Giáo dục thể chất cho học sinh là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng nhằm bồi dưỡng sức khoẻ, tinh thần, trí thông minh thành mộtcon người mới hoàn thiện của nền giáo dục toàn diện, là t
Trang 1Ứng dụng một số chỉ số trong công tác tuyển chọn vận động viên nhằm nâng cao chất lượng và thành tích môn Bơi lội ở trường THPT Lê Lợi.
PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây công tác TDTT ở nước ta đã có những bước pháttriển đáng kể: “Phong trào TDTT từng bước được mở rộng với nhiều hình thức,nhiều môn thể thao dân tộc được khôi phục và phát triển, một số môn thể thao đạtthành tích cao kết quả đáng khích lệ, cơ sở vật chất kỹ thuật TDTT ở một số địaphương và ngành được chú ý đầu tư nâng cấp, xây dựng mới Đạt được những tiến
bộ đó là do sự quan tâm của Đảng, nhà nước, của các đoàn thể, sự cố gắng của độingũ cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên và sự tham gia của nhân dân trong quátrình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng”
Trong thời gian qua ngành giáo dục đã triển khai nhiều chủ trương, biện phápnhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất, từng bước cải tiến chất lượngdạy học môn thể dục ở các cấp Giáo dục thể chất cho học sinh là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng nhằm bồi dưỡng sức khoẻ, tinh thần, trí thông minh thành mộtcon người mới hoàn thiện của nền giáo dục toàn diện, là tiền đề quan trọng tronghoạt động học tập, sinh hoạt của học sinh Thông qua đó rèn luyện cho học sinh vềđạo đức, ý thức tổ chức kỹ luật, tác phong và tinh thần tập thể nhằm đào tạo conngười vững vàng bước vào cuộc sống
Hiện nay phong trào tập luyện thể dục thể thao nói chung và môn Bơi lội nóiriêng được phat triển phổ cập ở các tỉnh thành trong cả nước Bộ môn này nằmtrong chương trình thi đấu Hội khỏe phù Đổng của các trường, thành phố, của SởGiáo dục – Đào tạo các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương và của Bộ Giáo dục –Đào tạo với nhiều nội dung và hình thức thi đấu: Thi đấu cá nhân, thi đấu đồng đội
Ở Quảng Trị, bắt đầu từ năm học 2013 – 2011, Sở Giáo dục và Đào tạo đã đưamôn Bơi lội vào trong kế hoạch công tác Văn – Thể - Mỹ và kỹ năng phòng chốngtai nạn đuối nước cho học sinh, chương trình thi đấu Hội thi Thể thao học đường và
Trang 2Hội phỏe phù Đổng cấp tỉnh được tổ chức hằng năm thu hút tất cả các trường phổthông trong ngoài thành phố tham gia.
Trường trung học phổ thông Lê Lợi là một trong những trường đi tiên phongtrong các hoạt động và các hội thi do Sở Giáo dục – Đào tạo tổ chức Trong quátrình tham gia thi đấu các em học sinh cũng đạt được những kết quả nhất định.Ngoài ra trong 2 năm tham gia thi đấu giải Bơi lội, trường đều đạt giải cao cụ thể:năm học 2016 – 2017 đạt giải nhì toàn đoàn, năm học 2017 – 2018 đạt giải nhì bộmôn bơi lội và giải nhì toàn đoàn
Qua tìm hiểu, quan sát thực tế giảng dạy môn Bơi là môn tự chọn trongchương trình, thực tiễn việc học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên
Nhìn vào chương trình giảng dạy thể dục cấp THPT môn Bơi lội là môn học
tự chọn trong chương trình, tuy nhiên bộ môn này được đưa vào thi đấu giải thểthao học đường cũng như HKPĐ cấp tỉnh, HKPĐ toàn quốc, vì vậy việc đầu tưcông sức, trí tuệ của giáo viên trong việc tìm tòi những biện pháp huấn luyện nhằmphát triển toàn diện cho học sinh về sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sự khéo léo Đồng thời ứng dụng các kết quả khoa học công nghệ trong công tác tuyển chọn vậnđộng viên nâng cao hiệu quả cho công tác đào tạo huấn luyện gặp nhiều khó khăn.Trước những thực tiễn, yêu cầu ngày càng cao của ngành và của cả nước, thể dụcthể thao trường THPT Lê Lợi phải phát triển mạnh hơn nữa nhất là đối với môn Bơilội Để phát triển tiềm năng vốn có của trường, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đềtài: “Ứng dụng một số chỉ số trong công tác tuyển chọn vận động viên nhằm
nâng cao chất lượng và thành tích môn Bơi lội ở trường THPT Lê Lợi”.
