NGUYỄN VĂN LINH Tên đề tài: “NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG TRÀ HOA VÀNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM CÀNH TẠI YÊN BÁI” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆ
Trang 1NGUYỄN VĂN LINH
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG TRÀ HOA VÀNG
BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM CÀNH TẠI YÊN BÁI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2NGUYỄN VĂN LINH
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG TRÀ HOA VÀNG
BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM CÀNH TẠI YÊN BÁI”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn : TS Hà Duy Trường
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng nhân giống trà hoa vàng bằng phương pháp giâm cành tại Yên Bái” là công trình nghiên cứu của bản
thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS.Hà Duy
Trường, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là kết
quả thí nghiệm thực tế của tôi, những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình theo dõi hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa và nhà trường đề ra
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
Hội đồng
Nguyễn Văn Linh
Trang 4Em xin chân thành cảm ơn sự tận tình dạy dỗ và chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Nông học đã truyền đạt cho em những kiến thức về lý thuyết và kỹ năng trong suốt thời gian học tập ở trường để em có những kiến thức nền tảng phục vụ cho công việc thực tập, cũng như công việc thực tế của
em sau khi ra trường
Cho phép em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến T.S HÀ DUY
TRƯỜNG – giảng viên hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập Các cô
luôn giúp đỡ, động viên và hướng dẫn tận tình cho em những kiến thức lý thuyết, thực tế cũng như các kỹ năng trong thời gian thực tập và viết bài báo cáo, chỉ cho em những thiếu sót, sai lầm của mình, để em hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp với kết quả tốt nhất Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian, trình độ và kinh nghiệm nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự cảm thông, đóng góp ý kiến, chỉ bảo của các thầy, cô giáo và các bạn để khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 08 tháng 8 năm 2020
Sinh viên
NGUYỄN VĂN LINH
Trang 5nghiệm 33 Bảng 4.4:Ảnh hưởng của một số chất ĐHST đến sự sinh trưởng của lá cây
THV giai đoạn vườn ươm 35 Bảng 4.5 Sâu bệnh hại trà hoa vàng vườn ươm 37 Bảng 4.6: Ảnh hưởng của chất ĐHST đến tỷ lệ cây đạt TCXV 38
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ sống của hom trà hoa vàng qua các công thức
thí nghiệm 30 Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện chỉ tiêu ra rễ của trà hoa vàng 33 Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện các chỉ tiêu ra chồi của trà hoa vàng 35 Hình 4.4: Biểu đổ biểu thị ảnh hưởng của một số chất ĐHST đến sự sinh
trưởng của lá 36 Hình 4.5 Ảnh hưởng của chất ĐHST đến tỷ lệ cây đạt TCXV 38
Trang 7DANH SÁCH CÁC TỪ,CỤM TỪ VIẾT TẮT
IBA : Axit indol butylic Bimix : Bimix Super Roots THV : Trà hoa vàng
CT : Công thức ĐHST : Điều hòa sinh trưởng TCXV : Tiêu chuẩn xuất vườn
ĐC : Đối chứng CTTN :Công thức thí nghiệm
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH SÁCH CÁC TỪ,CỤM TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở phát triển cá thể 4
2.1.2 Cơ sở di truyền học 5
2.1.3 Cơ sở tế bào học 5
2.1.4 Sự hình thành rễ bất định 6
2.1.5 Ảnh hưởng của môi trường sống đến quá trình giâm hom 6
2.2 Nguồn gốc, phân loại của cây chè Hoa Vàng 11
2.2.1 Nguồn gốc của cây chè Hoa Vàng 11
2.2.2 Phân loại chè Hoa Vàng 12
2.3 Tình hình nghiên cứu cây Trà hoa vàng trên thế giới và Việt Nam 13
2.3.1 Tình hình nghiên cứu cây Trà hoa vàng ở thế giới 13
2.3.2 Tình hình nghiên cứu cây Trà hoa vàng ở Việt Nam 17
2.3.3 Tình hình nghiên cứu ở Yên Bái 20
Trang 92.4.Sơ lược về giá thể đóng bầu (đất) 21
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU24 3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 24
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu 24
3.2 Thời gian nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp xử lí số liệu 27
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống của hom giâm cây Trà hoa vàng 28
4.2 Các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Trà Hoa Vàng ở các công thức thí nghiệm ở 120 ngày 30
4.3 Các chỉ tiêu ra chồi của hom cây Trà Hoa Vàng ở các công thức thí nghiệm 30 ngày 33
4.4 Ảnh hưởng của một số chất ĐHST đến sự sinh trưởng của lá cây Trà Hoa Vàng giai đoạn vườn ươm 35
4.5 Các loại sâu bệnh trên Trà Hoa Vàng trong giai đoạn vườn ươm 37
4.6 Đánh giá tình hình sinh trưởng và khả năng suất vườn 37
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Kiến nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trà hoa vàng (Camelia) thuộc chi Camellia là một chi lớn thuộc họ Chè
Theaceae Các loài trong chi Camellia có nhiều tác dụng như làm gỗ, làm đồ gia dụng bền chắc, lá hoa làm đồ uống, làm dược liệu và làm cây cảnh Ngoài
