1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển chuỗi giá trị ba kích tím huyện ba chẽ, tỉnh quảng ninh

116 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển chuỗi giá trị ba kích tím huyện ba chẽ, tỉnh quảng ninh
Tác giả Đặng Văn Minh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Yến
Trường học Đại học Thái Nguyên - Trường Đại học Nông Lâm
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích chi phí và lợi nhuận của các tác nhân tham gia vào phát triển chuỗi giá trị sản phẩm ba kích tím Ba Chẽ.. Đánh gián những khó khăn của các tác nhân tham gia phát triển chuỗi gi

Trang 1

ĐẶNG VĂN MINH

PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ BA KÍCH TÍM HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN, NĂM 2020

Trang 2

THÁI NGUYÊN, NĂM 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thựchiện luận văn này

đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Đặng Văn Minh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề tài được thực hiện tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh theo chương trình đào tạo thạc sỹ kinh tế nông nghiệp khóa 26B của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Trong qúa trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận sự quan tâm giúp

đỡ của Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo (Bộ phận đào tạo sau đại học), Khoa Kinh tế

& PTNT, các thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các cơ quan thuộc

Ủy ban nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh , nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó

Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Yến đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên, ủng hộ và truyền đạt cho tôi

những kiến thức quý báu trong suốt thời gian làm khóa luận

Xin chân thành cảm ơn tới toàn thể thầy cô Khoa Kinh tế & PTNT, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện tốt khóa luận

Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và môi trường, Chi cục thống kê, Ủy ban nhân dân các xã, Thị trấn trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, các doanh nghiệp đã cung cấp thông tin tư liệu cần thiết cũng như tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn

Cuối cùng, xin được cảm các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã giúp đỡ thời gian và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm2020

Tác giả luận văn

Đặng Văn Minh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN THẠC SỸ x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

5.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

5.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 4

6 Bố cục luận văn 4

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ NÔNG SẢN 5

1.1 Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị nông sản 5

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.2 Nội dung phân tích chuỗi giá trị ngành hàng 9

1.1.3.Ý nghĩa của phân tích chuỗi giá trị 11

1.1.4 Mối quan hệ giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng 12

1.2 Cơ sở thực tiễn một số nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm ở Việt Nam 13

1.2.1 Phát triển chuỗi giá trị một số cây dược liệu tại một số địa phương của Việt Nam 14

1.2.2 Một số bài học kinh nghiệm để nâng cấp chuỗi giá trị ba kích tím

huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh 17

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 19

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 20

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 20

Trang 6

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 23

2.1.3 Tiềm năng, lợi thế của ba kích tím trên địa bàn huyện Ba Chẽ 30

2.1.4 Đánh giá chung 31

2.2 Nội dung nghiên cứu 33

2.3 Phương pháp nghiên cứu 33

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 33

2.3.2 Phương pháp phân tích 36

2.3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40

3.1 Thực trạng phát triển chuỗi giá trị ba kích tím trên địa bàn huyện Ba Chẽ,

tỉnh Quảng Ninh 40

3.1.1 Thực trạng phát triển diện tích, năng suất, sản lượng cây ba kích trên

địa bàn huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh 40

3.1.2 Thực trạng chế biến và tiêu thụ các sản phẩm ba kích tại huyện Ba Chẽ

tỉnh Quảng Ninh 43

3.2 Phân tích chuỗi giá trị ba kích tím Ba Chẽ 48

3.2.1 Lập sơ đồ chuỗi giá trị ba kích 48

3.2.2 Kênh tiêu thụ sản phẩm ba kích tím Ba Chẽ 49

3.2.3 Phân tích chi phí và lợi nhuận của các tác nhân tham gia vào phát triển

chuỗi giá trị sản phẩm ba kích tím Ba Chẽ 51

3.2.4 Phân tích chuỗi giá trị sản phẩm ba kích tím 54

3.2.5 Mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm ba kích tím Ba Chẽ 6665 3.2.6 Đánh gián những khó khăn của các tác nhân tham gia phát triển chuỗi

giá trị sản phẩm ba kích tím Ba Chẽ 70

3.3 Phân tích SWOT đối với phát triển chuỗi giá trị sản phẩm Ba kích

huyện Ba Chẽ 7271

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chuỗi giá trị ba kích Ba Chẽ 73

3.4.1.Những yếu tố bên trong ảnh hưởng đến sự phát triển chuỗi giá trị ba kích Ba Chẽ 73

3.4.2.Những yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển chuỗi giá trị ba kích

Ba Chẽ 7473

Trang 7

3.5 Đánh giá chung về phát triển chuỗi giá trị sản phẩm ba kích tím

huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh 7574

3.5.1 Những điểm mạnh 7574

3.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân 7675

3.6 Định hướng và giải pháp phát triển chuỗi giá trị ba kích tím trên địa bàn

huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh 7776

3.6.1 Định hướng phát triển cây ba kích trên địa bàn huyện Ba Chẽ,

Tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025 7776

3.6.2 Giải pháp phát triển chuỗi giá trị ba kích tím trên địa bàn huyện Ba Chẽ 79

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

1 Kết luận 89

2 Kiến nghị 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Ba Chẽ năm 2019 23

Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế huyện Ba Chẽ

giai đoạn 2017-2019 24

Bảng 2.3 Tình hình dân số huyện Ba Chẽ năm 2017 - 2019 25

Bảng 2.4 Tình hình lao động huyện Ba Chẽ năm 2017- 2019 26

Bảng 2.5 Đối tượng và mẫu điều tra 36

Bảng 2.6 Phân tích SWOT 38

Bảng 3.1 Diện tích, năng suất, sản lượng Ba kích trên địa bàn huyện Ba Chẽ

giai đoạn 2017 – 2019 41

Bảng 3.2 Diện tích trồng cây ba kích năm 2019 phân theo xã 42

Bảng 3.3.Yêu cầu chất lượng sản phẩm ba kích tại tím huyện Ba Chẽ 43

Bảng 3.4 Kết quả điều tra khả năng tiêu thụ sản phẩm rượu ba kích năm 2019 48

Bảng 3.5 Thông tin chung về hộ nông dân trồng ba kích 53

Bảng 3.6 Tổng hợp chi phí sản xuất ba kích tím từ khi trồng đến khi thu hoạch

(5 năm) tính cho 1ha 55

Bảng 3.7 Kết quả và hiệu quả kinh tế của người trồng ba kích 56

Bảng 3.8 Kết quả và hiệu quả kinh tế của tác nhân thu gom ba kích 57

Bảng 3.9 Phân tích kết quả và hiệu quả của tác nhân chế biến ba kích khô 58

Bảng 3.10 Phân tích kết quả và hiệu quả của tác nhân chế biến rượu ba kích 59

Bảng 3.11 Phân tích kết quả và hiệu quả của tác nhân bán buôn ba kích khô 60

Bảng 3.12 Phân tích kết quả và hiệu quả của tác nhân bán buôn rượu ba kích 61

Bảng 3.13 Phân tích kết quả và hiệu quả kinh tế của tác nhân bán lẻ ba kích khô (Tính cho 1 kg) 62

Bảng 3.14 Phân tích kết quả và hiệu quả của tác nhân bán lẻ rượu ba kích

(Tính cho 1 lít rượu) 63

Bảng 3.15 So sánh hiệu quả kinh tế của các tác nhân trong chuỗi giá trị ba kích 64

Bảng 3.16: Những khó khăn của các tác nhân tham gia phát triển chuỗi giá trị

sản phẩm ba kích Ba Chẽ 70

Bảng 3.17: Phân tích SWOT đối với phát triển chuỗi giá trị sản phẩm ba kích

Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh 72

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Quy trình sản xuất sản phẩm ba kích Ba Chẽ 4545

Hình 3.2 Quy trình sản xuất sản phẩm Rượu ba kích Ba Chẽ 4646

Hình 3.3 Sơ đồ chuỗi giá trị ba kích tím Ba Chẽ 4949

Hình 3.4 Các kênh tiêu thụ sản phẩm ba kích tím Ba Chẽ 5050

Trang 10

BVTV Bảo vệ thực vật

GlobalGAP Bộ tiêu chuẩn về nông trại được công nhận quốc tế GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

VietGAP Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam

Trang 11

Tên tác giả: Đặng Văn Minh

Tên luận văn: Phát triển chuỗi giá trị ba kích tím trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh”

Ngành: Kinh tế nông nghiêp Mã số: 8.62.01.15

Tên cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên

Phần nội dung

1 Mục tiêu của đề tài: Phát triển chuỗi giá trị ba kích tím trên địa bàn huyện Ba

Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị, chuỗi giá trị nông sản; Xác định chuỗi giá trị và đánh giá thực trạng các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị ba kích tím của huyện Ba Chẽ; Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chuỗi giá trị ba kích tím huyện Ba Chẽ; Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị ba kích tím huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2021-2025

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: Là các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ba kích tím huyện Ba Chẽ bao gồm: (1) Chủ thể trồng ba kích (Nhóm xã viên Hợp tác xã, hộ nông dân, trang trại ); (2) Người thu gom ba kích; (3) Cơ sở chế biến ba kích; (4) Bán buôn, bán lẻ, doanh nghiệp, nhà phân phối, (5) Người tiêu dùng

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh; Đánh giá thực trạng phát triển chuỗi giá trị ba kích tím trong giai đoạn 2017-2019; Các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2021 -2025

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để xác định được hiện trạng của chuỗi giá trị; Lập sơ đồ chuỗi giá trị, phân tích chi phí lợi nhuận theo từng tác nhân, theo từng kênh phân phối; Chỉ ra các tác nhân chính, nút thắt chính trong chuỗi giá trị để đưa ra can thiệp hợp lý; Xác định được nút thắt trong chuỗi để triển khai các tác động

- Đề tài góp phần đưa ra các giải pháp cụ thể cho Đề án phát triển cây dược liệu huyện Ba Chẽ trong giai đoạn tới theo hướng tiếp cận chuỗi giá trị từ sản xuất,

