1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG, BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG THỜI KÌ 1945-1946

10 678 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 35,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quân đội quốc gia và lực lượng công an; luật pháp của chính quyền cách mạng được khẩn trương xây dựng và phát huy vai trò đối với cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, xây dựng chế

Trang 1

MỤC LỤC

I TÌNH HÌNH VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1

1 THUẬN LỢI SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1

2 KHÓ KHĂN SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1

II XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ MỚI VÀ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG 2

1 CÁC CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG ĐỂ GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG THỜI KỲ 1945 – 1946 3

2 CÁC BIỆN PHÁP CỦA ĐẢNG ĐỂ GIỮ VỮNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG THỜI KỲ 1945 – 1946 4

III Ý NGHĨA, NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 6

1 Ý NGHĨA 6

2 NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI 6

3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG HOẠCH ĐỊNH VÀ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG KHÁNG CHIẾN KIẾN QUỐC GIAI ĐOẠN 1945-1946 6

IV BẦU CỬ QUỐC HỘI 06/01/1946 ĐƯỢC COI LÀ BIỆN PHÁP ĐỂ GIỮ CHÍNH QUYỀN 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO 8

Trang 3

ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG, BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG

THỜI KỲ 1945 – 1946

-I TÌNH HÌNH VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM:

Sau ngày tuyên bố độc lập, lịch sử nước Việt Nam bước sang một chặng đường mới với nhiều thuận lợi căn bản và khó khăn chồng chất:

1 Thuận lợi sau Cách mạng tháng Tám:

Thuận lợi về quốc tế: Sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II, cục diện khu vực và thế giới có những sự thay đổi lớn có lợi cho cách mạng Việt Nam Liên Xô trở thành thành trì của chủ nghĩa xã hội Nhiều nước ở Đông Trung Âu, được sự ủng hộ và giúp đỡ của Liên Xô đã lựa chọn con đường phát triển theo chủ nghĩa xã hội Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ Latin dâng cao Thuận lợi trong nước: Việt Nam trở thành quốc gia độc lập, tự do; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ, bị áp bức trở thành chủ nhân của chế độ dân chủ mới Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền lãnh đạo cách mạng trong cả nước Đặc biệt, việc hình thành hệ thống chính quyền cách mạng với bộ máy thống nhất từ cấp Trung ương đến cơ sở, ra sức phục vụ lợi ích của Tổ quốc, nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng của nền độc lập, tự do, là trung tâm của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam Quân đội quốc gia và lực lượng công an; luật pháp của chính quyền cách mạng được khẩn trương xây dựng và phát huy vai trò đối với cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, xây dựng chế độ mới

2 Khó khăn sau Cách mạng tháng Tám:

Khó khăn trên phương diện thế giới: Phe đế quốc chủ nghĩa nuôi dưỡng âm mưu mới

“chia lại phía tây thuộc địa thế giới”, ra sức tấn công, đàn áp phong trào cách mạng thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam Do lợi ích cục bộ của mình, các nước lớn, không

có nước nào ủng hộ lập trường độc lập và công nhận địa vị pháp lý của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, bị bao vây cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài Cách mạng ba nước Đông Dương nói chung, cách mạng Việt nam nói riêng phải đương đầu với nhiều bất lợi, khó khăn, thử thách hết sức to lớn và nghiêm trọng

Khó khăn trong nước: Hệ thống chính quyền cách mạng mới được thiết lập còn rất non trẻ, thiếu thống nhất, yếu kém về nhiều mặt nên nền độc lập chưa được quốc gia nào trên thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao; hậu quả của chế độ cũ để lại hết sức nặng nề, sự tàn phá của nạn lũ lụt, nạn đói năm 1945 rất nghiêm trọng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản một nền kinh tế xơ xác, tiêu điều, công nghiệp đình đốn, nông nghiệp bị hoang hóa, 50% ruộng đất bị bỏ hoang; nền tài chính, ngân khố kiệt quệ, kho bãi trống rỗng; các hủ tục lạc hậu, thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội chưa được khắc phục, 95% dân số thất học, mù chữ, nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 làm 2 triệu