ra, có thể trồng dưới tán cây khác trong các đai rừng phòng hộ chống xói mòn, nuôi dưỡng nguồn nước (Ngô Quang Đê 1996) [1] Chi Camellia trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều loài có hoa đẹp với đủ các màu sắc khác nhau như trắng, đỏ, hồng và nhiều màu sắc lạ mắt, độc đáo được lai tạo đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà chơi cảnh Trong số đó, các loài trà hoa vàng
là loài hiện mới chỉ phát hiện được tại Việt Nam và Trung Quốc Trà hoa vàng là một loại đồ uống bổ dưỡng cao cấp có tác dụng phòng và chữa bệnh tốt, các ứng dụng khác sử dụng các chất dinh dưỡng trong lá, hoa còn có tác dụng hạ huyết áp, tim mạch, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bướu, tăng cường hệ miễn dịch nhưng chưa được khai thác, do rất hạn chế về nguồn giống (Ngô Quang Đê và cs 2008) [3] Ngoài ra đây còn là một loài cây cảnh quan được ưa chuộng do màu vàng của trà hoa vàng rất đặc trưng, khó có thể tạo ra được bằng phương pháp lai hữu tính Trà hoa vàng còn có giá trị sử dụng để lấy gỗ, có thể làm cây trồng tầng dưới ở các đai rừng phòng hộ Ngày nay các nhà thực vật thế giới xem các loài trà hoa vàng là nguồn gen quý hiếm cần được bảo vệ nghiêm ngặt (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2001) [8]
Ở Việt Nam, từ những năm 90 của thế kỷ XX Trà hoa vàng được phát hiện ở nhiều nơi ở một số vùng phía Bắc Đây là nguồn gen vô cùng quý cho
hệ thực vật nói riêng và của Việt Nam nói chung đây là loài có hoa to, màu vàng đậm, óng, rất đẹp Tuy nhiên, trong những năm qua, tư thương đã thu gom từ rừng tự nhiên rất nhiều hoa Trà trên để buôn bán, với giá khoảng trên
Trang 111.500.000/1kg hoa tươi, thậm chí thu mua cả cây tươi với giá 20.000đ/kg, Sau đó sẽ được xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch Cùng một
số nguyên nhân khác làm cho Trà hoa vàng đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong tự nhiên (Trần Ninh 2010) [9] Vì thế việc nghiên cứu các biện pháp nhân giống, chăm sóc để bảo tồn và phát triển các loài trà hoa vàng này
là một việc làm cần thiết Tuy nhiên cho tới nay những nghiên cứu về các loài trà hoa vàng còn rất hạn chế Để góp phần cho công tác bảo tồn phát triển loài cây Trà hoa vàng và ngăn chặn các tổn thất đa dạng sinh học Đồng thời tạo hướng sản xuất hàng hóa loài cây này phục vụ nhu cầu sử dụng cây cảnh, cây dược liệu, tăng thu nhập cho người dân địa phương và giảm áp lực của cộng đồng lên tài nguyên thiên nhiên với điều kiện đất đai và khí hậu của tỉnh Yên Bái, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng nhân giống Trà Hoa Vàng bằng phương pháp giâm cành tại Yên Bái”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được loại chất kích thích tăng trưởng phù hợp cho nhân giống Trà hoa vàng bằng phương pháp giâm hom tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng nhân giống loài trà hoa vàng
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu hoa trà nói chung và trà hoa vàng nói riêng Mặt khác qua việc nghiên cứu và thực hiện đề tài này sẽ giúp tôi làm quen được với việc nghiên cứu khoa học, bên cạnh đó còn giúp tôi củng cố được lượng kiến thức chuyên môn đã học,
Trang 12có thêm cơ hội kiểm chứng những lý thuyết đã học trong nhà trường đúng theo phương châm học đi đôi với hành
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống để cung cấp hạt hoặc hom cành cho trồng rừng trên quy mô lớn và cho các bước cải thiện giống theo các phương thức sinh sản thích hợp
Nhân giống bằng hom (cutting propagation) là một trong những phương pháp nhân giống vô tính Đó là việc dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành, hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là cây hom, cây hom có đặc tính di truyền như của cây mẹ (Nguyễn Hiền 2011)[5] Giâm hom có ưu điểm
là hệ số nhân cao: Từ một cây mẹ, giống tốt có thể lấy được nhiều cành hom
để tạo ra nhiều cây con Trong khi chiết không cho phép lấy nhiều cành trên một cây (Mai Quang Trường và cs 2007)[12]
Giữ nguyên đặc tính cây mẹ, chất lượng và tính chống chịu ổn định: Trong giâm hom đặc tính di truyền, phẩm chất và tính trạng trội của cây mẹ được giữ nguyên Có khả năng khống chế số lượng đực hoá (Mai Quang Trường cs 2007)[12]
Năng suất, sản lượng cao: Cây giâm hom hầu hết đều ra quả nhanh hơn cây trồng bằng hạt, vì nó hoàn thành diện tích tán lá cần thiết để ra hoa sớm hơn (Mai Quang Trường và cs 2007)[12] Tuy nhiên phương pháp giâm hom có nhược điểm là đòi hỏi kỹ thuật công phu, giá thành cao hơn nhân giống bằng hạt (chi phí cao gấp 6 - 8 lần so với trồng bằng hạt) Hạn chế tuổi của cây mẹ lấy hom (Mai Quang Trường và cs 2007)[12]
2.1.1 Cơ sở phát triển cá thể
Bất kỳ một loài sinh vật nào trong quá trình sinh trưởng và phát triển đều chịu sự điều hoà của bộ gen và bộ gen do môi trường xung quanh điều chỉnh Trong bộ gen sẽ có những gen hoạt động theo điều kiện nhất định và
Trang 14được điều khiển nhịp nhàng theo môi trường với sự phát triển cá thể đặc trưng cho từng loài cụ thể Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây được thể hiện qua các giai đoạn: non trẻ, chuyển tiếp, thành thục Khả năng ra chồi rễ ở các
bộ phận cũng khác nhau, ở các bộ phận thuộc giai đoạn non trẻ khả năng ra rễ lớn hơn ở giai đoạn trưởng thành Do vậy việc xử lí trẻ hoá là một biện pháp quan trọng trong nhân giống bằng hom ở những loài cây khó ra rễ (Lê Đình Khả và cs 2003) [7]
2.1.2 Cơ sở di truyền học
