So sánh giống và khác nhau Sự chuyển hóa của tiền thành tư bản Trong lưu thông hàng hóa giản đơn thì tiền được coi là tiền thông thường, vận động theo công thức: H - T - H hàng - tiền -
Trang 1Câu 1: Hãy cho biết sự giống và khác nhau giữa sản xuất hàng hóa giản đơn và sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa từ đó tìm ra bản chất của tư bản và ý nghĩa của vấn đề này đối với Việt Nam
I Cơ sở lý luận
1 Khái niệm
Sản xuất hàng hóa giản đơn: Đặc trưng cơ bản là dựa trên chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất,
có quy mô nhỏ, năng suất lao động thấp
Sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa: Đặc trưng cơ bản là nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí, quy mô lớn, năng suất lao động cao
2 So sánh giống và khác nhau
Sự chuyển hóa của tiền thành tư bản
Trong lưu thông hàng hóa giản đơn thì tiền được coi là tiền thông thường, vận động theo công thức: H -
T - H (hàng - tiền - hàng), nghĩa là sự chuyển hoá của hàng hoá thành tiền, rồi tiền lại chuyển hoá thành hàng hoá Ở đây tiền tệ không phải là tư bản, mà chỉ là tiền tệ thông thường với đúng nghĩa của nó Người sản xuất hàng hoá bán hàng hóa của mình lấy tiền tệ, rồi lại dùng tiền tệ đó để mua một hàng hóa khác phục vụ cho những nhu cầu tiêu dùng nhất định của mình Ở đây tiền tệ chỉ là phương tiện để đạt tới một mục đích bên ngoài lưu thông Hình thức lưu thông hàng hóa này thích hợp với nền sản xuất nhỏ của những người thợ thủ công và nông dân
Còn tiền được coi là tư bản, thì vận động theo công thức: T - H - T (tiền - hàng - tiền), tức là sự chuyển hoá của tiền thành hàng hoá, rồi hàng hoá lại chuyển hoá ngược lại thành tiền
So sánh công thức lưu thông hàng hoá giản đơn H - T - H và công thức lưu thông của tư bản
T-H-T, chúng ta thấy chúng có những điểm giống nhau:
Cả hai sự vận động, đều do hai giai đoạn đối lập nhau là mua và bán hợp thành, trong mỗi giai đoạn đều có hai nhân tố vật chất đối diện nhau là tiền và hàng, và hai người có quan hệ kinh tế với nhau là người mua và người bán
Khác nhau
Nội dung so sánh Tiền trong lưu thông hàng hóa
giản đơn
Tiền trong lưu thông hàng hóa
tư bản Điểm xuất phát và kết thúc Điểm xuất phát và kết thúc đều
là hàng, còn tiền chỉ đóng vai trò trung gian, được chi tiêu hết
Khởi đầu và kết thúc đều là tiền, tiền chỉ tạm thời ứng ra rồi thu
về Hàng chỉ đóng vai trò trung gian
Trình tự lưu thông Bắt đầu bằng việc bán (H-T), kết
thúc bằng việc mua (T-H)
Bắt đầu bằng việc mua (T-H), kết thúc bằng việc bán (H-T)
Mục đích của sự vận động Giá trị sử dụng Giá trị T’ (T’=T+ đenta T)
Giới hạn của sự vận động Kết thúc khi có được giá trị sử
dụng
Không có giới hạn
3 Kết luận
Mục đích của lưu thông tư bản là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng dư (m)
Tư bản trước hết phải là tiền, một số tiền, nhưng không phải tiền nào cũng là tư bản
Trang 2 Tiền chỉ trở thành tư bản khi nó được sử dụng và mang lại cho chủ sở hữu số giá trị lớn hơn
4 Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản
Thực ra trong lưu thông, dù người ta trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì cũng không tạo ra giá trị mới, do đó cũng không tạo ra giá trị thặng dư
Trường hợp trao đổi ngang giá
Nếu hàng hoá được trao đổi ngang giá, thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, từ tiền thành hàng
và từ hàng thành tiền, còn tổng giá trị cũng như phần giá trị nằm trong tay mỗi bên tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi Tuy nhiên, về mặt giá trị sử dụng, thì cả hai bên trao đổi đều có lợi
vì có được những hàng hoá thích hợp với nhu cầu của mình
Trường hợp trao đổi không ngang giá
Có thể có ba trường hợp xảy ra, đó là:
Trường hợp thứ nhất, giả định rằng có một nhà tư bản nào đó có hành vi bán hàng hóa cao hơn giá trị 10% chẳng hạn Giá trị hàng hóa của anh ta là 100 đồng sẽ được bán cao lên 110 đồng và
do đó thu được 10 đồng giá trị thặng dư Nhưng trong thực tế không có nhà tư bản nào lại chỉ đóng vai trò là người bán hàng hoá, mà lại không là người đi mua các yếu tố sản xuất để sản xuất ra các hàng hoá đó Vì vậy đến lượt anh ta là người mua, anh ta sẽ phải mua hàng hóa cao hơn giá trị 10%, vì các nhà tư bản khác bán các yếu tố sản xuất cũng muốn bán cao hơn giá trị 10% để có lời Thế là 10% nhà tư bản thu được khi là người bán, sẽ mất đi khi anh ta là người mua Hành vi bán hàng hóa cao hơn giá trị đã không hề mang lại một chút giá trị thặng dư nào
