhóm hộ nghèo thấp hơn nhóm hộ giàu [3, tr.80]
Đối với việc vay vốn để hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh cũng như các
nhu cầu khác của hộ, nhóm hộ nghèo có tỷ lệ người chồng quyết định việc vay vốn cao hơn nhóm hộ giàu Cả hai vợ chồng quyết định sử dụng vốn vay trong gia đình thành thị thấp hơn nông thôn [3, tr.80]
Như vậy, nhìn chung, người chồng vẫn là người quyết định chính các việc quan trọng trong gia đình Tuy nhiên, đã có sự thay đổi về mô hình quyết định các việc lớn trong gia đình theo hướng bình đẳng hơn giữa vợ và chồng Ngoài ra, tùy thuộc vào từng loại hình gia đình mà phân bố quyền quyết định có khác nhau Sự tham gia ngày càng sâu rộng của phụ nữ vào các hoạt động sản xuất và hoạt động xã hội bên ngoài gia đình; tác động của luật pháp, chính sách, các chương trình xã hội hướng tới bình đẳng
Trang 37giới, là những nhân tố quan trọng làm thay đổi khuôn mẫu về quyền quyết
định trong gia đình Việt Nam
1.1.2 Về mặt phương pháp
Các tác giả thường sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu và phỏng vấn bằng bảng hỏi Phương pháp liên ngành trong khoa học xã hội phối hợp với điều tra xã hội học để thu thập thông tin định lượng và định tính được ứng dụng khá nhiều trong các đề tài nghiên cứu về Giới Tuy nhiên, việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người chồng và người vợ trong gia đình các hộ nhập cư theo cộng
đồng là một khoảng trống chưa được chú ý nhiều trong các nghiên cứu về di
dân có lồng ghép quan điểm giới Đây là một trong những thiếu sót của các nghiên cứu trước đây và đó là vấn đề mà tác giả luận văn muốn tìm hiểu rõ hơn trong nghiên cứu này và cũng là điểm khác biệt của đề tài này so với các cuộc nghiên cứu trước đây về chủ đề Giới
1.1.3 Về đối tượng nghiên cứu
Các đề tài nghiên cứu về Giới thường tập trung vào khảo sát điều kiện sống và làm việc, vai trò của phụ nữ nông thôn, nữ công nhân, nữ trí thức,
nữ nhập cư đô thị, tác động của học vấn đến việc ra quyết định đối với một
số việc quan trọng trong gia đình; phân công lao động trong gia đình; việc tiếp cận các nguồn lực trong cộng đồng của người nam và người nữ trong khu vực đô thị, Có rất ít đề tài nghiên cứu chuyên sâu về vai trò giới trong
đời sống gia đình các hộ nhập cư ở nông thôn, đặc biệt là gia đình các hộ
nhập cư theo cộng đồng tại vùng nông thôn miền Đông Nam Bộ
Trang 381.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1 Khái niệm Giới
Khi nói đến Giới, cần phân biệt giữa hai thuật ngữ “giới” và “giới tính”
và xem xét những đặc trưng cơ bản của chúng
Giới tính (sex) là một khái niệm xuất phát từ môn sinh vật học, chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến qúa trình tái sản xuất con người và di truyền nòi giống Con người sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính (là nam hay là nữ) [8, tr.18]
Giới (gender) là một thuật ngữ bắt nguồn từ môn nhân chủng học, nói
đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ
Giới đề cập đến việc phân công lao động, sự phân chia các nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong từng bối cảnh xã hội cụ thể Giới là một hiện tượng văn hóa – xã hội phản ánh tương quan giữa nam và nữ trong điều kiện văn hóa – xã hội nhất định [8, tr.19]
Như vậy, khi nghiên cứu về giới phải nghiên cứu mối tương quan giữa nam và nữ, so sánh và phân tích mối tương quan đó vì quyền lợi chung của hai giới Và phải đặt nó trong một bối cảnh văn hóa – xã hội nhất định, mà
cụ thể với đề tài này là mối tương quan giữa người vợ và người chồng, được
đặt trong bối cảnh văn hóa - xã hội của hai xã Bình Giã và Xuân Sơn, huyện
Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc vùng Đông Nam Bộ
1.2.2 Vai trò giới
Có những quan niệm khác nhau về vai trò giới Vai trò giới bao gồm các quyền, những trách nhiệm, những mong đợi và các quan hệ của phụ nữ
