1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh do leucocytozoon spp ở gà thả vườn tại tỉnh lạng sơn và thử nghiệm phác đồ điều trị

93 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Leucocytozoon thuộc nhóm nguyên sinh động vật, thuộc bộ huyết bào tử trùng Heamosporidia ký sinh trong máu và cơ quan nội tạng của nhiều loài gia cầm, trong đó gà là loài mẫn cảm nhất,

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN CAO CƯỜNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN CAO CƯỜNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH

Thái Nguyên, năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho một học vị nào Mọi

sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này được ghi nguồn gốc trong phần phụ lục

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2020

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân, đơn vị và tập thể khác

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân thành tới cô giáo TS Dương Thị Hồng Duyên người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực tập, giúp tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên tại Chi cục Kiểm dịch động vật vùng Lạng Sơn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Qua đây, tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn khoa học này

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 10 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Cao Cường

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.2 Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà 5

1.3 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà 11

1.3.7 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 19

1.3.7.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 19

1.3.7.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 26

2.2 Vật liệu nghiên cứu 26

2.3 Nội dung nghiên cứu 27

2.3.1 Thành phần loài đơn bào Leucocytozoon gây bệnh ở gà tại Lạng Sơn 27

2.3.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại Lạng Sơn 27

2.3.3 Nghiên cứu bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại Lạng Sơn 27

2.3.4 Nghiên cứu biện pháp trị bệnh 28

2.4 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 28

Trang 6

2.4.1 Phương pháp bố trí theo dõi xác định loài Leucocytozoon ký sinh

ở gà tại Lạng Sơn 28

2.4.2 Bố trí lấy mẫu và phương pháp xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà 28

2.4.3 Phương pháp xác định quy luật hoạt động của dĩn – véc tơ truyền bệnh Leucocytozoon cho gà 31

2.4.4 Phương pháp bố trí theo dõi và xác định đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh Leucocytozoon ở gà 32

2.4.5 Phương pháp đánh giá hiệu lực và độ an toàn của 02 phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà 34

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 35

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Thành phần loài đơn bào Leucocytozoon gây bệnh ở gà tại Lạng Sơn 37

3.2 Một số đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại Lạng Sơn 39

3.2.1 Tình hình nhiễm đơn bào đường máu Leucocytozoon ở gà 39

3.2.2 Nghiên cứu đặc điểm hoạt động của dĩn – véc tơ truyền Leucocytozoon cho gà 56 3.3 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại Lạng Sơn 59

3.3.1 Đặc điểm lâm sàng bệnh Leucocytozoon ở gà tại Lạng Sơn 59

3.3.2 Một số chỉ số máu của gà mắc bệnh Leucocytozoon 61

3.3.3 Tổn thương của gà bị bệnh đơn bào Leucocytozoon 67

3.4 Phòng và trị bệnh Leucocytozoon cho gà 72

3.4.1 Hiệu lực và độ an toàn của 2 phác đồ điều trị bệnh đơn bào

Leucocytozoon cho gà 72

3.4.2 Đề xuất biện pháp phòng bệnh Leucocytozoon cho gà 74

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75

1 Kết luận 75

2 Đề nghị 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thành phần loài Leucocytozoon gây bệnh ở gà tại Lạng Sơn 37

Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo địa phương 39

Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo mùa 47

Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo tuổi 50

Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gàtheo tình trạng vệ sinh thú y 53

Bảng 3.6 Quy luật hoạt động của các loài dĩn theo tháng trong năm Tháng dĩn hoạt động 56

Bảng 3.7 Quy luật hoạt động trong ngày của các loài dĩn 58

Bảng 3.8 Tỷ lệ và các triệu chứng lâm sàng của gà mắc bệnh đơn bào Leucocytozoon 59

Bảng 3.9 Sự thay đổi một số chỉ số máu của gà bệnh so với gà khỏe 61

Bảng 3.10 So sánh công thức bạch cầu của gà khỏe và gà bệnh 64

Bảng 3.11 Bệnh tích đại thể của gà bị bệnh đơn bào Leucocytozoon 67

Bảng 3.12 Tỷ lệ tiêu bản có tổn thương vi thể 69

Bảng 3.13 Tổn thương vi thể ở các nội quan và cơ gà 71

Bảng 3.14: Hiệu lực của 2 phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon cho gà 72

Trang 9

Hình 3.3, 3.4 Biểu đồ cường độ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà

tại huyện Cao Lộc và huyện Hữu Lũng 45

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện

Hữu Lũng và huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn theo mùa 50

Hình 3.6 Đồ thị tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện

Hữu Lũng và huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn theo tuổi 53

Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại huyện

Hữu Lũng và huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn theo tình trạng

vệ sinh thú y 56

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế phát triển kinh tế hiện nay, ngành chăn nuôi đã và đang góp phần rất lớn vào việc cung cấp thực phẩm, nâng cao chất lượng bữa

ăn hằng ngày cho con người Tuy nhiên, một trong những trở ngại lớn đối với công tác chăn nuôi là dịch bệnh thường xuyên xảy ra gây nhiều thiệt hại làm hạn chế sự phát triển của ngành Vì thế việc phòng trị bệnh cho vật nuôi được đặc biệt chú trọng, không chỉ các bệnh truyền nhiễm được phòng bệnh bằng tiêm phòng vắc xin mà các bệnh ký sinh trùng cũng được người chăn nuôi hết sức quan tâm phòng trị Bệnh ký sinh trùng là một trong các loại bệnh phổ biến ở vùng khí hậu nhiệt đới ẩm như nước

ta, vì nóng và ẩm là hai điều kiện thuận lợi cho ký sinh trùng phát triển Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp, hơn 48% dân số gắn với hai ngành sản xuất chính là chăn nuôi và trồng trọt Trong đó, chăn nuôi đã và đang trở thành ngành mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trong những năm trở lại đây, chăn nuôi gia cầm tương đối phát triển, được Đảng và Nhà nước quan tâm Tuy nhiên, vấn đề vệ sinh thú y trong chăn nuôi gà chưa được quan tâm đúng mức, dịch bệnh thường xảy ra, gây trở ngại cho việc phát triển chăn nuôi, dẫn đến thiệt hại kinh tế cho nhiều gia đình và cơ sở chăn nuôi gà

Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (2002), ngành chăn nuôi gia cầm nước ta còn nhiều khó khăn do dịch bệnh thường xảy ra, trong đó trước tiên phải kể đến bệnh ký sinh trùng Đàn gia cầm quanh năm thường nhiễm ký sinh trùng với tỷ lệ và cường độ cao, gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho các nông hộ và trang trại chăn nuôi

Đất nước ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều

có hệ động, thực vật phong phú và vô cùng đa dạng, thích hợp cho nhiều

Trang 11

loài ký sinh trùng phát triển, ký sinh và gây bệnh Trong các bệnh ký sinh trùng ở gà, có những bệnh do nhóm đơn bào ký sinh gây ra, chúng chiếm đoạt chất dinh dưỡng, tiết độc tố và gây ra những biến đổi bệnh lý làm cho

gà gầy yếu, chậm lớn, giảm mạnh sức sản xuất thịt, trứng, trong đó có

bệnh đơn bào đường máu Leucocytozoon

Leucocytozoon thuộc nhóm nguyên sinh động vật, thuộc bộ huyết

bào tử trùng (Heamosporidia) ký sinh trong máu và cơ quan nội tạng của

nhiều loài gia cầm, trong đó gà là loài mẫn cảm nhất, đặc biệt là gà được nuôi theo phương thức chuồng hở

Bệnh do Leucocytozoon ở gà đã được phát hiện ở nhiều nước Châu Á

Bệnh làm giảm khả năng sản xuất thịt và trứng của gà; giảm số lượng, trọng lượng trứng và tỷ lệ ấp nở của trứng (Takashi Isobe và cs, 1998; Saif Y M và

cs, 2003)

Lạng Sơn là tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi gà phát triển, đặc biệt là chăn nuôi gà thả vườn Việc phòng bệnh bằng vắc xin đã được người dân thực hiện khá nghiêm ngặt, tuy nhiên một

số đàn gà vẫn xuất hiện các triệu chứng như ỉa phân xanh, mặt tái, gà thiếu máu, gầy yếu Mổ khám thấy chất chứa trong diều, dạ dày, ruột có màu xanh, gan sưng to, lách sưng và xuất huyết, cơ đùi xuất huyết Vấn đề

là những đàn gà đó mắc bệnh có phải do đơn bào Leucocytozoon gây ra?

Vì vậy, việc nghiên cứu xác định sự tồn tại và gây bệnh của đơn bào

Leucocytozoon trên đàn gà tại tỉnh Lạng Sơn để có biện pháp phòng trị hiệu quả là rất cần thiết Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tế chăn nuôi gà

chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh do Leucocytozoon spp ở gà thả vườn tại tỉnh Lạng Sơn và thử nghiệm phác

đồ điều trị”

2 Mục tiêu đề tài

Trang 12

- Xác định được các loài Leucocytozoon gây bệnh cho gà và đặc điểm dịch tễ bệnh do Leucocytozoon gây ra ở đàn gà của một số địa phương thuộc

tỉnh Lạng Sơn

- Xác định đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh Leucocytozoon ở gà

tại một số địa phương thuộc tỉnh Lạng Sơn

- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh Leucocytozoon có hiệu quả cho gà

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu đề tài để có những thông tin khoa học về đặc điểm dịch

tễ, bệnh lý và lâm sàng bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại tỉnh Lạng

Sơn, đồng thời có cơ sở khoa học để xây dựng quy trình phòng trị bệnh

đơn bào Leucocytozoon cho gà có hiệu quả cao

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi gà áp

dụng các biện pháp phòng trị bệnh đơn bào Leucocytozoon, nhằm hạn chế

tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cho gà, hạn chế thiệt hại do Leucocytozoon

gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung phát triển

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Ký sinh trùng là những sinh vật sinh trưởng và phát triển trong hoặc trên cơ thể một sinh vật khác - gọi là ký chủ, chiếm đoạt chất dinh dưỡng của ký chủ mà nó ký sinh Trong phân loại học, dựa theo cấu trúc cơ thể của ký sinh trùng mà người ta chia những ký sinh trùng động vật ra làm 3 ngành: nguyên trùng, giun sán và tiết túc Trong đó, nguyên trùng là ký

sinh trùng đơn bào (protozoa), cơ thể chỉ gồm một tế bào, thường ký sinh trong máu (Trypanosoma, Histomonas, Leucocytozoon…) hoặc trong ruột

ký chủ (cầu trùng) (Dương Công Thuận, 1995)

Bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra có ở nhiều nước trên thế giới Tỷ lệ lưu hành Leucocytozoon trên đàn gà ở một số nước Châu Á

khá cao: ở Trung Quốc (7,1%), Thái Lan (13 - 18%), Malaysia (15 - 31%)

Leucocytozoon ký sinh trong hồng cầu gà, đôi khi ký sinh trong bạch cầu (tùy theo loài), làm tan vỡ hồng cầu, gây bần huyết và gây chết gà với tỷ

lệ cao, ảnh hưởng đến thu nhập của người chăn nuôi gà Bệnh cũng được phát hiện ở nhiều loài chim hoang dã

1.1 Sơ lược điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng tại tỉnh Lạng Sơn

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới, thuộc vùng Đông Bắc với diện tích tự nhiên 8.310,09 km2, nằm ở vị trí đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua, là điểm nút của sự giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây như Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, phía Đông như tỉnh Quảng Ninh, phía Nam như Bắc Giang, Bắc Ninh, thủ đô Hà Nội và phía Bắc tiếp giáp với Trung Quốc

* Địa hình:

Huyện Cao Lộc nằm ở phía đông bắc tỉnh Lạng Sơn, có diện tích 643,8 km², Cao Lộc có địa hình cao nhất trong số các huyện thị của tỉnh Lạng Sơn, độ cao trung bình của toàn huyện khoảng 260m Khu vực có

Trang 14

địa hình thung lũng là nơi cư trú và sản xuất của hàng nghìn hộ dân cư trong huyện

Huyện Hữu Lũng là huyện miền núi nằm ở phía Nam của thành phố Lạng Sơn, có diện tích 804 km² Hữu Lũng thuộc vùng núi thấp của tỉnh Lạng Sơn, địa hình được phân chia rõ giữa vùng núi đá và vùng núi đất Phần lớn diện tích ở vùng núi đá vôi

*Điều kiện kinh tế - xã hội:

Đặc điểm kinh tế - xã hội của hai huyện Cao Lộc và Hữu Lũng mang nét đặc trưng của các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam Dân số hai huyện 201.608 người với thành phần dân tộc đa dạng như: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa… tương ứng với nhiều văn hóa, phong tục tập quán cũng như phương thức canh tác và chăn nuôi khác nhau

1.2 Đặc điểm của đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở gà

1.2.1 Vị trí của đơn bào Leucocytozoon trong hệ thống phân loại động vật

Đơn bào nói chung là những nguyên sinh động vật không có khí quan di động, thân thể khi thì trần và có thể biến dạng được, khi thì có màng bọc và có hình dạng nhất định Đơn bào sống ký sinh ở các tế bào, các mô hay dịch thể, có thể suốt đời hoặc những giai đoạn đầu của nó Chúng tự nuôi dưỡng bằng cách thẩm thấu dinh dưỡng chiếm đoạt của ký chủ qua bề mặt cơ thể

Các loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon ký sinh trong máu của

nhiều loài gia cầm, thủy cầm, chim và nhiều loài chim hoang dã Gà là vật

chủ cảm thụ đơn bào Leucocytozoon mạnh nhất Bệnh được Ziemann phát

Trang 15

hiện lần đầu tiên vào năm 1898 Từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh

Theo Levine N D (1985), Leucocytozoon gây bệnh cho gà có vị trí

trong hệ thống phân loại như sau:

Loài L caullergyi (Mathis et Leger, 1909)

L sabrazeis (Mathis et Leger, 1910)

L simondi (Mathis et Leger, 1910)

L smithi (Laveran et Lucet, 1905)

L andrewsi (Atchley, 1951)

L schufneri (Prowazek, 1912)

L schoutedeni (Rodham Pons et Bequaert, 1913) Wiliam H M (2004) cho biết: hiện nay có khoảng 70 loài thuộc giống

Leucocytozoon ký sinh và gây bệnh cho gia cầm Đơn bào này ký sinh ở cả

hồng cầu và bạch cầu Tác giả còn cho rằng Leucocytozoon caulleryi là loài

đơn bào phổ biến nhất, ký sinh và gây bệnh cho gà ở khu vực Đông Nam Á và Châu Phi Ngoài ra, loài L simondi thường ký sinh ở thủy cầm và một số loài chim hoang dã ở châu Âu, Bắc Mỹ và Đông Nam Á

1.2.2 Đặc điểm hình thái các loài Leucocytozoon ở gà

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999); Nguyễn Thị Kim Lan (2012), cơ thể đơn bào thường do một tế bào rất nhỏ cấu thành, tổ chức của đơn bào gồm màng tế bào, chất nguyên sinh, hạt hoặc nhân tế bào

Đơn bào Leucocytozoon ký sinh ở hồng cầu, bạch cầu, các nội tạng

của gà và các loài chim ở hai dạng: dạng tiểu thể hình dùi trống, hoặc hình thoi nhọn hai đầu với kích thước từ 15 - 20 µm; dạng bào tử hình trứng với kích thước từ 20 - 25 µm

Trang 16

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005) cho biết: trong quá trình phát triển ở ký

chủ cũng như ở vector trung gian truyền bệnh, các loài Leucocytozoon có

nhiều hình dạng khác nhau Kích thước của chúng thay đổi tuỳ thuộc dạng

và loài đơn bào Leucocytozoon

- Dạng bào tử (Sporozoite): hình thuẫn, hình elip nhọn 2 dầu, kích thước

10 - 15 µm Thể này thấy ở tuyến nước bọt của dĩn (vector trung gian truyền bệnh)

- Dạng tiểu thể (Merozoite): hình tròn, hình trứng, kích thước 15 - 20 µm

- Dạng giao tử (Schizont): hình elip, thon nhỏ 2 đầu, kích thước 20 - 45

Theo Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006); Phạm Sỹ Lăng và cs

(2008), hai loài L caullergyi và L sabrazeis có hình dạng gần giống nhau,

chỉ khác về tính chất gây bệnh Chúng có dạng hình cầu, hình bầu dục, hình lưỡi liềm; kích thước 20 x 5 µm, không có sắc tố khi nhuộm Giemsa,

ký sinh ở hồng cầu của gà, gà rừng

1.2.3 Vòng đời của Leucocytozoon ở gà

Saif Y M (2003) cho rằng: giai đoạn sinh bào tử diễn ra trên vật chủ trung gian và có thể được hoàn thành sau 3 - 4 ngày Noãn nang phát triển

và có thể tìm thấy trong đường tiêu hóa của dĩn (véc tơ trung gian truyền bệnh) trong vòng 12 giờ sau khi dĩn hút máu Sau đó các noãn nang này di chuyển đến tuyến nước bọt của dĩn, có thể tìm thấy noãn nang ở tuyến nước bọt dĩn sớm nhất sau khi dĩn hút máu gà bệnh 18 ngày

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005), các loài Leucocytozoon có vòng

đời rất phức tạp, cần vector trung gian truyền bệnh là các loài dĩn thuộc

giống Simulium spp và Culiloides spp Tùy đặc điểm thời tiết, khí hậu của

từng vùng sinh thái khác nhau mà thành phần loài dĩn cũng thay đổi

Trang 17

Sau khi mầm bệnh xâm nhập vào dĩn do dĩn hút máu gà bệnh, các tiểu

thể (Merozoite) phát triển qua một số giai đoạn ở vách dạ dày của dĩn thành noãn nang và cuối cùng thành thể bào tử (Sporozoite) Thể bào tử chuyển lên

tuyến nước bọt của dĩn sau thời gian phát triển khoảng 25 ngày Khi dĩn hút máu các loài vật chủ (gà, các loài gia cầm khác và chim hoang dã) sẽ truyền mầm bệnh vào máu của vật chủ

Các bào tử từ máu xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách,

phổi, thận, tổ chức cơ để trở thành giao tử (Schizont) Các giao tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte)

Khi dĩn hút máu gia cầm bệnh, vào cơ thể dĩn, các tiểu thể lại phát

triển thành noãn nang (Oocyste), rồi bào tử (Sporozoite) trong vách dạ dày

dĩn và vòng đời lại được lặp lại

Tuy nhiên, Lê Văn Năm (2011) lại cho rằng: chu kỳ phát triển sinh

học của Leucocytozoon gồm 2 giai đoạn chính Giai đoạn thứ nhất là giai

đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh và giai đoạn hai là giai đoạn phát triển trong cơ thể vật chủ:

* Giai đoạn phát triển trong cơ thể ký chủ trung gian truyền bệnh

(dĩn) Đây là giai đoạn hình thành bào tử nang (Sporogony), giai đoạn này

kết thúc trong vòng 3 - 4 ngày Vì trong máu của gia cầm bệnh đã có sẵn

giao tử đực và giao tử cái, hoặc hợp tử của Leucocytozoon, nên ngay sau

khi hút máu gia cầm bệnh, các tế bào máu chứa mầm bệnh bị dịch tiêu hóa của ký chủ trung gian (dĩn) làm tan vỡ và giải phóng ra các giao tử và các hợp tử Chúng nhanh chóng bám vào thành dạ dày và chui vào các tế bào niêm mạc dạ dày, ruột của dĩn Ở đó chúng bắt đầu phát triển thành

bào tử nang (Oocyst) Toàn bộ quá trình này chỉ diễn ra trong vòng 12 giờ

kể từ thời điểm dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối

Trong mỗi bào tử nang bắt đầu có quá trình sinh trưởng và phát triển

thành 4 thoi trùng (Sporozoite) Các thoi trùng này nhanh chóng lớn lên và

di hành đến cư trú trong tuyến nước bọt của ký chủ trung gian truyền

Trang 18

bệnh Chỉ có các thoi trùng này mới có khả năng truyền bệnh Ký chủ trung gian truyền bệnh cho gia cầm thụ cảm thông qua việc hút máu của gia cầm bệnh, sau đó hút máu của gia cầm khỏe và truyền nước bọt kèm theo thoi trùng gây bệnh vào cơ thể gia cầm khỏe Như vậy, kể từ khi dĩn hút máu gia cầm bệnh lần cuối đến lúc có khả năng truyền bệnh phải mất

18 ngày

* Giai đoạn phát triển của Leucocytozoon trong cơ thể gia cầm thụ

cảm Ngay sau khi thoi trùng theo nước bọt của ký chủ trung gian truyền bệnh xâm nhập vào cơ thể gia cầm, chúng lột xác và hình thành nên các

thể phân lập trung gian (Merozoite), các thể phân lập trung gian này bám

ngay vào các tế bào máu và theo máu đi khắp cơ thể Từ đây, chúng phát triển theo hai hướng:

Hướng thứ nhất: Chúng chui vào và ký sinh trong các tế bào máu, sinh

trưởng và phát triển theo phương thức tự nhân đôi để tạo ra các thể phân lập

thế hệ 1 (Schizont - 1) Các Schizont thế hệ 1 này lớn lên nhanh chóng và tiết

ra một chất làm tan hồng cầu, chất đó được gọi là chất kháng hồng cầu (anti - erythrocyte) Dưới tác động cơ học của nhiều thể phân lập đã sinh ra trong mỗi hồng cầu, và dưới tác động của chất kháng hồng cầu, một số lượng lớn hồng cầu bị phá vỡ và giải phóng ra nhiều thể phân lập thế hệ 1, đây là nguyên nhân chính dẫn đến thiếu máu, tăng Hemobilirubin, máu trở nên loãng, nhớt

và khó đông Các thể phân lập thế hệ 1 lập tức tấn công và ký sinh tiếp vào các tế bào hồng cầu mới, chúng lớn lên và lại nhân đôi để hình thành thể phân

lập thế hệ 2 (Schizont - 2), cứ tiếp tục như vậy chúng hình thành thể phân lập thế hệ 3 (Schizont - 3) thì dừng lại và bắt đầu hình thành các giao tử (Gametocyte) Giao tử đực có kích thước nhỏ gọi là Microgametocyte và giao

tử cái có kích thước lớn hơn gọi là Macrogametocyte Kết thúc giai đoạn sinh

sản vô tính và bắt đầu giai đoạn sinh sản hữu tính

Giai đoạn sinh sản hữu tính xảy ra trong các tế bào hồng cầu Giao tử đực chui vào giao tử cái để thụ tinh và hình thành nên hợp tử Hợp tử được bọc bởi một màng và được gọi là bào tử, có kích thước trung bình 5,5 - 14,5 µm Sau

Trang 19

đó, chúng phát triển thành các bào tử hình thoi, có kích thước lên đến 45 µm Chỉ có các thoi trùng này mới có khả năng lây truyền thông qua côn trùng hút máu gia cầm bệnh và truyền thoi trùng gây bệnh cho gia cầm khỏe

Hướng thứ hai: Sau khi các thoi trùng theo máu di hành khắp các nơi

trong cơ thể, một phần chúng cư trú tại các cơ quan như lách, thận, phổi, gan, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, buồng trứng, ống dẫn trứng và não Tại đây, chúng lột xác và chui vào ký sinh trong các tế bào nội mô, tế bào lưới và đại thực bào của các cơ quan kể trên của gia cầm thụ cảm Trong các tế bào đó chúng bắt đầu sinh trưởng, lớn lên và sinh sản theo phương thức tự nhân đôi, làm vỡ nát các tế bào của các cơ quan nội tạng

ký chủ Sau đó chúng phát triển và tạo nên thể phân lập cực đại gọi là

Megaloschizont với kích thước lên đến 400 µm và làm tắc nhiều mao mạch của các cơ quan ký chủ Để tiếp tục phát triển, trong mỗi

Megaloschizont hình thành nên 2 thể phân lập trung gian Merozoite, chúng lớn lên và rời khỏi Megaloschizont, rời khỏi tế bào của cơ quan ký

chủ, chui vào các tế bào máu để ký sinh và quá trình phát triển được tiếp tục lặp lại như hướng thứ nhất - kết thúc giai đoạn sinh sản vô tính trong các tế bào nội mô ở các cơ quan nội tạng của gia cầm thụ cảm

* Tính chuyên biệt của Leucocytozoon

Theo Johannes Kaufmann (1996), mỗi loài Leucocytozoon chỉ ký

sinh trong một hoặc một số ký chủ nhất định

Trang 20

Sơ đồ minh họa vòng đời Leucocytozoon ở gà

1.3 Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà

1.3.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh Leucocytozoon gây ra

Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà không gây thành ổ dịch lớn nguy

hiểm, ít làm cho gà chết đột ngột và chết hàng loạt (trừ trường hợp đặc biệt) Song, đơn bào này đã gây tác hại nghiêm trọng, làm cho sự sinh trưởng và phát triển của gà bị ngừng trệ, cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng của thịt, trứng giảm, dẫn đến năng suất chăn nuôi giảm thấp

Olsen O W (1986), cho biết: ngoài gà (tỷ lệ nhiễm cao và mắc bệnh

nặng nhất), vịt nhiễm Leucocytozoon cũng thường bị bệnh ở thể nặng, các

triệu chứng lâm sàng thể hiện rõ rệt, tỷ lệ tử vong cao

Shane S M (2005) cho rằng: Leucocytozoonosis thường gặp ở các

nước nhiệt đới, đặc biệt là ở những nơi mà các trang trại nằm gần ao, hồ Đàn gia cầm mắc bệnh giảm mạnh tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ chết cao có thể lên đến 100% nếu không được chữa trị kịp thời

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2005): gà bị bệnh đơn bào đường máu

Leucocytozoon ở thể cấp tính có thể chết đột ngột do xuất huyết các nội quan và thiếu máu cấp Gà mái giảm đẻ hoặc ngừng đẻ, kém ăn, giảm tăng trọng và gầy yếu nhanh Gà mắc bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày với tỷ lệ tới trên 50% số gà bị bệnh

1.3.2 Dịch tễ học bệnh Leucocytozoon ở gà

Trang 21

Lê Đức Quyết và cs (2009) cho biết: tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon phụ

thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh thái, phương thức chăn nuôi

Theo Lê Văn Năm (2011), bệnh do Leucocytozoon gây ra có tính

chu kỳ rõ rệt, phụ thuộc vào mùa sinh sản và phát triển của côn trùng hút máu truyền bệnh

Loài gây bệnh và động vật mắc bệnh

Trong tự nhiên, gà, gà rừng, chim trĩ và các loài chim thuộc bộ gà

(Galliformes) đều có thể bị bệnh Bệnh từ gà nhà có thể truyền lây sang gà

rừng qua ký chủ trung gian và ngược lại

Phạm Sỹ Lăng và cs (2005), (2010) cho rằng: có 4 loài đơn bào

giống Leucocytozoon chủ yếu ký sinh và gây bệnh cho gà:

* L caulleryi (Mathis et Leger, 1909)

Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà nhà, gà rừng ở các nước thuộc Đông và Đông Á: Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, các bang thuộc khu vực Bắc Mỹ

Vật chủ trung gian của L caulleryi là các loài dĩn thuộc giống Culicoides như: C arakava, C circumscriptus, C odibilis

Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1997) cho biết, loài L caullergyi có đặc điểm: cơ thể đơn bào hơi tròn, kích thước 15,0 - 15,5

µm Tế bào vật chủ cũng tròn, kích thước 20 µm Ở trong cơ thể dĩn -

KCTG, Zygote có dạng tròn đường kính 14 µm, sau đó kéo dài, kích thước 21 µm, chúng xuyên qua vách ruột tạo thành Oocyst hình gần tròn, kích thước 4 - 14 x 5 - 14 µm Oocyst phát triển thành thoi trùng (Sporozoite) Các thoi trùng đến tuyến nước bọt của dĩn có kích thước 7 -

11 x 1 - 2 µm

* L sabrazeis (Mathis et Leger, 1910)

Loài này ký sinh và gây bệnh cho gà và chim hoang dã ở các nước Đông Nam Á: Philippine, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam

Trang 22

Vật chủ trung gian của L sabrazeis: các loài dĩn Culicoides spp và Simulium

spp

* L simondi (Mathis et Leger, 1910)

L simondi ký sinh và gây bệnh cho vịt nhà và vịt trời, ngỗng nhà và ngỗng trời, các loài thuỷ cầm nuôi và hoang dã ở Mỹ, Canada, các nước vùng Balkan và Việt Nam

Vật chủ trung gian: các loài dĩn Simulium spp

* L smithi (Laveran et Lucet, 1905)

Loài này ký sinh ở gà tây tại các bang thuộc vùng Đông Mỹ (Bắc Dakota, Nebraska), CHLB Đức, các nước vùng Balkan

Vật chủ trung gian của L smithi là các loài dĩn Simulium spp

Mùa vụ: Gà mắc bệnh ở tất cả các mùa trong năm, nhưng nhiễm

nhiều và nặng hơn ở vụ Xuân và vụ Hè hàng năm

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009), bệnh do Leucocytozoon

gây ra thường xảy ra thành dịch tại một số khu vực vùng núi và trung du thuộc các nước Đông Nam Á, nhất là vào mùa Hè và mùa Xuân, khi các loài dĩn - ký chủ trung gian phát triển và hoạt động mạnh

Lê Văn Năm (2011) cho rằng, bệnh do Leucocytozoon gây ra trên gia

cầm, đặc biệt là gà có tính chất mùa rõ rệt, liên quan chặt chẽ tới mùa phát triển của dĩn – véc tơ truyền bệnh

Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) cho biết: bệnh thường bùng phát vào các tháng mùa Hè, đặc biệt là ở khu vực mà xung quanh trại chăn nuôi gà có cây cỏ um tùm, nhiều ao, hồ, nước đọng; đồng thời không thực hiện sát trùng chuồng trại và phun thuốc diệt dĩn

Địa hình: Để xác định ảnh hưởng của địa hình đến tỷ lệ nhiễm

Leucocytozoon ở gia cầm, Rooyen J V và cs (2013) đã xét nghiệm mẫu máu của gia cầm tại một số địa phương ở miền tây Thụy Sĩ Tác giả nhận thấy, yếu tố địa hình có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ nhiễm đơn bào

Leucocytozoon ở gia cầm Theo tác giả, ở những địa hình khác nhau thì sự phân bố của các loài dĩn - ký chủ trung gian truyền bệnh cũng khác nhau,

Trang 23

đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm bệnh ở gia cầm

Điều kiện vệ sinh thú y: Điều kiện vệ sinh thú y đối với chuồng trại

và khu vực xung quanh chuồng trại, dụng cụ và môi trường chăn nuôi là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn tới khả năng nhiễm bệnh

Leucocytozoon ở gà, bởi điều này có liên quan mật thiết tới sự tồn tại và phát triển của các loài dĩn hút máu - ký chủ trung gian truyền bệnh

Yếu tố stress: Các yếu tố strees như chuồng trại chật chội, ẩm thấp,

khí hậu nóng ẩm, thức ăn thiếu thốn, dinh dưỡng không đầy đủ và cân

đối luôn đóng vai trò thúc đẩy quá trình lây lan bệnh Leucocytozoon ở

1.3.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh Leucocytozoon

Bệnh lây truyền từ gà bệnh sang gà khoẻ qua đường máu nhờ vật chủ

trung gian là các loài dĩn thuộc họ Culicoides spp và Simulium spp Dĩn

hút máu của gà bệnh có đơn bào ký sinh trong máu Vào cơ thể dĩn, đơn bào phát triển qua 3 giai đoạn, cuối cùng thành bào tử nằm ở tuyến nước bọt của dĩn Khi dĩn mang mầm bệnh hút máu gà khoẻ, bào tử sẽ được truyền cho gà khoẻ và gây bệnh cho gà

Các bào tử xâm nhập vào các tế bào nội quan như: gan, lách, phổi,

thận, tổ chức cơ để trở thành bào tử (Schizont); các bào tử vào hồng cầu phát triển thành tiểu thể (Merozoite), giao tử thể (Gametocyte), đại giao tử (Marcrogametocyte) và tiểu giao tử (Mircrogametocyte) Chúng phát

triển, phá huỷ tế bào hồng cầu và gây hoại tử các cơ quan tổ chức, đặc biệt

là lách và gan Đồng thời chúng tiết ra chất antierythrocyte làm tan hồng cầu

1.3.4 Triệu chứng và bệnh tích bệnh Leucocytozoon

* Triệu chứng bệnh Leucocytozoon

Orlov F M (1975) cho biết: gà tây thường mắc bệnh trước 12 tuần tuổi Gà bệnh bỏ ăn, suy yếu toàn thân, ít vận động, rối loạn vận động Gà

Trang 24

tây bắt đầu chết từ 2 - 3 ngày sau khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012))

Theo tài liệu của Viện Thú y Quốc gia (2001), (2002), những triệu

chứng chủ yếu của gà mắc bệnh do đơn bào Leucocytozoon gây ra là:

- Ho ra máu và chết đột ngột

- Thiếu máu, đặc biệt mào và tích do thiếu máu nên có màu tím tái

- Nhịp thở nhanh

- Phân có mầu xanh

- Giảm sản lượng trứng và trứng có vỏ mỏng (với gà mái đẻ)

- Xuất huyết da chân

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) cho biết: Bệnh thường xảy ra thành dịch tại một số khu vực vùng núi và trung du thuộc các nước Đông Nam

Á, nhất là vào mùa hè và mùa xuân, khi mà các loài dĩn - ký chủ trung gian phát triển và hoạt động mạnh

Thời gian ủ bệnh từ 4 - 7 ngày

Gà bệnh thể hiện các triệu chứng đặc trưng sau:

Thể cấp tính: gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng chết đột ngột do xuất huyết các nội tạng, hồng cầu tan vỡ hàng loạt, gây bần huyết cấp tính; ỉa chảy nặng, phân có màu xanh lá cây, thường có lẫn máu Gà mái đang đẻ bị bệnh sẽ giảm đẻ hoặc ngừng đẻ do đơn bào tác động vào cơ quan sinh sản

Gà trưởng thành mắc bệnh sẽ giảm tăng trọng, gầy yếu nhanh, nhưng chết

ít hơn gà con Gà ở lứa tuổi từ 1 - 3 tháng bị bệnh sẽ chết sau 3 - 6 ngày với tỷ lệ cao

* Bệnh tích bệnh Leucocytozoon

Mổ khám gà bệnh thấy: xuất huyết đỏ sẫm ở tất cả các phủ tạng (tim, lách, phổi, thận) và tổ chức cơ Đôi khi cũng có các điểm hoại tử trắng trên mặt gan giống như bệnh tụ huyết trùng gia cầm Ngoài ra, có thể thấy bệnh tích ở đường tiêu hóa như: niêm mạc đường tiêu hoá bị tổn thương và xuất huyết

Olsen O W (1986) cho biết, gà bị nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở

cường độ nặng, có các bệnh tích điển hình thì tỷ lệ tử vong cao Các cơ

Trang 25

quan nội tạng ký chủ có số lượng đơn bào ký sinh khác nhau Các đơn bào

ký sinh trong các cơ quan được bao bọc bởi một lớp do tế bào lympho và

bạch cầu đơn nhân lớn tạo nên thể Megaloschizont

Lê Văn Năm (2011) cho biết: bệnh tích đại thể của bệnh do đơn bào

Leucocytozoon gây ra ở gà rất điển hình, được quan sát thấy trong nhiều

cơ quan nội tạng như: gan, lách, thận, tim, phổi, ruột non, não, buồng trứng và ống dẫn trứng Những biến đổi đại thể ở các cơ quan nội tạng như sau:

Gan: sưng to, mềm nhũn và dễ vỡ, trên bề mặt gan thấy nhiều điểm

trắng Đây là kết quả của các thể phân lập của Leucocytozoon ở gan tạo

nên, làm ròn, xốp và tắc nghẽn các mao mạch, dẫn đến xuất huyết tràn lan, thậm chí vỡ mao mạch, dẫn đến vỡ gan, chảy máu vào xoang bụng

Lách: sưng to, ròn, dễ vỡ, trên bề mặt lách có nhiều điểm xuất huyết hoặc hoại tử

Thận: sưng to, xuất huyết

Buồng trứng và ống dẫn trứng: buồng trứng bị viêm, thoái hóa; ống

dẫn trứng sưng, dầy lên và có nhiều điểm xuất huyết

Tim: tim to, cơ tim dầy lên nhưng trương lực cơ bị giảm, cơ trở nên mềm nhão

Phổi: sung huyết nặng

Ruột non, dạ dày tuyến, dạ dày cơ: viêm tăng sinh, dầy lên, đôi khi

thấy các điểm hoại tử hoặc nốt loét

Não: các đại hợp bào phát triển ở não gây tắc nghẽn các mao mạch, dẫn đến bị phù nề, sung huyết và xuất huyết não

1.3.5 Chẩn đoán bệnh Leucocytozoon

* Với gà còn sống

Nguyễn Xuân Bình và cs (2002) cho biết: hiện nay, có nhiều bệnh mới ở gia cầm có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích giống nhau, nhưng nguyên nhân gây bệnh lại khác nhau, làm cho việc chẩn đoán lâm sàng và điều trị bệnh dễ bị sai lầm, gây nên những tổn thất đáng kể cho chăn nuôi

Trang 26

Do vậy, để chẩn đoán một cách chính xác bệnh có phải do ký sinh

trùng đường máu Leucocytozoon gây ra hay không, người ta thường sử

dụng kết hợp các phương pháp chẩn đoán để mang lại hiệu quả cao hơn Chẩn đoán lâm sàng: Gà lứa tuổi 1 - 3 tháng chết đột ngột, các phủ tạng đều bị xuất huyết; ỉa chảy, phân xanh có lẫn máu làm cho gà chết với tỷ lệ cao

Chẩn đoán xét nghiệm: Lấy mẫu máu và phủ tạng, dàn tiêu bản, nhuộm Giemsa và soi kính để tìm đơn bào gây bệnh

Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) cho rằng: có thể sử dụng phương pháp làm tiêu bản máu, dàn mỏng, nhuộm Giemsa, kiểm tra dưới kính hiển vi tìm ký sinh trùng, và sử dụng phương pháp ngưng kết trên gel thạch để

phát hiện kháng thể kháng Leucocytozoon spp

Lê Đức Quyết và cs (2009) cho biết: gần đây, các phương pháp huyết thanh học cũng đã được áp dụng để chẩn đoán bệnh như phương pháp Latex -agglutination, phương pháp khuyếch tán trên thạch

Chẩn đoán phân biệt:

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2009) cho biết: cần chẩn đoán phân biệt với bệnh tụ huyết trùng gia cầm Triệu chứng và bệnh tích của bệnh đơn bào đường máu ở gia cầm cũng giống như bệnh tụ huyết trùng gia cầm Nhưng bệnh đơn bào đường máu chỉ làm chết gà ở lứa tuổi 1 - 3 tháng Tuy nhiên, bệnh tụ huyết trùng làm gà chết ở tất cả các lứa tuổi Bệnh tụ huyết trùng gia cầm điều trị bằng Streptomycin có hiệu quả nhưng bệnh

do đơn bào đường máu điều trị bằng Streptomycin lại không có hiệu quả Theo Lê Văn Năm (2011), cần chẩn đoán phân biệt bệnh do đơn bào

Leucocytozoon gây ra với bệnh Marek, bệnh bạch huyết (Leucosis), bệnh

sốt rét gà

* Với gia cầm chết:

Phương pháp chẩn đoán sau khi gia cầm chết là phương pháp chính xác nhất Việc chẩn đoán được tiến hành qua phương pháp mổ khám,

Trang 27

kiểm tra bệnh tích kết hợp với việc lấy các cơ quan nội tạng như gan, lách,

phổi, thận để tìm đơn bào Leucocytozoon ký sinh

- Không nên xây chuồng ở những vùng gần đồng ruộng, vùng có ao

hồ hay vùng có diện tích mặt nước lớn, vì đây là môi trường thích hợp cho

ký chủ trung gian phát triển

Chuồng trại nuôi gia cầm đủ tiêu chuẩn phải đảm bảo những yêu cầu như sau:

- Phải chuẩn bị đầy đủ chuồng nuôi, rèm che, kho đựng thức ăn, bể chứa nước, dụng cụ chăn nuôi, thuốc thú y, các phương tiện sưởi ấm, làm mát đảm bảo cho số lượng gà định nuôi

- Chuồng nuôi, hệ thống cống rãnh, khu vực kho chứa thức ăn, dụng

cụ chăn nuôi phải được vệ sinh đảm bảo, sát trùng triệt để

- Cây xanh, cỏ dại cách chuồng 10 - 15 mét phải được phát quang Các động vật cư trú truyền bệnh cho đàn gà như chuột, cáo, chồn, côn trùng, chim tự nhiên phải được tiêu diệt

- Có phòng mổ khám, chẩn đoán bệnh và thiêu xác hoặc hố tự hoại cách xa khu vực chăn nuôi và cuối hướng gió

* Trị bệnh

Có thể sử dụng một trong các loại Sulfonamide sau để điều trị gà bệnh:

Trang 28

- Pyrimethamin: dùng liều 0,5 - 1 ppm/ kg thức ăn, cho gà ăn 2 tuần liên tục

- Sulfadimethoxin: dùng liều 50 – 75 mg/ kg thức ăn, cho gà ăn liên tục 1 - 2 tuần

- Sulfaquinoxalin: dùng liều 50 mg/ kg thức ăn, cho gà ăn liên tục 1 - 2 tuần

- Trimethoxin: dùng liều 1g/ 1kg thức ăn, cho gà ăn 3 - 5 ngày liên tục

- SU 99: dùng liều 1g/ 5 lít nước, điều trị 3 – 5 ngày

- Amoxcol-50: dùng liều 0,1g/ kg thể trọng, cho gà ăn liên tục 3 – 5 ngày

Để nâng cao hiệu quả điều trị, dùng phối hợp thuốc Sulfamonomethoxine với Vitamin B1, Vitamin C, giải độc gan, hạ sốt

Để nâng cao hiệu quả điều trị, dùng phối hợp thuốc Sulfonamide với Vitamin B1, Vitamin C

Theo Lê Văn Năm (2011): Các loại thuốc có chứa các nguyên liệu như: Sulfamonomethoxin, Salfadimethoxin, Clopidol đều có tác dụng

phòng trị tốt bệnh do Leucocytozoon gây ra Tác giả cho biết thêm, hiện

nay bệnh ký sinh trùng đường máu thường bị bội nhiễm và ghép với nhiều bệnh khác Do đó, cần phải phối hợp các phác đồ điều trị thì mới có hiệu quả điều trị cao

1.3.7 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.3.7.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Theo Hoàng Thạch (2004), nếu nhiễm Leucocytozoon ở cường độ nhẹ

thì chưa thấy biến đổi gì ở các cơ quan nội tạng, nhưng nếu nhiễm vừa và nặng (3 - 6 ký sinh trùng trên 1 vi trường) thì xuất hiện sự thoái hoá, biến màu, thậm chí hoại tử từng đám nhỏ; nếu kéo dài thì tăng sinh, làm giảm

chức năng hoạt động hoặc bị phá hủy, rõ nhất là gan và lách

Trang 29

Lâm Thị Thu Hương và cs (2005) cho biết: tần suất xuất hiện các

nang Leucocytozoon trên một số cơ quan phủ tạng của gà như sau: ở cơ là

phổi, gan, thận, mô cơ

Theo Lê Đức Quyết và cs (2009): tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon phụ

thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tuổi gia cầm, giống, địa hình, vùng sinh thái, phương thức chăn nuôi… Kết quả nghiên cứu của tác giả về

Leucocytozoon ở gà tại một số tỉnh Nam Trung Bộ như sau:

Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon chung là 13,29%, cụ thể ở Phú Yên tỷ lệ

nhiễm là 20%, Bình Định 9,54%, Khánh Hoà 12,04%

Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cao ở vùng núi (27,34%) và thấp ở vùng

đồng bằng (12,46%)

Tỷ lệ lưu hành Leucocytozoon ở gà địa phương là 12,46%, cao hơn

nhiều so với gà ngoại (7,61%)

Tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon cao nhất là ở gà giai đoạn > 6 tuần tuổi

(15,6%), kế đến là ở độ tuổi 4 - 6 tuần (13,5%) và thấp nhất là ở độ tuổi dưới 4 tuần (7,6%)

Bằng phương pháp nhuộm Giemsa và định loại đơn bào

Leucocytozoon ký sinh trên đàn gà ở một số tỉnh Nam Trung Bộ (căn cứ

vào hình thái, vị trí, màu sắc, kích thước của các giao tử Gametocyt ký

sinh trong máu gà), tác giả cũng đã xác định có 2 loài ký sinh trên đàn gà

là L caullergyi và L sabrazesi Khi khảo sát tình hình nhiễm ký sinh

Trang 30

trùng đường máu trên gà thịt tại hai tỉnh Vĩnh Long và Sóc Trăng, Nguyễn Hữu Hưng (2011) cho biết: đàn gà thịt nhiễm ký sinh trùng đường máu với tỷ lệ khá cao (30,47%) Trong đó tỷ lệ nhiễm ở Vĩnh Long

là 32,38% và ở Sóc Trăng là 28,22% Tác giả cũng cho biết gà Tam Hoàng có tỷ lệ nhiễm cao hơn hai giống Newlohman và Brown AAA Gà nuôi nuôi theo kiểu chuồng hở tỷ lệ nhiễm cao hơn so với kiểu chuồng kín

Nguyễn Thị Kim Lan và Dương Thị Hồng Duyên (2011) cho biết: gà

bị bệnh Leucocytozoon có bệnh tích chủ yếu là: xuất huyết gan, lách, thận,

phổi, cơ; gan, thận và lách sưng to có thể gấp 2 – 3 lần so với bình

thường Tỷ lệ cơ quan có Leucocytozoon ký sinh biến động từ 17,39% –

78,26%

1.3.7.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

Liên Xô (cũ), Nikitin N K và Artemenko M N (1927) đã kiểm tra

máu chim trời ở Ucrain và tìm thấy Leucocytozoon ở 7% số chim (dẫn

theo Orlov F M, 1975

Huchzermeyer F W và Sutherland B (1978) lần đầu tiên đã phát

hiện được Leucocytozoon smithi ở phía Bắc Châu Phi, tác giả cho rằng Simulium nigritarse là ký chủ trung gian của ký sinh trùng này

Morii T và cs (1984) đã thử nghiệm lây nhiễm những thoi trùng

Leucocytozoon được chiết từ tuyến nước bọt của dĩn, kết quả cho thấy: các thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 2 sau khi dĩn hút máu gia cầm bệnh thì không gây nhiễm được cho gà Các thoi trùng được phân lập vào ngày thứ 3 thì có khả năng gây nhiễm cho gà

Nakamura K và cs (2001) đã nghiên cứu ảnh hưởng có hại của

Leucocytozoon đến khả năng sản xuất trứng của gà, thậm chí có thể làm gà ngừng đẻ Tác giả đã phát hiện thấy một số lượng lớn thể phân liệt thế hệ 2 trong buồng trứng và ống dẫn trứng của gà bệnh, gây phù và làm giảm áp lực của các mô lân cận các mô có đơn bào ký sinh

Trang 31

Steele E J và cs (2001) cho biết: sự phát triển của Leucocytozoon smithi có những nét tương đồng với sự phát triển của các loài Plasmodium

và Haemoproteus trong ký chủ trung gian

Peter Shurulinkov và Vassil Golemansky (2003) đã phát hiện có 6

loài Leucocytozoon trong máu của 9/ 17 loài chim được nghiên cứu

Bằng phương pháp PCR để định loại đơn bào ký sinh ở gà, Hellgren O và cs

(2004) đã tìm thấy 22 loài ký sinh trùng khác nhau, gồm 4 loài Haemoproteus, 8 loài Plasmodium và 10 loài Leucocytozoon trong 6 loài chim tước mà tác giả

nghiên cứu

Sehgal R N và cs (2006) đã xét nghiệm máu của 148 gà ở làng Uganda

và Cameroon, xác định được tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon schoutedeni là

18,3%

Hill A G và cs (2010) sử dụng phương pháp PCR để kiểm tra 107 mẫu máu chim cánh cụt mắt vàng từ 4 khu vực khác nhau ở phía Nam đảo Oamaru Kết quả thấy, 83% số mẫu kiểm tra dương tính với

Leucocytozoon.

Cũng bằng phản ứng PCR, Imura T và cs (2012) đã kiểm tra máu của 415 loài chim hoang dã ở vùng núi Chichibu, Nhật Bản Kết quả thấy, có 62 trong số 415 (chiếm tỷ lệ 14,9%) số loài chim rừng dương

tính với Leucocytozoon Tác giả cũng thấy rằng, trong 62 loài chim này

có 2 loài nhiễm Leucocytozoon với tỷ lệ cao nhất, đó là loài Parus ater (tỷ lệ nhiễm là 64,3 %) và loài Parus montanus (tỷ lệ nhiễm là 81,8 %)

Astudillo V G và cs (2013) đã tiến hành kiểm tra 786 mẫu máu chim sẻ tại 6 địa điểm thuộc hai lưu vực sông Georgia (Mỹ) trong giai đoạn 2010 – 2011 Tác giả cho biết, có 4 loại ký sinh trùng đường máu ký

sinh ở gia cầm là Plasmodium, Leucocytozoon, Trypanosoma và Haemoproteus Ngoài ra, theo tác giả thì những loài chim tìm kiếm thức

ăn trên mặt đất thường nhiễm đơn bào Leucocytozoon cao, đặc biệt là loài

chim sẻ họng trắng

Trang 32

Lei B và cs (2013) cho biết, có tới 59% trong tổng số chim ở Nam

Phi được xét nghiệm máu thấy bị nhiễm loài đơn bào L toddi

Kiểm tra 825 mẫu máu của một số loài gia cầm ở phía Tây Nam của Iran, Dezfoulian O và cs (2013) cho biết: có 8,0% số gà; 4,3% số ngỗng;

3,6% số vịt kiểm tra thấy nhiễm đơn bào đường máu Leucocytozoon

Hellgren O và cs (2013) cho biết, có 39% số chim tại Thụy Điển kiểm tra máu vào mùa Xuân, mùa Hè và đầu mùa Thu nhiễm các loại ký

sinh trùng đường máu, trong đó có đơn bào Leucocytozoon

Ở Nam Á, Synek P và cs (2013) cho biết: có 14 % trong tổng số

240 mẫu máu chim ở khu vực này kiểm tra dương tính với

Leucocytozoon Tác giả cũng cho biết, các loài chim ở khu vực Nam Á

nhiễm 5 loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon

Kiểm tra máu của chim cánh cụt mắt vàng trên hai đảo Campbell và Enderby của New Zealand, kết quả được Argilla L S và cs (2013) báo

cáo như sau: tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở chim cánh cụt mắt

vàng ở hai đảo biến động từ 11% đến 21%, trong đó tỷ lệ nhiễm ở đảo Campbell là 21%, cao hơn 10 % so với đảo Enderby (11%)

Bằng cách kiểm tra tiêu bản máu trên kính hiển vi và sử dụng phương pháp PCR, Ingrid A Lotta và cs (2013) đã phát hiện được hai

loài đơn bào thuộc giống Leucocytozoon ký sinh trong máu của một số loài chim cư trú ở Colombia, đó là loài L dubreuili và L fringillinarum Nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm đơn bào Leucocytozoon tại Vương Quốc Anh, Dunn J C và cs (2014) cho biết, tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon giảm

dần và thường nhiễm ở thể mạn tính trong mùa Đông, nhưng vào thời gian cuối mùa Đông tỷ lệ nhiễm lại tăng dần Theo tác giả, nguyên nhân có thể

là do trong thời gian này thức ăn khan hiếm, dẫn đến sức đề kháng của con vật giảm sút và bệnh lại bùng phát trở lại

Elahi R và cs (2014) cho biết: xét nghiệm 319 mẫu máu thủy cầm

ở Bangladesk, phát hiện có 0,6% số mẫu dương tính với đơn bào

Trang 33

Leucocytozoon Tác giả cũng nhận thấy rằng, có sự khác nhau rõ rệt về

tỷ lệ nhiễm giữa các loài thủy cầm được xét nghiệm máu

Phân tích 243 mẫu máu của 14 loài chim di cư tại miền Bắc Nhật Bản bằng phương pháp PCR, Yoshimura A và cs (2014) đã xác định

được tỷ lệ nhiễm đơn bào đường máu Leucocytozoon Tác giả cho biết,

có 7/14 loài chim dương tính với Leucocytozoon

Dunn J C và cs (2014) đã sử dụng phương pháp PCR để kiểm tra các mẫu máu của gia cầm thu thập từ tháng 12 đến tháng 4 trong hai năm liên tiếp tại Vương Quốc Anh, tác giả phát hiện được trên 50% số mẫu

máu xét nghiệm dương tính với Leucocytozoon

Ramey A M và cs (2014) cho biết, trong số 878 mẫu máu được thu thập từ các loài chim ở Alaska (Mỹ), California (Mỹ) và Hokkaido (Nhật

Bản) đã phát hiện được 555 mẫu dương tính với Leucocytozoon, chiếm

63%

Theo Imura T và cs (2014), L caulleryi là một trong những loài ký

sinh trùng đường máu phổ biến ở gà và thường gây cho gà tử vong với tỷ

lệ cao Phân tích bộ gen của L caulleryi, tác giả đã xác định được trình tự

nucleotide của toàn bộ hệ gen của đơn bào này Đây là báo cáo đầu tiên và

khá đầy đủ về trình tự nucleotide của đơn bào L caulleryi

Matta N E và cs (2014) đã tìm thấy loài đơn bào L quynzae trong

máu của các loài chim tại Vườn quốc gia tự nhiên ở Colombia thuộc khu

vực Nam Mỹ L quynzae là loài Leucocytozoon lần đầu tiên được phát hiện ở chim Nam Mỹ Tác giả còn cho biết, tỷ lệ nhiễm L quynzae ở chim phụ thuộc vào vai trò và mật độ của dĩn Gigantodax spp - những loài dĩn được coi là véc tơ truyền bệnh Leucocytozoon cho các loài chim tại khu

Trang 34

Ngoài ra, tác giả nhận thấy, môi trường sống có liên quan mật thiết đến tỷ

lệ nhiễm đơn bào này ở chim

Bằng kỹ thuật PCR định lượng khuếch đại ADN của Leucocytozoon,

Smith M M và cs (2015) đã xác định được: có 91% trong số 105 mẫu máu thủy cầm thu thập ở Alaska vào cuối mùa Hè và mùa Thu dương tính

với đơn bào Leucocytozoon Từ kết quả xét nghiệm tác giả cũng nhận thấy

rằng phương pháp này có độ đặc hiệu là 100% trong việc phát hiện ADN

Leucocytozoon trong mẫu máu vật chủ

Theo Von Rönn J A và cs (2015), các loài chim di cư đóng vai trò

quan trọng trong việc phát tán đơn bào Leucocytozoon giữa các nước

thuộc khu vực châu Âu

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa ký chủ cuối cùng và ký chủ

trung gian truyền bệnh Leucocytozoon cho gia cầm, Lotta I A và cs (2015) cho rằng: bệnh do đơn bào Leucocytozoon xảy ra chủ yếu ở vùng

núi của các nước thuộc khu vực nhiệt đới, nơi có sự đa dạng về loài và số lượng ký chủ trung gian truyền bệnh

Kiểm tra tỷ lệ nhiễm Leucocytozoon trong máu của 125 gà tại vùng

Baku, Azerbaijan, Ahmadov E.I và cs (2019) cho biết có 12,8% số gà bị nhiễm bệnh

Trang 35

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Gà nuôi thả vườn tại huyện Cao Lộc và huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn

- Bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

2.1.2.1 Địa điểm triển khai

Đề tài được thực hiện ở các nông hộ, các trại chăn nuôi gà gia đình

và tập thể với các quy mô khác nhau ở 10 xã, thị trấn của hai huyện Cao Lộc và Hữu Lũng thuộc tỉnh Lạng Sơn

2.1.2.2 Địa điểm xét nghiệm mẫu:

+ Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

+ Phòng Vi sinh vật - Chi cục Kiểm dịch động vật vùng Lạng Sơn + Bệnh viện Đa khoa Trung ương - Thái Nguyên

* Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 8 năm

2020

2.2 Vật liệu nghiên cứu

* Vật liệu nghiên cứu

- Mẫu máu gà (để xét nghiệm đơn bào Leucocytozoon và các chỉ

số huyết học)

- Gà chết và gà bị bệnh do đơn bào Leucocytozoon (để mổ khám

bệnh tích, xác định cơ quan có đơn bào ký sinh và thu thập bệnh phẩm)

- Các cơ quan có bệnh tích điển hình của bệnh Leucocytozoon (để

làm tiêu bản vi thể)

Trang 36

- Gà bệnh để thử nghiệm hiệu quả điều trị của hai phác đồ điều trị bệnh

- Hoá chất và thuốc : Thuốc nhuộm giemsa, nước cất, dầu bạch

dương, cồn methanol, dung dịch EDTA 1%, thuốc điều trị Leucocytozoon,

thuốc phun diệt dĩn,

- Dụng cụ thí nghiệm : Lamen và lam kính, xi lanh, kim tiêm, kính hiển vi quang học, pipet, pince kẹp, đũa thủy tinh, giấy lọc,

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Thành phần loài đơn bào Leucocytozoon gây bệnh ở gà tại Lạng Sơn

