NGUYỄN XUÂN LINH Tên đề tài: TIM HIỂU QUY TRÌNH SẢN XUẤT RAU XÀ LÁCH AN TOÀN TẠi TRANG TRẠI HIROYASU HAYASHI, LÀNG KAWAKAMI, TỈNH NAGANO, NHẬT BẢN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào t
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Quy trình sản xuất rau xà lách an toàn tại trang trại Hiroyasu Hayashi, làng Kawakami, tỉnh Nagano, Nhật Bản
3.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ ngày 7/6/2019 đến ngày 13/11/2019
- Địa điểm: tại trang trại Hiroyasu Hayashi 146, làng Kawakami, tỉnh Nagano, Nhật Bản.
Nội dung thực hiện
- Điều tra sơ lược điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của làng Kawakami, tỉnh Nagano, Nhật Bản
- Đánh giá hiện trạng sản xuất, kinh doanh của trang trại của trang trại
- Tìm hiểu về quy trình sản xuất rau xà lách an toàn tại trang trại Hiroyasu Hayashi, làng Kawakami.
Phương pháp thực hiện
- Thu thập thông tin sơ cấp: Là những số liệu thu thập được từ các buổi đi học trực tiếp trao đổi với các cán bộ nông nghiệp, cán bộ khuyến nông của hiệp hội nông nghiệp làng Kawakami, tỉnh Nagano, Nhật Bản
- Thu thập thông tin thứ cấp: Là những số liệu thu thập được trên sách, báo, các báo cáo có liên quan đến vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế… Số liệu thống kê của hiệp nông nghiệp làng Kawakami Để nắm được quy trình sản xuất rau xà lách của làng Kawakami cần trực tiếp tiến hành các bước trong sản xuất với sự hướng dẫn của chủ trang trại Ghi chép lại cách làm, mục đích của từng thao tác qua nhật ký hàng ngày và bằng hình ảnh Cụ thể như sau:
* Tiến hành cải tạo đất: Đánh giá thành phần dinh dưỡng trong đất và biện pháp bón phân cải tạo đất
* Tiến hành gieo hạt ươm cây con trong nhà kính
* Vận chuyển cây con từ trong nhà kính ra ruộng trồng
* Chăm sóc rau trong suốt thời kỳ sinh trưởng, phát triển (Phun thuốc, tưới nước, nhổ cỏ…)
* Thu hoạch, phân loại rau và vẫn chuyển
* Vệ sinh đồng ruộng sau thu hoạch.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Điệu kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của làng Kawakami
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của làng Kawakami
- Vị trí địa lý: Làng Kawakami là một ngôi làng nằm ở huyện Minamisaku thuộc tỉnh Nagano nằm ở phía nam trung tâm, thuộc vùng Chubu của Nhật Bản Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, ngôi làng có dân số ước tính là 4664 và mật độ dân số 22,3 người/km², tổng diện tích của làng là 209,61 km 2 Từng là địa phương nghèo nhất Nhật Bản nhưng nhờ trồng xà lách sạch, mỗi gia đình tại làng Kawakami có thể kiếm 25 triệu yên mỗi năm
- Địa hình, địa thế: Làng Kawakami có địa hình cao hiểm trở bao gồm nhiều ngọn núi cao hùng vĩ, trùng điệp bao quanh làng Độ cao trung bình so với mặt nước biển là 1185m, nơi cao nhất là 2595m, nơi thấp nhất là 1110m Nhìn chung địa hình của làng thuận lợi cho phát triển các loại cây lâm nghiệp và thích hợp cho sản xuất nông nghiệp
- Điều kiện khí hậu: Nơi đây có khí hậu khắc nghiệt, tuyết phủ suốt mùa đông và xuân, nhiệt độ có lúc xuống dưới âm 20 0 C, thời gian có thể sản xuất nông nghiệp chỉ khoảng 4 tháng trong năm
- Thủy văn: Làng Kawakami có sông Chikumagawa chảy qua phía đông và phía tây làng Kawakami, nơi dòng chảy mỏng bắt đầu ngay dưới đỉnh núi Kobu Nobugatake (Kawakami) cao 2,160 mét nên có đầy đủ nước tưới cho sản xuất nông nghiệp Ngoài ra trên địa bàn còn có hệ thống kênh, mương, ao hồ, đập rất phát triển phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của người nông dân
* Đất đai của làng Kawakami chủ yếu là đất pha cát, sỏi, đá Vào mùa xuân hè do băng tan nên đất bị rửa trôi rất nhiều Hằng năm để tăng độ màu mỡ cho đất người dân thường phải bón phân rất nhiều
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất của làng Kawakami năm 2016
Stt loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu(%)
2 Đất rừng (Đất Lâm nghiệp) 11864 56,60
(Nguồn: Hiệp hội nông nghiệp làng Kawakami)
+ Đất cao nguyên: Diện tích đất cao nguyên chỉ chiếm diện tích rất nhỏ trong tổng diện tích đất
+ Đất lâm nghiệp: Chiếm tổng diện tích đất lớn nhất, chiếm khoảng hơn 1/2 tổng diện tích đất
+ Đất ở: Diện tích đất ở chỉ chiếm phần rất nhỏ chưa đến 1%
+ Đất bằng chiếm diện tích rất ít chỉ 9% nguyên nhân là do làng Kawakami nằm trên vùng núi cao
+ Đất khác: Có diện tích khá lớn chiếm gần 1/3 trong tổng số đất bao gồm những loại đất không thích hợp cho việc sản xuất nông nghiệp Qua đó ta thấy diện tích đất phù hợp để canh tác sản xuất nông nghiệp ở làng Kawakami là khá ít
+ Nguồn nước mặt: Nguồn nước chính cung cấp cho sản xuất nông nghiệp là dòng sông Chikuma bắt đầu từ độ cao 2,160 mét và một hệ thống suối, kênh, mương, ao, hồ trải đều trên khắp làng
+ Nguồn nước ngầm: Đã được đưa vào sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong làng Ngoài ra nước ngầm còn được đưa ra tận ruộng thuận tiện cho việc tưới tiêu
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội a) Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Căn cứ tình hình cụ thể của địa phương, làng Kawakami xác định mục tiêu, phương hướng, chỉ đạo lấy sản xuất nông nghiệp là trọng tâm, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, phát triển trồng rau sạch đem lại hiệu quả kinh tế rất cao
Chủ yếu phát triển các loại cây lấy gỗ như cây thông, cây tùng, cây bách + Chăn nuôi:
Do điều kiện khí hậu khắc nghiệt nên tại làng không thể phát triển chăn nuôi + Khu vực kinh tế thương mại - dịch vụ:
Bán các mặt hàng nông cụ máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp như máy cày, máy phun thuốc, máy trải bạt maruchi Thực hiện theo mô hình hợp tác xã nông nghiệp dịch vụ bán giống cây, phân bón, thuốc trừ sâu b) Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Dân số của làng Kawakami năm 2010 là 2646 người, nam là 1257 người, nữ là 1289 Mật độ dân số xã khoảng 7,92 người/ km2 Vào năm 2016 thì dân số của làng 4664 người mật độ dân số khoảng 22,3 người/ km2 Số lượng dân tăng nhanh do sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ thành thị về nông thôn và sự nhập cư của người lao động nước ngoài
+ Lao động và việc làm:
Tại làng Kawakami người trẻ cũng tham gia làm nông nghiệp, trong đó: 10% người có độ tuổi khoảng 30, 20% là 40 tuổi và hơn 60% thuộc nhóm trên
63 tuổi nên rất thiếu nhân lực lao động cho sản xuất nông nghiệp, phải thuê lao động từ các nước khác như: Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Campuchia … Người dân trong làng hầu hết đều đã học qua các trường đào tạo nông nghiệp Hàng năm UBND làng và trung tâm khuyến nông làng đều tổ chức các hội thảo nông nghiệp nhằm giới thiệu sản phẩm nông nghiệp và việc làm tại các thành phố để khuyến khích, thu hút người dân từ thành phố về làng tham gia vào sản xuất nông nghiệp
+ Thu nhập và mức sống:
Người dân ở làng Kawakami là một trong những làng có thu nhập cao nhất Nhật Bản Thu nhập bình quân của các hộ dân năm 2014 là 5 tỷ đồng/ năm
+ Số hộ có thu nhập cao nhất có 7 hộ với mức thu nhập rất cao là từ 5.000 man đến 10.000 man với những hộ này có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn và áp dụng công nghệ cao vào sản xuất
+ Có khoảng 121 hộ với mức thu nhập vào khoảng 4.000 man
+ Có 171 hộ với với mức thu nhập trung bình là khoảng 2.500 man/năm
+ Có 8 hộ với mức thu nhập khoảng 1.500 man - 2.000 man
+ Còn lại có 249 hộ với mức thu nhập ít nhất dưới 1.500 man là những hộ có ít đất sản xuất hoặc có ít người tham gia vào sản xuất nông nghiệp hoặc là chỉ có người cao tuổi tham vào sản xuất nông nghiệp
Bảng 4.2 Mức thu nhập của các hộ nông dân năm 2016 ĐVT: man
STT Số hộ nông dân Số hộ nông dân
(Nguồn: Hiệp hội nông nghiệp làng Kawakami)
(1000 man = 2 tỷ đồng) (1man = 10.000 yên nhật) Qua đây chúng ta thấy được thu nhập từ việc sản xuất nông nghiệp là rất cao do sản phẩm rau của làng Kawakami rất được ưa chuộng trên thị trường Nhật Bản Tuy không sản xuất trên cùng một mảnh đất nhưng rau ở đây luôn đồng đều về chất lượng cũng như mẫu mã và bán được giá rất cao hơn gấp 4- 5 lần so với các sản phẩm cùng loại Qua đó người dân rất yên tâm sản xuất nông nghiệp.
Hiện trạng sản xuất của trạng trại Hiroyasu Hayashi
- Trang trại Hiroyasu Hayashi là trang trại có diện tích khoảng 4,5ha với nhiều công cụ máy móc phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp của trang trại như sau:
Bảng 4.3 Cơ sở vật chất trang trại Hiroyasu Hayashi
Stt Máy móc nông nghiệp Sô lượng
1 Ô tô ( Ô tô tải to, ô tô tải nhỏ) 4
3 Máy đóng hộp đựng rau 1
4 Máy romooc cỡ lớn(máy cày) 1
(Nguồn: số liệu chủ trang trại cung cấp) Một số máy có thể làm nhiều việc như:
- Máy cày cỡ lớn có thể tháo lắp phụ kiện làm một số công việc như: bón phân, san đất, cày ruộng
- Với số lượng máy móc hiện đại cỡ lớn việc sản xuất của nông trại được tiến hành nhanh chóng, dễ dàng
- Tăng hiệu quả lao động, tăng năng suất cây trồng
- Nhật Bản là đất nước có nền nông nghiệp rất phát triển vì vậy các khâu trong sản xuất nông nghiệp điều sử dụng máy móc hoàn toàn Mỗi một hộ nông dân cũng trang bị cho mình máy móc hiện đại để phục vụ sản xuất và tăng năng suất lao động nên sẽ chi phí đầu tư cao về trang thiết bị
4.2.1 Tình hình sản xuất rau xà lách tại trang trại Hiroyasu Hayashi
- Với kinh nghiệm làm nông nghiệp lâu năm, nắm vững các biện pháp kĩ thuật trồng rau xà lách nên sản lượng, năng suất rau xà lách của trang trại luôn được giữ được mức ổn định qua các năm
- Tình hình sản xuất rau xà lách của trang trại thay đổi theo từng năm được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4.4 Tình hình sản xuất xà lách tại trang trại Hiroyasu Hayashi
(Nguồn: số liệu chủ trang trại cung cấp) Nhìn bảng 4.4 cho thấy:
- Sản lượng tăng giảm theo các năm có sự thay đổi do kỹ thuật chăm sóc, điều kiện thời tiết, tình hình dịch bệnh và nhân lực sản xuất ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất Năm 2017 trang trại đạt sản lương 198 tấn, năm 2018 trang trại đạt năng suất cao nhất 450 tạ/ha nên sản lượng đạt cao 202,5 tấn Năm 2019 có sản lượng thấp nhất chỉ đạt 193,5 tấn do nhiều yếu tố:
- Năm 2019 có sản lượng thấp nhất do ảnh hưởng của cơn haghibis đi qua
- Ảnh hưởng sâu bệnh trong năm 2019 gia tăng do thời tiết khí hậu có phần thay đổi nhẹ (trái đất nóng lên)
- Lao động làm việc tại các trang trại chậm thời gian sang làm việc
Bảng 4.5: Cơ cấu giống xà lách tại trang trại Hiroyasu Hayashi năm 2019 Stt Giống Diện tích(ha) Cơ cấu(%) Năng suất(tạ/ha)
(Nguồn: số liệu chủ trang trại cung cấp) Nhìn bảng 4.5 cho thấy:
- Xà lách cuộn là cây trồng chính chiếm 88,8% tổng diện tích, cho thấy trang trại có kinh nghiệm và kỹ thuật tốt với giống xà lách cuộn tạo năng suất cao và chất lượng tốt (năng suất đạt 430 tạ/ha) Trong khi đó diện tích trồng xà lách tím chiếm tỉ lệ 11,2% tổng diện tích trang trại với năng suất đạt 200 tạ/ha
Bảng 4.6: Tình hình tiêu thụ xà lách tại trang trại Hiroyasu Hayashi từ năm 2017-2019
(Nguồn: số liệu chủ trang trại cung cấp) Bảng 4.6 cho thấy:
Trong 3 năm từ 2017 – 2019 doanh thu của trang trại đạt cao nhất năm 2018 với 6,3 tỷ đồng và cũng là năm có lãi thuần cao nhất Doanh thu thấp nhất năm
2019 đạt 5,3 tỷ đồng Nguyên nhân doanh thu giảm do sản lượng năm 2019 giảm.
Quy trình sản xuất rau xà lách cuộn tại trang trại Hiroyasu Hayashi
Những ngày cuối tháng 3 sang đầu tháng 4, sau khi mùa đông lạnh giá đi qua băng tuyết đã tan hết Thời điểm có nhiều ngày nắng nhẹ thích hợp chuẩn bị cho vụ mùa mới, là lúc người dân HTX Kawakami bắt đầu chuẩn bị cây giống, sửa chữa lại nông cụ, thực hiện công tác kiểm tra ban đầu Vào thời gian này việc thực tập sinh nước ngoài đến cùng hỗ trợ người dân thực hiện vụ mùa là hết sức cần thiết Ban đầu đất trồng cần được xử lý, đất sẽ được cày xới bằng các loại máy móc cỡ lớn, sau đó bón phân, tạo chất dinh dưỡng cho đất sau một mùa đông khắc nghiệt và sẵn sàng cho một vụ mùa bội thu sắp tới
4.3.1 Làm đất, cải tạo đất trồng trước vụ gieo trồng mới
- Thời gian làm đất cải tạo đất sẽ diễn ra từ tháng 4 đến tháng 5 Đây là bước đầu tiên trong quy trình sản xuất rau xà lách Đất được cày xới bằng những loại máy móc cỡ lớn giúp việc cày xới tạo hiêu quả lao động Máy có thể cày sâu tới cả mét, tới cả những tầng đất cứng thậm chí là đá nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho những sinh vật có lợi sống trong đất
- Đá trên các ruộng cũng được nhặt và được cho vào các bao đem bỏ đi nơi khác, nếu như ruộng quá nhiều đá thì chỉ phải nhặt những viên to Không chỉ là đá mà những mảnh nilon còn sót lại từ mùa vụ trước, những chiếc túi bóng hay những cành cây khô cũng được nhặt và đem bỏ đi 1 nơi khác, tuy đây chỉ là những việc là nhỏ nhưng cho thấy sự tỉ mỉ và cẩn thận từng chút một của người dân cho thấy tình yêu nông nghiệp của họ
- Việc phân tích giúp cho việc bón các loại phân hữu cơ, vô cơ tránh bị thừa hoặc thiếu cho cây xà lách nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho cây phát triển
- Để giảm giá thành sản xuất cũng như cung cấp những sản phẩm rau ngon, sạch, an toàn, phải tiến hành phân tích đất từ đó cân bằng lượng dinh dưỡng cần thiết tối thiểu cho đất trồng trọt
- Ở đây phân tích đất được tiến hành trên 2 chiếc máy Một chiếc máy là phân tích độ pH có giá trị 300man (600 triệu đồng), chiếc còn lại là phân tích thành phần dinh dưỡng trong đất có giá 700man (1tỉ 400 triệu đồng)
Hình 4.1 Máy phân tích đất
- Nếu pH nằm trong khoảng từ 6.0-6.5 là tốt nhất để trồng cây xà lách
- Dựa vào kết quả phân tích tính toán sự thừa thiếu của các thành phần trong đất từ đó đưa ra các phương pháp xử lý để tạo sự cân bằng các thành phần phù hợp cho sự phát triển cây trồng
- Tiến hành tạo rãnh thoát nước cho đất sau khi san Đây là những bước đầu tiên, nó thực sự quan trọng cho sau này Nó sẽ quyết định đến thành phần dinh dưỡng để bón cho đồng ruộng Nhờ có bước này nên người nông dân có thể hiểu được trên cánh đồng đó phù hợp với loại cây nào để từ đó có những phương án gieo trồng phù hợp nhất
4.3.1.3 Phương án cải tạo và bón phân
- Sau khi đã hoàn thành công việc làm đất và phân tích người dân sẽ biết được trong đất sẽ thiếu và thừa những thành phần dinh dưỡng nào, từ đó người dân sẽ được khuyến cáo của các kĩ sư
- Mỗi trang trại sẽ trực tiếp đặt phân bón tại các nhà máy sản xuất bón, người dân sẽ nêu rõ số lượng và những chất đã có và còn thiếu cho nhà máy sản xuất phân bón, nêu loại rau mà hộ nông dân đó dự định sản xuất Nhà máy sản xuất phân bón sẽ có nhiệm vụ tính toán thành phần và sản xuất phân bón phù hợp nhất với từng hộ nông dân như vậy Mỗi hộ nông dân sẽ có từng loại phân và cách bón khác nhau trên những đồng ruộng khác nhau
