ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN QUỐC KHÁNH NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỂ LỰC CHUNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỂ LỰC CHUNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - NĂM 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỂ LỰC CHUNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành : LL&PP dạy học bộ môn GDTC
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Khánh
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Phòng Đào tạo, Khoa Thể dục Thể thao Nhà trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Hà Quang Tiến đã dành nhiều thời gian chỉ bảo cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, giúp tôi thực hiện nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày… tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Khánh
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC và Thể thao trường học 4
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng ở nước ta 6
1.2.1 Mục tiêu của công tác GDTC 6
1.2.2 Nhiệm vụ của công tác GDTC 7
1.2 Vị trí của GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng ở nước ta hiện nay 8
1.3 Huấn luyện phát triển các tố chất thể lực là một nội dung cơ bản trong huấn luyện thể thao 10
1.4.1 Đặc điểm về mặt tâm lý 19
1.4.2 Đặc điểm sinh lý 20
1.5 Vai trò của nhà sư phạm trong công tác GDTC cho sinh viên 22
1.6 Khái quát về trò chơi vận động 23
1.6.1 Khái niệm, nguồn gốc và quá trình phát triển của trò chơi 23
1.6.1.1 Khái niệm 23
1.6.1.2 Nguồn gốc nảy sinh và phát triển của trò chơi 23
1.6.1.3 Quá trình phát triển của trò chơi 24
1.6.2 Phân loại, tác dụng, ý nghĩa, đặc điểm của trò chơi 26
Trang 6iv
1.6.2.1 Phân loại 26
1.6.2.2 Tác dụng 27
1.6.2.3 Ý nghĩa của trò chơi đối hoạt động TDTT 29
1.6.2.4 Đặc điểm của trò chơi 29
1.6.2.5 Phân biệt trò chơi với lao động sản xuất và bài tập thể thao 29
1.6.2.6 Khuynh hướng vận dụng 30
1.6.3 Phương pháp giảng dạy trò chơi 30
1.6.3.1 Những căn cứ biên soạn và sáng tác trò chơi 30
1.6.3.2 Công tác biên soạn 31
1.6.3.3 Trình tự giảng dạy 31
1.7 Một số công trình nghiên cứu liên quan 32
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 35
2.1 Phương pháp nghiên cứu 35
2.1.1 Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu 35
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn, toạ đàm 35
2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm 36
2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 36
2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 38
2.1.6 Phương pháp thống kê toán học 38
2.2 Tổ chức nghiên cứu 39
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 39
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 39
2.2.3 Thời gian nghiên cứu 39
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 40
3.1 Đánh giá thực trạng công tác GDTC tại Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên 40
3.1.1 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác GDTC của Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên 40
3.1.2 Thực trạng đội ngũ giảng dạy và nội dung chương trình GDTC cho sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên 41
Trang 7v
3.1.3 Thực trạng việc sử dụng các phương pháp trong giảng dạy cho nam sinh
viên Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên 42
3.1.4 Thực trạng việc sử dụng trò chơi vận động trong GDTC cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật – Đại học Thái Nguyên 44
3.1.5 Đánh giá trình độ thể lực chung của nam sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên 45
3.2 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực chung cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật – Đại học Thái Nguyên 47
3.2.1 Cơ sở lựa chọn trò chơi vận động ứng dụng trong giảng dạy nhằm phát triển thể lực chung cho Nam sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên 47
3.2.2 Lựa chọn trò chơi vận động động nhằm phát triển thể lực chung cho Nam sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên 48
3.2.3 Phương pháp tổ chức thực hành các trò chơi đã được lựa chọn 51
3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực chung cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên 68
3.3.1 Tổ chức thực nghiệm 68
3.3.2 Xây dựng tiến trình thực nghiệm cho đối tượng nghiên cứu 68
3.3.3 Đánh giá hiệu quả các trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực chung cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên 70
3.3.4 So sánh kết quả kiểm tra thể lực sau thực nghiệm của nhóm thực nghiệm với tiêu chuẩn đánh giá xếp loại thể lực của HSSV 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
1 KẾT LUẬN 76
2 KIẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 8vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
GDTC : Giáo dục thể chất GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo XHCN : Xã hội Chủ nghĩa
TDTT : Thể dục thể thao THPT : Trung học phổ thông
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU BẢNG
3.1 Thực trạng cơ sở vật chất của Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật -
3.2
Kết quả phỏng vấn thực trạng sử dụng các phương pháp tập luyện
nhằm nâng cao thể lực chung cho nam sinh viên Trường Cao đẳng
Kinh tế kỹ thuật – Đại học Thái Nguyên
43
3.3 Thực trạng về việc sử dụng trò chơi vận động trong GDTC cho sinh viên
Trường Cao đẳng Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên 44
3.4
Kết quả kiểm tra đánh giá trình độ thể lực của sinh viên trường Cao
đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên theo tiêu chuẩn đánh
giá thể lực của HSSV
46
3.5
Kết quả phỏng vấn cở sở lựa chọn trò chơi vận động nhằm nâng cao
thể lực chung cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật
- Đại học Thái Nguyên
48
3.6
Kết quả phỏng vấn lựa chọn trò chơi vận động nhằm phát triển thể
lực chung cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại
học Thái Nguyên
49
3.7 Tiến trình ứng dụng các bài tập 2 tháng cho nhóm thực nghiệm 69
3.8 Kết quả kiểm đánh giá trình độ thể lực chung của hai nhóm đối chứng
3.9 Kết quả kiểm tra đánh giá trình độ thể lực chung của hai nhóm đối
3.10 So sánh kết quả kiểm tra thể lực sau thực nghiệm của nhóm thực
nghiệm với tiêu chuẩn đánh giá thể lực của HSSV ở lứa tuổi 18 74