Trang 12

trị cây ba kích tím huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025; Cung cấp thông tin cho các tác nhân trong chuỗi giá trị, đặc biệt là cho người trồng ba kích tím và các nhà quản lý xây dựng chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất cây dược liệu; Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan ban ngành của huyện, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả của chuỗi giá trị ba kích, đưa ba kích tím huyện Ba Chẽ trở thành cây dược liệu chủ lực của huyện

4 Bố cục luận văn:

- Qua nghiên cứu, tác giả tổng kết lại kết quả nghiên cứu và giới thiệu “ Phát triển chuỗi giá trị ba kích tím trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” để độc giả tham khảo Nội dung, bố cục ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 nội dung chính sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về chuỗi giá trị nông sản

Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ba Chẽ là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Ninh, là địa phương có nhiều tiềm năng trong việc phát triển các cây dược liệu quý.Với diện tích tự nhiên là 60.855,56 ha, Huyện Ba Chẽ có thế mạnh về rừng và đất rừng (rừng và đất rừng chiếm 90,8% diện tích tự nhiên) (NGTK huyện Ba Chẽ, 2019); cộng thêm đặc điểm địa hình hướng phơi, độ cao, khí hậu, thủy văn, tác động của con người kết hợp với các đặc tính sinh thái của từng loài đã tạo nên sự đa dạng của hệ thực vật tại huyện

Ba Chẽ, đặc biệt là tài nguyên cây thuốc Trong đó, ba kích tím được coi là loài có giá trị sử dụng tốt nhất, mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân

Ba kích tím là cây chịu bóng, mọc rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới,

đã được sử dụng trong các loại thuốc thảo dược truyền thống và bổ sung chất dinh dưỡng cho con người hơn 2000 năm nay Cây không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học

mà còn có giá trị kinh tế cao Củ của cây ba kích được sử dụng rộng rãi như một loại dược liệu có tác dụng bổ thận âm, bổ thận dương, tăng cường gân cốt, tăng sức đề kháng, sức dẻo dai, khử phong thấp Dịch chiết từ củ Ba kích tím có tác dụng giảm huyết áp, tác dụng nhanh với các tuyến cơ năng, bổ trí não, giúp ăn, ngủ ngon Ba kích tím huyện Ba Chẽ có chất lượng tốt nhất tại Quảng Ninh có giá từ 1,5 - 1,7 triệu đồng/kg khô (03 kg tươi được 01 kg khô) Suốt một thời gian dài, ba kích tím mọc hoang, phân bổ nhiều ở vùng đồi núi thấp huyện Ba Chẽ, tuy nhiên phần lớn là khai thác tự nhiên, bừa bãi thiếu khoa học nên số lượng ba kích tím còn lại rất ít Bên cạnh đó, diện tích phân bố tự nhiên của loài cây này cũng bị thu hẹp do người dân phát nương, làm rẫy, thay thế rừng tự nhiên bằng rừng trồng dẫn đến hệ lụy là rừng

bị tàn phá và nghèo nàn thảm thực vật dưới tán rừng khiến chi ba kích tím lâm vào tình trạng gần như tuyệt chủng và được đưa vào sách đỏ Việt nam cần được bảo vệ

Trong những năm qua huyện đã tích cực bảo tồn và hỗ trợ phát triển,nhân rộng sản xuất, chế biến một số loại cây dược liệu thành sản phẩm hàng hóa; Hình thành được một số doanh nghiệp, HTX sản xuất, chế biến; Đặc biệt hầu hết các sản phẩm tham gia chương trình “Đề án mỗi xã phường một sản phẩm - OCOP Quảng Ninh” là từ dược liệu; trong đó có loại dược liệu ba kích được lựa chọn là sản phẩm

Trang 14

tham gia chương trình OCOP cấp tỉnh Nhu cầu của xã hội về dược liệu có nguồn gốc từ thảo dược để điều chế các thực phẩm chức năng, thuốc chữa bệnh, mỹ phẩm… ngày càng tăng, thị trường tiêu thụ rộng mở Do vậy, việc phát huy hiệu quả

và tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm cây ba kích tím đang được coi là hướng đi chủ đạo, góp phần bảo tồn, phát triển nguồn gen dược liệu quý đồng thời giải quyết đầu ra cho sản phẩm Ba kích và tạo việc làm, tăng nguồn thu nhập cho người dân

Biết được hiệu quả trên, một số cơ quan nghiên cứu đã có những thử nghiệm bước đầu về nhân giống đối với cây ba kích tím; Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh đã ban hành quy trình kỹ thuật lâm nghiệp áp dụng cho 17 vùng quy hoạch sản xuất nông nghiệp tập trung của tỉnh, trong đó có kỹ thuật trồng

cây ba kích tím; Huyện Ba Chẽ đã xây dựng Đề án bảo tồn và phát triển một số loài

dược liệu quý trên địa bàn huyện Ba Chẽ năm 2020, định hướng đến năm 2030,

mục tiêu đề án đến năm 2020 ba kích tím đạt 335 ha (Diện tích hiện có 75 ha, dự kiến trồng mới 260 ha) và đến năm 2030 ba kích tím đạt 1.000 ha (Diện tích đến năm

2020 là 335 ha, dự kiến trồng mới 665 ha) Tuy nhiên, các nghiên cứu, đề án mới chỉ mang tính thử nghiệm, quy hoạch vùng sản xuất, hiện chưa có nghiên cứu cơ bản nào tập trung đi sâu vào đánh giá tìm đầu ra cho sản phẩm ba kích tím nhằm tìm ra thị trường tiêu thụ ổn định cây dược liệu quý này Đặc biệt trong quá trình tiêu thụ có hàng loạt câu hỏi đặt ra như: Thực trạng tiêu thụ ba kích tím ở huyện Ba Chẽ trong những năm qua ở như thế nào? đặc biệt là các tác nhân trong việc tiêu thụ? Diện tích, năng suất, giá bán, thời gian tiêu thụ, thị trường tiêu thụ nào có hiệu quả nhất? Những tác động ảnh hưởng đến chuỗi giá trị ba kích tím ở huyện Ba Chẽ? Giải pháp nào để nâng cao giá trị chuỗi ba kích tím ở Ba Chẽ trong những năm tới ?

Việc nghiên cứu phát triển chuỗi giá trị cây ba kích tím vùng sản xuất tập trung trên địa bàn huyện Ba Chẽ có ý nghĩa rất quan trọng Nó giúp cho các nhà quản

lý kinh tế, các cơ quan chỉ đạo sản xuất hiểu rõ hơn hoạt động sản xuất, kinh doanh ba kích tím, những mối quan hệ, tương tác và sự phân phối lợi ích của từng tác nhân trong chuỗi từ đó đề xuất những giải pháp tác động hợp lý nhằm hình thành, hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị cây ba kích tím góp phần tăng hiệu quả kinh tế của cây ba kích trên địa bàn huyện Ba Chẽ nói riêng và trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói chung

Trang 15

Nhằm làm sáng tỏ những câu hỏi trên tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Phát triển chuỗi giá trị ba kích tím huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” góp phần

chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất dược liệu hàng hoá giúp tạo ra sản phẩm có giá trị cao, bền vững, tạo ra hướng sản xuất mới, đa dạng các loại hình sản phẩm; mở ra triển vọng mở rộng các ngành sản xuất dịch vụ, du lịch tại địa phương huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị, chuỗi giá trị nông sản

- Xác định chuỗi giá trị và đánh giá thực trạng các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị ba kích tím của huyện Ba Chẽ Xác định yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị ba kích tím huyện Ba Chẽ

- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển chuỗi giá trị ba kích tím huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2021-2025

3 Đối tượng nghiên cứu

Là các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ba kích tím huyện Ba Chẽ như: (1) Chủ thể trồng ba kích (Nhóm xã viên Hợp tác xã, hộ nông dân, trang trại ); (2) Người thu gom ba kích; (3) Cơ sở chế biến ba kích; (4) Bán buôn, bán lẻ, doanh nghiệp, nhà phân phối, (5) Người tiêu dùng; và yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị ba kích tím

4 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

* Phạm vi về thời gian: Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị ba kích tím trong

giai đoạn 2017-2019; Các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2021 -2025

* Phạm vi về nội dung: Phát triển chuỗi giá trị ba kích tím của huyện Ba Chẽ

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để xác định được hiện trạng của chuỗi giá trị

- Lập sơ đồ chuỗi giá trị, phân tích chi phí lợi nhuận theo từng tác nhân, theo từng kênh phân phối

Trang 16

- Chỉ ra các tác nhân chính, nút thắt chính trong chuỗi giá trị để đưa ra can thiệp hợp lý

- Xác định được nút thắt trong chuỗi để triển khai các tác động

5.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Đề tài góp phần đưa ra các giải pháp cụ thể cho Đề án phát triển cây dược liệu huyện Ba Chẽ trong giai đoạn tới theo hướng tiếp cận chuỗi giá trị từ sản xuất, tới tiêu thụ, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị cây ba kích tím huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025

- Đề tài góp phần cung cấp thông tin cho các tác nhân trong chuỗi giá trị, đặc biệt là cho người trồng ba kích tím và các nhà quản lý xây dựng chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất cây dược liệu

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan ban ngành của huyện, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả của chuỗi giá trị ba kích, đưa ba kích tím huyện Ba Chẽ trở thành cây dược liệu chủ lực của huyện

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 nội dung chính sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về chuỗi giá trị nông sản

Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ NÔNG SẢN

1.1 Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị nông sản

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm chuỗi giá trị

Chuỗi giá trị cũng được biết đến như là chuỗi giá trị phân tích, là một khái niệm từ quản lý kinh doanh đầu tiên đã được mô tả và phổ cập bởi Michael Porter vào năm 1985 trong cuốn sách best-seller của ông có tựa đề: “ Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance” ( Lợi thế cạnh tranh: Tạo và duy trì thành tích vượt trội trong kinh doanh)