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần tuyển chọn được những học sinh cónăng khiếu thể thao, đào tạo những vận động viên có thành tích cao cho sở GD-ĐT,giảm kinh phí cho quá trình đào tạo vận động viên, chọn ra được những vận độngviên ưu tú
II Mục đích, phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
II.1: Mục đích:
Trang 3Trên cơ sở khoa học nghiện cứu ứng dụng một số chỉ số trong công tác tuyểnchọn vận động viên có năng khiếu bơi của trường THPT Lê lợi
Tham gia các hội thi thể thao học đường và Hội khỏe Phù Đổng các cấp
II.2: Đối tượng nghiên cứu:
Các chỉ số và bài tập bổ trợ nâng cao thành tích môn bơi lội
II.3: Đối tượng khảo sát, thực nghiệm:
75 em học sinh khối 10, 11, 12 năm học 2017 – 2018 và 75 em học sinh khối10,11,12 năm học 2018 – 2019
II.4: Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp đọc, phân tich và tổng hợp tài liệu
Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp kiểm tra sư phạm
Phương pháp toán học thống kê
II.5: Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
- Phạm vi: Môn Bơi lội
- Kế hoạch: Từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019
PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận và thực tiển:
I.1 Cơ sở lý luận:
Hoạt động thể lực là một trong những yếu tố quan trọng trong thể dục thểthao là nền tảng nâng cao khả năng thích ứng của cơ thể đối với lượng vận động, là
cơ sở để người tập nắm bắt kỹ thuật, chiến thuật hiệu quả cao, tạo tâm lý ổn địnhhơn Mỗi một môn thể thao muốn đạt thành tích cao bên cạnh rèn luyện kỹ thuật,chiến thuật, ý chí …người tập còn phải rèn luyện những tố chất thể lực cần thiết chomôn thể thao đó
I.2: Đặc điểm tâm sinh lý
* Hệ thần kinh: Hệ thần kinh có vai trò quan trọng trong việc điều hòa và
thống nhất mọi hoạt động của các cơ quan tổ chức trong cơ thể Hệ thần kinh caocấp hoạt động ổn định và đã được hoàn thiện, chức năng phân tích tổng hợp của hệthần kinh đạt tới mức phát triển hoàn chỉnh, tính linh hoạt của hệ thần kinh cao,hiểu biết được mở rộng, trí tuệ được nâng cao Hoạt động của hệ thần kinh thể hiện
rõ nét hơn, có khát vọng đạt được kết quả trong mọi lĩnh vực Tập luyện Bơi lội kết
Trang 4việc tập luyện có hiệu quả tối đa đối với người tập.