Hình 4.2 Bón phân cải tạo đất
- Phân sẽ được bón cho các ruộng với những chiếc máy chuyên dụng Phân được dải đều trên mặt ruộng đất đã được cày và băm nhỏ, san phẳng mặt ruộng để 5-7 ngày sau đó tiến hành phủ nilon tạo luống
- Việc bón lót phân rất quan trọng nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cả vụ trồng
4.3.2 Tạo luống đất và phủ bạt nilon(maruchi)
- Quá trình tạo luống đất và phủ bạt nilon diễn ra khoảng giữa tháng 4 đến hết tháng 5
- Mục đích của công đoạn phủ bạt trên luống nhằm hạn chế được việc sử dụng thuốc diệt cỏ và giảm đáng kể lượng phân bón hóa học, tạo ra quy trình sản xuất rau an toàn khép kín Ngoài ra, bạt nilon cũng có tác dụng giữ nhiệt cho đất, hạn chế cỏ dại, giảm nhẹ bệnh và tăng năng suất cây trồng
- Đây là một bước khá quan trọng, người dân yêu cầu rất tỉ mỉ, yêu cầu luống được phủ bạt cần phải thẳng nhất có thể Nếu có những chỗ bị lún xuống do có đá thì họ yêu cầu phải dùng tay để lấp đất cho bạt chạm tới, đảm bảo quá trình đục lỗ trồng cây về sau được diễn ra thuận lợi
- Quá trình chọn loại bạt nilon(maruchi) sao cho thích hợp nhất với điều kiện nhiệt độ, thời tiết bên ngoài Bạt nilon thường có 3 loại chính để sử dụng đen, xám, trắng kẻ sọc với mục đích sử dụng khác nhau
- Trong quá trình trồng xà lách thì việc sử dụng bạt nilon màu trắng là chủ yếu nhất Vì do việc nóng lên của trái đất làm cho nhiệt độ tăng nên sử dụng bạt nilon màu trắng chúng giúp nhiệt độ đất không tăng quá nhiều, cũng như giúp phản xạ ánh sáng tốt hơn
Bài học kinh nghiệm
Qua những tháng thực tập tại trang trại Hiroyasu Hayashi, tôi đã học được rất nhiều điều không chỉ về kiến thức trong sản xuất, mà còn hiểu biết thêm về văn hóa, phong tục của người dân Nhật Bản nơi đây Đó là những trải nghiệm vô cùng quý giá của một sinh viên năm thứ 4 đại học Ở đây tôi đã học được tính cẩn thận trong công việc, biết được kỹ thuật cắt rau, thời điểm thu hoạch tốt nhất, phân loại rau, hoàn thành công việc được giao, rèn luyện được khả năng chịu đựng gian khó của bản thân, biết được cách thức sử dụng, ứng dụng máy móc trong công việc để tăng năng suất lao động Nắm được cách thức xử lý rác thải, nắm được cách cải tạo và giữ đất Từ đó tôi nhận ra được cái tâm của người dân nơi đây, luôn đặt chất lượng rau lên hàng đầu, luôn coi rau mình đem bán như rau mình ăn, luôn luôn làm khách hàng hài lòng dù là những người khó tính nhất Không chỉ có vậy, tôi còn nhận ra rằng yếu tố về công nghệ là rất cần thiết, nó giúp giảm đi công sức của con người đi gấp hàng chục thậm chí hàng trăm lần
Qua quá trình thực tập và trực tiếp làm các công việc tại trang trại tôi đã nắm vững được một số kiến thức cơ bản về trồng cây xà lách Có thể làm thành thạo một số các công việc trong trang trại, biết cách sử dụng thuốc, chăm sóc cây trồng và áp dụng kiến thức đó trong trồng trọt tại gia đình cũng như phát triển sản xuất rau xà lách ở Việt Nam
4.4.1 Điểm mạnh và điểm yếu bản thân Điểm mạnh:
- Có trình độ chuyên môn về ngành trồng trọt
- Tiếp thu tốt các biện pháp kỹ thuật tiến bộ của chuyên ngành
- Luôn chăm chỉ học tập và rèn luyên bản thân trong quá trình thực tập
- Có tính kỷ luật, trách nhiệm trong công việc
- Hoàn thành tốt các công việc được giao Điểm yếu:
- Trình độ ngôn ngữ còn yếu kém nên khó khăn trong quá trình giao tiếp
- Trên thực tế khác xa so với lý thuyết nên còn khá nhiều bỡ ngỡ
- Chưa có nhiều kinh nghiệm trong một số công việc
4.4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực tập tốt nghiệp tại doanh nghiệp/ trang trại
+ Cần có các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng trong quá trình thực tập tại doanh nghiệp hoặc trang trại Đây là khâu quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đầu ra của khoa, của nhà trường Sinh viên thực tập tốt, tìm kiếm được công việc phù hợp, đúng chuyên ngành đào tạo sau khi ra trường đồng nghĩa với việc chất lượng đào tạo của nhà trường đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và ngược lại Đồng thời dựa vào kết quả thực tập của sinh viên, nhà trường và các khoa có cơ chế điều chỉnh chương trình đào tạo phù hợp
+ Các bộ phận chuyên trách tổ chức thực tập cho sinh viên phải luôn tìm và liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài nước để giúp sinh viên trong khoa có cơ hội thực tập và làm việc tại môi trường sản xuất nông nghiệp hiện đại và chất lượng
+ Cần có kế hoạch tổ chức hội nghị khách hàng, hội chợ việc làm với các doanh nghiệp phù hợp với các ngành nghề khoa, nhà trường đào tạo để làm cầu nối cho sinh viên thực tập hoặc tìm kiếm việc làm sau ra trường
+ Sau khi sinh viên nhận địa điểm thực tập, bộ phận quản lý thực tập của khoa, cần liên hệ thường xuyên với nơi tiếp nhận để tìm hiểu về tình hình thực tập của sinh viên từ đó mới theo dõi thường xuyên tình hình thực tập Đồng thời khuyến khích, động viên sinh viên hoàn thành tốt kỳ thực tập tại trang trại, doanh nghiệp
+ Nên thường xuyên tổ chức lấy ý kiến phản hồi của sinh viên bằng nhiều hình thức như: tổ chức hội thảo, bằng bảng hỏi, trao đổi trực tiếp v.v của các cơ quan, doanh nghiệp biết được những hạn chế, chưa phù hợp của chương trình đào tạo
+ Với các sinh viên thực tập nước ngoài nên giao lưu, trao đổi kinh nghiệm với những sinh viên đi trước Tìm hiểu phong tục tập quán và tích cực học tập ngoại ngữ để thuận tiện cho việc giao tiếp trong công việc cũng như cuộc sống tại doanh nghiệp, trang trại
+ Bản thân mỗi sinh viên phải nhận thức được rằng mỗi kỳ thực tập rất quan trọng với tương lai của mình Để có thể làm việc tốt, sinh viên cần có kiến thức vững vàng Điều này cần trau dồi trong suốt quá trình thực tập
+ Sinh viên cần chủ động trong việc chuẩn bị hành trang kiến thức, nên tự tìm tòi, phân tích, đặc biệt những vấn đề mới lạ liên quan đến ngành trồng trọt + Mỗi sinh viên luôn có ý thức chấp hành những nội quy đơn vị thực tập, cũng như những quy định giáo viên hướng dẫn, luôn có tinh thần tự hỏi và cầu tiến
- Đối với doanh nghiệp hoặc trang trại
+ Khi doanh nghiệp, trang trại đã đồng ý tiếp nhận sinh viên thực tập thì cần có sự quản lý chặt chẽ như cử một cán bộ phụ trách theo dõi, quản lý, hướng dẫn, giúp sinh viên hoàn thành tốt đợt thực tập
+ Doanh nghiệp, trang trại cần duy trì, phối hợp thường xuyên với nhà trường để gắn kết tính thực tiễn cho quá trình thực tập của sinh viên
+ Doanh nghiệp, trang trại cần quan tâm đến cuộc sống tâm tư nguyện vọng của thực tập sinh khi đến với doanh nghiệp, trang trại