Theo Michael Porter (2001) thì chuỗi giá trị của một ngành, một doanh nghiệp bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ tạo nên lợi thế cạnhtranh khi được cấu hình một cách thích hợp…Theo đó, chuỗi giá trị là một chuỗi các hoạt động mà các sản phẩm trải qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo một thứ tự và tại mỗi hoạt động thì sản phẩm đó gia tăng thêm một số giá trị Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các hoạt động cộng lại

Chuỗi giá trị (value chain, 2001) - là khung mẫu cơ sở để suy nghĩ một cách chiến lược về hoạt động trong doanh nghiệp, đồng thời đánh giá chi phí và vai trò tương đối của chúng trong việc khác biệt hóa Khác biệt giữa giá trị với chi phí thực hiện các hoạt động cần thiết để tạo ra sản phẩm/dịch vụ ấy sẽ quyết định mức lợi nhuận Chuỗi giá trị giúp ta hiểu rõ các nguồn gốc của giá trị cho người mua (buyer value) đảm bảo một mức giá cao hơn cho sản phẩm, cũng như lý do tại sao sản phẩm này có thể thay thế sản phẩm khác Chiến lược là một cách sắp xếp và kết hợp nội tại các hoạt động một cách nhất quán, cách thức này phân biệt

rõ ràng doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác

Về tổng thể có chín loại hoạt động tạo ra giá trị trong toàn chuỗi được chia thành hai nhóm:

- Nhóm hoạt động chính thì bao gồm dãy năm loại hoạt động: Đưa nguyên vật liệu vào kinh doanh; Vận hành, sản xuất- kinh doanh; Vận chuyển ra bên ngoài; Marketing và bán hàng; Cung cấp các dịch vụ liên quan

Trang 18

- Nhóm bổ trợ chứa các hoạt động tạo ra giá trị bao gồm: Hạ tầng, quản trị nhân lực, công nghệ và mua sắm Các hoạt động bổ trợ xảy ra bên trong từng loại hoạt động chính

Chuỗi giá trị theo Kaplinsky và Morris (2001) “Chuỗi giá trị bao gồm toàn bộ

các hoạt động cần thiết để đưa ra một sản phẩm hoặc dịch vụ từ một ý tưởng thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi sử dụng”.Chuỗi giá trị tồn tại khi mà tất cả các tác nhân tham gia vào hoạt động của chuỗi theo cách để tối ưu hoá việc tạo ra giá trị dọc theo

chuỗi

Kaplinsky và Morris (2001) nhấn mạnh rằng không có một phương pháp chuẩn tắc cho việc phân tích một chuỗi giá trị Xây dựng phương pháp phân tích chuỗi giá trị phụ thuộc vào cách tiếp cận và vấn đề nghiên cứu cũngnhư mục tiêu đặt

ra Có nhiều cách tiếp cận trong phân tích chuỗi giá trị, nhưng mỗi cách tiếp cận chuỗi đều có những lợi thế và bất lợi khác nhau

Theo Kaplinsky và Morris (2001), việc phân tích chuỗi giá trị gồm những nội dung sau:

- Xác định tác nhân đầu tiên để bắt đầu thực hiện nghiên cứu;

- Lập sơ đồ chuỗi giá trị: Quá trình lập sơ đồ chuỗi cần xác định và vẽ các quá trình cốt lõi trong chuỗi; Xác định các tác nhân trong mỗi quá trình; Vẽ dòng luôn chuyển sản phẩm giữa các tác nhân dọc theo chuỗi, bao gồm dòng luân chuyển về địa lý; Xác định khối lượng sản phẩm giao dịch luân chuyển giữa các tác nhân; Xác định sự thay đổi giá trị qua mỗi quá trình; Xác định các phương thức liên kết và giao dịch giữa các tác nhân trong chuỗi

- Xác định những phân đoạn thị trường của sản phẩm và các yếu tố thành công then chốt cho sản phẩm trên thị trường;

- Xác định cách thức nhà sản xuất kết nối với thị trường, đánh giá đặc điểm và vai trò của người mua và người bán trên thị trường;

- Đánh giá và kiểm tra hiệu quả vận hành chuỗi giá trị: Tức là đánh giá khả năng cạnh tranh về chi phí, chất lượng, thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng, năng lực thực hiện cải tiến cho sản phẩm cũng như quá trình tạo ra giá trị;

Trang 19

- Quản trị chuỗi giá trị: Đánh giá sức mạnh của quyền lực chi phối thị trường

ở các tác nhân, xác định tác nhân then chốt và quan trọng nhất trong việc xây dựng chuỗi giá trị bền vững;

- Các vấn đề liên quan đến phân phối lợi ích, giá trị gia tăng, rủi ro, rào cản gia nhập ngành…

Như vậy, chuỗi giá trị hàng hóa - dịch vụ là nói đến những hoạt động cần thiết

để biến một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động và có trách nhiệm tạo ra giá trị tối đa trong toàn chuỗi

Chúng ta có thể hiểu khái niệm này theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng:

Nếu hiểu chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp thì chuỗi giá trị là một khối liên kết dọc

hoặc một mạng liên kết giữa một số tổ chức kinh doanh độc lập trong một chuỗi sản xuất Hay nói cách khác một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một đơn vị sản xuất để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng, mặt khác mỗi hoạt động lại bổ xung giá trị cho sản phẩm cuối cùng

Nếu hiểu Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng thì đó là một phức hợp những hoạt

động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ Kết quả của chuỗi có được khi sản phẩm đã được bán cho người tiêu dùng cuối cùng

Như vậy, khái niệm về chuỗi giá trị đã bao hàm cả tổ chức và điều phối, các chiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi

Khái niệm chuỗi giá trị nông sản

Các nghiên cứu về chuỗi giá trị nông sản sử dụng thuật ngữ “chuỗi giá trị” hay “chuỗi cung ứng” để mô tả chuỗi giá trị nông sản FAO (2010) định nghĩa:

“Chuỗi giá trị nông sản bao gồm tập hợp các tác nhân và hoạt động đưa một sản phẩm nông sản từ sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, theo đó, giá trị của sản phẩm được gia tăng trong mỗi khâu trung gian Một chuỗi giá trị có thể là một liên kết dọc hay một mạng lưới các tác nhân độc lập với nhau vào các khâu chế biến, đóng gói, bảo quản, vận chuyển, và phân phối”

Trang 20

Như vậy, khái niệm chuỗi giá trị nông sản cũng mang những đặc điểm của khái niệm chung về chuỗi giá trị, đó là mô tả chuỗi những hoạt động để đưa 1 sản phẩm từ sản xuất đến tiêu dùng cuối cùng Các hoạt động trong chuỗi giá trị nông sản bao gồm sản xuất, thu gom, chế biến, bán buôn, bán lẻ cũng như các chức năng

hỗ trợ như cung ứng vật tư đầu vào, dịch vụ tài chính, dịch vụ hậu cần, đóng gói, và marketing Chuỗi giá trị bị ảnh hưởng bởi các đặc tính của sản phẩm nông sản Sản phẩm nông sản có các đặc tính đặc thù như tính mùa vụ, mau hỏng, chất lượng không đồng nhất, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm của sản phẩm Những đặc tính những vấn đề trong tổ chức, hoạt động, và hiệu suất của chuỗi, từ đó ảnh hưởng tới đặc điểm của chuỗi

1.1.1.2 Các khái niệm liên quan

Chuỗi sản xuất - cung ứng

Thuật ngữ chuỗi cung ứng sử dụng để mô tả các kênh phân phối hoặc kênh thị trường qua đó sản phẩm được chuyển tới tay người tiêu dùng Người nông dân ít khi bán trực tiếp sản phẩm của mình cho người tiêu dùng.Đây là khái niệm mới sử dụng trong kinh tế thị trường với mục tiêu chính là sản xuất hàng hóa theo ngành hàng Từ các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau chúng tôi cho rằng, một chuỗi sản xuất được hiểu đó là tất cả các bên tham gia vào một hoạt động kinh tế có

sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh và chuyển giao sản phẩm đó tới người tiêu dùng cuối cùng

Trong một chuỗi sản xuất - cung ứng: dòng luân chuyển thông tin thường không phải là chủ yếu mà mục tiêu chính hướng đến là chi phí và giá Chiến lược sản xuất thường tập trung vào các sản phẩm, hàng hoá cơ bản Định hướng của chuỗi sản xuất - cung ứng chủ yếu là hướng cung Vấn đề trọng tâm của chuỗi sản xuất chính

là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và kết cấu tổ chức trong chuỗi là các tác nhân tham gia độc lập

Ngành hàng

Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế quy tụ trực tiếp vào việc tạo

ra các sản phẩm cuối cùng Như vậy ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hoạt động, xuất phát từ điểm ban đầu đến điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chếbiến để tạo ra một

Trang 21

hay nhiều sản phẩm hoàn chỉnh ở mức độ người tiêu thụ Nói cách khác: Ngành hàng là tập hợp những tác nhân kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất, tiếp đó là gia công sản phẩm, chế biến và đi đến một thị trường hoàn tất của các sản phẩm nông nghiệp

Nói chung, ngành hàng bao gồm toàn bộ các hoạt động được gắn kết chặt chẽ với nhau trong một quá trình từ sản xuất, vận chuyển, chế biến đến phân phối sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Chúng ta thấy rằng ngành hàng là một chuỗi tác nghiệp, chuỗi các tác nhân và cũng là một chuỗi những thị trường, nó kéo theo những luồng vật chất và những bù đắp bằng giá trị tiền tệ