* Đối với hệ tim mạch: Máu chảy qua tim theo các động mạch, đi khắp cơ thể
cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng tới các tế bào của cơ thể, thải các chất độc hạicũng như vận chuyển các chất khác nhau từ cơ quan này đến cơ quan kia rồi lại trở
về tim tạo thành một hệ thống nhất
Ở lứa tuổi này ảnh hưởng rõ rệt đến chức năng hô hấp, cơ quan hô hấp pháttriển hoàn thiện, hô hấp sâu hơn, kích thước tim cũng tăng lên Mạch chậm hơn, hệtim mạch được điều hòa qua cơ chế thần kinh – thể dịch hoàn thiện hơn Do vậy cóthể đáp ứng những đòi hỏi thể lực trong tập luyện TDTT
* Hệ vận động: Chiều cao phát triển chậm hơn bề ngang, các xương chủ yếu
đã được cốt hóa, bộ xương đã vững chắc ít bị cong vẹo hơn do đó có thể tập luyệncác kỹ thuật khó, khả năng gắng sức cao Hệ cơ phát triển mạnh mẽ đặc biệt là cơvân, sức mạnh cơ tăng lên đáng kể, ở lứa tuổi này sức mạnh cơ của nam tăng gấp 2lần nữ Các chức năng của lứa tuổi này hoàn thiện rất tốt cho việc tập luyện TDTT.Các bài tập trong môn Bơi lội có khả năng làm trẻ hoá các khớp xương, cácđĩa sụn, cột sống, cải thiện về chiều cao, đảm bảo cung cấp và nuôi dưỡng chúng tốthơn, loại bỏ bớt lượng muối thừa trong chúng Trong các giờ tập luyện, các bài tậpthể lực làm tăng khả năng cung cấp máu cho các cơ, tăng số lượng sợi cơ bằng conđường tách dọc sợi cơ Các sợi cơ riêng biệt sẽ trở nên to và chắc hơn, làm giảmlượng mỡ thừa giữa các bó cơ
* Hệ tiêu hoá: Tập luyện thường xuyên bằng các bài tập thể lực có cường độ
và thời gian thực hiện tương đối lớn làm tăng nhanh quá trình trao đổi chất và tiêuhoá giúp cho đường ruột làm việc tốt hơn Tốt nhất nên bắt đầu tập luyện sau khi ănkhoảng 1-2 giờ lúc đó thức ăn bắt đầu được tiêu hoá ngấm vào máu đưa đến các cơquan của hệ tiêu hoá Còn nếu tập luyện ngay sau khi ăn thì phần lớn máu sẽ đi vàocác cơ bắp và lúc đó các cơ quan của hệ tiêu hoá sẽ ở trong trạng thái không đủmáu, thiếu chất dinh dưỡng
* Tâm lý: Tâm lý và vận động tích cực có mối liên hệ mật thiết với nhau, có
liên quan tới các đặc điểm về tâm sinh lý của cơ thể Có nhiều khảo sát khoa họcchứng minh rằng hoạt động thể dục thể thao có tác động lớn đến tâm lý của conngười thực tế đã cho thấy ở những đứa trẻ một tuổi có biểu hiện các hoạt động vận
Trang 5động ở mức độ thấp thì sẽ có các chỉ số bất lợi ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lýsau này của trẻ Trong điều kiện không có sự vận động thì não dường như khôngnhận được những thông tin phản hồi do số lượng các tín hiệu thần kinh bị suy giảm.Còn nếu thiếu hụt những kích thích về những xúc cảm cũng như các mối tươngquan xã hội thì nó trở thành nhân tố nguy hiểm sẽ gây rối loạn tâm lý như: Lo lắng
ảo giác, hoang tưởng, ăn không ngon…
Nếu được tập luyện lâu dài môn Bơi lội có thể ảnh hưởng lớn đến việc tạodựng nhân cách, nâng cao sức khoẻ, nâng cao khả năng chống lại bệnh tật, cải thiện