1

Trang 4

người dân chết đói Thách thức lớn nhất, nghiêm trọng nhất lúc này là âm mưu, hành động quay trở lại thống trị Việt Nam một lần nữa của thực dân Pháp Ngày 2/9/1945, quân Pháp đã trắng trợn gây hấn, bắn vào cuộc mít tinh mừng ngày độc lập của nhân dân

ta ở Sài Gòn – Chợ Lớn

Từ tháng 9/1945, theo thỏa thuận của phe Đồng minh, 2 vạn quân đội Anh - Ấn đổ bộ vào Sài Gòn để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật thua trận ở phía Nam Việt Nam Quân đội Anh đã trực tiếp bảo trợ, sử dụng đội quân Nhật giúp sức quân Pháp ngang nhiên nổ súng gây hấn đánh chiếm Sài Gòn – Chợ Lớn (Nam Bộ) vào rạng sáng ngày 23/9/1945, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp ở Việt Nam

Ở Bắc vĩ tuyến 16, theo thỏa thuận Hiệp ước Potsdam (Đức), từ cuối tháng 8/1945, hơn 20 vạn quân đội của Tưởng Giới Thạch (Trung Hoa dân quốc) tràn qua biên giới kéo vào Việt Nam dưới sự bảo trợ và ủng hộ của Mỹ với danh nghĩa quân đội Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, kéo theo là lực lượng tay sai Việt Quốc, Việt Cách với âm mưu thâm độc “diệt Cộng, cầm Hồ”, phá Việt Minh Trong khi đó, trên đất nước Việt Nam vẫn còn 6 vạn quân đội Nhật Hoàng thua trận chưa được giải giáp

Tình hình đó đã đặt nền độc lập và chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam trước tình thế “như ngàn cân treo sợi tóc”, cùng một lúc phải đối phó với nạn đói, nạn dốt

và bọn thù trong, giặc ngoài

II XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ MỚI VÀ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG:

Ngày 3/9/1945, Chính phủ lâm thời họp phiên đầu tiên dưới sự chủ trì của Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã xác định ngay nhiệm vụ lớn trước mắt là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm Ngày 25/11/1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, nhận định tình hình và định hướng con đường đi lên của cách mạng Việt Nam sau khi giành được chính quyền Chỉ thị phân tích sâu sắc sự biến đổi của tình hình thế giới và trong nước, tình hình Nam bộ và xác định rõ: “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”; nêu rõ mục tiêu của cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là “dân tộc giải phóng” và đề ra khẩu hiệu “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”, mọi hành động phải tập trung vào nhiệm

vụ chủ yếu, trước mắt “là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân”

Chỉ thị cũng đề ra nhiều biện pháp cụ thể để giải quyết những khó khăn, phức tạp hiện thời của cách mạng Việt Nam, trong đó nêu rõ cần nhanh chóng xúc tiến bầu cử Quốc hội để đi đến thành lập Chính phủ chính thức, lập ra Hiến pháp, động viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến và chuẩn bị kháng chiến lâu dài; kiên định nguyên tắc độc lập về chính trị; về ngoại giao phải đặc biệt chú ý “làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết”; đối với Tàu Tưởng nêu chủ trương “Hoa – Việt thân thiện”, đối với Pháp “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế” Về tuyên truyền, hết

Trang 5

sức kêu gọi đoàn kết chống chủ nghĩa thực dân pháp xâm lược; “đặc biệt chống mọi mưu

mô phá hoại chia rẽ của bọn Trốtxkit, Đại Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng” v.v

Những quan điểm và chủ trương, biện pháp được Đảng nêu ra trong bản Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc đã giải đáp, đáp ứng đúng yêu cầu cấp bách của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ; có tác dụng định hướng tư tưởng, trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam bộ; xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng trong giai đoạn đầy khó khăn, phức tạp này

1 Các chủ trương của Đảng để giữ vững chính quyền cách mạng thời kỳ 1945 – 1946:

Thứ nhất: Tạm thời hoà hoãn với Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc để tập trung lực

lượng chống thực dân Pháp ở miền Nam (từ tháng 9-1945 đến tháng 3-1946)