và nam giới trong một xã hội cụ thể
Hay nói cách khác, vai trò giới là những trông đợi về những hành vi
và quan điểm mà nền văn hóa xác định là phù hợp đối với phụ nữ và nam
Trang 39giới Các vai trò giới cơ bản bao gồm: vai trò sinh sản, vai trò sản xuất và vai
trò quản lý cộng đồng Những vai trò giới này được học thông qua qúa trình
xã hội hóa Vai trò giới và mối quan hệ giới có thể biến đổi qua các thời kỳ
xã hội và khác nhau giữa các nền văn hóa [48, tr.178]
Để nghiên cứu về bất bình đẳng giới, các nhà xã hội học bắt đầu với
việc xem xét về những cơ sở sinh học và xã hội của các vai trò giới Cơ sở sinh học của vai trò giới có cội nguồn từ sự khác biệt hoocmon giữa nam và
nữ Còn cơ sở xã hội của vai trò giới là hệ thống niềm tin về giới, là những
tư tưởng về nam tính và nữ tính tùy thuộc vào xã hội cụ thể Hệ thống niềm tin về giới phản ánh cái mà các nhà xã hội học quan tâm đến sự phân công lao động theo giới, qúa trình các chức năng sản xuất được tách biệt dựa trên
cơ sở về giới [48, tr.179]
Nói đến vai trò giới là thể hiện sự kỳ vọng của xã hội vào hành động của cá nhân thuộc giới nam hay giới nữ Ở mỗi vai trò, cá nhân phải có những hành động, thái độ, tình cảm, phù hợp với vai trò của mình và phù hợp với giới của mình Xã hội đặt ra những khuôn mẫu hành vi cho mỗi giới
và trong cuộc sống hằng ngày cá nhân phải tuân theo những khuôn mẫu giá trị đó Nếu cá nhân hành động vượt ra ngoài những giá trị, chuẩn mực xã hội
về vai trò giới của mình thì dễ bị xem là lệch lạc
Trong đời sống xã hội, nam giới và nữ giới có xu hướng làm việc khác nhau, thực hiện các vai trò khác nhau Vai trò giới thể hiện qua ba loại vai trò như sau:
Vai trò sản xuất: bao gồm những công việc do cả phụ nữ và nam giới
làm nhằm tạo ra thu nhập bằng tiền hoặc bằng hiện vật để tự nuôi sống bản thân và tiêu dùng trong gia đình (sản phẩm vật chất, tinh thần hoặc các dịch
vụ để trao đổi mua bán) Những công việc mà phụ nữ ở nông thôn thường làm liên quan đến vai trò sản xuất bao gồm: cấy lúa, làm cỏ, gặt hái, chăn
Trang 40nuôi, trồng rau, lấy củi, buôn bán nhỏ, …Còn nam giới thường làm những công việc như: cày, bừa, vận chuyển sản phẩm, trồng và bảo vệ cây, xây dựng nhà cửa,…Các công việc liên quan đến vai trò sản xuất này còn được gọi là lao động sản xuất hay lao động kiếm sống
Vai trò tái sản xuất: gồm những hoạt động tạo ra nòi giống (tái sản
xuất con người), duy trì và tái tạo sức khỏe, sức lao động (nuôi dạy con, nuôi dưỡng và chăm sóc các thành viên trong gia đình, nội trợ, giặt đồ, lau chùi nhà cửa,… các công việc này hầu hết do phụ nữ đảm nhiệm) Các công việc liên quan đến vai trò này còn được gọi là tái sản xuất sức lao động, lao động nuôi dưỡng
Vai trò cộng đồng (hay còn gọi là công việc cộng đồng, hoạt động
cộng đồng): là các công việc nhằm phục vụ cho các lợi ích của cộng đồng trong xã hội Phụ nữ thường làm các công việc như dọn vệ sinh ngõ xóm,
đường phố, phụ nấu ăn trong các lễ hội, đình đám, tham gia vào các hoạt động của các hội, đoàn Nam giới thường tham gia vào việc họp xóm, thôn,
tổ dân phố, đi dự các đám hiếu, hỉ, tổ chức các lễ hội, tham gia vào các hội,
đoàn
Như vậy, vai trò giới là những công việc và hoạt động cụ thể mà phụ
nữ và nam giới đảm nhận Vai trò giới trong gia đình được thể hiện thông qua các định chế gia đình, trong đó vai trò quan trọng nhất là tái sản xuất Nam giới thường thực hiện hai vai trò chủ yếu là sản xuất và hoạt động cộng
đồng; trong khi phụ nữ đảm nhiệm cùng lúc ba vai trò: sản xuất, tái sản xuất
và cộng đồng Trong đó, phụ nữ chủ yếu giữ vai trò tái sản xuất nhằm duy trì, tái tạo nòi giống và sức lao động cho gia đình và xã hội
Mặt khác, vai trò của các thành viên trong gia đình thường phụ thuộc lẫn nhau Sở dĩ nam giới có nhiều thì giờ để tập trung cho công việc sản xuất
và hoạt động cộng đồng là do có phụ nữ - mẹ, vợ, chị gái, em gái lo mọi việc