về chiều cao và tạo dáng đẹp, khoẻ khoắn và tự tin Dưới tác động của các bài tậpnói chung, con người trở nên năng động không chỉ trong thể thao mà cả các lĩnhvực hoạt động khác Con người trở nên năng động có ý chí hơn, duyên dáng, hấpdẫn và cứng rắn hơn trước những tai hoạ, vui vẻ và hoà nhã với những người, sinhvật, thiên nhiên xung quanh mình
I.3 Cơ sở thực tiễn:
Giáo dục thể chất là một bộ phận của nền văn hóa xã hội, một di sản đáng giácủa loài người là sự tổng hòa những thành tựu xã hội trong sự nghiệp sáng tạo và sửdụng những biện pháp chuyên môn để hoàn thiện thể chất con người, nâng cao sứckhỏe
Giáo dục thể chất là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục conngười mới phát triển toàn diện Đối với lứa tuổi học sinh phổ thông, đây là giaiđoạn chuẩn bị và cũng là giai đoạn thử thách về sức khoẻ, trí tuệ, tinh thần… nhằmlàm cho cơ thể phát triển các chức năng, bộ phận và các tố chất thể lực như: Nhanh,Mạnh, Bền, Dẻo, Khéo léo Chuẩn bị thể lực tốt giúp học sinh bước vào hoạt độnghọc tập với tư thế “sẵn sàng”
Trong những năm vừa qua được sự quan tâm của Bộ Giáo Dục - Đào Tạo,đặc biệt là sự quan tâm sâu sát của Sở Giáo Dục - Đào Tạo đã có những chuyểnbiến đáng kể về vai trò ý nghĩa của môn thể dục trong công tác giáo dục thể chất ởnhà trường phổ thông Như ở bậc tiểu học học sinh đã học môn thể dục nhưng vớimức độ rèn luyện thể chất chưa cao Lên đến bậc trung học cơ sở và trung học phổ
Trang 6thông, học sinh bắt đầu tập luyện làm quen với những yêu cầu cao hơn về kỹ thuậtđộng tác cũng như đòi hỏi về thể lực
Hàng năm nhiều hoạt động thể dục thể thao dành cho học sinh được tổ chức,đặc biệt là Hội Khỏe Phù Đổng nhằm đánh gía công tác dạy - học trong nhà trường
và công tác tổ chức quản lí các hoạt động ngoại khóa trong trường học Qua nhiềunăm tổ chức Hội Khỏe Phù Đổng cho thấy chất lượng chuyên môn và thành tích thiđấu các môn thể thao của học sinh đều tiến bộ rõ rệt thành tích năm sau cao hơnnăm trước, điều đó chứng tỏ rằng công tác giáo dục thể chất học đường có ảnhhưởng tích cực đến sự phát triển của học sinh, nhu cầu được tham gia luyện tập,được vui chơi, được thi đấu là một hoạt động không thể thiếu được trong nhàtrường phổ thông hiện nay
II Thực trạng môn Bơi lội của trường hiện nay.
Trường trung học phổ thông Lê Lợi hiện tại có 35 lớp nên số lượng học sinhrất đông, cơ sở vật chất phục vụ cho môn bơi lội chưa có, nhu cầu học bơi lội củahọc sinh ngày càng phát triển vì vậy cá nhân mỗi Giáo viên có một kế hoạch giảngdạy riêng Riêng môn Bơi lội chưa đưa vào học chính khóa mà chỉ đưa vào phầnhọc tự chọn nên gặp rất nhiều khó khắn trong giảng dạy và tuyển chọn vận độngviên để tham gia thi đấu
Khi tiến hành nghiên cứu ứng dụng một số chỉ số trong công tác tuyển chọnvận động viên nhằm nâng cao chất lượng và thành tích môn Bơi lội để tìm ra cácbài tập nhằm nâng cao hiệu quả, chúng tôi đã đi sâu tìm hiểu các giờ học chínhkhóa về môn thể dục của các giáo viên khác và ngoại khóa của học sinh tại các bểbơi có học sinh của trường tham gia, chúng tôi nhận thấy rằng: Học sinh nói chung