Tác nhân

Tác nhân là một “tế bào” sơ cấp với các hoạt động kinh tế là trung tâm, hoạt động độc lập và tự quyết định hành vi của mình Tác nhân có thể là những hộ hay những doanhnghiệp tham gia trong các ngành hàng thông qua hoạt độngkinh tế của họ Có thể chia tác nhân làm 2 loại: Tác nhân là người thực hiện và tác nhân tinh thần có tính tượng trưng Nếu theo nghĩa rộng, người ta dùng tác nhân để nói một tập hợp các đơn vị

có cùng mộthoạt động

Sản phẩm

Trong một ngành hàng, mỗi tác nhân đều tạo ra sản phẩm riêng của mình, trừ những sản phẩm bán lẻ cuối cùng Sản phẩm của mọi tác nhân khác chưa phải là sản phẩm cuối cùng của ngành hàng mà chỉ là kết quả hoạt động kinh tế, là đầu ra quá trình sản xuất của từng tác nhân Do tính chất phong phú về chủng loại sản phẩm nên trong phân tích ngành hàng thường chỉ phân tích sự vận hành của các sản phẩm chính Sản phẩm của ngành hàng thường lấy tên sản phẩm của tác nhân đầu tiên

1.1.2 Nội dung phân tích chuỗi giá trị ngành hàng

Nội dung phân tích chuỗi giá trị gồm 8 nội dung hay được gọi là công cụ dùng

để phân tích Trong đó 4 công cụ đầu tiên được coi là “ Công cụ cốt yếu” cần được thực hiện để đạt được phân tích tối thiểu về chuỗi giá trị Bốn công cụ tiếp theo là

"các công cụ nâng cao" có thể tiến hành để có một bức tranh tổng thể hơn về một số mặt của chuỗi giá trị

1.1.2.1 Lập sơ đồ chuỗi giá trị

Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, cần thiết sử dụng các

mô hình, bảng, biểu đồ, số liệu và các hình thức khác để mô tả các tác nhân, đặc

Trang 22

điểm và kết quả hoạt động của từng tác nhân Việc sử dụng các sơ đồ vẽ các chuỗi giá trị sẽ giúp chúng ta dễ nhận thấy và dễ hiểu hơn trong quá trình nghiên cứu

1.1.2.2 Xác định chi phí và lợi nhuận

Sau khi đã lập sơ đồ chuỗi giá trị bước tiếp theo là nghiên cứu sâu một số khía cạnh của chuỗi giá trị Có rất nhiều khía cạnh có thể lựa chọn để nghiên cứu tiếp Nhưng xác định chi phí và lợi nhuận xác định số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị bỏ ra và số tiền mà một người tham gia trong chuỗi giá trị nhận được có

ý nghĩa hơn cả

1.1.2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị

a Phân tích công nghệ, kiến thức

Công nghệ áp dụng trong sản xuất là nói đến công nghệ truyền thống (thường được tự phát triển bởi người sử dụng dựa trên kinh nghiệm), công nghệ cao (được hình thành thông qua nghiên cứu và phát triển mở rộng) Phân tích công nghệ và kiến thức nhằm phân tích tính hiệu quả và hiệu lực của công nghệ, kiến thức dùng trong chuỗi giá trị Trên cơ sở xác định loại hình công nghệ đang áp dụng so với những đòi hỏi công nghệ, kiến thức của chuỗi giá trị để thấy được mức độ hợp lý của công nghệ đang áp dụng Từ đó đưa ra những giải pháp cho sự lựa chọn cải tiến nâng cấp công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm đầu ra, tiết kiệm chi phí và nâng cao thu nhập cho chuỗi giá trị

b Phân tích thu nhập

Mục tiêu của phân tích thu nhập là: Phân tích tác động, phân bổ thu nhập trong và giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị theo cấp bậc Phân tích tác động của hệ thống quản trị chuỗi giá trị tới sự phân bổ thu nhập và giá sản phẩm cuối cùng Miêu tả sự đa dạng của thu nhập, rủi ro thường gặp và các tác động đến chuỗi giá trị

Trang 23

d Quản trị và các dịch vụ

Việc phân tích quản trị và các dịch vụ nhằm: Phân tích các nhà tham gia trong chuỗi giá trị phối hợp với các hoạt động của họ như thế nào thông qua các nguyên tắc chính thức và không chính thức Hiểu sự tuân thủ nguyên tắc được giám sát như thế nào, phân tích những nhóm khác nhau của những người tham gia chuỗi giá trị nhận những hình thức hỗ trợ đầy đủ như thế nào để có thể giúp họ đạt được các tiêu chuẩn yêu cầu Đánh giá tác động của các nguyên tắc tới các nhóm khác nhau

e Sự liên kết giữa các tác nhân

Trong nghiên cứu chuỗi giá trị cần thiết miêu tả mối liên kết giữa những người tham gia trong chuỗi giá trị và mối liên kết của họ với các tác nhân ngoài chuỗi Miêu tả những cam kết, trách nhiệm và lợi ích giữa những người tham gia, sự

áp dụng đối với sự phát triển chung của chuỗi

1.1.3.Ý nghĩa của phân tích chuỗi giá trị

Chuỗi giá trị có thể được phân tích từ góc độ của bất kỳ tác nhân nào trong số các tác nhân tham gia trong chuỗi.Phép phân tích chuỗi thường được sử dụng cho các công ty, các doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước Bốn khía cạnh trong phân tích chuỗi giá trị nhưng được áp dụng trong nông nghiệp mang nhiều ý nghĩa đó là:

- Thứ nhất: Phân tích chuỗi giá trị giúp chúng ta lập sơ đồ một cách hệ thống

các bên tham gia vào sản xuất phân phối, tiếp thị và bán một (hoặc nhiều) sản phẩm

cụ thể

- Thứ hai: Phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định sự

phân phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển (nhất là về nông nghiệp) khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa

- Thứ ba: Phân tích chuỗi giá trị có thể dùng để xác định vai trò của việc nâng

cấp trong chuỗi giá trị

- Thứ tư: Phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản trị trong

chuỗi giá trị

Như vậy, phân tích chuỗi giá trị có thể làm cơ sở cho việc hình thành các dự

án, chương trình hỗ trợ cho một chuỗi giá trị hoặc một số chuỗi giá trị nhằm đạt được

Trang 24

một số chuỗi kết quả phát triển mong muốn hay nó là động thái bắt đầu một quá trình thay đổi chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng ổn định, bền vững

1.1.4 Mối quan hệ giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng

Trong suốt thời gian qua, thuật ngữ “Chuỗi cung ứng” và “Chuỗi giá trị” được nhắc đến rất nhiều ở các cuộc hội đàm, thảo luận của các nhà kinh tế Người ta sử dụng những tên gọi khác nhau cho các chuỗi hoạt động và tổ chức Khi con người nhấn mạnh đến hoạt động sản xuất, họ xem chúng như là các quy trình sản xuất; Khi

họ nhấn mạnh đến khía cạnh marketing, họ gọi chúng là kênh phân phối; Khi họ nhìn

ở góc độ tạo ra giá trị, họ gọi chúng là chuỗi giá trị; Khi họ nhìn nhận về cách thức thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, họ gọi nó là chuỗi nhu cầu

Một vấn đề được đặt ở đây ra là việc phân biệt và làm rõ sự khác nhau giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng Để xem xét sự khác biệt giữa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, ta khái niệm hóa chuỗi cung ứng như là tập hợp con của chuỗi giá trị Tất

cả nhân viên bên trong một tổ chức là một phần của chuỗi giá trị Điều này lại không đúng đối với chuỗi cung ứng Các hoạt động chính đại diện cho bộ phận hoạt động của chuỗi giá trị, và đây chính là những điều ám chỉ đến chuỗi cung ứng Ở cấp độ tổ chức, chuỗi giá trị là rộng hơn chuỗi cung ứng vì nó bao gồm tất cả các hoạt động dưới hình thức của các hoạt động chính và hoạt động bổ trợ Hơn nữa, khái niệm chuỗi giá trị ban đầu tập trung chủ yếu vào các hoạt động nội bộ, trong khi chuỗi cung ứng, theo định nghĩa, tập trung vào cả nội bộ và bên ngoài Để phản ánh ý kiến hiện tại, chúng ta phải mở rộng mô hình chuỗi giá trị ban đầu, tập trung chủ yếu vào các thành phần nội bộ, bao gồm cả nhà cung cấp và khách hàng nằm ở

vị trí ngược dòng và xuôi dòng của chuỗi so với tổ chức trọng tâm Các cấp độ của nhà cung cấp và khách hàng hình thành cơ sở của chuỗi giá trị mở rộng hoặc khái niệm doanh nghiệp mở rộng, với tuyên bố rằng sự thành công chính là chức năng quản lý một cách hiệu quả nhóm các doanh nghiệp liên kết với nhau qua khách hàng và nhà cung cấp ở cấp độ đầu tiên (doanh nghiệp chỉ xem xét nhà cung cấp và khách hàng của mình) Các doanh nghiệp tiến bộ thấu hiểu rằng quản lý chi phí, chất lượng và phân phối yêu cầu phải quan tâm đến nhà cung cấp ở cấp độ khá xa

so với doanh nghiệp (nhà cung cấp cấp hai, ba )

Trang 25

Chúng ta có thể thấy rằng một chuỗi cung ứng được tổ chức tốt sẽ giúp chuỗi giá trị tạo ra được nhiều giá trị hơn cho doanh nghiệp Và ngược lại, chuỗi giá trị hoạt động có hiệu quả thì chuỗi cung ứng cũng xuyên suốt, giúp doanh nghiệp đạt hiệu quả cao

1.2 Cơ sở thực tiễn một số nghiên cứu về chuỗi giá trị sản phẩm ở Việt Nam

Ở Việt Nam việc áp dụng chuỗi giá trị trong thực tế đã được nhiều tổ chức quốc tế như tổ chức GTZ, ACI, SNV, CIRAD, Ngân hàng phát triển Châu Á phối hợp cùng các cơ quan chính phủ Việt Nam tiến hành nghiên cứu, triển khai các dự án

hỗ trợ nhằm phát triển Tổ chức SNV đã nghiên cứu chuỗi giá trị ngành cói của tỉnh Ninh Bình nhằm năng cao năng lực cạnh tranh ngành cói qua phát triển chuỗi giá trị trình bày ở hội thảo “Ngành cói Việt Nam - Hợp tác để tăng trưởng” Ngày 04/12/2008 tại Ninh Bình do Nico Janssen, cố vấn cao cấp – SNV Sau khi tiến hành chương trình nghiên cứu tổ chức SNV đã giúp chuyển giao kiến thức từ nhà nghiên cứu đến nông dân, nâng cao năng lực của nhóm kỹ thuật địa phương về cung cấp dịch vụ khuyến nông, hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách liên quan đến ngành cói của tỉnh, hỗ trợ thành lập các nhóm đại diện như nông dân trồng và chế biến cói, hiệp hội cói, phát triển thị trường cho công nghệ sau thu hoạch, cải thiện việc tiếp cận thị trường…(SNV, 2009)

Trung tâm Tin học Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (ICARD), Viện Nghiên cứu Chè Việt Nam (VTRI), Viện Nghiên cứu Rau quả Việt Nam (IFFAV)

và Công ty Tư vấn Nông sản Quốctế (ACI) phối hợp thực hiện dưới sự tài trợ của Ngân hàng Phát triển Châu Á Nghiên cứu về chuỗi giá trị chè trong khuôn khổ dự

án nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường cho Người nghèo do ngân hàng phát triển Châu Á và quỹ phát triển Quốc tế của Anh đồng tài trợ

Chương trình hợp tác phát triển doanh nghiệp nhỏ giữa Bộ kế hoạch đầu tư

và Tổ chức hỗ trợ phát triển kỹ thuật đức (GTZ) đã triển khai dự án “Phát triển chuỗi giá trị trái bơ Đắk Lăk” từ tháng 3/2007 có sự tham gia của Công ty Fresh Studio Innovation Asia Ltd, DOST, CSTA, WASI, AEC Mục đích của dự án là xây dựng chuỗi giá trị trái bơ nhằm khắc phục những điểm yếu trong chuỗi, ví dụ như nguồn cung không đồng đều, sản xuất và vận hành không chuyên nghiệp dẫn đến tỉ lệ hư hại cao, lợi nhuận cho các tác nhân tham gia thấp Trước đây ở Đắk

Trang 26

Lăk cây bơ chủ yếu được trồng để làm bóng mát và chắn gió xung quanh cánh đồng

cà phê, lĩnh vực quả bơ ở Đắk Lăk chưa được các nhà hoạch định chính sách để ý Sau khi triển khai dự án “Phát triển chuỗi giá trị Đắk Lăk” đã làm nâng cao nhận thức giữa người lập chính sách ở tỉnh về tầm quan trọng kinh tế của quả bơ ở Đắk Lăk (MPI - GTZ SMEDP, 2007)

Giá trị gia tăng đạt được từ các hoạt động xây dựng thương hiệu, đóng gói, thiết kế và marketing đã mang lại giá bán cao hơn cho người sản xuất và lượng hàng hoá tiêu thụ nhiều hơn Trong nhiều trường hợp, các sản phẩm đã có được thị trường mới ở các khu thương mại, siêu thị lớn ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, một số sản phẩm đã có được thị trường xuất khẩu Tiếp cận và phát triển thị trường được cải thiện thông qua các hoạt động nâng cấp chuỗi và mối quan hệ hợp tác của các tác nhân trong chuỗi ( Doris Becker, Phạm Ngọc Trâm và Hoàng Đình

Tú, (2009)

Tại khu vực phía Bắc chương trình GTZ cũng hỗ trợ triển khai dự án “Phân tích chuỗi giá trị rau cải ngọt tại tỉnh Hưng Yên” từ đầu năm 2008 với sự tham gia của công ty Fresh Studionnovation AsiaLtd, Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hưng Yên (DARD) Mục đích của dự án là cùng các bên liên quan đến chuỗi cải ngọt tạo ra phương hướng phát triển và lập kế hoạch can thiệp trên cơ sở yêu cầu thị trường nhằm thúc đẩy chuỗi gía trị rau cải ngọt thành công hơn, có khả năng cạnh tranh cao hơn từ ñó mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia

Như vậy, với một số minh chứng nêu trên, chứng tỏ rằng nghiên cứu chuỗi giá trị ở Việt Nam đã được quan tâm ở cấp độ vĩ mô và vi mô, được tiến hành triển khai rộng rãi trên nhiều ngành, đặc biệt là các sản phẩm nông sản và rau quả Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuỗi giá trị cho các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm

từ cây dược liệu còn ít được đề cập, đặc biệt là các sản phẩm có khả năng phát triển thành hàng hoá, tạo thu nhập kinh tế ổn định, giúp người dân xoá đói giảm nghèo tại các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.1 Phát triển chuỗi giá trị một số cây dược liệu tại một số địa phương của Việt Nam

Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu, cả nước ghi nhận 3.948 loài cây thuốc, trong đó chỉ 10% là cây thuốc trồng, còn lại là cây thuốc trong tự nhiên Do không đáp ứng được nhu cầu trong nước nên 80% dược liệu sử dụng hiện nay là nhập khẩu Sản xuất dược liệu trong nước thì còn thiếu quy hoạch, không đạt tiêu

Trang 27

chuẩn Hệ quản lý chất lượng GACP của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Hiện nước ta chỉ có 18 trong số 300 cây dược liệu được cấp chứng chỉ GACP Công tác quản lý về chất lượng dược liệu còn bất cập, đe dọa an toàn đối với người sử dụng, nhất là có sự lẫn lộn về dược liệu bảo đảm chất lượng và không bảo đảm chất lượng; không truy xét được nguồn gốc xuất xứ; thiếu hệ thống dữ liệu về dược liệu cấp toàn quốc; thiếu kinh nghiệm điều hành, quản lý sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng dược liệu trong nước

và xuất khẩu

Tại hội nghị trực tuyến toàn quốc về phát triển cây dược liệu Việt Nam, ngày

12/4/2018, tại thành phố Lào cai do Chính phủ tổ chức, hiệp hội Dược liệu Việt Nam

đánh giá, tiềm năng cây dược liệu Việt Nam rất lớn, nhiều cây dược liệu quý, thí dụ như sâm Ngọc Linh được đánh giá có chất lượng cao hơn sâm của nước ngoài Nhưng để khai thác được tiềm năng đó thì phải giải bài toán về vấn đề chất lượng dược liệu và đầu ra cho sản phẩm dược liệu Tại hội nghị trực tuyến, đại biểu các bộ, ban, ngành; các công ty dược, bệnh viện y học cổ truyền và các địa phương đã nêu nhiều ý kiến về giải pháp và cơ chế, chính sách nhằm phát triển dược liệu Việt Nam theo hướng bền vững, nâng cao hiệu quả kinh tế theo chuỗi giá trị

Phát triển các mô hình trồng cây dược liệu: Hợp tác xã trồng cây dược liệu Hải Lộc (Hải Hậu) được thành lập từ năm 2014 với sự tham gia của 154 thành viên, trong đó có 85 lao động nữ Hợp tác xã liên kết các hộ gia đình tại xã tập trung sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap trên diện tích 15ha Sản phẩm chính là dây thìa canh sấy khô cung cấp nguyên liệu sản xuất thuốc tân dược cho Công ty Cổ phần Nam Dược Tham gia hợp tác xã, các thành viên đã được cán bộ kỹ thuật của Công ty Nam Dược hướng dẫn từ những kỹ thuật đơn giản như trải rơm để giữ độ ẩm cho cây, bón lượng phân hợp lý, tỉa cành đến việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất Đặc biệt, nhờ áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật GACP (tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới quy định trong sản xuất dược liệu) vào vườn cây trồng dây thìa canh nên năng suất cao gấp 2-3 lần so với cách làm quảng canh, chất lượng cũng cao hơn hẳn do hoàn toàn không có phân bón, không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong dược liệu, giữ được tối ưu nhất những hoạt chất trong dược liệu (Nguồn: Lam Hồng báo Nam định Cập nhật lúc 08:21, Thứ Hai, 18/11/2019 (GMT+7)

Trang 28

Công ty Cổ phần kinh doanh lâm sản Đạp Thanh, là doanh nghiệp tiên phong đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, chế biến cây Trà hoa vàng tại huyện Ba Chẽ Sau hơn 3 năm đầu tư, phát triển mô hình này, đến nay doanh nghiệp đã trồng được 3 ha Trà hoa vàng với trên 1 vạn gốc Để cây trồng phát triển tốt và mang lại hiệu quả kinh tế Công ty đã mạnh dạn đầu tư hệ thống máy móc, áp dụng khoa học công nghệ trong việc trồng, chăm sóc và chế biến Trà hoa vàng Công ty đã đầu tư khu sản xuất giống Trà hoa vàng với hệ thống dàn lưới che nắng, mưa và hệ thống tưới nước phun sương

tự động, nhằm đảm bảo tỷ lệ cây sống cao Đối với diện tích trà trồng trà trên, anh Trắng cũng lắp đặt hệ thống tưới nước phun sương tự động để thuận lợi trong khâu chăm sóc Trong khâu chế biến, cùng với sự hỗ trợ của huyện, anh đầu tư mua 1 máy sấy thăng hoa, 2 máy sấy khô và 1 máy đóng gói trà túi lọc tự động “Trước khi chưa biết áp dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật tiên tiến trong việc trồng, chăm sóc và chế biến Trà hoa vàng thì Công ty gặp không ít khó khăn, nhất là trong việc ươm giống cây và chế biến sản phẩm Từ khi biết ứng dụng những công nghệ mới này thì Công

ty chúng tôi sản xuất rất thuận lợi như tỷ lệ cây giống sống rất cao, việc chăm sóc không tốn nhiều công lao động, việc chế biến hoa trà và các sản phẩm từ Trà hoa vàng rất thuận lợi, điều đó đã mang đến doanh thu cho Công ty tương đối lớn” Nhờ biết ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, mà hàng năm Công ty Cổ phần kinh doanh lâm sản Đạp Thanh cung cấp ra thị trường khoảng 10.000 cây giống/năm Năm 2017, doanh thu từ trồng và chế biến cây Trà hoa vàng của doanh nghiệp đạt 3

tỷ đồng (tăng 1 tỷ đồng so với năm 2016)

Tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, ba kích tím phổ biến có 02 loại sản phẩm gồm: Củ ba kích tươi rửa sạch, ba kích phơi khô Củ ba kích tươi cung cấp chủ yếu cho các đơn vị sản xuất rượu ba kích đã được cấp phép trong dự án “Tạo lập, quản lý

và phát triển nhãn hiệu chứng nhận Quảng Ninh cho sản phẩm rượu ba kích tỉnh Quảng Ninh” và bán cho người tiêu dùng; Sản phẩm ba kích khô chủ yếu cung cấp cho các cơ sở đông y thuộc Sở Y tế Quảng Ninh và cung cấp cho một số nhà thuốc khu vực phí Bắc và bán lẻ trên thị trường Sản phẩm từ củ ba kích chủ yếu rượu ba kích (chiếm trên 72% sản lượng Ba kích tiêu thụ trên địa bàn toàn tỉnh) Được sự quan tâm hỗ trợ của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh thông quan việc khai dự án

Trang 29

“Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận Quảng Ninh cho sản phẩm rượu ba kích Ba Chẽ, rượu ba kích tỉnh Quảng Ninh”, sản phẩm rượu ba kích tím Ba Chẽ và rượu ba kích Quảng Ninh đã mở rộng được thị trường tiêu thụ trong và ngoài tỉnh.Hàng năm ngân sách Nhà nước duy trì để tham gia các hội chợ: Hội chợ mỗi xã phường một sản phẩm (OCOP - one community one product); hội chợ xuân Hạ Long, hội chợ Agroviet tại Hà Nội, hội chợ thương mại-du lịch Quảng Ninh, hội chợ hữu nghị Việt Trung Đã hình thành được hệ thống kênh phân phối rượu ba kích Quảng Ninh thông qua các điểm giới thiệu sản phẩm thuộc chương trình OCOP tại

14 địa phương, hệ thống các khách sạn tại Quảng Ninh, một số cửa hàng kinh doanh rượu tại Hà Nội và Hải Phòng, hệ thống siêu thị BigC, Metro tại Quảng Ninh

Kết quả nghiên cứu đã đưa ra được sơ đồ chuỗi giá trị với các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ba kích tím, các liên kết, mối quan hệ, mức độ trao đổi thông tin và cuối cùng là tỷ trọng lợi nhuận của các tác nhân Nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chuỗi gồm: tập trung phát triển R&D và công nghiệp hóa nông nghiệp trồng trọt dược liệu tại Việt Nam Nghiên cứu còn là nền tảng cho các nghiên cứu sâu hơn về nâng cao và cải thiện kinh tế cho các thành phần có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi

1.2.2 Một số bài học kinh nghiệm để nâng cấp chuỗi giá trị ba kích tím huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

Bài học 1- tăng cường liên kết ngang

Người sản xuất liên kết với nhau để phát triển hàng hóa với chất lượng cao

và quy mô lớn hơn thông qua các hình thức hợp tác như tổ hợp tác, HTX và sự liên kết chặt chẽ với các cơ sở chế biến, tiêu thụ nhằm đảm bảo đầu ra

Nông dân tiến hành tổ chức hành động tập thể theo quy trình sản xuất chung gắn với mô hình vùng sản sản xuất tập trung (cánh đồng lớn) Hộ nông dân liên kết lại bằng cách vào tổ hợp tác, hợp tác xã Sản xuất trong cánh đồng mẫu lớn, trong tổ hợp tác, nông dân giảm được ngày công lao động, giảm chi phí sản xuất do tất cả đều được cơ giới hóa Không chỉ vậy, nông dân cũng được nâng cao trình độ sản xuất thông qua các buổi tập huấn,chia sẻ kinh nghiệm sản xuất…Từ đó gắn kết giữa nông dân và nông dân ngày càng bền chặt Nhờ vào liên kết, nông dân mới có khả năng xây dựng và quản lý nhãn hiệu tập thể, tiến đến xây dựng thương hiệu cho sản phẩm,

Trang 30

quản lý về chất lượng sản phẩm để gia tăng giá trị, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường đối với các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo an toàn, chất lượng

Bài học 2 - Vai trò của doanh nghiệp đầu tàu trong liên kết dọc

Trong chuỗi giá trị sản phẩm, việc kết nối với các “doanh nghiệp đầu tàu” hay các “doanh nghiệp đầu chuỗi” theo một quy trình sản xuất và kinh doanh thống nhất,

có một vai trò quan trọng với việc duy trì phát triển chuỗi giá trị và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu ngày càng cạnh tranh của thị trường

Song song với sự liên kết giữa nông dân, liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp đã hình thành và củng cố, từ đó xây dựng kênh tiêu thụ mới trong chuỗi giá trị thông qua loại bỏ bớt tác nhân trung gian giữa người sản xuất và doanh nghiệp, rút ngắn độ dài của kênh tiêu thụ nông sản Sản xuất lớn tạo cơ sở để nông dân liên kết với những doanh nghiệp có khả năng chế biến sâu, bán sản phẩm trực tiếp, có thương hiệu đến người tiêu dùng thông qua các hệ thống phân phối trong và ngoài nước; hoặc liên kết với những doanh nghiệp chứng minh được họ đã liên kết, là một phần hữu cơ của một chuỗi hàng hóa nào đó trong các khía cạnh về chất lượng, thương hiệu, rủi ro… Đã có nhiều doanh nghiệp tiêu thụ, xuất khẩu gạo liên kết với nông dân, xây dựng vùng nguyên liệu thông qua hợp đồng tiêu thụ, cung ứng vật tư,

hỗ trợ kỹ thuật Mối liên kết này đã bắt đầu mở rộng ra với nhiều cây trồng khác như trên rau, cây ăn quả và cây công nghiệp (như ngô, lạc, mía, chè, chè…), hợp tác, liên kết, chuyển giao khoa học - kỹ thuật, cung cấp dịch vụ công, nhất là đào tạo nghề nông nghiệp Nhiều doanh nghiệp có uy tín không chỉ trong nước mà trên thị trường quốc tế như: Chè Trung Nguyên, VinaTea…

Bài học 3 - Vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị

Để thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị sản phẩm phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước theo hướng VietGAP/ GlobalGAP, vai trò của Nhà nước trong việc quy hoạch vùng sản xuất tập trung, hỗ trợ nâng cao năng lực cho các tác nhân trong chuỗi

và tạo môi trường kinh doanh minh bạch thuận lợi nhất cho các tác nhân là hết sức quan trọng

Nhìn tổng thể, muốn phát triển chuỗi giá trị nông sản bền vững không thể thiếu được vai trò kiến tạo của Nhà nước thông qua việc ban hành các chính sách mang tính tổng hợp Chẳng hạn như, cần có gói chính sách hỗ trợ tài chính để cải

Trang 31

thiện năng lực thu mua sản phẩm cho người dân, đặc biệt là tạo cơ hội cho các hộ nhỏ tham gia chuỗi giá trị Hay như cần cải cách các hiệp hội ngành hàng; thúc đẩy mối quan hệ hợp tác công - tư trong liên kết chuỗi; đổi mới cơ chế thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp; quy hoạch vùng sản xuất nông sản theo hướng tập trung, hiện đại; tăng cường liên kết các viện/trường với các doanh nghiệp tạo điều kiện chuyển giao công nghệ vào chuỗi giá trị…

Trong những năm gần đây, việc áp dụng thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam (VietGAP) hay bộ tiêu chuẩn về nông trại được công nhận quốc tế (GlobalGAP) tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan

Các công trình nghiên cứu về phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu bao gồm:Nghiên cứu chuỗi giá trị dược liệu - cây Diệp Hạ Châu (2013) của nhóm tác giả: Huỳnh Bảo Tuân, Hồ Phượng Hoàng, Trần Thị Cảm, Nguyễn Ngọc Kiều Chinh -Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG-HCM được đăng trên Tạp trí phát triển khoa học và công nghệ, tập 16, số Q2 - 2013

Ngô Văn Nam (2010) “ Nghiên cứu chuỗi giá trị của sản phẩm cây dược liệu

làm thuốc tắm tại huyện sa pa, tỉnh lào cai”, luận văn Thạc Sĩ kinh tế, Trường Đại

học Nông nghiệp Hà Nội

Nghiên cứu của TS Trần Trung Vỹ (2019) về "Nghiên cứu chuỗi giá trị sản

phẩm dược liệu thuộc chương trình OCOP tỉnh Quảng Ninh" Qua kết quả nghiên

cứu và phân tích chuỗi giá trị cho 2/6 sản phẩm dược liệu chủ yếu của tỉnh Quảng Ninh là cây ba kích và cây trà hoa vàng, tuy rằng chuỗi vận hành chưa thật sự thông suốt, song qua phân tích hiệu quả kinh tế của các tác nhân tham gia chuỗi đã thấy được hiệu quả kinh tế khác nhau ở các tác nhân tham gia chuỗi Đồng thời, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của hai loại dược liệu này bằng mô hình hồi quy, qua đó thấy được yếu tố nào ảnh hưởng mạnh nhất và yếu nhất đến quá trình quyết định đầu tư và phát triển dược liệu, giúp các hộ biết được mức độ hiệu quả của hai loại dược liệu này

Trang 32

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

- Huyện Ba Chẽ thuộc Khu vực Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh Phía Bắc giáp huyện Đình Lập - tỉnh Lạng Sơn; Phía Nam giáp huyện Hoành Bồ, thành phố Cẩm Phả; Phía Đông giáp huyện Tiên Yên; Phía Tây giáp huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang

- Huyện Ba Chẽ tuy không nằm trên đường quốc lộ 18A nhưng trên địa bàn huyện có 04 tỉnh lộ đi qua: Tỉnh lộ 330: Hải Lạng - Ba Chẽ - Lương Mông - Sơn Động (Bắc Giang); Tỉnh lộ 342: Thanh Lâm (Ba Chẽ) - Kỳ Thượng (Hoành Bồ); Tỉnh lộ 329: Thị trấn Ba Chẽ - Mông Dương (Cẩm Phả); Tỉnh lộ 330B: Nam Sơn – Cầu Ba Chẽ phục vụ cho nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội của huyện với các địa phương lân cận Tỉnh lộ 329, tỉnh lộ 330 đã được đầu tư tạo thuận lợi cho thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tại TP Cẩm Phả và TP Hạ Long

- Ba Chẽ là huyện có vị trí giáp ranh với các huyện lân cận như Tiên Yên, Hoành Bồ, các huyện này có thế mạnh phát triển kinh tế lâm nghiệp do vậy có điều kiện để tạo nên vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài

gỗ, chế biến dược liệu

- Tuy Ba Chẽ không gần các trung tâm kinh tế lớn trong tỉnh như các huyện khác nhưng lại khá thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế qua các cửa khẩu đường bộ

là Móng Cái (TP Móng Cái); Hoành Mô (huyện Bình Liêu), Bắc Phong Sinh (Hải Hà); cảng Mũi Chùa (huyện Tiên Yên) là điều kiện rất thuận lợi cho việc lưu thông, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu:

- Ba Chẽ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi nên nóng ẩm mưa nhiều Theo số liệu của trạm dự báo và phục vụ khí tượng thuỷ văn Quảng Ninh thì khí hậu Ba Chẽ có những đặc trưng sau:

- Nhiệt độ không khí: Trung bình từ 21 0C - 23 0C, về mùa hè nhiệt độ trung bình dao động từ 26 – 28 0C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối đạt tới 37,6 0C vào tháng 6

Trang 33

Về mùa đông chịu ảnh hưởng của gió Đông Bắc nên thời tiết lạnh, nhiệt độ trung bình dao động từ 12 – 16 0C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối vào tháng 01 đạt tới 10 0C

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 83%, cao nhất vào tháng 3,4 đạt 88%, thấp nhất vào tháng 11 và tháng 12 cũng đạt tới 76%; Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.285mm Năm có lượng mưa lớn nhất là 4.077mm, nhỏ nhất là 1.086mm Mưa ở Ba Chẽ phân bố không đều trong năm; Mùa mưa nhiều: Từ tháng 5 đến tháng

10, mưa nhiều tập trung chiếm 85% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa nhiều nhất là tháng 7 (490mm).Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa rất nhỏ chỉ chiếm 15% lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa ít nhất là tháng 1 (27,4mm); Nắng: Trung bình số giờ nắng dao động từ 1.600 - 1.700h/năm nắng tập trung từ tháng 5 đến tháng 12, tháng có giờ nắng ít nhất là tháng 2 và 3

Nhìn chung điều kiện khí hậu của Ba Chẽ cho phép phát triển cả các cây trồng nhiệt đới và cây trồng ôn đới (ở vùng đồi núi) tạo ra sự đa dạng các sản phẩm nông, lâm nghiệp… đáp ứng nhu cầu thị trường nhất là các khu vực công nghiệp, đô thị

2.1.1.3 Đất đai, địa hình

- Địa hình Ba Chẽ bị chia cắt bởi các dãy núi và các sông, suối tạo thành những thung lũng nhỏ hẹp, diện tích đất canh tác nông nghiệp ít, manh mún Độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 300 - 500m với độ dốc trung bình từ 20-25o Nhìn chung với đặc điểm địa hình dốc, đất canh tác nông nghiệp ít, manh mún, không tập trung như huyện Ba Chẽ, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, khó khăn trong công tác đầu tư kinh phí xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, thuỷ lợi, nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường, phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân

- Toàn huyện có 8 loại đất chính nằm trong hệ thống đất đồi núi và đất canh tác, chủ yếu là đất Feralit phát triển trên sa thạch, trên phiến thạch sét, trên macma axit và phát triển trên phù sa cổ, phù sa ven sông suối Nhìn chung, các loại đất đều

có tầng dày trung bình 30 - 80 cm trở lên, rất phù hợp với việc gieo trồng các loại cây lương thực, cây công nghiệp, cây dược liệu và cây lâm nghiệp

2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên:

a Tài nguyên nước

Ba Chẽ có hệ thống sông suối chằng chịt vì thế tạo nên nguồn nước dồi dào phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt Trong những năm gần đây do việc khai thác rừng

Trang 34

cạn kiệt đã tàn phá thảm thựcvật đầu nguồn làm giảm khả năng điều tiết nguồn nước giữa các mùa trong năm, đồng thời chịu ảnh hưởng của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đã phần nào ảnh hưởng tới nguồn tài nguyên nước của địa phương Đó là tình trạng thiếu nước về mùa khô và dư thừa nước về mùa mưa

Nhìn chung, trữ lượng nước của Ba Chẽ khá dồi dào, chất lượng nước đảm bảo,

độ pH trung tính phù hợp cho sản xuất nông nghiệp

b Tài nguyên rừng

Tài nguyên rừng là nguồn tài nguyên quan trọng của Ba Chẽ để phát triển kinh

tế, xoá đói, giảm nghèo Diện tích đất có rừng năm 2019 của huyện như sau:

+ Diện tích đất rừng sản xuất: 48.844 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 45.083,8 ha

+ Diện tích đất phòng hộ: 7.847,2 ha, trong đó diện tích đất có rừng phòng hộ là 6.420,3 ha

Rừng tự nhiên ở Ba Chẽ phát triển rất phong phú về chủng loại với nhiều loài cây gỗ có giá trị cao về kinh tế và giá trị về đa dạng sinh học như các loài: Lim xanh,

dẻ gai, dẻ đá, trám, sến, táu Ngoài ra, rừng còn khá phong phú về các loại lâm sản phụ có giá trị cao làm dược liệu như: ba kích tím, Trà hoa vàng, đẳng Sâm, sa Nhân, và các loại song mây, ràng ràng làm nguyên liệu cho ngành mây tre đan xuất khẩu

• Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Ba Chẽ là 60.651,25ha, chủ yếu là các loại đất vàng đỏ, đất phù sa và đất tác nhân, có kết cấu khá chặt chẽ Năm 2019, diện tích đất nông nghiệp đã sử dụng khoảng 55.713,15 ha, chiếm 91,86% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó đất sản xuất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm là 1.949,40 ha, chiếm 3,21% tổng diện tích đất tự nhiên, đất lâm nghiệp là 53.497,30 ha chiếm 88,2% tổng diện tích đất tự nhiên (Đất rừng sản xuất 46.045,30

ha, đất rừng phòng hộ 7.451,90ha), độ che phủ đạt 72,3% năm 2019, hầu hết là rừng trồng Đất nuôi trồng thủy sản rất ít 54,15 ha, chiếm 0,09% diện tích đất tự nhiên.Đất phi nông nghiệp là 1.998,10 ha bao gồm đất ở 332,4 ha,đất chuyên dùng 560,3 ha, đất tôn giáo tín ngưỡng 4,3 ha, đất nghĩa trang, nghĩa địa 107,3 ha, đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 993,8 ha Đất chưa sử dụng 2.940 ha, chiếm 4,85% tổng diện tích đất tự nhiên

Trang 35

Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Ba Chẽ năm 2019

Nguồn: Phòng Tài nguyên và MT huyện Ba Chẽ năm 2019

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Điều kiện kinh tế

Tổng giá trị sản xuất (theo giá hiện hành) trên địa bàn huyện tăng từ 722.565 triệu đồng năm 2017 lên 1.080.447 triệu đồng năm 2019.Tăng trưởng kinh tế của huyện thể hiện ở cả 3 lĩnh vực sản xuất là ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản, ngành công nghiệp và ngành dịch vụ, trong đó ngành nông, lâm nghiệp có mức tăng trưởng cao nhất, 02 ngành còn lại có mức tăng trưởng tương đương nhau

Cơ cấu kinh tế của huyện Ba Chẽ chuyển dịch theo hướng tích cực, cơ cấu ngành nông, lâm nghiệp giảm từ 50% năm 2017 xuống còn 48% năm 2019 (giảm 2,0%) Ngành dịch vụ giảm từ 30% năm 2017 xuống còn 25% năm 2019 (giảm 5%) Ngành công nghiệp có sự tăng trưởng mạnh mẽ, từ 20,0% năm 2017 lên còn 27% năm 2019 (tăng 7%).Việc chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành đã góp phần tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Ba Chẽ, tuy nhiên vẫn cần đẩy nhanh tốc

độ tăng trưởng ngành dịch vụ và công nghiệp nhất là công nghiệp chế biến, trong đó

Trang 36

chú trọng vào chế biến các sản phẩm nông, lâm nghiệp, dược liệu để thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn

Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế huyện Ba Chẽ giai đoạn 2017-2019

Tốc độ tăng BQ (%)

I Tổng giá trị sản

xuất (giá so sánh)

Triệu đồng 722.565 863.325 1.080.447 0,22

1

Ngành nông, lâm

nghiệp, thủy sản

Triệu đồng 366.560 403.174 515.373 0,19

2

Ngành công nghiệp,

xây dựng

Triệu đồng 146.681 207.198 291.721 0,41

3 Ngành dịch vụ

Triệu đồng 215.324 252.954 273.353 0,13

là 22.210 người (tốc độ tăng dân số 1,68%/năm giai đoạn 2015-2010) Dân số nông

Trang 37

thôn: 17.534 người (chiếm 78,9% dân số toàn huyện), dân số thành thị là 4.676 người (chiếm 21,1% dân số toàn huyện)