Để đối phó với kẻ thù chính, trước mắt là thực dân Pháp, Đảng chủ trương hoà hoãn, nhân nhượng với Tưởng ở miền Bắc để tập trung sức chống thực dân Pháp ở miền Nam Tuy nhân nhượng với Tưởng ở một số mặt, nhưng ta vẫn bảo đảm nguyên tắc giữ vững thành quả cách mạng và đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền Trong khi hoà hoãn, chúng ta không ngừng nâng cao cảnh giác, khi cần thiết thì kiên quyết trấn áp bọn phản động để giữ vững chính quyền cách mạng

Sách lược ngoại giao sáng suốt trên đã làm thất bại một bước âm mưu chống phá cách mạng của Tưởng và tay sai, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho quân và dân cả nước tập trung nỗ lực vào cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Nam, hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh đẩy lùi (hoặc chí ít cũng làm chậm) nguy

cơ chiến tranh lan rộng ra cả nước, đồng thời chuẩn bị tạo thế và lực để đưa cách mạng phát triển trong điểu kiện mới

Thứ hai: Tạm thời hoà hoãn với thực dân Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng về nước

(từ tháng 3-1946 đến tháng 12-1946)

Ngày 28-2-1946, Tưởng và Pháp đã ký Hiệp ước Hoa – Pháp thoả thuận để quân Pháp vào miền Bắc thay thế quân Tưởng "canh giữ tù binh Nhật" và giữ "trật tự" theo

"Hiệp ước quốc tế" Tình thế đó đặt cách mạng nước ta trước hai con đường: hoặc cầm súng đánh Pháp, ta sẽ cùng một lúc đối đầu với nhiều kẻ thù trong khi lực lượng cách mạng còn non yếu; hoặc tạm thời hoà hoãn với Pháp ta sẽ tránh được tình thế bất lợi phải chiến đấu với nhiều kẻ thù cùng một lúc, bảo toàn lực lượng, đuổi nhanh quân Tưởng về nước, loại trừ được bọn tay sai của chúng

Đảng ta chọn con đường thứ hai “hòa để tiến" Tạm thời hoà hoãn, có nhân nhượng cần thiết với Pháp trên nguyên tắc bảo đảm quyền tự chủ của dân tộc Do vậy, Chủ tịch

Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ ngày 6-3- 1946 Theo đó, Pháp công nhận nước ta là một quốc gia tự do có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng Việc quân Pháp vào miền Bắc cũng được quy định

rõ về địa điểm, thời gian và số lượng

3

Trang 6

Ký Hiệp định Sơ bộ là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng, một mẫu mực tuyệt vời của sách lược Lêninnít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch và về nhân nhượng có nguyên tắc Hiệp định không chỉ kéo dài thời gian hoà hoãn để nhân dân ta củng cố thành quả cách mạng đã giành được, chuẩn bị thực lực cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp, mà còn tạo cơ sở pháp lý buộc Tưởng rút quân khỏi miến Bắc tạo điều kiện cho lực lượng kháng chiến trở lại bám trụ thôn, xã miền Nam

Sau khi ký Hiệp định Đảng và Chính phủ kiên trì giải quyết quan hệ Việt - Pháp bằng con đường hoà bình Tuy nhiên, do dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, cuộc đàm phán chính thức tại Phôngtennơblô không đi đến kết quả Để tranh thủ tối đa khả năng hoà bình, trong thời gian thăm chính thức nước Pháp (từ tháng 5 đến tháng 9-1946) trước khi

về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Tạm ước ngày 14-9-1946 Đây là nhân nhượng cuối cùng của ta đối với Pháp Chúng ta không thể nhân nhượng được nữa, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp đang đến gần

Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ tháng 9-1945 đến tháng 12-1946 sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng, vừa kháng chiến vừa kiến quốc của nhân dân ta không những vượt qua những thách thức hiểm nghèo, củng cố và phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám, đặt nền móng cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, mà còn lại những kinh nghiệm quý cho kho tàng lý luận về chiến tranh nhân dân Việt Nam, đó là:

- Nhanh chóng xác lập những cơ sở pháp lý và tính hợp hiến của chính quyền cách mạng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và nhân dân trước tình thế sinh tử tồn vong của dân tộc, đặc biệt là bối cảnh "giặc ngoài, thù trong" đồng tâm phá hoại cách mạng

- Phát huy quyền làm chủ đất nước của nhân dân, vượt qua tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" và giữ vững chính quyền nhân dân

- Triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, chĩa mũi nhọn cách mạng vào

kẻ thù chính, hòa hoãn với kẻ thù có thể hòa hoãn

- Tận dụng khả năng hòa hoãn để xây dựng lực lượng, củng cố chính quyền nhân dân, sẵn sàng ứng phó với khả năng chiến tranh lan ra cả nước

2 Các biện pháp của Đảng để giữ vững chính quyền Cách mạng thời kỳ 1945 – 1946:

Nhiệm vụ trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân Nhiệm vụ trung tâm và bao trùm là bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng Để thực hiện hai nhiệm vụ đó, Đảng đưa ra nhiều biện pháp cụ thể trên các lĩnh vực công tác:

Về chính trị: Khẩn trường xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng Để khẳng

định địa vị pháp lý của Nhà nước Việt Nam, Đảng xúc tiến việc bầu cử Quốc hội, thành lập Chính phủ, soạn thảo Hiến pháp và tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, kiện

Trang 7

toàn bộ máy chính quyền từ Trung ương đến cơ sở Ngày 6/1/1946, cả nước tham gia cuộc bầu cử và có hơn 89% số cử tri đã đi bỏ phiếu dân chủ lần đầu tiên, đồng bào Nam

bộ và một số nơi đi bỏ phiếu dưới làn đạn của giặc Pháp, nhưng tất cả đều thể hiện rõ tinh thần “mỗi lá phiếu là một viên đạn bắn vào quân thù”, làm thất bại âm mưu chia rẽ, lật đổ của các kẻ thù Bầu cử thành công đã bầu ra 333 đại biểu Quốc hội đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Quốc hội khóa I đã họp phiên đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà Nội vào ngày 2/3/1946 và lập ra Chính phủ chính thức, gồm 10 bộ và kiện toàn nhân sự

bộ máy Chính phủ do Hồ Chí Minh làm chủ tịch Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Hiến pháp năm 1946) Xây dựng đi đôi với bảo vệ và làm cho bộ máy chính quyền thực sự dân chủ, trong sạch, trong thư gửi cho các Ủy ban nhân dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”

Mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (tức Mặt trận Liên Việt) vào tháng 5/1946 nhằm thu hút cả tầng lớp tư sản và địa chủ yêu nước tiến bộ Để bảo toàn lực lượng trước sự công kích của kẻ thù, tháng 11-1945, Đảng tuyên bố tự giải tán mà thực chất là rút vào hoạt động bí mật, chỉ để lại một bộ phận hoạt động công khai dưới danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác

Về kinh tế, tài chính: Chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói là một nhiệm vụ lớn, quan

trọng, cấp bách lúc bấy giờ Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung chỉ đạo, động viên mọi tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào lớn, các cuộc vận động như: tăng gia sản xuất phát động phong trào tăng gia sản xuất với khẩu hiệu "tấc đất tấc vàng", khôi phục các nhà máy, hầm mỏ, mở hợp tác xã, lập ngân hàng quốc gia, phát hành giấy bạc; thực hành tiết kiệm với kế hoạch tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa; lập

hũ gạo tiết kiệm, tổ chức Tuần lễ vàng, gây Quỹ độc lập, Quỹ đảm phụ quốc phòng, Quỹ Nam bộ kháng chiến v.v Nhờ đó, sản xuất nhanh chóng được khôi phục và phát triển, nạn đói bị đẩy lùi Đồng thời, Chính phủ ra sắc lệnh tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian, đất hoang hóa chia cho dân cày nghèo: chia lại ruộng công cho cả nam lẫn nữ; giảm

tô 25%; giảm và miễn thuế cho nhân dân các vùng bị lũ lụt Một số nhà máy, công xưởng, hầm mỏ được khuyến khích đầu tư khôi phục hoạt động trở lại Ngân sách quốc gia tăng lên hàng chục triệu đồng với hàng trăm kilôgam vàng, nền tài chính độc lập từng bước được xây dựng, phát hành đồng giấy bạc Việt Nam Đầu năm 1946, nạn đói cơ bản được đẩy lùi, đời sống nhân dân được ổn định, tinh thần dân tộc được phát huy cao độ, góp phần động viên kháng chiến ở Nam bộ

Về quốc phòng, an ninh: Nhanh chóng xoá bỏ bộ máy cai trị của chính quyền cũ,

giải tán các đảng phái phản động, trừng trị bọn phản quốc, giáo dục nhân dân tăng cường cảnh giác, bảo vệ chính quyền cách mạng Đảng coi trọng xây dựng và phát triển các công

5

Trang 8

cụ bạo lực của cách mạng Cuối năm 1946, quân đội thường trực đã lên đến 8 vạn người Việc quân sự hoá toàn dân được thực hiện rộng khắp, hầu hết các khu phố, xã, hầm mỏ đều có đội tự vệ Đó là "bức tường sắt của Tổ quốc" để bảo vệ thành quả cách mạng

Về văn hoá, xã hội: Chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ được Chủ tịch Hồ Chí Minh

đặc biệt coi trọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ mới, góp phần tích cực xây dựng hệ thống chính quyền cách mạng, phát huy quyền dân chủ của nhân dân Đảng và Hồ Chí Minh chủ trương phát động phong trào “Bình dân học vụ”, toàn dân học chữ Quốc ngữ để từng bước xóa bỏ nạn dốt; vận động toàn dân xây dựng nếp sống mới, đời sống văn hóa mới đẩy lùi các tệ nạn, hủ tục, thói quen cũ, lạc hậu cản trở tiến bộ Các trường học từ cấp tiểu học trở lên lần lượt khai giảng năm học mới; thành lập Trường Đại học Văn khoa Hà Nội Đến cuối năm 1946, cả nước có hơn 2,5 triệu người dân biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ Đời sống tinh thần của một bộ phân nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhân dân tin tưởng vào chế độ mới, nêu cao quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng

Về ngoại giao: Để thoát khỏi "vòng vây đế quốc", tránh tình thế phải đối đầu với

nhiều kẻ thù cùng một lúc, Đảng thực hiện sách lược ngoại giao mềm dẻo nhằm ngăn chặn chiến tranh, kéo dài thời gian hoà hoãn để xây dựng lực lượng cách mạng

III Ý NGHĨA, NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

1 Ý nghĩa:

Những thành quả đấu tranh nói trên đã bảo vệ được nền độc lập của đất nước, giữ vững chính quyền cách mạng; xây dựng được các nền móng đầu tiên và cơ bản cho một chế độ mới – chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; chuẩn bị được những điều kiện cần thiết, trực tiếp cho cuộc kháng chiến toàn quốc sau đó

2 Nguyên nhân thắng lợi:

Có được những thắng lợi quan trọng đó là do Đảng đã đánh giá đúng tình hình nước

ta sau Cách mạng Tháng Tám, kịp thời đề ra chủ trương kháng chiến, kiến quốc đúng đắn; xây dựng và phát huy được sức manh của khối đại đoàn kết dân tộc; lợi dụng được mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch, V.V

3 Bài học kinh nghiệm trong hoạch định và chỉ đạo thực hiện chủ trương kháng chiến kiến quốc giai đoạn 1945-1946:

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, dựa vào dân để xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng Triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chính, coi sự nhân nhượng có nguyên tắc với kẻ địch cũng là một biện pháp đấu tranh cách mạng cần thiết trong hoàn cảnh cụ thể Tận đụng khả năng hòa hoãn để xây dựng lực lượng, củng cố chính quyền nhân dân, đồng thời đề cao cảnh giác, sẵn sàng ứng phó với khả năng chiến tranh lan ra cả nước khi kẻ địch bội ước