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang 10viii
3.1
Diễn biến về trình độ thể lực của nam sinh viên Trường Cao đẳng
Kinh tế kỹ thuật – Đại học Thái Nguyên trước và sau thực nghiệm
(Nội dung chạy 30m XPC)
71
3.2
Diễn biến về trình độ thể lực của nam sinh viên Trường Cao đẳng
Kinh tế kỹ thuật – Đại học Thái Nguyên trước và sau thực nghiệm
(Nội dung chạy tùy sức 5 phút)
72
3.3
Diễn biến về trình độ thể lực của nam sinh viên Trường Cao đẳng
Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên trước và sau thực nghiệm
(Nội dung bật xa tại chỗ)
72
3.4
Diễn biến về trình độ thể lực của nam sinh viên Trường Cao đẳng
Kinh tế kỹ thuật – Đại học Thái Nguyên trước và sau thực nghiệm
(Nội dung nằm ngửa gập bụng)
73
3.5
Diễn biến về trình độ thể lực của nam sinh viên Trường Cao đẳng
Kinh tế kỹ thuật – Đại học Thái Nguyên trước và sau thực nghiệm
(Nội dung chạy con thoi 4x10m)
73
Trang 11Ngày nay, con người vừa là mục tiêu giáo dục vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội vì giáo dục đã trở thành động lực chủ yếu của sự phát triển Đánh giá được tầm quan trọng của công tác huấn luyện thể thao, với mục tiêu: Tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ TDTT; tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp TDTT; đến năm 2020, phấn đấu 90% HSSV đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; các trường học, xã, phường, thị trấn, khu công nghiệp có đủ cơ sở vật chất TDTT phục vụ việc tập luyện của nhân dân; trình độ một số môn thể thao trọng điểm được nâng cao ngang tầm châu Á và thế giới; bảo đảm các điều kiện để sẵn sàng đăng cai tổ chức thành công các sự kiện thể thao lớn của châu Á và thế giới
Trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã quy định: “Chế độ GDTC bắt buộc trong các trường học” Chỉ thị 36 CT/TW ngày 21 tháng 3 năm 1994 của Ban bí thư Trung ương Đảng xác định cụ thể mục tiêu: “Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học, làm cho việc luyện tập TDTT trở thành nếp sống hàng ngày cho hầu hết HSSV” [10]
Nhưng trong thực tế hoạt động, công tác GDTC vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng mục tiêu GDTC đặt ra Đó là góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, quản lý kinh tế, văn hoá xã hội, người lao động cho đất nước có cơ thể cường tráng, có chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề vững vàng, có nhân cách con người Việt Nam, đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế thị trường Đặc biệt trong
Trang 12Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật là một trường thành viên của Đại học Thái Nguyên, được thành lập vào ngày 18/8/2005 theo quyết định số 4507/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực trình
độ cao đẳng và thấp hơn về lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật và đào tạo nghề; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi phía Bắc Tính đến năm 2020, Trường đã có lịch sử 46 năm xây dựng và trưởng thành, Trường đã đào tạo được nhiều ngàn sinh viên tốt nghiệp ra trường, được Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng Nhất, Bộ GD&ĐT, Đại học Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tặng nhiều bằng khen, giấy khen các loại Ngoài chương trình đào tạo chuyên ngành, Nhà trường cũng rất quan tâm đến công tác GDTC cho sinh viên, nhiều đội tuyển thể thao sinh viên của Trường đã tích cực tham gia các giải thể thao do Đại học Thái Nguyên và tỉnh Thái Nguyên tổ chức và đạt nhiều giải cao Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy, đội ngũ giảng viên GDTC của Nhà trường còn hạn chế về năng lực và kinh nghiệm, cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo, chương trình đào tạo
Trang 133
còn hạn chế, đặc biệt trình độ thể lực chung của sinh viên còn chưa cao Đây là vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo GDTC nói riêng và chất lượng đào tạo sinh
viên nói chung của Nhà trường [31]
Những năm qua trên cả nước đã có một số công trình nghiên cứu ứng dụng trò chơi vận động nhằm nâng cao thể lực cho sinh viên các cấp ở các địa phương
khác nhau như tác giả: Nguyễn Quốc Toản (2000), Trần Thị Tô Hoài (2008),
Nguyễn Hữu Trung (2009), Phan Thanh Hoa (2009), Phạm Sỹ Huy (2011), Dương Trọng Bình (2015), Lê Gia Quang (2017) nhưng với đặc thù vùng miền,
địa lý, điều kiện khí hậu, môi trường ở mỗi nơi đều khác nhau Ở địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói chung và Đại học Thái Nguyên nói riêng, vấn đề này vẫn chưa
có tác giả nào đi sâu nghiên cứu Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ứng dụng trò chơi vận động nhằm phát triển năng lực
thể lực chung cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật - Đại học
Thái Nguyên”
2 Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác GDTC và thể lực chung của sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực chung cho nam sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng GDTC nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung của Nhà trường
3 Mục tiêu nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định 2 mục tiêu nghiên cứu sau:
Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng công tác GDTC cho sinh viên Trường
Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên
Mục tiêu 2: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả sử dụng các trò chơi vận động
phát triển thể lực chung cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên
Trang 144
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC
Từ sau Cách mạng tháng Tám, phong trào quần chúng tập thể dục, rèn luyện thân thể và công tác GDTC trong trường học từng bước phát triển Nhà trường là cơ quan quan trọng, nơi đào tạo những chuyên gia có tri thức khoa học, những công dân có vai trò xứng đáng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng xã hội công bằng văn minh và Nhà nước pháp quyền theo định hướng
xã hội chủ nghĩa Để có những công dân phát triển đầy đủ, trước hết trẻ em phải được chăm sóc chu đáo từ tuổi thơ, mọi người đều được hưởng chế độ giáo dục toàn diện Trong đó GDTC, chăm lo sức khỏe cho HSSV là một mặt giáo dục quan trọng Vấn đề sức khỏe - thể chất không những được xã hội, cộng đồng quan tâm mà mọi người đều phải rèn luyện tích cực
Nghị định số 11/2015/NĐ-CP ngày 31/01/2015 của Chính phủ quy định về
GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường, , đã nêu rõ: “GDTC và y tế trong trường học là hoạt động giáo dục bắt buộc nhằm giáo dục, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, phát triển thể chất góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho HSSV” GDTC bao gồm nhiều hình thức và
có liên quan chặt chẽ với nhau: “Giờ học nội khóa: giờ học môn thể dục, sức khoẻ
theo chương trình quy định của Bộ GD&ĐT đối với các bậc học, cấp học; Hoạt động TDTT ngoại khoá theo kế hoạch của nhà trường và các cấp quản lý giáo dục” Nhà trường phải có kế hoạch hướng dẫn HSSV tập luyện thường xuyên, tổ
Trang 155
chức ngày hội thể thao của trường và xây dựng thành nền nếp truyền thống Kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi và chỉ tiêu phát triển thể lực cho HSSV theo quy định của chương trình GDTC [6]
Luật TDTT năm 2006 quy định: “GDTC là môn học chính khóa, thuộc
chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học, được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ, nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao” [15]
Quyết định số 53/2008-QĐ-BGD&ĐT, ngày 18/9/2008 của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT ban hành quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực HSSV Trong đó
nêu lên mục đích là nhằm đánh giá kết quả rèn luyện thể lực toàn diện của người học trong nhà trường; Điều chỉnh nội dung, phương pháp GDTC phù hợp với các trường ở các cấp học và trình độ đào tạo và đẩy mạnh việc thường xuyên rèn luyện thân thể, nâng cao sức khỏe để học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho HSSV trong quá trình hội nhập quốc tế [17]
Ngày 23/12/2008 Bộ GD&ĐT đã ra Quyết định số 72/2008/QĐ-BGD&ĐT
về việc ban hành Quy định tổ chức hoạt động thể thao ngoại khoá cho HSSV
Trong Quyết định nêu rõ: “Tổ chức cho HSSV viên tập luyện các môn thể thao
dân tộc, trò chơi vận động theo điều kiện của từng địa phương” [18]
Tháng 12 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2198/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển TDTT Việt nam đến 2020, trong đó
xác định nhiệm vụ và giải pháp phát triển TDTT trường học gồm “ Cải tiến nội
dung, phương pháp giảng dạy theo hướng kết hợp TDTT với hoạt động giải trí, chú trọng nhu cầu tự chọn của học sinh Xây dựng các loại hình câu lạc bộ TDTT trường học; khuyến khích học sinh dành thời gian từ 2 - 3 giờ/tuần để tham gia hoạt động thể thao ngoại khóa trong các câu lạc bộ, các lớp năng khiếu thể thao” [1]
Ngày 17 tháng 06 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định
1076/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án tổng thể phát triển GDTC và thể thao trường
Trang 166
học giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025” Đề án chỉ rõ: “Nâng cao
chất lượng, hiệu quả GDTC và thể thao trường học nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể lực toàn diện, trang bị kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản và hình thành thói quen tập luyện TDTT thường xuyên cho trẻ em, HSSV; gắn GDTC, thể thao trường học với giáo dục ý chí, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống; đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí, lành mạnh cho trẻ em, HSSV, đồng thời góp phần phát hiện, đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao cho đất nước”
Chăm lo giáo dục toàn diện cho HSSV luôn là nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Trong đó, công tác GDTC
và thể thao trong các trường học được Đảng, Nhà nước và các ngành liên quan quan tâm, đầu tư và đã đạt được những kết quả đáng kể Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn quan tâm đến công tác đào tạo thế hệ trẻ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, mà bắt đầu từ lứa tuổi mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học , trong đó giáo dục phổ thông có vai trò đặc biệt quan trọng
Hệ thống Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định và các văn bản pháp quy của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở về cơ bản đã hoàn chỉnh và cho phép chúng
ta có đầy đủ cơ sở pháp lý triển khai trong thực tiễn [21]
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng ở nước ta
1.2.1 Mục tiêu của công tác GDTC
Công tác GDTC trong các trường Đại học có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ tri thức mới, đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, để thực hiện
mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Giai đoạn học tập trong các trường Đại học của sinh viên là một giai đoạn quan trọng nhất trong việc chuyển biến từ những bậc học mầm non đến phổ thông trong giai đoạn phát triển ban đầu Sau khi tốt nghiệp ra trường, lớp sinh viên trở thành những cán bộ khoa học có đầy đủ sức khoẻ, tri thức, phẩm chất đạo đức
và có thể hoạt động độc lập một cách sáng tạo trong chuyên ngành của mình
Trang 177
Trong toàn bộ hệ thống giáo dục toàn diện đó, GDTC đóng một vai trò hết sức
to lớn
1.2.2 Nhiệm vụ của công tác GDTC
Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức
kỷ luật, xây dựng niềm tin lối sống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác học tập và
rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ Tổ quốc
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về nội dung và phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản của một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện nói trên để tự rèn luyện thân thể tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức hoạt động TDTT cơ sở
Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của sinh viên, phát triển cơ thể một cách hài hoà, xây dựng thói quen lành mạnh, khắc phục những thói quen xấu trong cuộc sống, nhằm sử dụng thời gian vào công việc có ích đạt kết quả tốt trong quá trình học tập và đạt được những chỉ tiêu thể lực quy định cho từng đối tượng và năm học trên cơ sở rèn luyện thân thể theo lứa tuổi
Giáo dục óc thẩm mỹ cho sinh viên và tạo điều kiện để nâng cao trình độ thể thao của sinh viên
Hoạt động TDTT trong các trường Đại học, Cao đẳng là một thành phần trong việc giáo dục toàn diện cho sinh viên giải quyết các nhiệm vụ giáo dục của hoạt động TDTT là tăng cường sức khoẻ:
- Nhiệm vụ giáo dục là nhằm hình thành các phẩm chất ý thức và đạo đức