và nhất là học sinh nữ ngại tập bộ môn này, vì điều kiện và hoàn cảnh, cơ sở vậtchất thiếu, chưa chưa đáp ứng nhu cầu cho các trường mức độ tiếp thu kỹ thuậtđộng tác chậm, không thể vận dụng phát huy trong học tập, nó sẽ tạo tâm lý khôngtốt làm cho học sinh có thái độ, tinh thần tập luyện không cao, làm ảnh hưởng đếntinh thần và kết quả học tập của học sinh, ảnh hưởng đến việc không đạt được mụctiêu của người dạy lẫn người học Đây là vấn đề cần thiết, có tính cấp bách cần phải
Trang 7được giải quyết
III Phương pháp thực hiện
III.1 Huấn luyện thể lực
Huấn luyện thể lực là một quá trình huấn luyện bằng các phương tiện thể dụcthể thao (chủ yếu là các bài tập thể lực) để tác động có chủ đích đến sự phát triển vàhoàn thiện về hình thái, chức năng, tố chất thể lực và sức khoẻ của vận động viên.Trong huấn luyện thể thao thường lấy việc phát triển các tố chất thể lực làm nộidung chủ yếu của huấn luyện thể lực cho các vận động viên Do vậy, để rõ hơn kháiniệm về thể lực, ta có thể khái quát mức độ phát triển các tố chất thể lực gồm: Sứcnhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo và khả năng mềm dẻo … Các vận động viêndưới tác động của lượng vận động trong tập luyện và thi đấu Trong bộ môn Bơi lộithường thì các sức nhanh, sức mạnh của chân và tay là ảnh hưởng lớn nhất đếnthành tích bơi, bên cạnh đó sức bền cũng không thể thiếu trong việc luyện tập củavận động viên
Sức nhanh: Là năng lực phản ứng của cơ thể đối với loại kích thích nhằm
hoàn thành một động tác hoặc di động một cự ly nào đó trong thời gian ngắn nhất.Sức nhanh có 3 hình thức biểu hiện chủ yếu: thời gian tiềm phục của phản ứng vậnđộng, tốc độ từng cử động riêng lẻ, tần số động tác Sự phát triển tố chất nhanh sớmhơn sự phát triển tố chất mạnh, khi đánh giá tố chất nhanh, người ta thường xácđịnh tốc độ bơi ở cự li ngắn Trong bộ môn Bơi lội sức nhanh ảnh hưởng rất lớn đếnthành tích bơi của vận động viên
Sức mạnh: Là khả năng khắc phục lực cản bên ngoài hoặc bên trong bằng sự
nỗ lực của cơ bắp trong quá trình vận động, tố chất này cũng không kém phần quantrọng như sức nhanh vì trong mọi hoạt động như đi, chạy, nhảy đều cần đến sứcmạnh
Riêng đối với các em lứa tuổi 15,16 mặc dù giai đoạn này là thời điểm thuậnlợi nhất nhưng do sự phát triển chưa hoàn chỉnh, cơ thể đang là thời kỳ phát triểnmạnh đặc biệt là chiều cao nên phải sử dụng các bài tập như: khắc phục trọng lượng
cơ thể, khắc phục lực cản của môi trường
Trang 8Sức bền: Là khả năng của cơ thể khắc phục sự mệt mỏi trong hoạt động với
thời gian dài, cường độ nhất định và hiệu quả, trong huấn luyện thể thao nếu khôngtạo ra mệt mỏi thì chức năng của cơ thể không thể nâng cao được Do đó, tronghuấn luyện sức bền phải dùng nhiều cách để khắc phục mệt mỏi, kể cả phải dùng ýchí để khắc phục mệt mỏi Huấn luyện sức bền cho vận động viên nhằm khắc phục
sự mệt mỏi trong thi đấu Đây là tố chất thể lực rất quan trọng, nó tạo nền tảng đểphát triển các tố chất thể lực khác
III.2 Lựa chon một số chỉ số trong công tác tuyển chọn vận động viên nhằm nâng cao chất lượng và thành tích môn Bơi lội cho đội tuyển bơi lội trường: III.2.1.Cơ sở để lựa chọn các chỉ số bài tập.