- Thành phần loài đơn bào Leucocytozoon gây bệnh ở gà tại Lạng

Sơn

2.3.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại Lạng Sơn

* Tình hình nhiễm đơn bào Leucocytozoon ở gà tại hai huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà tại các địa phương

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon ở gà theo mùa vụ

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo tuổi gà

- Tỷ lệ và cường độ nhiễm Leucocytozoon theo điều kiện vệ sinh thú y

* Nghiên cứu đặc điểm hoạt động của các loài dĩn – véc tơ truyền bệnh Leucocytozoon cho gà

- Quy luật hoạt động của các loài dĩn theo tháng trong năm

- Quy luật hoạt động của các loài dĩn theo giờ trong ngày

2.3.3 Nghiên cứu bệnh đơn bào Leucocytozoon ở gà tại Lạng Sơn

- Triệu chứng của gà mắc bệnh đơn bào Leucocytozoon

- Một số chỉ số máu của gà mắc bệnh Leucocytozoon so với gà khỏe cùng tuổi

- Bệnh tích đại thể do đơn bào Leucocytozoon gây ra ở gà

- Bệnh tích vi thể do đơn bào Leucocytozoon gây ra ở gà và tỷ lệ tiêu

bản có bệnh tích vi thể

Trang 37

2.3.4 Nghiên cứu biện pháp trị bệnh

Xác định hiệu lực và độ an toàn của 2 phác đồ điều trị bệnh

Leucocytozoon cho gà

2.4 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp bố trí theo dõi xác định loài Leucocytozoon ký sinh ở gà tại Lạng Sơn

Các tiêu bản máu sau khi xét nghiệm thấy có đơn bào đường máu ký sinh, chúng tôi tiến hành phân loại theo căn cứ vào hình thái của các loại đơn bào đã phát hiện được theo khóa định loại của Levine N D (1985);

Chọn 2 huyện, mỗi huyện chọn 5 xã, mỗi xã chọn 5 thôn, mỗi xã lấy

50 mẫu ngẫu nhiên ở các thôn

Mỗi gà làm 3 tiêu bản máu

2.4.2.2 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm Lecocytozoon ở

gà tại các địa phương

* Phương pháp thu thập mẫu

Mẫu máu được thu thập ngẫu nhiên từ gà nuôi thả vườn tại các nông hộ, các trại chăn nuôi gà ở các địa phương của huyện Cao Lộc và Huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn

Chuẩn bị những phiến kính mới đã được tẩy mỡ bằng cách ngâm và rửa

xà phòng, sau đó ngâm trong cồn 960 trong 3 giờ rồi lau khô bằng khăn mềm không có xơ Đồng thời, chọn những lamen kích thước 2 x 2 cm, rìa thật phẳng và nhẵn

Trang 38

Trước khi lấy mẫu máu xét nghiệm, quan sát kỹ các biểu hiện lâm sàng của gà Dùng kim lấy 1 giọt máu tươi của gà tại tĩnh mạch cánh, đặt lên phiến kính, cách bờ phiến kính khoảng 1 cm Đặt cạnh của một lamen lên giọt máu, nghiêng 450 với phiến kính Khi giọt máu đã tràn ra khắp cạnh của lamen thì đẩy lamen về phía trước, làm cho máu được dàn thành một lớp mỏng và đều trên phiến kính Cố định tiêu bản bằng cồn methanol Làm 3 tiêu bản máu/ gà Tiêu bản được ghi số thứ tự bằng bút chì mỡ Ghi nhật ký thí nghiệm các thông tin: chủ hộ, địa chỉ, ngày lấy mẫu, tuổi gà, phương thức chăn nuôi, trạng thái và màu sắc phân, điều

kiện vệ sinh thú y, các biểu hiện lâm sàng (nếu có)

* Chuẩn bị thuốc nhuộm giemsa cơ bản

Dung dịch giemsa cơ bản bao gồm:

* Phương pháp nhuộm giemsa

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) cho biết: Nhuộm tiêu bản máu bằng thuốc nhuộm giemsa gồm 3 bước như sau:

- Bước 1: Pha thuốc nhuộm giemsa

Trang 39

- Bước 3: lấy tiêu bản

Dùng 1 pince kẹp, cặp lần lượt từng tiêu bản và để nghiêng dưới vòi nước cất chảy nhẹ (pH = 7,2) cho trôi hết thuốc nhuộm dư thừa Sau đó dựng nghiêng tiêu bản vào cạnh 1 cái hộp, để khô tự nhiên

* Phương pháp kiểm tra tìm Leucocytozoon trên tiêu bản máu nhuộm giemsa

Nhỏ 1 giọt dầu bạch dương lên tiêu bản, kiểm tra tiêu bản dưới kính hiển vi vật kính dầu, độ phóng đại 10 x 90 hoặc 10 x 100 để tìm

Leucocytozoon

Những mẫu máu tìm thấy đơn bào Leucocytozoon được xác định là

có nhiễm, ngược lại là không nhiễm

Cường độ nhiễm được xác định bằng tỷ lệ % số hồng cầu có đơn bào

ký sinh và quy định các mức cường độ nhiễm: nhẹ, trung bình và nặng Nhiễm mức độ nhẹ: ≤ 5% số hồng cầu có đơn bào ký sinh, đồng thời

gà không có biểu hiện lâm sàng

Nhiễm mức độ trung bình: > 5% - 10% số hồng cầu có đơn bào ký sinh, đồng thời gà có một số triệu chứng lâm sàng nhưng chưa rõ rệt Nhiễm mức độ nặng: > 10% số hồng cầu có đơn bào ký sinh, đồng

thời gà có triệu chứng lâm sàng rõ rệt

2.4.2.3 Quy định một số yếu tố dịch tễ liên quan đến tình hình nhiễm đơn bào Leucocytzoon ở gà

* Mùa: Thu thập 500 mẫu máu gà tại các địa phương theo các mùa trong năm, số lượng mẫu thu thập theo từng mùa như sau:

- Mùa Xuân (từ tháng 2 đến tháng 4)

- Mùa Hè (từ tháng 5 đến tháng 7)

-Mùa Thu (từ tháng 8 đến tháng 10)

- Mùa Đông (từ tháng 11 đến tháng 01 năm sau)

* Lứa tuổi gà: Thu thập 500 mẫu máu gà tại các địa phương theo 4

lứa tuổi, số lượng mẫu máu gà thu thập theo từng lứa tuổi như sau:

Trang 40

≤ 2 tháng tuổi

> 2 – 4 tháng tuổi

> 4 – 6 tháng tuổi

> 6 tháng tuổi

* Tình trạng vệ sinh thú y: Thu thập mẫu máu gà tại các địa phương

theo các tình trạng VSTY như sau:

- VSTY tốt: chuồng trại cao ráo, thoáng mát, sạch sẽ, thường xuyên quyét dọn chuồng nuôi, khu vực xung quanh chuồng nuôi và bãi chăn thả, định kỳ phun thuốc khử trùng, thuốc diệt muỗi, dĩn, tiêu độc chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, phát quang cây cỏ, khơi thông cống rãnh

- VSTY trung bình: không thường xuyên quét dọn chuồng nuôi, khu vực xung quanh chuồng nuôi, bãi chăn thả còn có những vũng nước đọng, thỉnh thoảng phun thuốc diệt muỗi, dĩn; không thường xuyên tiêu độc chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi và phát quang cây cỏ, không thường xuyên khơi thông cống rãnh ở gần khu vực chăn nuôi

- VSTY kém: Chuồng nuôi, khu vực xung quanh chuồng nuôi và bãi chăn thả ẩm thấp, có nhiều vũng nước đọng, có nhiều bụi cây rậm rạp, không tiêu độc chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, không khơi thông cống rãnh

2.4.3 Phương pháp xác định quy luật hoạt động của dĩn – véc tơ truyền bệnh Leucocytozoon cho gà

* Phương pháp xác định quy luật hoạt động theo các tháng trong năm

Theo dõi sự xuất hiện và hoạt động của dĩn để xác định quy luật hoạt động của dĩn ở tất cả các tháng trong năm, từ đó xác định được tháng dĩn bắt đầu hoạt động, những tháng dĩn hoạt động mạnh và những tháng dĩn ngừng hoạt động Kết quả này sẽ là cơ sở khoa học khuyến cáo người

chăn nuôi có biện pháp diệt dĩn – véc tơ truyền Leucocytozoon cho gà phù hợp, hạn chế tác hại do bệnh Leucocytozoon gây ra ở gà

Ngày đăng: 03/06/2021, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w