Trang 9

IV BẦU CỬ QUỐC HỘI 06/01/1946 ĐƯỢC COI LÀ BIỆN PHÁP ĐỂ GIỮ CHÍNH QUYỀN:

Trước muôn vàn khó khăn trong cũng như ngoài nước, với những âm mưu đen tối của các thế lực phản động định tiêu diệt cách mạng Việt Nam, chiến đấu với cả giặc đói, giặc dốt cùng với những di chứng của chế độ thực dân đế quốc để lại, cuộc Tổng tuyển

cử đầu tiên năm 1946 của nước ta đã được tổ chức thành công Người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ, mất nước đã trở thành "chủ nhân" một nước tự do, độc lập và đã khẳng định với thế giới rằng: Nhân dân Việt Nam quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do, có quyền

và đã thực sự có đủ khả năng để tự quyết định vận mệnh lịch sử của mình, tự lựa chọn và dựng xây chế độ mới, chế độ Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên được coi là biện pháp để giữ chính quyền vì sự kiện này đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam – một bước phát triển mới trong việc củng cố nền độc lập dân tộc vừa giành được Cuộc thắng lợi này đã mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội, đối ngoại Cuộc bầu cử là căn cứ

để khẳng định Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có tính chất hợp pháp, dân chủ – nhà nước của dân, do dân và vì dân, được quốc dân giao phó trọng trách điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng chiến kiến quốc, giải quyết mọi quan hệ của Việt Nam trên trường quốc tế

Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ, bản Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là bản "Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà" và cũng là bản Hiến pháp đầu tiên ở Ðông - Nam Á Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã được độc lập, dân Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các tộc người ở Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bằng của các giai cấp

Đây không những là sự hợp pháp hóa, chính đáng hóa quyền lực của Nhà nước mà còn là giải pháp mang tính gốc rễ, căn bản để giải quyết những mâu thuẫn, xung đột giai cấp, đảng phái trong điều kiện hòa bình Cuộc Tổng tuyển cử vĩ đại đầy ý nghĩa đó thắng lợi do có sách lược ứng phó khéo léo: Giương cao ngọn cờ đoàn kết, tất cả vì mục tiêu độc lập dân tộc với những giải pháp “dĩ bất biến, ứng vạn biến” đầy nghệ thuật, không phải sử dụng bạo lực trong điều kiện “chưa bao giờ trên đất nước ta có nhiều kẻ thù đến thế” Các lực lượng đối lập tìm mọi cách chống phá để cuộc bầu cử không thể thực hiện được, vì họ hiểu rõ tính hợp pháp của chính quyền thông qua bầu cử Nhưng với khả năng tập hợp, vận động, lôi kéo nhân dân của chính quyền cách mạng và quan trọng hơn, bầu

cử tự do là khát vọng ngàn đời của người dân Việt Nam, cuộc bầu cử vẫn được tổ chức Khi cuộc bầu cử được tổ chức trong dân chủ, tự do, các thế lực thù địch lại tìm cách để trì hoãn và không công nhận Với sách lược khôn khéo của Chính phủ lâm thời, đứng đầu là

7

Trang 10

Chủ tịch Hồ Chí Minh, mặc dù không mong muốn, nhưng các lực lượng đối lập không thể không công nhận kết quả bầu cử Nhìn chung, bầu cử có vai trò to lớn bởi lẽ: Bầu cử thể hiện ý chí của nhân dân

Tài liệu tham khảo:

[1] Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam / B.s.: Nguyễn Văn Phùng, Kiều Xuân Bá, Vũ Văn Bân – Tái bản có sửa chữa bổ sung – H.: Chính trị Quốc gia, 2018 [2] Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam / B.s.: Nguyễn Trọng Phúc, Ngô Đăng Trí, Nguyễn Ngọc Hà, Nguyễn Bình Ban (2017)

[3] Xây dựng và bảo vệ chính quyền Cách mạng sau Cách mạng tháng Tám – Trang thông tin điện tử tổng hợp Ban nội chính Trung ương

Ngày đăng: 03/06/2021, 18:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w