Để lựa chọn các bài tập trong huấn luyện, giảng dạy Bơi lội cho đội tuyển bơilội trường Chúng tôi dựa trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, sách giáo khoa, các tàiliệu liên quan đến môn học, đồng thời thông qua quan sát thực tiễn giảng dạy tạitrung tâm huấn luyện, các giáo viên đồng nghiệp trường bạn, các huấn luyện viêntại các câu lạc bộ thể Bơi lội trong tỉnh
Dựa vào các vấn đề đã được đánh giá qua thực tiễn, qua quan sát, qua quá trìnhgiảng dạy, huấn luyện và thực tế giảng dạy, huấn luyện các năm trước đây Kết hợptrao đổi với các giáo viên, huấn luyện viên có kinh nghiệm, từ đó làm cơ sở thựctiễn cho việc lựa chọn các bài tập
III.2.2.Lựa chọn các bài tập giảng dạy, huấn luyện bơi lội cho đội tuyển bơi lội của trường trung học phổ thông Lê Lợi.
Sau khi dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn đã trình bày ở trên, chúng tôi đãtiến hành lựa chọn các bài tập theo 2 bước:
Bước 1: Ngoài quan sát các giờ giảng dạy, huấn luyện của các giáo viên khác,
chúng tôi tiến hành tham khảo các tài liệu về chuyên ngành bơi lội, các tài liệutrong giảng dạy, huấn luyện để lựa chọn những bài tập trong giảng dạy, huấn luyệnbơi lội Bước đầu chúng tôi đưa ra các bài tập như sau:
* Bài tập bổ trợ trên cạn:
Bài tập 1: Quay tay sấp Đứng 2 chân rộng bằng vai gập thân người về trước,
2 tay duổi thẳng về trước và thực hiện động tác tay phải hạ tay xuống dưới, ra sau,
Trang 9lên trên về trước, tay trai thực hiện như tay phải Quay hai tay luân phiên từ chậmđến nhanh dần.
Bài tập 2: Quay tay ngữa Đứng chân trước sau ngữa thân người về về sau, 2
tay duổi thẳng trên đấu và thực hiện động tác tay phải đưa ra sau hạ tay xuống dưới,
ra trước và lên trên, tay trai thực hiện như tay phải Quay hai tay luân phiên từ chậmđến nhanh
Bài tập 3: Ngồi đập chân Hai tay chống về sau, hai chân duỗi thẳng, gót chân
không chạm đất, chủ yếu dùng cơ bụng và cơ đùi và thực hiện đông tác chân phảinâng lên cách chân trái 20-30cm sau đó hạ chân phải xuống nâng chân trai lên haichân thực hiên luân phiên từ chậm đến nhanh dần
Bài tập 4: Quạt tay trườn sấp Chân đứng rộng bằng vai, người cúi, hai tay
duỗi thẳng về trước Tay phải quạt theo hướng vào trong (khuỷu tay hơi công)xuống dưới – ra sau, lòng bàn tay gần như vuông góc với hướng tiên, ngón taykhép Tay trái tập tương tự như tay phải Tập quạt hai tay liên tục từ chậm đếnnhanh dần
Bài tập 5: Quạt tay kết hợp với thở chân đứng rộng bằng vai, người cúi, hai
tay duỗi thẳng về trước, mặt hướng xuống đất Tay phải hoặc tay trái làm động tácquạt nước đến ngang hông (giai đoạn đẩy nước) thì nghiêng đầu, khi tay vung trênkhông, đưa về trước, vào nước, bắt đầu quạt nước thì úp mặt vào nước thở ra Tậpquạt hai tay luân phiên từ chậm đến nhanh dần, mặt nghiêng thở một bên cố địnhtheo chu kì quạt của một tay phải hoặc tay trái, tập thở theo chu kì 2hoawcj 3 quạttay 1 lần thở