Huyện Ba Chẽ có 9 dân tộc anh em sinh sống rải rác ở 86 điểm dân cư thuộc

75 thôn, khu phố Nhiều nhất là dân tộc Dao với 9.750 người (chiếm 43,7%), tiếp theo là dân tộc Kinh 4.485 người (chiếm 20,2%), dân tộc Sán Chỉ 4.020 người (chiếm

tỷ lệ 18,1%), Tày 3.620 (16,3%), các dân tộc còn lại (Sán Dìu, Hoa, Thái, Mường, Nùng)

chiếm tỷ lệ nhỏ (1,7%) (Theo Báo cáo 2019 của Chi cục Thống kê huyện)

Bảng 2.3: Tình hình dân số huyện Ba Chẽ năm 2017 - 2019

Năm Tổng số

Phân theo giới tính

Phân theo thành thị, nông thôn

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ba Chẽ năm 2019)

Tỷ suất sinh của huyện năm 2019 giữ ở mức ổn định 21,07%o So với 2018 tỉ suất sinh giảm 2,2%o Một nguyên nhân nữa là do đặc thù của huyện, đặc biệt là các

xã chiếm trên 80% dân số là dân tộc nên sự nhận thức về kiến thức KHHGĐ còn rất hạn chế

Trang 38

b Lao động và việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của toàn huyện Ba Chẽ năm 2019là 13.192 người (chiếm 59,4% dân số toàn huyện), đạt tốc độ tăng bình quân 3%/năm giai đoạn 2015 - 2020 Số lao động tham gia các ngành kinh tế quốc dân trên địa bàn huyện là 12.097 người (chiếm 91,7% số lao động trong độ tuổi)

Bảng 2.4: Tình hình lao động huyện Ba Chẽ năm 2017- 2019

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ba Chẽ năm 2019)

Lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị năm 2019 là 3.319 người (chiếm 25,2%); khu vực nông thôn là 9.873 người (chiếm 74,8% lao động trong độ tuổi toàn huyện) Như vậy, có thể thấy lao động khu vực nông thôn vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn Điều này đặt ra vấn đề phải tạo việc làm cho lao động ở nông thôn

Trang 39

Lao động theo giới tính: Tỷ lệ lao động nữ khu vực thành thị chiếm 49,4% lao động trên toàn huyện, tỷ lệ lao động nam chiếm 50,6% Khu vực nông thôn tỷ lệ lao động nữ chiếm 48,7%; tỷ lệ nam lao động chiếm 51,3% lao động toàn huyện

Lao động theo ngành, lĩnh vực: Lao động có việc làm và đang làm việc ở các ngành kinh tế của huyện tuy có tăng khá, song cơ cấu còn bất hợp lý Số lao động làm việc tại các ngành công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ lệ rất thấp, trong khi lao động thuộc khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm tỷ trọng lớn Số người được giải quyết việc làm mới từ năm 2017 đến nay trung bình đạt400 - 500 lao động/năm Tổng số lao động bình quân đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân của các đơn vị Trung ương trên địa bàn có đến 31/12/2019 là 196 người, thu nhập bình quân

là 8.231.000đ/người /tháng Tổng số lao động bình quân của các cơ quan nhà nước

do địa phương quản lý có đến ngày 31/12/2019 là 1.175 người, thu nhập bình quân là 8.461.000đ/người/ tháng

2.1.2.3 Cơ sở hạ tầng

a Hạ tầng giao thông

Trong những năm qua nhiều công trình giao thông, đặc biệt là giao thông nông thôn đã hoàn thành, góp phần cơ bản đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại của nhân dân, thúc đẩy kinh tế huyện phát triển Hiện trạng hệ thống giao thông đường bộ của huyện hiện nay như sau:

Đường tỉnh lộ: Ba Chẽ có 3 trục đường tỉnh lộ là: Tỉnh lộ 330: Hải Lạng - Ba Chẽ - Lương Mông - Sơn Động (Bắc Giang): dài 63 km; Tỉnh lộ 342: Thanh Lâm (Ba Chẽ) - Kỳ Thượng (Hoành Bồ): dài 22,2km; Tỉnh lộ 329: Thị trấn Ba Chẽ - Mông Dương (Cẩm Phả): có chiều dài 17km Đây là các trục đường chính của tỉnh qua huyện có tầm quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện nên trong giai đoạn tới cần nâng cấp các trục đường này

Đường huyện: Dài 116,62 km, trong đó kết cấu mặt đường là bê tông xi măng

là 72,62 km (đạt 62,27%); đường cấp phối đạt 2,2km (đạt 1,88%); đường đất là 41,8km (35,8%)

Đường xã: Dài 49,43 km Trong đó, có 12,42 km bê tông, xi măng (chiếm 25,1%); còn lại 37,01 km là đường đất (chiếm 74,8%)

Trang 40

Đường thôn: Tổng chiều dài 54,22km (đã cứng hóa 6,82%); Đường ngõ xóm: Tổng chiều dài 143,41 km (hiện nay đã cứng hóa 9,96%); Đường nội đồng: Tổng chiều dài là 119,71 km (chủ yếu là đường đất); Đường đô thị thuộc thị trấn Ba Chẽ: dài 15,553 km hầu hết đó được bê tông hóa, chất lượng khá

Như vậy, có thể nói hệ thống giao thông được quan tâm đầy tư đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, là điều kiện quan trọng đối với việc hình thành và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung

b Hiện trạng thủy lợi

Trong những năm qua, các công trình thủy lợi của huyện đã được cải thiện nhiều, góp phần quan trọng thúc đẩy sản xuất nông lâm nghiệp phát triển.Hiện nay, toàn huyện Ba Chẽ có 162,6 km kênh mương (trong đó: đã kiên cố hóa là 114 km) với năng lực tưới 1.694,5 ha Có 221 đập dâng với chiều dài thân đập là 3,3289 km (trong đó đã kiên cố 1,8358 km) với năng lực tưới 556,68 ha Tuy nhiên, hầu hết các công trình đều nhỏ, kênh mương có khoảng 50% là chưa được kiên cố hóa nên mỗi mùa lũ đến hàng năm hệ thống kênh mương và các phai đập bị sụt lở, xuống cấp nhanh chóng, hơn nữa do việc khai thác rừng bừa bãi cho nên nguồn sinh thuỷ bị ảnh hưởng, lượng nước rất hạn chế

c Hệ thống điện

Việc đầu tư phát triển hệ thống điện góp phần quan trọng đối với thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, nhất là hệ thống điện phục vụ cho các tiểu ngành công nghiệp chế biến nông sản, hệ thống điện phục vụ hế thống trạm bơm tưới tiêu nông nghiệp, hệ thống điện phục vụ cho các trang trại và doanh nghiệp đầu tư sản xuất nông nghiệp Hiện nay Ba Chẽ đã có 100% số xã có điện và có 99,4% số hộ được sử dụng điện, còn 0,6 số hộ chưa được sử dụng điện do các hộ sống rải rác ở các xã, hệ thông giao thông đi lại khó khăn, chi phí đầu tư lớn

d Hệ thống viễn thông

Mạng lưới viễn thông huyện hiện có: 1 tổng A1000 E10 có 5 trạm V5X đặt tại các xã: Thanh Sơn, Thanh Lâm, Đạp Thanh, Lương Mông, Minh Cầm mỗi trạm có dung lượng mắc: 288 số

Trạm phát di động: có 4 mạng điện thoại và 4 trạm phát sóng là: Vina phone, Mobi phone, Vietel mobile, EVN-Telecom ở thị trấn và 5 trạm phát Vina phone ở:

Ngày đăng: 03/06/2021, 16:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Lê Văn Lương (2008), Nghiên cứu mối liên kết sản xuất - tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Hà Nội, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối liên kết sản xuất - tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Lê Văn Lương
Năm: 2008
16. Nguyễn Thị Ngọc Mai (2010), Nghiên cứu mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ chè nguyên liệu của công ty chè Sông Lô tỉnh Tuyên Quang, Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ chè nguyên liệu của công ty chè Sông Lô tỉnh Tuyên Quang
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Mai
Năm: 2010
17. Phạm Thị Minh Nguyệt (2006), Giáo trình kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, Nhà xuất bản Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế hợp tác trong nông nghiệp
Tác giả: Phạm Thị Minh Nguyệt
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp
Năm: 2006
18. Dương Bá Phượng (1995),Liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường,Nhà xuất bản Khoa học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường
Tác giả: Dương Bá Phượng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã Hội
Năm: 1995
20. Thủ tướng Chính phủ (2008), Chỉ thị số 25/2008/CT-TTg “Về việc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 25/2008/CT-TTg “Về việc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2008
21. Vũ Minh Trai (2004), Đa dạng hóa các mô hình liên kết kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển Nông nghiệp và Nông thôn Việt Nam. Trung tâm TT KHCN quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng hóa các mô hình liên kết kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển Nông nghiệp và Nông thôn Việt Nam
Tác giả: Vũ Minh Trai
Năm: 2004
19. Thủ tướng Chính phủ (2002),Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 06 năm 2002 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng Khác
22. UBND huyện Ba Chẽ (2019), Đề án phát triển rừng trồng kinh doanh gỗ lớn trên địa bàn huyện Ba Chẽ giai đoạn 2019-2025 Khác
23. UBND huyện Ba Chẽ (2018), Đề án bảo tồn và phát triển một số loài dược liệu quý trên địa bàn huyện Ba Chẽ đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Khác
24. UBND huyện Ba Chẽ (2019), Báo cáo tổng kết phát triển kinh tế - xã hội huyện Ba Chẽ 2019 Khác
25. Michael Porter (1985), Competive advantage: Creating and sustaining superior performance, New York Free Press Khác
26. Kaplinsky R, and Morris M. (2001). A handbook for value chain research Khác
3. Địa chỉ hộ gia đình:…………………………………………….................. 4. Số khẩu:…………………………Số lao động:………………………… Khác
5. Các hoạt động kinh tế của hộ gia đình và cơ cấu thu nhập(năm 2019) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w