của con người mới, góp tích cực vào giáo dục trí tuệ, giáo dục lao động, giáo dục thẩm mỹ
- Nhiệm vụ giáo dưỡng là nhằm hình thành một hệ thống các kỹ năng, kỹ
xảo vận động, các phẩm chất thể lực cơ bản cần thiết của cuộc sống hàng ngày Trong đó có các kỹ năng, kỹ xảo thực trạng và các kỹ năng, kỹ xảo thể thao Đồng thời trang bị cho người học những tri thức cần thiết về lĩnh vực hoạt động
Trang 181.2 Vị trí của GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng ở nước ta hiện nay
Phát triển TDTT và nâng cao thể lực cho HSSV chính là mục tiêu quan trọng, nhằm tạo ra những con người đầy đủ chí và lực, đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Từ nhiều năm qua, Bộ GD&ĐT đã chăm lo GDTC trong nhà trường và đạt được những thành quả nhất định Ngành TDTT cũng đã quan tâm và có sự thực hiện cam kết giữa Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và Bộ trưởng Chủ nhiệm Uỷ ban TDTT chính thức ngày 20/6/2000 Hai ngành đã phối hợp chỉ đạo và tổ chức các hoạt động nhằm đẩy mạnh nâng cao chất lượng GDTC trong trường học Công tác GDTC trong các trường đại học có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ tri thức mới, để thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, văn minh” Giai đoạn học tập trong các trường đại học của sinh viên, là một giai đoạn quan trọng nhất trong việc chuyển biến từ những bậc học mầm non đến hết phổ thông Sau khi tốt nghiệp ra trường, lớp sinh viên trở thành những người cán bộ khoa học, có đầy đủ sức khoẻ, trí thức, có phẩm chất đạo đức và có thể hoạt động một cách độc lập sáng tạo trong chuyên ngành của mình Trong toàn hệ thống giáo dục thì GDTC có vai trò rất to lớn, thông qua các hoạt động TDTT, sinh viên đại học phát triển một cách hài hoà, cân đối, tăng
Trang 19Để thực hiện tốt các mục tiêu đó, công tác GDTC trong các trường đại học phải giải quyết đồng thời các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực, lành mạnh, giáo dục tinh thần tự giác học tập và rèn luyện TDTT, chuẩn bị sẵn sàng sản xuất và bảo vệ
Tổ quốc
- Cung cấp cho sinh viên những lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp luyện tập TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện để rèn luyện TDTT, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT
Trang 2010
- Giáo dục óc thẩm mỹ, tạo điều kiện nâng cao trình độ thể thao, các tố chất thể lực cho sinh viên
Trong những năm gần đây công tác GDTC và TDTT trong trường học đã
có những tiến bộ Việc dạy và học thể dục nội khóa trong các trường từ phổ thông đến đại học đều đi vào nền nếp Thậm chí nhiều trường, đã thực hiện giờ học nội khóa với trang phục thể thao bắt buộc Các hình thức hoạt động thể thao trong HSSV ngày càng được mở rộng với quy mô và chất lượng cao hơn Đã
có những trường đại học thành lập nhiều đội tuyển ở các môn như: Bóng truyền, Bóng đá, Điền kinh, Cờ vua Các hoạt động thể thao sinh viên đã được hai ngành Giáo dục, Đào tạo và TDTT phối hợp chỉ đạo chặt chẽ, đã có tác dụng thiết thực, góp phần tăng cường sức khoẻ, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho học HSSV và ngăn chặn các tệ nạn văn hoá xã hội Đặc biệt hội thể thao Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp đã tổ chức nhiều giải thể thao lớn Hội cũng tham gia nhiều giải thể thao do Tổng cục TDTT tổ chức Ngày hội thi nghiệp vụ Sư phạm, văn nghệ và TDTT, đã có gần 4000 sinh viên, cán
bộ, thầy cô giáo của tất cả các trường Sư phạm trong cả nước tham dự Không dừng lại ở đó, sinh viên Việt Nam đã có mặt tại đại hội sinh viên thế giới tổ chức tại Bắc Kinh - Trung Quốc, đại hội TDTT sinh viên Đông Nam Á Mặt khác, hai ngành đã chỉ đạo, tổ chức thành công hội nghị khoa học GDTC và y
tế trường học, hàng trăm thầy cô giáo và các nhà khoa học tham gia nghiên cứu khoa học Với rất nhiều công trình khoa học đã được báo cáo tại hội nghị, góp phần nâng cao công tác giảng dạy và chăm sóc sức khoẻ cho HSSV [2] [16]
1.3 Huấn luyện phát triển các tố chất thể lực là một nội dung cơ bản trong huấn luyện thể thao
Huấn luyện thể lực bao gồm huấn luyện thể lực chung và thể lực chuyên môn
Huấn luyện thể lực chung nhằm phát triển toàn diện cơ thể VĐV, củng cố
hệ thống cơ quan trong cơ thể, nâng cao khả năng chức phận, hoàn thiện khả
Trang 21Cùng với sự phát triển về trình độ của VĐV, vai trò của nhiệm vụ phát triển thể lực toàn diện các bài tập chuẩn bị chung phải giảm dần còn vai trò của nhiệm vụ phát triển thể lực chuyên môn và các bài tập chuyên môn sẽ tăng dần
Khối lượng các bài tập huấn luyện chung trong hệ thống huấn luyện VĐV
ở mức độ đáng kể được xác định bằng mức độ đạt được của các thành tố trong trình độ huấn luyện của VĐV [19]
Nội dung huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao là nhằm hướng tới phát triển các tố chất vận động thông qua hệ thống các phương tiện huấn luyện Theo quan điểm của các nhà lý luận, nội dung các tố chất thể lực bao gồm:
Là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắn nhất hay
là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người, nó quy định chủ yếu và trực tiếp đặc tính tốc độ động tác cũng như thời gian phản ứng vận động
Người ta phân biệt ba hình thức đơn giản biểu hiện sức nhanh như:
- Thời gian tiềm phục của phản ứng vận động
- Tốc độ động tác đơn (với lượng đối kháng bên ngoài nhỏ)
- Tần số động tác:
Trang 2212
+ Giai đoạn tăng tốc độ
+ Giai đoạn tốc độ ổn định tương đối
Đặc điểm của giai đoạn thứ nhất là chuyển động nhanh dần hay chuyển động có gia tốc Khi tốc độ không tăng thêm được nữa thì chuyển sang giai đoạn hai - giai đoạn chuyển động đều
Theo quan điểm sinh lý, về thời gian tiềm phục của phản ứng vận động gồm 5 thành phần:
+ Xuất hiện hưng phấn trong cơ quan cảm thụ
+ Dẫn truyền hưng phấn vào hệ thần kinh trung ương
+ Truyền hưng phấn trong tổ chức hình thành tín hiệu ly tâm
+ Truyền tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương tới cơ
+ Hưng phấn cơ và cơ hoạt động tính cực
Trong tập luyện và thi đấu thể thao, sức nhanh có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng Nó quyết định đến thành tích thi đấu của VĐV
- Huấn luyện sức nhanh:
Sức nhanh là một trong những tố chất quan trọng nhất của VĐV, là khả năng hoạt động với tốc độ cực hạn Từ các hình thức biểu hiện sức nhanh người ta cũng đã xác định những yếu tố chi phối ảnh hưởng tới sức nhanh, nó bao gồm:
+ Độ linh hoạt của các quá trình thần kinh
+ Sức mạnh tốc độ
+ Đàn tính cơ băp và khả năng thả lỏng
Xuất phát từ những yếu tố trên, để phát triển sức nhanh cần giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nâng cao tần số
- Hoàn thiện các nhân tố ảnh hưởng tới tốc độ tối đa
* Các phương pháp huấn luyện sức nhanh:
- Phương pháp lặp lại: khi sử dụng phương pháp lặp lại cần chú ý:
Trang 23Thường được áp dụng với lứa tuổi 7 - 9, thậm chí 5 - 7 tuổi
- Phương pháp thi đấu: Nhằm tăng tính hưng phấn của người tập, kích thích khả năng thực hiện bài tập với tốc độ tối đa Song phương pháp này chỉ thực hiện khi người tập đã nắm vững kỹ thuật các bài tập
Trong quá trình huấn luyện sức nhanh cần phải chú ý nâng cao tần số thông qua các bài tập:
- Bài tập phát triển sức mạnh tốc độ
- Bài tập với cường độ gần tối đa và tối đa
- Các bài tập trên có thể thực hiện trong các điều kiện dễ hơn hoặc khó hơn trong điều kiện bình thường
Trong quá trình huấn luyện sức nhanh cần lưu ý đề phòng hiện tượng
Trang 24cơ bắp sinh ra các lực cơ học, các chỉ số khác nhau cho nên có thể coi các chế độ hoạt động của cơ là cơ sở để phân biệt các loại sức mạnh Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học người ta đã đi đến một số kết luận có ý nghĩa cơ bản trong phân loại sức mạnh
Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt với các trị số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường Trong chế độ nhượng bộ khả năng sinh lực của các cơ là lớn nhất Đôi khi gấp hai lần lực phát huy trong trong điều kiện tĩnh Trong các động tác nhanh trị số lực giảm dần theo chiều nghịch với tốc độ Khả năng sinh lực trong các động tác nhanh tuyệt đối (tốc độ) và khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh tối đa (sức mạnh tĩnh) không có tương quan với nhau Trên cơ sở đó sức mạnh được phân chia thành sức mạnh đơn thuần (khả năng sinh lực trong các động tác chậm hoặc tĩnh) sức mạnh tốc độ (khả năng sinh lực trong các động tác nhanh) Sức mạnh tốc độ còn được chia nhỏ tuỳ theo chế độ vận động thành sức mạnh động lực và sức mạnh hoãn xung
Trang 2515
- Huấn luyện sức mạnh:
+ Khả năng thể hiện sức mạnh phụ thuộc vào khả năng phối hợp thần kinh
cơ, khả năng nỗ lực ý chí, số lượng cơ bắp tham gia
+ Các hình thức khác nhau của năng lực sức mạnh có liên quan chặt chẽ với nhau Vì vậy trong huấn luyện cần thiết phải lựa chọn bài tập cũng như phương pháp để đạt được định mức huấn luyện
+ Sức mạnh thể hiện phù hợp với các yêu cầu của môn điền kinh tự chọn gọi là sức mạnh chuyên môn
+ Sức mạnh trong các hoạt động đa dạng gọi là sức mạnh chung, và thường được huấn luyện trong thời kỳ chuẩn bị chung
+ Sức mạnh chuyên môn được phát triển thông qua việc sử dụng các bài tập mang đặc điểm cấu trúc giống với môn thể thao tự chọn, có thể toàn bộ hoặc từng phần
+ Các bài tập sức mạnh được sử dụng nhiều trong thời kỳ chuẩn bị và giảm trong thời kỳ thi đấu Các bài tập chuyên môn chủ yếu mang đặc điểm sức mạnh vẫn được sử dụng trong thời kỳ thi đấu Những bài tập này sẽ có tác dụng duy trì sức mạnh đã đạt được thậm chí trong nhiều trường hợp nó có tác dụng nâng cao
+ Các bài tập phát triển sức mạnh yêu cầu gắng sức và nổ lực lớn thường
có thể sử dụng ba lần trong một tuần Các bài tập với trọng lượng nhẹ có thể sử dụng hàng ngày
+ Sự tăng trưởng sức mạnh của nhóm cơ riêng biệt trong chạy, nhảy, ném phụ thuộc vào khả năng phối hợp của bộ máy thần kinh cơ trong các hoạt động vận động Vì vậy trong các chu kỳ tuần, cần phối hợp việc sử dụng các bài tập chuyên môn có trọng tải phụ với không có trọng tải phụ [19] [23]
1.3.1.3 Tố chất sức bền
Sức bền là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ cho trước, hay
là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được
Trang 2616
Do thời gian hoạt động đó cuối cùng bị giới hạn bởi sự xuất hiện của mệt mỏi, nên sức bền còn có thể nói là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó
- Sức bền chung: Là sức bền trong các hoạt động kéo dài, với cường độ
thấp, có sự tham gia của phần lớn hệ cơ
Sức bền chung có khả năng chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác,
từ là khi được nâng cao trong một loại bài tập nào đó, nó có khả năng biểu hiện trong các loại bài tập khác có cùng tính chất Điều này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng Để nâng cao sức bền chung của VĐV ở một môn nào đó có thể sử dụng nhiều hình thức bài tập khác nhau
- Sức bền chuyên môn: Là năng lực duy trì khả năng vận động cao trong
những loại hình bài tập nhất định
Sức bền trong từng loại bài tập có tính chuyên biệt phụ thuộc vào những nhân tố khác nhau, đặc biệt là phụ thuộc và mức độ hoàn thiện kỹ thuật Do đó, khi nâng cao sức bền chuyên môn trong một loại bài tập xác định nào đó thì hầu như không có tác dụng là tăng sức bền chuyên môn trong một loại bài tập khác
có nghĩa ở đây hầu như không có sự chuyển của sức bền Sự chuyển của sức bền
có thể xảy ra hay không tuỳ thuộc vào cơ chế cung cấp năng lượng trong vận động đặc điểm các tố chất vận động của bài tập, tác dụng tương hỗ của kỹ năng,
kỹ xảo vận động sức bền nói chung rất cần thiết cho con người, đối với VĐV nó
là một thành phần trong phát triển thể lực toàn diện, là kết quả của sự biến đổi tốt, thực hiện trước tiên có hệ thống thần kinh trung ương cũng như các hệ thống tim mạch, hô hấp
- Huấn luyện sức bền:
+ Sức bền chung là một thành phần của trình độ huấn luyện thể lực chung của VĐV, nó được phát triển thông qua các bài tập thể lực được đưa vào huấn luyện Phương tiện tốt nhất để phát triển sức bền chung là chạy cự ly dài với cường độ điều hoà Bởi vì khi tập như vậy trong cơ thể các cơ quan và hệ thống
Trang 27Sức bền cũng có liên quan đến tính hợp lý và tiết kiệm trong kỹ thuật và chiến thuật
Trong các môn thể thao khác nhau thì sức bền chuyên môn cũng có những đặc thù riêng vì vậy ở mỗi môn cần có phương pháp phát triển sức bền riêng
Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chất lượng động tác Nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy đủ sẽ dẫn đến hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao
+ Huấn luyện độ mềm dẻo:
Độ mềm dẻo được coi là một tố chất rất cần đối với VĐV vì nó giúp cho
họ thực hiện được động tác với biên độ lớn Độ mềm dẻo phụ thuộc vào hình dạng khớp, độ linh hoạt của cột sống, tính đàn hồi của dây chằng, gân và cơ,
Trang 281.3.1.5 Tố chất khéo léo (năng lực phốí hợp vận động)
Năng lực phối hợp vận động là một phức tạp các tiền đề của VĐV (cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thắng lợi một hoạt động thể thao nhất định
Năng lực phối hợp vận động gồm 07 loại:
- Năng lực liên kết vận động: Đó là năng lực nhằm liên kết các hoạt động vận động của từng bộ phận cơ thể, các phần của động tác trong mối quan hệ với với hoạt động nhất định Nó thể hiện sự liên hợp các yếu tố về không gian, thời gian, và dùng sức trong quá trình vận động
- Năng lực định hướng: Đó là năng lực xác định thay đổi tư thế và hoạt động của cơ thể trong không gian và thời gian
- Năng lực thăng bằng: Đó là năng lực ổn định trạng thái thăng bằng của
cơ thể (thăng bằng tĩnh) hoặc duy trì và khôi phục nó trong và sau khi thực hiện động tác (thăng bằng động)
- Năng lực nhịp điệu: Đó là năng lực nhận biết sự luân chuyển các đặc tính chuyển động trong quá trình một động tác hoặc thể hiện nó trong khi thực hiện động tác
- Năng lực cảm ứng: Đó là năng lực nhận biết được sự luân chuyển các đặc tính chuyển động trong quá trình một động tác hoặc thể hiện nó trong khi thực hiện động tác
- Năng lực phản ứng: Đó là khả năng dẫn truyền nhanh chóng và thực hiện các phản ứng vận động một cách hợp lý và nhanh chóng đối với một tín hiệu (đơn giản hoặc phức tạp)
Trang 2919
- Năng lực phân biệt vận động: Đó là năng lực thực hiện động tác một cách chính xác cao và tinh tế từng động tác riêng lẻ, từng giai đoạn của quá trình đó, năng lực này thể hiện sự phát hiện có ý thức chính xác các thông số
về thời gian
- Năng lực thích ứng: là năng lực chuyển chương trình hành động theo phương thức khác dựa trên cơ sở những thay đổi của hoàn cảnh hoặc dự đoán các thay đổi đó sự thể hiện có tính chất cá nhân của từng khả năng riêng biệt đối với quá trình huấn luyện kỹ thuật
- Huấn luyện sự khéo léo:
Khéo léo được thể hiện ở mức độ cao của sự phối hợp động tác Nó cần thiết cho các nhiệm vụ vận động xuất hiện bất ngờ, đòi hỏi phải nhanh chóng định hướng và thực hiện cấp bách VĐV cần phải khéo léo để đảm bảo an toàn cho bản thân khi bị ngã trong huấn luyện và thi đấu
Để phát triển sự khéo léo, VĐV cần chơi các môn bóng (đặc biệt là các môn bóng rổ và bóng ném, thể dục dụng cụ, các bài tập nhào lộn [11] [19] [23]
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi 18 - 22
do thái độ tự giác tích cực trong cuộc sống hình thành tư động cơ đúng đắn
- Tình cảm đi đến hoàn thiện, biểu hiện các nét yêu quý tôn trọng mọi người, cư xử đúng mực, biết kính trên nhường dưới…
- Trí nhớ phát triển hoàn thiện, đảm bảo nhớ một cách có hệ thống, logic
tư duy chặt chẽ
- Các phẩm chất ý chí được kiên định
- Sự phát triển về nhân cách
Trang 30+ Thích xây dựng các mối quan hệ thân thiết với người khác giới
+ Thích gần gũi với những người lớn tuổi có học thức và hiểu họ
- Sự phát triển về trí tuệ:
+ Đặc điểm nổi bật của thời kì này là theo đuổi hoạt động trí tuệ và thực hiện quá trình hệ thống hoá lại các kiến thức đã học
+ Năng khiếu thẩm mỹ đã được nâng cao
+ Sinh viên có xu hướng tìm tòi những thông tin và khoa học trên mọi lĩnh vực
+ Thích tìm hiểu những vấn đề mà đòi hỏi phải có một suy nghĩ trừu tượng + Quan tâm hơn đến các hoạt động xã hội, chính trị, kinh tế và nghề nghiệp khi mình ra trường [13] [20]
1.4.2 Đặc điểm sinh lý
- Hệ thần kinh: các biểu hiện cơ bản của hoạt động thần kinh cao cấp hoàn thiện khả năng tư duy, phân tích tổng hợp, trừu tượng hoá và khả năng giao tiếp ngày càng được hoàn thiện, làm cho nhận thức mở rộng Độ linh hoạt của các
Trang 3121
quá trình hưng phấn thần kinh và ức chế được cân bằng Sự phối hợp động tác đạt được những kỹ xảo
- Trao đổi chất và năng lượng: đặc điểm chính của lứa tuổi này là quá trình
dị hoá chiếm ưu thế hơn so với quá trình đồng hoá do sự phát triển hình thành cơ bản ở lứa tuổi này diễn ra chậm
- Hệ vận động:
+ Hệ xương: bắt đầu giảm tốc độ phát triển, sinh viên nam cao thêm khoảng 1 - 3cm, cột sống đã ổn định hình dáng và hoàn thiện
+ Hệ cơ: các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên cơ co còn yếu, các
cơ lớn phát triển tương đối nhanh, các cơ nhỏ phát triển chậm hơn các cơ duỗi
+ Hệ tuần hoàn: đã phát triển và hoàn thiện
+ Buồng tim phát triển tương đối hoàn chỉnh
+ Mạch của sinh viênkhoảng từ 70 - 90 lần/phút
+ Phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ ràng, nhưng sau vận động mạch và huyết áp hồi phục nhanh
+ Thể tích phút của dòng máu tính trên 1kg trọng lượng (thể tích phút tương đối giảm theo lứa tuổi) Khi 15 tuổi chỉ số này vào khoảng 70ml Từ 16 - 22 tuổi giảm xuống 60ml, đây là lứa tuổi có ảnh hưởng nhất định thể tích tâm thu và thể tích phút càng cao Thể tích tâm thu tối đa ở lứa tuổi 18 - 22 là 120 - 140ml
Trong các hoạt động căng thẳng thể tích phút của sinh viên Pencak Silat trường Đại học TDTT Bắc Ninh có thể đạt tới mức 24 - 28 lít/phút
+ Huyết áp tăng dần cùng với lứa tuổi khi 18 tuổi huyết áp tối đa sẽ tăng lên khoảng 100 - 110mmHg Huyết áp thể thao tăng khoảng 90 - 95mmHg hoạt động thể lực làm tăng huyết áp trong hoạt động với công suất tối đa Huyết áp tối đa tăng trung bình thêm khoảng 50mmHg
+ Hệ hô hấp: đã phát triển tương đối hoàn thiện
+ Lồng ngực trung bình khoảng 67 - 72cm
Trang 32+ Một trong những chỉ số quan trọng nhất của cơ quan hô hấp là thông khí phổi tối đa chỉ số này cũng tăng dần theo lứa tuổi, trong hoạt động thể lực thông khí phổi tăng lên chủ yếu là do tần số hô hấp chứ không phải độ sâu hô hấp, việc tăng tần số như vậy làm cho cơ thể nhận oxi, hấp thụ oxy trong hoạt động thể lực phát triển từ 15 - 16 lần so với mức chuyển hoá cơ sở [12] [27]
1.5 Vai trò của nhà sư phạm trong công tác GDTC cho sinh viên
Trước những sự chuyển mạnh mẽ về đời sống xã hội và sự phát triển như
vũ bão của khoa học công nghệ, tất cả những thay đổi đó đòi hỏi người làm việc trong nền sản xuất hiện đại phải có năng lực cả về thể chất, lẫn tinh thần ngày càng hoàn thiện hơn Để đáp ứng những yêu cầu của đất nước trong tình hình
mới Sự nghiệp TDTT cần được phát triển đúng hướng theo quan điểm: “Phát
triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước, nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ, giáo dục nhân cách đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú thêm đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân, nâng cao chất lượng lao động xã hội và sức chiến đấu của lực lượng
vũ trang” [6]
Trong công tác GDTC, sức khoẻ, y tế trường học năm học 2000 - 2001
nêu quan điểm chung: “Tiếp tục quán triệt quan điểm cơ bản của Nghị quyết
Trung ương 2 (Khoá VIII) đặc biệt là mục tiêu giáo dục toàn diện trong nhà trường, nghiêm chỉnh thi hành luật giáo dục, luật chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ trẻ
em, luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân, các quy chế văn bản dưới luật về công tác GDTC, sức khoẻ, y tế”
Trang 33Hoàn thiện củng cố hệ thống tổ chức GDTC và thể thao trường học nhằm phát hiện, bồi dưỡng ban đầu và hướng nghiệp cho học sinh năng khiếu
Tăng cường tổ chức quản lý Nhà nước về TDTT ở các cấp giáo dục, mở rộng các tổ chức xã hội về TDTT, đưa công tác kế hoạch hoá vào nền nếp
Hoàn thành quy hoạch về cơ sở vật chất TDTT của ngành giáo dục đào tạo trên phạm vi toàn quốc, xúc tiến xây dựng một số công trình TDTT theo trọng điểm ở các khu vực trường
Đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ đào tạo giáo viên TDTT nhằm tăng cường về số lượng những thành tựu khoa học GDTC và y học thể thao nhằm phát triển và nâng cao chất lượng GDTC và thể thao học đường [2]
1.6 Khái quát về trò chơi vận động
1.6.1 Khái niệm, nguồn gốc và quá trình phát triển của trò chơi
1.6.1.2 Nguồn gốc nảy sinh và phát triển của trò chơi
Trò chơi là hình thức hoạt động tự nhiên được xuất hiện do nhu cầu về tinh thần cũng như thể chất của con người từ xa xưa Từ thời sơ khai của xã hội
Trang 3424
loài người, cuộc đấu tranh sinh tồn trước hoàn cảnh tự nhiên cũng như xã hội đã buộc loài người phải sáng tạo trong lao động và tự vệ Con người thường xuyên phải năng động để tạo ra nhiều sản phẩm cho cộng đồng cũng như chiến đấu chống các thế lực đối lập để duy trì sự tồn tại Thời điểm này càng chứng tỏ sự tổn tại của con người phụ thuộc trực tiếp vào trình độ chuẩn bị và phát triển các
tố chất thể lực Nhiều bộ tộc cổ đại đã biết sử dụng trò chơi cũng như các bài tập phát triển thể lực như một phương tiện đặc biệt nhằm chuẩn bị cho con người bước vào lao động tự nhiên Những trò chơi và các bài tập thể lực là các hoạt động leo trèo, chạy, nhảy, ném thực chất là sự tái diễn các thao tác trong đời sống chiến đấu lao động của con người Mục đích để con người hoạt động có hiệu quả hơn Dần dần các bài tập tự nhiên được thay thế bằng các bài tập phân tích, ở vào thời điểm này chính là sự ra đời của trò chơi vận động Như vậy trò chơi là sự phản ánh những hoạt động sống của con người và nảy sinh từ thực tiễn lao động Ăng ghen nhận định: “Lao động là nguồn gốc quyết định sự phát triển của xã hội loài người” vì thế trò chơi có nguồn gốc từ lao động [13] [22]
1.6.1.3 Quá trình phát triển của trò chơi
Trải qua nhiều thời kỳ phát triển của xã hội loài người để hình thành hệ thống các hoạt động hoàn thiện như ngày nay trò chơi cũng trải qua các giai đoạn lịch sử trong quá trình tiến hoá của xã hội:
- Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ:
Trò chơi mang ý nghĩa chân chính, cuộc sống tự nhiên đòi hỏi mọi thành viên trong xã hội phải có sự chuẩn bị nhất định về thể lực như khoẻ mạnh, bền
bỉ, nhanh nhẹn, khéo léo để hoàn thành tốt những công việc như săn bắn, hái lượm, chiến tranh và phòng ngừa thiên tai Sự tồn tại của một bộ tộc là phụ thuộc chủ yếu vào trình độ chuẩn bị và phát triển các tố chất thể lực Thời kỳ này trò chơi còn được coi như một sinh hoạt văn hoá sử dụng trong những ngày
lễ hội như săn bắt được nhiều muông thú, ngày chiến thắng kẻ thù hay vượt khỏi thiên tai
Trang 3525
- Trong thời kỳ chiến hữu nô lệ:
Điển hình là thời cổ Hy Lạp lúc này xã hội đã có giai cấp (chủ nô và người
nô lệ) Các chủ nô đã biết tận dụng các bài tập thể chất trong đó có trò chơi để tăng cường thể lực cho binh lính nhằm phục vụ cho các cuộc chiến tranh xâm lược và đàn áp người nô lệ Trò chơi thời kỳ này ngoài phục vụ cho sở thích, nhu cầu tinh thần của mọi người nó còn được coi là phương tiện phục vụ cho giai cấp thống trị Là một hoạt động cơ bản trong các lễ hội
- Trong chế độ phong kiến:
Cùng với các nội dung GDTC, trò chơi được giai cấp phong kiến tận dụng phục vụ lợi ích của giai cấp mình Giai cấp phong kiến lợi dụng những sinh hoạt văn hoá trong đó có trò chơi nhằm ru ngủ người lao động, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, làm họ quên đi nỗi bất công trong xã hội làm giảm tinh thần đấu tranh
vì tự do công bằng của quần chúng Đó là những cuộc vui chơi, hội hè kéo dài trong các cuộc lễ tết Nhiều nhà văn, nhà thơ đã cảnh tỉnh quần chúng nhân dân thông qua ngòi bút của mình đó là: Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan, Hội Tây của Tú Xương
- Trong xã hội phát triển:
Cùng với sự nhảy vọt của nền khoa học kỹ thuật, trò chơi lúc này vẫn là hiện tượng không thể thiếu của mọi tầng lớp trong xã hội Đồng thời trong giai đoạn này đã xuất hiện cơ sở về lý luận GDTC nói chung trong đó có trò chơi Trò chơi được đưa vào hệ thống giáo dục trẻ em nó được phát triển đa dạng, phong phú cả về nội dung và hình thức Lúc này giai cấp tư sản vẫn tiếp tục sử dụng trò chơi nhằm đánh lạc hướng quần chúng lao động đặc biệt là thanh niên rời khỏi đời sống chính trị và phong trào cách mạng đồng thời kích động đào tạo thanh niên chuẩn bị cho những cuộc chiến tranh phi nghĩa Ở những nước có chế
độ xã hội tiến bộ trò chơi được sử dụng để tăng cường sức khoẻ cho học sinh, sinh viên và mọi tầng lớp trong xã hội Giai đoạn này có nhiều lý luận thể hiện những quan điểm khác nhau về nguồn gốc của trò chơi Quan điểm duy tâm cho
Trang 36bộ của những nhà duy vật cho trò chơi có nguồn gốc từ lao động, lao động sáng tạo ra loài người, lao động sinh ra ngôn ngữ từ đó mới có các quy tắc, luật lệ và mới có trò chơi
Quan điểm sinh học đúng đắn của Páp Lốp (PavLov nhà bác học người Nga) khẳng định rằng trò chơi của loài vật là hoạt động mang tính bản năng dựa trên cơ sở của hệ thống tín hiệu thứ nhất (đơn giản) Còn con người khi có tiếng nói, chữ viết (tín hiệu của tín hiệu) những thao tác trong lao động, sản xuất chiến đấu thông qua tư duy sáng tạo đã hình thành những trò chơi Ngày nay trò chơi
đã trở thành một bộ phận của giáo dục toàn diện Tóm lại cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội loài người, trò chơi là một hệ thống các bài tập thể chất nhằm tăng cường sức khoẻ, khả năng lao động sáng tạo và tinh thần sảng khoái cho mọi người
Tóm lại: Trò chơi mang tính giai cấp vì dưới mỗi chế độ xã hội khác nhau, trò chơi được sử dụng với mục đích khác nhau [22]
1.6.2 Phân loại, tác dụng, ý nghĩa, đặc điểm của trò chơi
1.6.2.1 Phân loại
Hoạt động vui chơi
Trang 3727
Trò chơi
Giải trí, tiêu khiển Trò chơi vận động Trò chơi trí tuệ
Do trò chơi rất phong phú, đa dạng và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau đặc biệt là phương tiên GDTC cho học sinh, nên việc phân loại rất phức tạp và khó khăn Dưới đây là một số cách phân loại:
- Cách phân loại căn cứ vào những động tác cơ bản
- Cách phân loại căn cứ vào sự phát triển tố chất
- Cách phân loại căn cứ vào khối lượng vận động
- Cách phân loại căn cứ vào hình thức tổ chức chơi [22]
- Thúc đẩy sự phát triển và củng cố các cơ quan nội tạng đặc biệt ở lứa tuổi học sinh phổ thông, giúp cho sự thích nghi ngày càng nhiều trước nhu cầu vận động, cụ thể: Hoàn thiện và tăng cường hệ chức năng hệ tuần hoàn giúp cho
sự phát triển độ dày và sức mạnh cơ tim, tăng thể tích buồng tim dẫn tới thể tích tâm thu ngày càng lớn Tăng cường tập luyện còn làm cho mạch máu tăng tính đàn hồi, tần số mạch giảm, tăng hiệu suất làm việc của hệ tuần hoàn đáp ứng được nhu cầu vận động
Trang 38DTS = Vlt + Vbx + Vdt
Trong đó: Vlt: Thể tích khí lưu thông
Vbx: Thể tích khí bổ sung Vdt: Thể tích khí dự trữ
Ở người bình thường DTS khoảng 3.500ml - 4.000ml
Ở những người tham gia tập luyện TDTT đặc biệt ở môn bơi lặn, dung tích sống lên tới 6000ml - 7000ml Tần số thở ở trẻ nhỏ khoảng 20 - 22 lần/phút, người lớn khoảng 16 - 18 lần/phút, VĐV khoảng 12 - 14 lần/phút Hoạt động hô hấp được tiết kiệm trong yên tĩnh và hiệu quả khi vận động với khối lượng lớn
- Đối với hệ thần kinh, trò chơi phát triển tốt hoạt động của hệ thần kinh như thúc đẩy sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo cơ bản Gây hứng thú và cảm giác thoải mái tạo điều kiện cho các em tiếp thu tốt kiến thức các môn văn hoá khác Mặt khác, trước nhu cầu vận động thần kinh cơ cũng được cải thiện cụ thể các đơn
vị vận động được tăng lên làm cho hoạt động cơ bắp được linh hoạt, phát huy khả năng sức nhanh, mạnh, bền và khéo léo Trò chơi còn góp phần lớn vào việc phát triển các tố chất thể lực cho học sinh, giúp các em củng cố ôn luyện những kỹ thuật TDTT như khả năng chạy, nhảy Qua đó các kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống ngày càng được trang bị hoàn thiện như leo trèo, chạy nhảy, vượt chướng ngại vật… trò chơi còn góp phần xây dựng đạo đức con người mới như tính dũng cảm, tình đoàn kết, ý thức tổ chức kỷ luật, lòng kiên trì, ý trí quyết thắng
Như vậy ta thấy rằng trò chơi có tác dụng lớn trong việc giáo dục và hình thành kỹ năng cho học sinh Nó không những thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển
cơ thể các em mà còn nâng cao được nhận thức đúng đắn và phẩm chất của con người trong xã hội mới [22]
Trang 3929
1.6.2.3 Ý nghĩa của trò chơi đối hoạt động TDTT
Trong lĩnh vực thể thao trò chơi được sử dụng với ý nghĩa sau:
- Dùng cho khởi động chung trước các buổi tập
- Thông quan trò chơi phát hiện những tài năng và tố chất bẩm sinh giúp cho việc tuyển chọn vận động viên trẻ
- Là những bài tập bổ trợ phát triển thể lực, rèn luyện tố chất: sức nhanh
di động, sức bền chuyên môn, khéo léo linh hoạt
- Là những bài tập giải trí và thả lỏng cơ bắp sau hoạt động căng thẳng [22]
1.6.2.4 Đặc điểm của trò chơi
- Trò chơi vận động mang tính tư tưởng cao vì: hầu hết các trò chơi đã mang tính mục đích rõ ràng trong quá trình chơi quan hệ giữa cá nhân và trách nhiệm trước tập thể được hình thành Thông qua đó xây dựng cho học sinh tính sáng tạo trong hoạt động góp phần giáo dục nhân cách con người
- Trò chơi vận động mang tính chủ động tự giác và tích cực vì trò chơi là nhu cầu của mọi người đặc biệt là trẻ em Dù không được hướng dẫn các em vẫn chủ động chơi một cách tích cực và tự giác
- Trò chơi vận động mang tính thi đua, các em luôn khắc phục khó khăn phấn đấu hết khả năng để mang lại thắng lợi cho cá nhân cũng như cho đội mình Trong quá trình chơi biểu lộ tình cảm là đặc điểm được thể hiện rất rõ ràng (vui khi thắng lợi, buồn khi thất bại)
- Từ những đặc điểm trên khi chơi các em thường vận dụng hết khả năng kỹ chiến thuật và sức lực vì vậy lượng vận động trong trò chơi không thể định mức được Đây là đặc điểm quan trọng, giáo viên phải hết sức chú ý khi tổ chức cho các em chơi
để tránh dẫn tới tình trạng mệt mỏi quá sức Muốn vậy cần lưu ý: dựa vào đặc điểm đối tượng, lứa tuổi, giới tính, sức khoẻ để kéo dài hoặc rút ngắn cự ly cũng như thời gian, mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi chơi [22]
1.6.2.5 Phân biệt trò chơi với lao động sản xuất và bài tập thể thao [22]
Lao động sản xuất Trò chơi Bài tập thể thao
Trang 4030
Mục
đích
Sản xuất ra của cải vật
chất Vui chơi giải trí Thành tích cao
Tác
dụng
Tạo ra giá trị bên ngoài
con người Giáo dục giáo dưỡng
Biến đổi chính bản thân con người
- Hình thành kỹ năng, kỹ xảo
- Lượng vận động được định mức chặt chẽ
Kết
quả
Tạo ra của cải vật chất
cho xã hội và nuôi sống
con người
Đáp ứng nhu cầu tinh thần là chính
Tạo được thành tích thể thao cao
1.6.2.6 Khuynh hướng vận dụng
Do ý nghĩa vai trò của trò chơi trong cuộc sống nên được đưa vào vận dụng theo một số khuynh hướng sau:
- Đưa vào hệ thống giáo dục từ mầm non đến đại học
- Đưa vào lực lượng vũ trang để tăng cường thể lực cho chiến sĩ
- Đưa vào trong các lễ hội truyền thống của dân tộc
- Đưa vào hoạt động trong những vùng đông dân cư
- Đưa vào những nơi du lịch, nghỉ mát, an dưỡng nhằm góp phần phục hồi thể lực cho người lao động
- Đưa vào trong các câu lạc bộ thể dục, thẩm mỹ, võ thuật [22]
1.6.3 Phương pháp giảng dạy trò chơi
1.6.3.1 Những căn cứ biên soạn và sáng tác trò chơi
- Căn cứ vào mục đích, tác dụng
- Căn cứ vào đối tượng, lứa tuổi, giới tính, trình độ, nghề nghiệp
- Căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất: sân bãi, dụng cụ, các phương tiện khác nếu có [22]