* Bài tập bổ trợ kĩ thuật dưới nước:
Bài tập 6: Tại chổ đứng cúi người, hai tay cần phao duỗi thẳng trước đầu, hai
tay làm động tác quạt nước luân phiên từ chậm đến nhanh dần không thở, có thở.Khối lượng tập thực hiện 2-3 lần
Bài tập 7: Hai tay cầm phao duỗi thẳng trước đầu, tập động tác lướt nước đập
chân không thở, nghiêng đầu có kết hợp thở
Bài tập 8: Kẹp phao ở chân tập động tác tay; quạt hai tay không thở, quạt hai
tay có thơ
Bài tập 9: Cầm phao một tay duỗi thẳng trước đầu, đập chân quạt một tay có
thơ
Trang 10Bài tập 13: Bài tập xuất phát:
- Bài tập xuất phát vào nước
Cách thực hiện: Hai tay khép duỗi thẳng phía trước đầu Sau đó đổ người ratrước rồi dùng hai chân đạp vào máng nước, bật người thẳng ra để lao vào nước Khối lượng: Mỗi buổi tập lặp lại 10-15 lần
- Bài tập đứng trên thành bể hoặc bục xuất phát bật nhảy lao vào nước
Cách thực hiện: Đứng chân trước chân sau, ngón chân cái mím chặt mép thành
bể, thân người cúi gập ra trước, đầu cúi khi có tín hiệu dùng chân chống cùng đạpthành bể, bật người ra trước Khối lượng: Mỗi buổi tập từ 10-15 lần
Bài tập ngồi trên thành bể (hoặc bục xuất phát) cúi người hai tay để trước đầubật nhảy lao vào nước
Cách thực hiện: Người tập đứng dạng hai chân song song, ngón chân cái mímchặt mép thành bể, hai tay duỗi thẳng về trước khi có tín hiệu xuất phát thì bật nhảylao vào nước Khối lượng: Mỗi buổi tập từ 10-15 lần
- Bài tập xuất phát hoàn chỉnh ở trên thành bể
Trang 11Cách thực hiện: Tương tự như bài tập 3 nhưng tư thế chuẩn bị phải đúng yếulĩnh như tư thế chuẩn bị xuất phát trên bục Khối lượng: Mỗi tập tập nhảy 8-10 lần.Bài tập xuất phát hoàn chỉnh trên bục
Cách thực hiện: Giống bài tập 4, phải thực hiện động tác trên bục xuất phát.Động tác phối hợp vung tay và dậm nhảy phải nhịp nhàng, góc bật nhảy hợp lí, tưthế thân người bay trên không thẳng, đầu cúi - Khối lượng: Mỗi lần tập nhảy 8-10lần, các lần sau tăng dần độ xa xuất phát
Bài tập 14: Bài tập quay vòng.
- Bài tập trên cạn:
Bài tập bắt chước quay vòng trên cạn:
Cách thực hiện: Sinh viên sau khi bắt chước động tác bơi, một tay chạm nhẹvào tường rồi đứng một chân làm trụ, thân người quay 1800 từ trước ra sau, sau đóbắt chân kia lên tường, cuối cùng vung tay cúi người song song với mặt đất làm tưthế chuẩn bị đạp nước Khối lượng: Mỗi buổi tập lặp lại 10-12 lần
Bài tập Di động bằng động tác vừa quạt tay vừa đi bộ đến trước tường, làm động tác quay vòng
Cách thực hiện: Đứng cách tường khoảng 2-3m vừa đi vừa làm động tác quạttay trườn sấp, khi tay thuận chạm vào tường thì tiến hành quay người giống như bàitập 1 Khối lượng: Mỗi buổi tập lặp lại 8-10 lần
- Bài tập dưới nước
Tập động tác quay vòng ở chỗ nước cạn: