ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Giống cải chíp (Brassica rapa Chinensis L) xanh lùn của công ty Japan Viet
Phân hữu cơ đa dụng là loại phân được tạo ra từ phân chuồng (như phân lợn) đã được ủ hoai mục, kết hợp với chế phẩm emic, bao gồm nhiều vi sinh vật hữu hiệu thuộc các chi khác nhau.
Các loại vi khuẩn như Bacillus, Lactobacillus, Streptomyces và Sacharomyces có khả năng phân giải mạnh mẽ chất hữu cơ, đồng thời sinh ra các chất kháng sinh và chất ức chế có tác dụng tiêu diệt vi sinh vật gây hại, với tổng số vi sinh vật đạt trên 10^8 CFU/g.
*Quy trình xử lý bằng chế phẩm Emic cho phân chuồng chưa hoai:
Bước 1: chia lượng phân chuồng đã mua thành 6 phần bằng nhau (mỗi phần 125 kg, tương đương mỗi phần là một công thức thí nghiệm
Bước 2: Trộn chế phẩm theo từng công thức thí nghiệm với lượng như sau: CT1: 125 kg phân chuồng (phân lợn) + 25gr chế phẩm Emic (Đ/c)
CT2: 125 kg phân chuồng (phân lợn) + 50gr chế phẩm Emic
CT3: 125 kg phân chuồng (phân lợn) + 75gr chế phẩm Emic
CT4: 125 kg phân chuồng (phân lợn) + 100gr chế phẩm Emic
Để tiến hành thí nghiệm, bước đầu tiên là cân chế phẩm bằng cốc đong theo lượng đã ghi cho từng công thức Sau đó, tưới chế phẩm vào phân lợn theo từng công thức thí nghiệm và đảo trộn đều Tiếp theo, chất liệu được xếp thành đống cao khoảng 40-50cm Trong suốt quá trình này, cần đảo đống một lần mỗi ngày Cuối cùng, sau 25-30 ngày, tiến hành thí nghiệm với cây rau.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành nghiên cứu tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên
Thời gian nghiên cứu: tháng 2 năm 2020 đến tháng 6 năm 2020.
Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đa dụng đến thời gian sinh trưởng rau cải chíp
Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đa dụng đến sinh trưởng, năng suất rau cải chíp Đánh giá tình hình sâu bệnh hại rau cải chíp.
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp bố trí thí ngiệm
Thí nghiệm được thực hiện với 4 công thức theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại, mỗi ô thí nghiệm có diện tích 5m2 Tổng diện tích thí nghiệm là 60m2, không bao gồm dải bảo vệ Sơ đồ bố trí thí nghiệm được sắp xếp hợp lý nhằm đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quá trình nghiên cứu.
NLI CT1 CT2 CT4 CT3
NLII CT2 CT4 CT3 CT1
NLIII CT3 CT1 CT2 CT4
Lượng bón cho một công thức thí nghiệm (15m 2 )
21kg phân chuồng ủ mục + 0,6kg Đạm Urê + 0,6kg Supe lân + 0,2 kg kali KCl
Để đạt hiệu quả cao trong canh tác, cần sử dụng 15.000 kg phân chuồng ủ mục kết hợp với 152,2 kg đạm urê, 516,1 kg lân và 133,3 kg kali Các công thức CT2, CT3 và CT4 đều sử dụng 21 kg phân chuồng ủ mục, giúp tối ưu hóa dinh dưỡng cho cây trồng.
Mật độ khoảng cách trồng:
Mật độ trồng thí nghiệm (tổng diện tích thí nghiệm 60 m2): 1200 cây Khoảng cách: hàng cách hàng 25 cm, cây cách cây 20 cm
3.4.2 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
- Chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng:
+ Thời gian từ gieo đến mọc: 50% số cây mọc trên ô
Để theo dõi sự tăng trưởng của cây, chúng tôi đã thực hiện các phép đo chiều cao, đường kính tán và số lượng lá trên mỗi cây Mỗi công thức được áp dụng cho 10 cây với 3 lần nhắc lại, kiểm tra định kỳ mỗi 5 ngày Chiều cao cây được đo từ mặt đất đến đỉnh cao nhất của lá (cm), trong khi đường kính tán được đo theo hướng đông tây và nam bắc, sau đó tính trung bình Số lá trên cây được xác định bằng cách đếm số lá xuất hiện và đánh dấu để theo dõi.
Chiều dài lá thuần thục được đo từ gốc đến đỉnh mút lá trong giai đoạn thu hoạch của cây Để đảm bảo tính chính xác, cần chọn 15 cây và lấy 2 lá đại diện từ mỗi cây trong quá trình đo.
+ Chiều rộng lá thuần thục: đo ở khoảng giữa to nhất của bề mặt lá
- Các chỉ tiêu về năng suất
Khối lượng trung bình của cây được xác định bằng cách lấy ngẫu nhiên 10 cây từ công thức, thực hiện 3 lần nhắc lại và sử dụng cân kỹ thuật để đo khối lượng trong phòng thí nghiệm.
Năng suất thực thu rau cải chíp được tính bằng cách cân toàn bộ số cây thu hoạch trên ô thí nghiệm và quy đổi kết quả ra tấn/ha.
- Chỉ tiêu về sâu bệnh, hại
+ Thành phần, tần suất xuất hiện sâu bệnh hại: điều tra theo 5 điểm trên đường chéo góc:
+ Tần suất bắt gặp % = Số lần bắt gặp của mỗi loài x 100
- : Rất ít phổ biến (tần suất bắt gặp < 5%)
+ : Ít phổ biến (tần suất bắt gặp từ 5-19%)
++ : Phổ biến (tần suất bắt gặp từ 20-50%)
+++ : Rất phổ biến (tần suất bắt gặp > 50%)
- Hiệu quả kinh tế: HQKT = Tổng thu – tổng chi.
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm SAS 9.1 (SAS Institute Inc., Cary, NC, USA).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Ảnh hưởng của lượng phân bón đến thời gian sinh trưởng phát triển của giống cải chíp
Rau cải chíp là giống rau có khả năng sinh trưởng và phát triển mạnh mẽ, với lá xanh mướt và giàu dinh dưỡng Cây có thể trồng quanh năm, thích nghi tốt với nhiều điều kiện khí hậu và có khả năng chống chịu sâu bệnh Mỗi giai đoạn sinh trưởng của rau cải chíp yêu cầu các kỹ thuật canh tác và dinh dưỡng khác nhau, do đó việc xác định đúng liều lượng và thời điểm bón phân là rất quan trọng để cây phát triển tốt và đạt năng suất cao Kết quả theo dõi cho thấy ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến thời gian sinh trưởng của rau cải chíp được thể hiện rõ trong bảng 4.1.
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của lượng phân bón đến thời gian qua các thời kỳ sinh trưởng của giống cải chíp
Gieo đến thu hoạch (ngày)
Tổng thời gian sinh trưởng (ngày)
Kết quả bảng 4.1 ta thấy:
Thời gian từ gieo hạt đến nảy mầm của cải chíp là 3 ngày, không có sự khác biệt giữa các công thức thí nghiệm Trong giai đoạn này, cây chủ yếu sử dụng chất dự trữ trong hạt để sinh trưởng mà không cần đến phân bón.
Các công thức thí nghiệm có tỷ lệ nảy mầm dao động từ 95% đến 98%, trong khi tỷ lệ mọc của cải chíp giữa các công thức cũng khác nhau Cụ thể, công thức 1 (Đ/c) có tỷ lệ mọc thấp nhất là 80%, trong khi công thức 2 đạt 85%, và cả công thức 3 và công thức 4 đều đạt tỷ lệ mọc cao nhất là 90%.
Các công thức thí nghiệm có thời gian từ khi gieo cho đến khi thu hoạch và tổng thời gian sinh trưởng là giống nhau
4.1.1 Ảnh hưởng của lượng phân bón đến động thái tăng trưởng chiều cao của giống cải chíp
Chiều cao của cây rau tăng lên từ khi mọc cho đến khi kết thúc giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng Việc cây rau đạt chiều cao tối đa hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện đất đai, thời vụ, chế độ dinh dưỡng và cách thức trồng trọt Tốc độ tăng trưởng chiều cao của cây rau nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào các giai đoạn sinh trưởng và chế độ bón phân chăm sóc.
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến thời gian sinh trưởng của cây rau cải chíp được thể hiện rõ qua biểu đồ 4.1.
Biểu đồ 4.1: Ảnh hưởng của lượng phân bón tới động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống cải chíp
5 ngày 10 ngày 15 ngày 20 ngày 25 ngày
Biểu đồ 4.1 cho thấy chiều cao của cây rau chíp tăng dần theo thời gian, đặc biệt nhanh chóng trong giai đoạn từ 15-20 ngày Sau 5 ngày trồng, chiều cao cây giữa các công thức chỉ có sự khác biệt nhỏ, dao động từ 5,33 đến 5,82 cm Đến giai đoạn 10 ngày, chiều cao cây tăng lên từ 7,46 đến 7,9 cm, trong đó CT3 đạt chiều cao lớn nhất là 7,9 cm, cao hơn so với đối chứng 0,44 cm.
Trong các giai đoạn 15, 20 và 25 ngày sau trồng, chiều cao cây đạt tối ưu nhất ở công thức 3, với chiều cao lần lượt là 11,25 cm, 15,98 cm và 18,28 cm, cao hơn đối chứng từ 1,2 cm đến 1,45 cm Đặc biệt, ở giai đoạn 20 ngày, công thức 4 có tốc độ tăng trưởng chiều cao cao nhất, đạt 5,19 cm/cây/5 ngày, vượt đối chứng 0,46 cm Trong khi đó, công thức 3 và đối chứng đều có tốc độ tăng trưởng 4,73 cm/cây/5 ngày, và công thức 2 có tốc độ tăng trưởng thấp hơn đối chứng 0,4 cm.
4.1.2 Ảnh hưởng của lượng phân bón đến động thái ra lá giống cải chíp
Biểu đồ 4.2: Ảnh hưởng của lượng phân bón đến động thái ra lá của giống cải chíp
5 ngày 10 ngày 15 ngày 20 ngày 25 ngày
Số lá t rê n c ây (l á/ cây )
Lá là cơ quan sinh dưỡng thiết yếu của cây, đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp để tổng hợp và vận chuyển các chất hữu cơ cần thiết cho sự phát triển của cây Sản phẩm cuối cùng từ cây rau cải chủ yếu là thân và lá, trong đó số lượng lá trên cây vào giai đoạn thu hoạch phản ánh sự phát triển và năng suất của cây trồng.
Biểu đồ 4.2 cho thấy sự khác biệt trong động thái ra lá của cây cải chíp ở các công thức khác nhau qua các thời điểm theo dõi Tương tự như chiều cao cây, số lượng lá của cây cũng tăng dần sau khi bón thúc cho cây cải chíp.
Giai đoạn 5 và 10 ngày sau khi trồng, số lượng lá rau cải chíp dao động từ 3,7 đến 4,80 lá Công thức CT2 và CT3 đạt số lá cao nhất, với 3,87 lá/cây sau 5 ngày và 4,80 lá/cây sau 10 ngày, vượt hơn so với đối chứng lần lượt 0,17 và 0,13 lá Đến giai đoạn 15 ngày, số lá rau cải chíp tăng lên từ 6,13 đến 6,33 lá, trong đó công thức 3 đạt 6,33 lá, tương đương với số lá của đối chứng, trong khi các công thức khác đều cho kết quả thấp hơn.
Sau 20 ngày trồng, số lượng lá rau cải chíp dao động từ 9,40 đến 10,63 lá Công thức đối chứng cho thấy sự ra lá chậm nhất, trong khi công thức 4 đạt tốc độ ra lá nhanh nhất với 10,63 lá, cao hơn đối chứng 1,23 lá Công thức 3 theo sau với 10,2 lá, vượt đối chứng 0,8 lá, và công thức 2 có 9,50 lá, cao hơn đối chứng 0,1 lá.
Sau 25 ngày trồng, số lượng lá rau cải chíp dao động từ 12,26 đến 13,87 lá Công thức 2 đạt số lá cao nhất với 13,87 lá, vượt hơn 1,61 lá so với đối chứng Tiếp theo, công thức 3 đạt 13,53 lá, cao hơn đối chứng 1,27 lá, và công thức 4 đạt 13,47 lá, vượt đối chứng 1,21 lá.
4.1.3 Ảnh hưởng của lượng phân bón đến động thái tăng trưởng đường kính tán của giống cải chíp Đường kính tán không chỉ thể hiện khả năng quang hợp của cây mà đối với rau cải chíp, đường kính tán còn thể hiện khả năng cho năng suất của cây Qua theo dõi chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, chỉ tiêu đường kính tán của cải chíp trồng ở các lượng phân hữu cơ khác nhau được thể hiện ở biểu đồ 4.3
Biểu đồ 4.3: Ảnh hưởng của lượng phân bón đến động thái tăng trưởng đường kính tán của giống cải chíp
Biểu đồ 4.3 cho thấy rằng đường kính tán cây tăng dần qua các giai đoạn sinh trưởng, đạt mức tối đa vào thời điểm thu hoạch Tuy nhiên, sự khác biệt về đường kính tán và tốc độ tăng trưởng của nó ở từng giai đoạn là khác nhau giữa các công thức thí nghiệm.
Trong thời kỳ 5 ngày sau khi trồng, đường kính tán cây đạt từ 6,27 đến 7,03 cm Công thức 4 cho đường kính tán cao nhất là 7,03 cm, vượt hơn so với đối chứng 0,76 cm Tiếp theo, công thức 3 đạt 6,95 cm, cao hơn đối chứng 0,68 cm, trong khi công thức 2 đạt 6,62 cm, cao hơn đối chứng 0,35 cm.