Trường hợp thứ hai, giả định rằng lại có một nhà tư bản nào đó có hành vi mua hàng hóa thấp hơn giá trị 10%, để đến khi bán hàng hóa theo giá trị anh ta thu được 10% là giá trị thặng dư Trong trường hợp này cũng vậy, cái mà anh ta thu được do mua rẻ, sẽ bị mất đi khi anh ta là người bán vì cũng phải bán thấp hơn giá trị thì các nhà tư bản khác mới mua Rút cục giá trị thặng dư vẫn không được đẻ ra từ hành vi mua rẻ
Còn có thể có trường hợp thứ ba sau đây: Giả định trong xã hội tư bản lại có một số kẻ giỏi bịp bợm, lừa lọc, bao giờ hắn cũng mua được rẻ và bán được đắt Nếu khi mua, hắn ta đã mua rẻ được 5 đồng, và khi bán hắn cũng bán đắt được 5 đồng Rõ ràng 10 đồng giá trị thặng dư mà hắn thu được là do trao đổi không ngang giá Sự thực thì 5 đồng thu được do mua rẻ và 5 đồng hắn kiếm được do bán đắt cũng chỉ là số tiền hắn lường gạt được của người khác Nhưng nếu xét chung cả xã hội, thì cái giá trị thặng dư mà hắn thu được lại chính là cái mà người khác mất
đi, do đó tổng số giá trị hàng hóa trong xã hội không vì hành vi cướp đoạt, lường gạt của hắn mà tăng lên Giai cấp tư sản không thể làm giàu trên lưng bản thân mình
Trang 3Trở lại ngoài lưu thông chúng ta xem xét hai trường hợp:
Ở ngoài lưu thông, nếu người trao đổi vẫn đứng một mình với hàng hóa của anh ta, thì giá trị của những hàng hóa ấy không hề tăng lên một chút nào
Ở ngoài lưu thông, nếu người sản xuất muốn sang tạo thêm giá trị mới cho hàng hoá, thì phải bằng lao động của mình Chẳng hạn, người thợ giầy đã tạo ra một giá trị mới bằng cách lấy da thuộc để làm ra giầy Trong thực tế, đôi giầy có giá trị lớn hơn da thuộc vì nó đã thu hút nhiều lao động hơn, còn giá trị của bản thân da thuộc vẫn y như trước, không tự tăng lên
"Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông
Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông" Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản C.Mác là người đầu tiên phân tích và giải quyết mâu thuẫn đó bằng lý luận về hàng hóa sức lao động
5 Bản chất của tư bản
Qua nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư, có thể định nghĩa chính xác tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê Như vậy, bản chất của
tư bản là thể hiện quan hệ sản xuất xã hội mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo ra
Các bộ phận của tư bản sản xuất
• Tư bản bất biến(c)
Để sản xuất ra giá trị thặng dư, nhà tư bản phải ứng trước tiền ra để mua tư liệu sản xuất và sức lao động
Trong quá trình sản xuất , giá trị của tư liệu sản xuất được lao động cụ thể của người công nhân chuyển vào sản phẩm mới, nhưng lượng giá trị của chúng không đổi Bộ phận tư bản ấy được gọi là
tư bản bất biến
• Tư bản khả biến(v)
Trang 4Đối với bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động thì trong quá trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng của mình, người công nhân tạo ra một giá trị mới không chỉ bù đắp đủ giá trị sức lao động của công nhân mà còn tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản Như vậy, bộ phận tư bản này đã có sự biến đổi về lượng và được gọi là tư bản khả biến
Ý nghĩa
Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến phản ánh được nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư Trong quá trình sản xuất, tư bản bất biến chỉ là điều kiện để sinh ra giá trị thặng dư còn
tư bản khả biến mới là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư Do đó nó vạch rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản
II Cơ sở thực tiễn áp dụng ở Việt Nam
Một số điều cần phải nhìn nhận đúng
Trong thời kỳ quá độ, nền kinh tế ở nước ta trong một chừng mực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể
bị xoá bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận giáo điều, xơ cứng Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, chúng ta càng thấy rõ: chừng nào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó
Trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, mọi phương
án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc về mức độ bóc lột trong việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân biệt đối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thể thực hiện được Trong nhận thức, quan điểm chung nên chấp nhận một mức
độ bóc lột nhất định khi nó đang còn là động lực phát triển xã hội Trong quản lý xã hội cần kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, một mặt, chống thất thu thuế, mặt khác, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thông qua Nhà nước và bằng các “kênh” phân phối lại và điều tiết thu nhập xã hội