Sinh vật bậc cao được phát triển từ một tế bào hợp tử qua nhiều lần phân bào liên tiếp cùng với quá trình phân hoá các cơ quan Trong suốt quá trình phân bào số lượng (NST) của tế bào khởi đầu và tế bào mới được phân chia như nhau nên được gọi là phân bào nguyên nhiễm hay nguyên phân kết quả từ một tế bào ban đầu cho hai tế bào con có số lượng NST cũng như cấu trúc và thành phần hoá học giống như tế bào ban đầu Nhờ có quá trình nguyên phân mà khối lượng cơ thể cây con có thể tăng lên, sau đó nhờ có quá trình phân hoá các cơ quan trong quá trình phát triển cá thể mà tạo thành một cây con hoàn chỉnh Đây là quá trình đảm bảo cho cây con duy trì tính trạng của cây mẹ (Lê Đình Khả và cs 2003)[7]
Khả năng ra rễ của hom cũng phụ thuộc vào xuất xứ, có loại hom dễ ra rễ
có loại hom khó ra rễ, chồi đỉnh có khả năng ra rễ tốt hơn chồi nách, đặc biệt là cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành lấy từ tán cây Mỗi loài cây có một loại hom phù hợp riêng, tuỳ từng loài mà lấy hom ở tuổi, vị trí nào cho phù hợp (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2001)[8]
2.1.3 Cơ sở tế bào học
Bất kỳ một loài sinh vật nào cũng có cấu tạo từ tế bào Tế bào là đơn vị cấu trúc nhỏ nhất, cơ bản nhất của sinh vật Tế bào chứa bộ nhiễm sắc thể (NST) mang đầy đủ thông tin di truyền cho quá trình phát triển của sinh vật, đồng thời chất nguyên sinh của tế bào có khả năng thu nhận năng lượng từ
Trang 15môi trường để phục vụ cho quá trình sinh sản, bản chất của cây con tạo bởi quá trình sinh sản dinh dưỡng có nguồn gốc từ bản sao của cây mẹ (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2001)[8]
Có 2 loại rễ: Rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh
Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng chỉ phát triển khi bộ phận của thân được tách ra khỏi cây mẹ
Rễ mới sinh: Là loại rễ sinh ra sau khi cắt và giâm hom Khi đó các tế bào chỗ bị cắt, bị tổn thương, và các tế bào dẫn truyền đã chết của mô gỗ được
mở ra là giai đoạn các chu trình trao đổi chất và vận chuyển các chất trong thân cây, dẫn đến dòng nhựa luyện được dẫn từ lá xuống đây bị dồn lại khiến cho các tế bào phân chia hình thành mô sẹo, đây là cơ sở hình thành rễ bất định (Nguyễn Hiền 2001)[5]
Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm 3 giai đoạn:
Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành lên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt
Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia và hình thành lớp mô mềm gọi là mô sẹo
Các tế bào vùng thượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu hình thành rễ
2.1.5 Ảnh hưởng của môi trường sống đến quá trình giâm hom
Thông thường người ta chia các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm thành 2 nhóm: Nhóm nhân tố nội sinh bao gồm những đặc điểm di truyền của loài, của xuất xứ và của cá thể, vai trò của tuổi cây, tuổi
Trang 16cành, vị trí cành và nhóm nhân tố ngoại sinh gồm các loại chất kích thích ra
rễ và các nhân tố ngoại cảnh như độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ, thời vụ giâm hom
* Nhân tố nội sinh
- Đặc điểm di truyền loài
Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các loài đều có khả năng
ra rễ như nhau, tuỳ theo đặc điểm di truyền các loài cây khác nhau có tỉ lệ ra rễ khác
nhau đã dựa theo khả năng ra rễ để chia các loài cây gỗ thành các nhóm chính sau:
+ Nhóm các loài cây tương đối khó ra rễ gồm 26 loài trong đó có các chi Morus sp, Ficus sp, Populus sp …
+ Nhóm các loài cây có khả năng ra rễ trung bình gồm 65 loài trong đó
có các chi Eucaluptus sp, Quercus sp …
+ Nhóm các loài cây dễ ra rễ gồm có 29 loài như một số loài thuộc các chi Malus sp., Prunus sp., Pyrus sp … thuộc họ Rosaceae, và một số chi khác như Aesculus ps, Bauhinia sp …
Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang ý nghĩa tương đối vì có một số loài ở nhóm 1, hoặc nhóm 2 vẫn dễ ra rễ như Gạo, Liễu sam, Vân sam … do vậy theo khả năng giâm hom có thể chia thực vật thành 2 nhóm chính là:
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom cành gồm các loài thuộc họ Dâu tằm (Moraceae) như Dâu tằm, Sung… và họ Liễu (Salicaseae) như Sắn, Mía… đối với nhóm này khi giâm hom không cần phải xử lý thuốc hom vẫn ra rễ bình thường
+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt thì khả năng ra rễ của hom giâm bị hạn chế ở mức độ khác nhau Những loài cây dễ ra rễ như Sở đến 35 tuổi vẫn có khả năng ra rễ 70 - 90% Những loài cây khó ra rễ như Mỡ (Manglietia glauca) 5 tuổi vẫn chỉ ra rễ 14% , với nhóm này muốn có tỉ lệ ra rễ cao phải dùng cây non và
xử lý các chất kích thích ra rễ thích hợp (Lê Đình Khả và cs 2003)[7]
Trang 17- Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng cá thể
Do đặc điểm biến dị mà các xuất xứ và các cá thể khác nhau cũng có khả năng ra rễ khác nhau Nghiên cứu cho Bạch đàn trắng Caman (E.Camaldulensis) 4 tháng tuổi đã thấy rằng trong lúc xuất xứ Katherine có tỉ lệ ra rễ 95% thì xuất xứ Gilbert River có tỉ lệ ra rễ 50%, còn xuất xứ Nghĩa Bình chỉ ra rễ được 35% (Lê Đình Khả và cs 2003)[7]
- Vị trí cành và tuổi cành lấy hom
Hom lấy từ các phần khác nhau trên thân cũng có khả năng ra rễ khác nhau Thông thường hom lấy từ cành ở tầng dưới dễ ra rễ hơn ở tầng trên Cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành lấy từ tán cây, vì vậy người ta thường xử lý cho cây ra chồi vượt để lấy hom giâm (Lê Đình Khả và cs 2003)[7]
- Sự tồn tại của lá trên hom
Lá là cơ quan quang hợp tạo ra các chất hữu cơ cần thiết cho cây, đồng thời cũng là cơ quan thoát hơi nước để khuyếch tán các chất kích thích ra rễ đến các bộ phận của hom Lá còn là cơ quan điều tiết các chất điều hoà sinh trưởng ở hom giâm, vì thế khi giâm hom phải để lại một diện tích lá cần thiết, song diện tích lá quá lớn, quá trình thoát hơi nước mạnh sẽ làm cho hom bị héo và có thể chết trước khi ra rễ Do vậy hom phải có 1 - 2 lá, và phải cắt bớt một phần (chỉ để lại 1/3 - 1/2) diện tích lá (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2001)[8]
- Kích thước hom: hom có đường kính lớn ra rễ tốt hơn hom có đường
kính nhỏ
- Tuổi cây mẹ lấy cành
Khả năng ra rễ của hom giâm không những do tính di truyền quy định mà còn phụ thuộc rất lớn về tuổi cây mẹ lấy cành Thông thường cây chưa ra hoa kết quả dễ nhân giống bằng hom hơn khi đã cho quả, những cây mẹ còn trẻ, sức sống mạnh mẽ, có năng lực phân sinh mạnh nên hom ra rễ tốt hơn Cây càng già khả
Trang 18năng ra rễ của hom càng yếu Thậm chí ở một số loài cây khả năng ra rễ chỉ tồn tại
ở những cây 1 - 2 tuổi (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2001)[8]
- Các chất điều hoà sinh trưởng: Chất điều hoà sinh trưởng bao gồm các
hoóc môn thực vật tự nhiên và những hợp chất hữu cơ được tổng hợp nhân tạo Người ta chia chất điều hoà sinh trưởng ra làm nhiều nhóm, mỗi nhóm có đặc trưng riêng của nó, trong đó nhóm Auxin có tác động kích thích ra rễ mạnh nhất khi xâm nhập vào tế bào thực vật làm cho tính thấm của nguyên sinh chất và hô hấp tăng lên… thúc đẩy sự ra rễ của thượng tầng dẫn đến sự thúc đẩy ra rễ của hom Tuy nhiên sự kích thích sinh lý của Auxin phụ thuộc chặt chễ vào nồng độ của nó trong tế bào Khi nồng độ quá cao thì tác động kích thích trở thành kìm hãm Do đó việc chọn loại thuốc và nồng độ phù hợp cho từng loại cây là rất quan trọng (Turesskaia 2005)[14]
* Các nhân tố ngoại sinh
Khả năng ra rễ của hom giâm chịu ảnh hưởng của các nhân tố ngoại sinh như điều kiện sinh sống của cây mẹ và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giâm hom như mùa vụ, ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ và giá thể giâm hom
- Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành: Điều kiện sinh sống của cây mẹ
lấy cành như điều kiện chiếu sáng, độ ẩm không khí, độ ẩm đất có ảnh hưởng khá
rõ đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm, nhất là hom lấy từ những cây non
- Giá thể hay môi trường giâm hom: Giá thể cũng góp phần vào thành
công của giâm hom Các loại giá thể giâm hom thường dùng là mùn cưa để mục, xơ dừa băm nhỏ, đất tầng B, cát tinh …giá thể giâm hom tốt phải duy trì được ẩm độ trong thời gian dài và không ứ nước, tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời phải sạch, không bị nhiễm nấm và không có nguồn sâu bệnh, độ PH khoảng 6,0 - 7,0
Trang 19- Thời vụ giâm hom
Thời vụ là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm Một số loài cây có thể giâm quanh năm, song nhiều loài
có thời vụ giâm hom rõ rệt Theo Frison (1967) và Nesterov (1967) thì mùa mưa tỉ
lệ ra rễ của hom giâm cao hơn so với các mùa khác, kết quả giâm hom tốt hay xấu thường gắn liền với các yếu tố như diễn biến khí hậu thời tiết trong năm, mùa sinh trưởng của cây và trạng thái sinh lý của cành( Lê Đình Khả và cs 2003)[7]
- Nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sống của sinh vật, là nhân tố quyết định đến tốc độ ra rễ của hom giâm (Pravdin, 1938) nhiệt độ quá thấp hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn mà không ra rễ, còn nhiệt độ quá cao sẽ làm tăng cường độ hô hấp, giảm tỉ lệ ra rễ của hom hoặc làm chết hom, đối với các loài cây nhiệt đới nhiệt độ không khí thích hợp nhất cho quá trình giâm hom là từ 25ºC - 35ºC Nhiệt đô giá thể cao hơn nhiệt độ không khí 3ºC - 5ºC thì tỉ
lệ ra rễ tốt hơn Nhiệt độ không khí trên 35ºC sẽ làm tăng tỉ lệ héo lá ảnh hưởng xấu đến quá trình giâm hom( Lê Đình Khả và cs 2003) [7]
- Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể: Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là
nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình giâm hom Các hoạt động sống của cây đều cần nước Khi giâm hom mỗi loài cây đều cần một ẩm độ thích hợp, mất 15 - 20% độ ẩm hom hoàn toàn mất khả năng ra rễ Độ ẩm giá thể thích hợp cho giâm hom là 50 - 70% khi tăng ẩm độ lên 100% chỉ một số loài như Nerium oleander
Trang 20mới giữ được tỉ lệ ra rễ cao, các loài khác đều giảm rõ rệt hoặc không ra rễ(Lê Đình Khả 2001)[6]
- Các chất kích thích sinh trưởng: Romixarop (1964) đã tìm hiểu ảnh
hưởng của các chất kích thích ra rễ ở 130 loài cây, trong đó tác giả cho thấy thuốc kích thích đã làm tăng hiệu quả ra rễ lên 1,5 đến 3 lần ở 27 loài, 23 loài cho kết quả trung bình, 72 loài không có hiệu quả và 8 loài kém hơn cả đối chứng Điều
đó chứng tỏ không phải thuốc kích thích là phương sách quí nhất để tăng tỉ lệ ra rễ của các loài cây rừng (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2001)[8]
- Đối với từng loài cây, cần xác định rõ loại thuốc, nồng độ và thời gian xử
lý thích hợp nhất Trạng thái hom khác nhau (hom hoá gỗ yếu, hom nửa hoá gỗ hay hom đã hoá gỗ) cũng yêu cầu nồng độ và thời gian xử lý thuốc khác nhau và điều này cần được quan tâm khi có kế hoạch xử lý một số lượng lớn hom cành cho sản xuất
2.2 Nguồn gốc, phân loại của cây chè Hoa Vàng
2.2.1 Nguồn gốc của cây chè Hoa Vàng
Nguồn gốc của cây chè là một vấn đề phức tạp, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc cây chè, dựa trên cơ sở về lịch sử khảo cổ học và thực vật học Một số quan điểm được nhiều người công nhận là:
- Cây chè ở Vân Nam – Trung Quốc:
Theo Daraselia (1989) từ những nghiên cứu về cây chè, các giải thích về
sự phân bố cây chè mẹ ở Trung Quốc của các nhà khoa học ở Trung Quốc, dựa theo học thuyết “Trung tâm khởi nguyên cây trồng” của Vavilop ông kết luận rằng: Cây chè có nguồn gốc ở Trung Quốc, nó phân bố ở phía đông, phía nam, phía đông nam men theo cao nguyên Tây Tạng
- Cây chè có nguồn gốc ở vùng Assam (Ấn Độ):
Năm 1823 R Bruce đã phát hiện được những cây chè dại lá to ở vùng Assam (Ấn Độ), từ đó các học giả người Anh cho rằng: Nguyên sản của cây chè là ở vùng Assam chứ không phải là ở Vân Nam – Trung Quốc
- Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam:
Trang 21Những công trình nghiên cứu của Djemukhatze (1961 – 1976) về những biến đổi sinh hóa của phức catechin trong lá cây chè dại và cây chè được trồng trọt, chăm sóc đã kết luận: “Nguồn gốc cây chè chính là ở Việt Nam” Tuy có sự khác nhau nhưng những quan điểm trên đều có sự thống nhất rằng: “Cây chè có nguồn gốc từ Châu Á, nơi có điều kiện khí hậu nóng ẩm” Trà hoa vàng: Cho đến nay, giới khoa học chuyên về trà của thế giới chỉ
phát hiện trà hoa vàng (tên khoa học là Camellia) ở Việt Nam và một số khu
vực hẹp thuộc vùng Nam Trung Quốc Lâm Đồng là một trong rất ít tỉnh, thành đã được các nhà chuyên môn phát hiện có loài cây quý hiếm này
Trà hoa vàng bao hàm hơn 400 thành phần hoá học, không có độc và tác dụng phụ, trong đó phải kể tới Saponin, các hợp chất phenolic, amio acid, axit folic, protein, vitamin B1, B2, C, E, axit béo Cùng rất nhiều các thành phần dinh dưỡng tự nhiên; chè Hoa Vàng có vài chục loại axitamin, rất nhiều các nguyên tố vi lượng Ge, Se, Mo, Zn, V Có tác dụng bảo vệ sức khoẻ, nâng cao sức đề kháng, ngăn ngừa bệnh tật
2.2.2 Phân loại trà Hoa Vàng
Hiện nay tên khoa học của cây chè hoa vàng được nhiều nhà khoa học
công nhận là: Camellia chrysantha (Hu) Tuyama
Cây chè nằm trong hệ thống phân loại thực vật như sau:
Bảng 2.1: Hệ thống phân loại thực vật của chè Hoa Vàng
Trang 222.3 Tình hình nghiên cứu cây Trà hoa vàng trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình nghiên cứu cây Trà hoa vàng ở thế giới
Chè Hoa Vàng thuộc chi Camellia, chi này được Linnaeus đặt tên vào
năm 1753, mang tên thầy tu dòng người Czech: Georg Joseph Kamel; người
có công đưa hạt chè từ Nhật về Châu Âu Loài chuẩn (Typus) của chi
Camellia là Camellia japonica L và hai loài được mô tả sớm nhất và cũng là
tiền đề cho việc nghiên cứu lai tạo, nhân giống là loài Camellia javanica L và
và thưa dần về phía gốc lá Hoa màu vàng, mọc ra từ đầu cành hoặc nách lá, đường kính hoa khi nở khoảng từ 3,5 – 4 cm Cuống hoa dài 5-7 cm, lá bắc 5
mm, lá đài 5,0 mm hình móng hay gần tròn, có lông ở mặt trong và mép Hoa gồm 11 - 12 cánh, gần tròn, trứng ngược hoặc bầu dục, dài 1,4 - 2,2 cm, cả hai mặt đều có lông các cánh hoa hợp với nhau và với bộ nhị 1 – 5 mm ở gốc
Bộ nhị cao 1,5 - 1,7 cm, hợp với vòng ngoài khoảng 9 mm chỉ nhị bên trong rời, có lông ở gốc Bộ nhụy gồm 3 - 4 lá noãn, 3 - 4 ô, không lông Vòi nhụy
3 hoặc 4, rời dài khoảng 2,2 cm, không lông Quả hình cầu dẹt, khía 3 rãnh, đường kính 4 cm, cao 2,3 cm; Quả có 3 ô, 3 hạt trong mỗi ô, vỏ quả dày 2
mm Hạt có dạng bán cầu hay nêm, dài 1,5 - 1,7 cm, vỏ hạt nhẵn, (Trần Ninh
và Hakoda Naotoshi (2010)[9]
Trang 23Chè Hoa Vàng (kim chè hoa) được Trung Quốc phát hiện ở Quảng Tây vào năm 1965, đến nay qua nhiều nghiên cứu họ đã lai tạo thành công giữa chè Hoa Vàng và chè Hoa đỏ
Những kiểm nghiệm dược lý đầu tiên tiến hành trên đối tượng là động vật đã cho kết quả hết sức khả quan Chè Hoa Vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của các khối u đến 33,8% trong khi y học cho rằng chỉ cần đạt đến ngưỡng 30% đã có thể xem là thành công trong điều trị ung thư Ngoài ra,
nó giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol trong máu mà nếu dùng các loại thuốc khác thì mức độ giảm chỉ là 33.2% Hơn thế, chè Hoa Vàng còn có tác dụng làm giảm tới 36.1% lượng lipoprotein trong máu, cao hơn 10% so với các liệu pháp chữa trị sử dụng Tây dược hiện nay Chè Hoa Vàng còn rất tốt cho bệnh cao huyết áp vì khả năng làm giảm và điều hòa huyết áp của nó Pha
1-2 ml tinh chất từ Camellia chrysantha trong 100 ml nước, uống như chè
hàng ngày có thể chữa được rất nhiều bệnh, có thể giúp hạ đường huyết, giảm lượng đường trong máu đối với bệnh nhân bị tiểu đường Chè Hoa Vàng cũng
có vai trò tích cực ngăn ngừa một số bệnh ung thư như ung thư tuyến bạch huyết ngay cả ở giai đoạn cuối, đem lại kết quả hết sức khả quan Bên cạnh
đó, một số bệnh về đường hô hấp, bài tiết (chứng tiểu khó và vàng), khí thũng hay co thắt dạ con ở phụ nữ đều có thể sử dụng thức uống này như một phương pháp chữa trị đơn giản lại sớm mang lại kết quả Sở dĩ chè Hoa Vàng
có nhiều công dụng như vậy là vì trong thành phần của nó có chứa các hoạt chất có lợi cho sức khỏe (hoạt chất thuộc nhóm Saponin, Polyphenon, Flavonoid), ngoài ra còn chứa nhiều nguyên tố khác như Se, Ge, Mo, Mn, V,
Zn có tác dụng trong việc bảo vệ sức khỏe, ngăn ngừa ung thư, củng cố tính đàn hồi của thành mạch, điều hòa các enzyme hoạt hóa cholesterol… (Ngô Quang Đê, 2001)[2]
Trang 24Lá chè Hoa Vàng có thể uống, điều chỉnh các chất béo trong cơ thể, lượng đường trong máu, giải độc gan và thận, theo y học Trung Quốc công
bố, chè Hoa Vàng có 9 tác dụng chính:
- Trong lá chè có những hoạt chất làm giảm tổng hàm lượng lipit trong huyết thanh máu, giảm lượng cholesterol mật độ thấp (cholesterol xấu) và tăng lượng cholesterol mật độ cao (cholesterol tốt);
- Nước sắc lá chè có tác dụng hạ huyết áp rõ ràng và tác dụng được duy trì trong thời gian tương đối dài;
- Nước sắc lá chè có tác dụng ức chế sự tụ tập của tiểu cầu, chống sự hình thành huyết khối gây tắc nghẽn mạch máu;
- Phòng ngừa ung thư và ức chế sự phát triển của các khối u khác;
- Hưng phấn thần kinh;
- Lợi tiểu mạnh;
- Giải độc gan và thận, ngăn ngừa xơ vữa động mạnh máu;
- Ức chế và tiêu diệt vi khuẩn;
Ngoài ra, lá chè còn có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và duy trì trạng thái bình thường của tuyến giáp
Trong công trình nghiên cứu “To demonstrate the medical treatment and health protection value of GOLDEN CAMELLIA”giáo sư Chen Jihui và Wu Shurong đã đưa ra các kết luận, bằng chứng chứng minh cho tác dụng chữa bệnh của chè Hoa Vàng dựa trên các thí nghiệm lâm sàng được tiến hành trong một thời gian dài Tác dụng chữa bệnh của chè Hoa Vàng đã được hơn
120 nhà khoa học của thế giới khẳng định một lần nữa tại Hội nghị quốc tế về
Camellia chrysantha được tổ chức ở Nam Ninh, Trung Quốc vào năm 1994
Ngày 21 - 23/2/2013 tại Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc đã tổ chức Hội thảo quốc tế về cây Chè Hoa Vàng Tham gia hội thảo có các đại biểu từ các nước Mỹ, Việt Nam, Australia, Đức và hầu hết các cơ sở nghiên cứu, sản
Trang 25xuất chè của Trung Quốc và sự có mặt của bà Patricia Lee Short – chủ tịch Hội chè thế giới Hội thảo, tập trung bàn về các lĩnh vực: Bảo tồn, đa dạng sinh học và phân loại; Chọn giống và nhân giống; Gây trồng, công nghệ và gia công chế biến chè Hoa Vàng Tại Hội thảo cũng chỉ rõ, Chè Hoa Vàng là thực vật chứa thành phần dinh dưỡng phong phú nhất trong tự nhiên Ngoài tác dụng là cảnh, cải thiện môi trường, nó còn giá trị dược liệu rất quý Qua các tài liệu kiểm nghiệm khoa học thì nó có chứa tới hơn 400 thành phần dinh dưỡng, nổi trội là Saponin, Tea polyphenon và các nguyên tố như selenium (Se), germannium (Ge), kẽm (Zn), vanadium (V), molypden (Mo), mangan (Mn), kalium (K) và các vitamin B1, B2, C
Tiến sĩ John Welsburger – thành viên cao cấp của tổ chức sức khoẻ Hoa
Kỳ phát biểu: “Dường như những thành phần chứa trong chè có khả năng làm giảm nguy cơ một số bệnh mãn tính như đột quỵ, truỵ tim và ung thư”
Theo một số nghiên cứu ở Hà Lan, những người uống 4 - 5 tách chè đen hàng ngày giảm 70% nguy cơ đột quỵ so với những người chỉ dùng 2 tách hoặc ít hơn Đó chính là do chất flavonoid có trong chè đen đã ngăn ngừa sự vón cục nguy hiểm của tiểu huyết cầu trong máu – nguyên nhân dẫn đến hầu hết các chứng đột quỵ và các cơn đau tim Loại chè đen nhắc đến trên đây là một thứ đã lên men trong quá trình (chế biến từ chè Hoa Vàng)
Một nghiên cứu khác ở Nhật Bản về công dụng chè (chè) cho thấy dùng chè mang lại hiệu quả gần 90% trong việc ngăn ngừa chứng sạm da – một trong những nguyên nhân dẫn đến ung thư da Đặc biệt fluoride chứa trong chè giúp men răng vững chắc và ngăn ngừa sự mục răng
Các giống trong chi Camellia có thể nhân giống bằng nhiều cách: bằng hạt, giâm cành, ghép, bó bầu và nhân giống vô tính in vitro Việc gieo hạt ít
sử dụng vì sẽ có hiện tượng phân ly ở thế hệ sau vì vậy việc gieo hạt chỉ sử dụng để làm gốc ghép là chính
Hiện nay giâm cành chè là phương pháp phổ biến trong nhân giống chè trên thế giới Giâm cành chè được nghiên cứu ở Trung Quốc từ năm 1900 và
Trang 26Ấn Độ năm 1911, Grudia năm 1928, Srilanca 1938 Việt Nam năm 1938 (ở miền Nam) bắt đầu nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất
Hiện tại 22 quốc gia có vườn bảo tồn Camellia, nổi tiếng là Huntington
Botanical Gardens, Descanso Gardens (Mỹ); Royal Botanic Gardens (Úc); Kamelien Paradies (Đức); Kurume Camellia Gardens (Nhật Bản); Camellia Culture Park (Trung Quốc) Riêng Descanso Gardens có khoảng 1.000 giống với trên 100 ngàn cây Chè đủ loại
2.3.2 Tình hình nghiên cứu cây Trà hoa vàng ở Việt Nam
Ở Việt Nam trước đây đã có một số công trình nghiên cứu về các loài trong họ Theaceae và trong chi Camellia, nhưng việc nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một số loài cây lấy lá làm dược liệu, chế biến nước giải khát còn việc nghiên cứu chi Camellia với mục đích phân loại, thống kê, bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng sinh học còn ít, chưa sâu, chưa toàn diện Trong những năm gần đây chi Camellia đã thực sự được các nhà thực vật học Việt Nam quan tâm, chú ý
- Người đầu tiên nghiên cứu chi Camellia ở Việt Nam là L Pierre, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp, sau khi nghiên cứu hệ thực vật ở một số nơi như: Biên Hoà, Hà Tây, và đầu nguồn sông Đồng Nai, năm 1887 ông đã giới thiệu một số loài của chi Camellia trong cuốn: "Flore forestiere de la cochinchine" dưới tên chi Thea như: Thea dormoyana, Thea piquetiana, Thea drupifera, Thea caudata…(Trần Ninh và cs 2010)[9]
- Vào năm 1943 nhà thực vật học Gagnepain đã nghiên cứu, hệ thống và
mô tả chi tiết 30 loài thuộc chi Camellia, nhưng khi tiến hành so sánh và đối chiếu với tài liệu của Sealy và Chang thì có một số loài có tên đồng nghĩa, nên số loài mà nhà thực vật học Gagnepain công bố chỉ còn lại 28 loài Ngoài
ra, qua các cuộc khảo sát thực vật ở các vùng khác nhau của các chuyên gia thực vật hai nước Việt Nam và Trung Quốc, một số loài mới được công bố
Trang 27như: Camellia aurea, Camellia vietnamensis, Camellia indochinensis… (Trần Ninh và cs 2010)[9]
- Từ năm 1990 đến 1998 nhiều cuộc khảo sát của các nhà nghiên cứu thuộc Viện điều tra quy hoạch rừng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Trường Đại học Lâm nghiệp Trong các bảng danh lục có đề cập đến một số loài thuộc chi Camellia mà các nhà thực vật người Pháp đã thu được ở các vùng khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam
Đỗ Đình Tiến (2000) đã thử nghiệm nhân giống bằng hom loài Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia petelotii) Kết quả cho thấy: So các chất điều tiết sinh trưởng, thuốc thương phẩm Stricker, IBA 1% và IAA 500ppm thì thuốc Stricker là có hiệu quả cao với tỷ lệ ra rễ đạt 83,3%, trong khi đó IBA và IAA thì chỉ đạt 76,6% IAA nồng độ 1000ppm và IBA nồng độ 1,5% là công thức cho tỷ lệ ra rễ cao trong các công thức thí nghiệm Mùa giâm hom thích hợp nhất cho loài Trà hoa vàng Tam Đảo là từ tháng 5 đến tháng 7 với tỷ lệ ra rễ đạt tới 90% (Đỗ Đình Tiến 2000)[11]
Đinh Thị Lê (2008) khi nghiên cứu về trà hoa vàng đã có thu được các kết quả như sau: chất ABT1 ở nồng độ 50ppm là công thức có hiệu quả cao trong công tác nhân giống loài Trà hoa vàng Ba Vì, tuy nhiên đối với Trà hoa vàng Sơn Động thì hai loại chất là IAA và NAA ở các nồng độ 50ppm, 100ppm và 200ppm đều tốt hơn các công thức còn lại và hiệu quả giâm hom vào mùa khô có hiệu quả cao hơn rõ rệt so với mùa mưa( Nguyễn Hiền 2011)[5]
Nguyễn Thu Phương (2011) khi nghiên cứu về giâm hom trà hoa vàng tam đảo đã thu được kết quả: Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng IBA nồng độ 100ppm và NAA nồng độ 100ppm cho khả năng tạo cây con từ hom cành của Trà hoa vàng Tam Đảo - Vĩnh Phúc đạt hiệu quả cao ( Nguyễn Thu Phương 2011)[10]
Trang 28Theo Ngô Quang Đê (2001), thống kê chưa đầy đủ hiện nay có khoảng
196 loài chè, chia làm 4 á chi và nhiều chủng, biến chủng ở miền Bắc có chủ yếu 26 loài chè Trong những năm gần đây nhiều người nước ngoài (Úc, Pháp, Anh, Nhật…), tới Việt Nam để nghiên cứu, tìm hiểu về các giống, đặc biệt là chè Hoa vàng Việt Nam cũng tìm thấy chè Hoa vàng vào những năm 1992 Chè hoa vàng phân bố chủ yếu ở vùng á nhiệt đới, nóng ẩm và
có mùa đông, rất thích hợp với miền Bắc và Đà Lạt, có thể trồng được trên nhiều loại đất, trong đó đất tơi xốp, thoát nước, đất chua có độ pH từ 4,5 – 5,5 là thích hợp nhất Chè hoa vàng đang là loài quý hiếm, chưa nơi nào trồng với diện tích lớn Một số loài không có nhị (bạch chè) nên không có quả Vì vậy phương pháp nhân giống chủ yếu hiện nay là nhân giống vô tính (chiết, ghép, giâm hom, cấy mô), trong đó cách giâm hom là đơn giản nhất, với tỷ lệ cây sống cao
Kỹ thuật nhân giống: chọn cây mẹ khỏe mạnh, không bị sâu bệnh, cành không mang hoa và nụ, cắt cành bánh tẻ (một phần hóa gỗ) để làm hom giống Chuẩn bị đất giâm hom: Tốt nhất là cát sông đãi bỏ sỏi và tạp chất, đem phơi khô để diệt khuẩn và hạn chế sâu bệnh Cát cho vào khay hoặc chậu, có
lỗ thoát nước dưới đáy, nếu nhiều thì có thể làm luống, cán phẳng rồi phun nước cho ẩm Dùng kéo thật sắc để cắt hom, tránh giập vỏ, mỗi hom dài từ 5 – 7 cm, tối thiểu có 3 – 4 mắt Hom cắt xong nhúng vào dung dịch kích thích
ra rễ như IBA, từ 1 – 2 giờ rồi giâm Khi cắm hom dùng que nhỏ chọc lỗ, tay kia cắm hom, cắm xong dùng ngón tay ấn chặt xung quanh gốc hom, mỗi hom cách nhau từ 2 – 3 cm, cắm xong tưới luôn nước để giữ ẩm (Ngô Quang
Đê, Lê Thanh Sơn, Đinh Thị Lê, 2008) [3]
Chăm sóc: Cần làm giàn che cho vườn giâm hom với ánh sáng khoảng
70 – 80%; nhiệt độ tốt nhất để hom ra rễ là 25 – 30oC Tưới nước bằng hệ thống phun sương để giữ ẩm Hom ra rễ được cắm vào bầu đất xếp trong giàn
Trang 29che và tưới nước mỗi ngày một, hai lần Nếu giâm hom đúng thời vụ, có giàn che tốt, thì việc chăm sóc chủ yếu là tưới nước, giữ ẩm hợp lý và tỷ lệ sống của cây con rất cao Chè là cây thường xanh, không có thời gian ngủ (ngừng sinh trưởng) rõ rệt Trong một năm có: thời kỳ sinh trưởng là mùa Xuân Hạ (từ tháng 2 – 5); thời kỳ tích lũy vật chất cho giai đoạn phát triển của nụ và quả là hạ thu (thường từ tháng 5 – 10); thời kỳ ra hoa vào cuối thu đến đầu Xuân Cây chè ở các giai đoạn phát triển đều cần được chăm sóc chu đáo Thời kỳ sinh trưởng cần nhiều đạm và kali, thời kỳ nụ và quả cần lân và kali Chè hoa cũng có thể giâm bằng lá cho ra rễ, song thời gian từ lúc ra rễ đến lúc
ra ngọn non kéo dài hơn Phổ biến vẫn là giâm cành
Các nghiên cứu về nhân giống loài trà hoa vàng cho tới nay vẫn còn hạn chế Vì vậy, với mong ước được đóng góp một phần nhỏ nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật giâm hom cho các loài cây nói chung và Trà hoa vàng nói riêng, nhân giống bằng hom cho Trà hoa vàng là một trong các loài trà quý hiếm, có rất nhiều tác dụng, đang được các nước trên thế giới đặc biệt quan tâm Hướng nghiên cứu của đề tài nhằm cung cấp thêm những thông tin, số liệu nghiên cứu về giâm hom cho loài cây quý này để làm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn nguồn gen quý Đồng thời đề tài bước đầu tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của 1 số chất điều hòa đến sinh trưởng của trà hoa vàng trong giai đoạn vườn ươm
2.3.3 Tình hình nghiên cứu ở Yên Bái
*Tình hình nghiên cứu cây Trà Hoa vàng Xã Nà Hẩu - Huyện Văn Yên - Tỉnh Yên Bái:
Tại Xã Nà Hẩu, Trà hoa vàng được tìm thấy ở trong các rừng tự nhiên nguyên sinh Là một loại trà đặc biệt quý có dược tính cao, trà hòa vàng được mệnh danh là nữ hoàng của các loài trà Các bộ phận của cây trà hoa vàng gồm: lá, búp non và hoa đều được sử dụng làm thuốc
Trang 30Theo "Camellia International Journal” - Tạp chí chuyên nghiên cứu về trà hoa vàng của thế giới, các hợp chất của trà hoa vàng có khả năng kiềm chế
sự sinh trưởng của các khối u đến 33,8%; giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol trong máu Loại trà này còn có khả năng làm giảm triệu chứng xơ vữa động mạch do máu nhiễm mỡ, điều hòa huyết áp và chữa các bệnh về tim mạch, tiểu đường, u bướu… Với những tác dụng đó, hơn 10 năm trước, nhiều thương lái Trung Quốc đã đến thu mua hoa và cây trà hoa vàng với giá cao Người dân lại không biết đích xác giá trị hay tác dụng của loại cây này nên chỉ cần có người thu mua, họ sẵn sàng vào rừng sâu để thu hái và đào cây bán cho thương lái Nếu tình trạng này tái diễn dài thì nguy cơ cao loài cây này sẽ bị khai thác cạn kiệt
Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của một
số chất điều hòa sinh trưởng (IBA, N3M, Bimax) đến khả năng nhân giống của cây Trà Hoa Vàng bằng phương pháp giâm cành
2.4 Sơ lược về giá thể đóng bầu (đất)
Tên gọi giá thể là cách gọi chung cho tất cả các hỗn hợp của các vật liệu có thể giữ nước, tạo độ thoáng cho sự phát triển của cây
Một giá thể giâm hom tốt là có độ thoáng khí tốt và duy tì được độ ẩm trong thời gian dài mà không ứ nước, tạo điệu kiện cho dễ phát triển tốt đồng thời phải sạch, không bị nhiễm nấm, không có nguồn sâu bệnh, độ pH khoảng 6-7
Đối với hầu hết cây con, cây giống, việc được ươm, gieo trong bầu đất
sẽ giúp cây dễ dàng hấp thu chất dinh dưỡng hơn, dễ di chuyển và gieo trồng Trong kỹ thuật làm bầu ươm cây giống, chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn cách xử
lý đất làm bầu ươm đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng, giúp cây dễ phát triển
và cách làm những bầu đất đúng tiêu chuẩn
Đất là thành phần không thể thiếu, trong kỹ thuật làm bầu ươm cây chọn đất tầng B: Phải thật sạch, có nhiều chất dinh dưỡng cần thiết Đất phải đạt các yêu cầu như: các hạt đất rất nhỏ, độ ẩm vừa phải, không lẫn các tạp chất
Trang 31hay sỏi đá, tính chất tơi xốp để dễ dàng trộn hỗn hợp các loại phân bón và giá thể khác.Rễ cây cũng dễ hấp thu nước và các chất dinh dưỡng từ đất hơn
Nghiên cứu về phương pháp nhân giống Trà Hoa vàng: có 3 phương pháp
1 Phương pháp nhân giống Trà Hoa vàng bằng hạt: trà hoa vàng nhân giống bằng hạt không phổ biến vì nhân giống bằng hạt phải mất 5 đến 6 năm cây mới đến độ tuổi để ra hoa, ưu điểm của nhân giống bằng hạt là cây phát triển ổn định hơn dễ nhân giống hơn
2 Phương pháp nhân giống Trà hoa vàng bằng hom: hiện nay phương pháp giâm hom là phổ biến nhất vì cây giữ nguyên được đặc tính của cây bố mẹ nên sẽ cho thu hoạch hoa ngay sau khi cây phát triển
3 Phương pháp nhân giống Trà hoa vàng nuôi cấy mô: Trà hoa vàng
là một loại cây có tốc độ sinh trưởng rất chậm và cách nhân giống duy nhất bây giờ là giâm hom chính vì vậy nguồn cung khan hiếm và giá cây giống cao.Cách đây vài tháng một người bạn có báo cho tôi biết trường đại học lâm nghiệp đang có nghiên cứu về nhân giống trà hoa vàng bằng phương pháp nuôi cấy mô và đã thành công trong đến bước tạo ra mô sẹo Khi hoàn thành có thể trong thời gian ngắn tạo ra hàng nghìn hàng vạn cây con với chi phí thấp
Các bước tiến hành giâm hom Trà Hoa vàng:
1 Hom giống: chọn cây mẹ khỏe mạnh, không bị sâu bệnh, cành không
mang hoa và nụ, cắt cành bánh tẻ (một phần hóa gỗ) để làm hom giống
2 Chuẩn bị đất giâm hom: tốt nhất là cát sông đãi bỏ sỏi và tạp chất, đem phơi khô để diệt khuẩn và hạn chế sâu bệnh Cát cho vào khay hoặc chậu, có lỗ thoát nước dưới đáy, nếu nhiều thì có thể làm luống, cán phẳng rồi phun nước cho ẩm Dùng kéo thật sắc để cắt hom, tránh giập vỏ, mỗi hom dài
từ 5 – 7 cm, tối thiểu có 3 – 4 mắt Hom cắt xong nhúng vào dung dịch kích thích ra rễ từ 1 – 2 giờ rồi giâm Khi cắm hom dùng que nhỏ chọc lỗ, tay kia cắm hom, cắm xong dùng ngón tay ấn chặt xung quanh gốc hom, mỗi hom
Trang 32cách nhau từ 2 – 3 cm, cắm xong tưới luôn nước để giữ ẩm Thời vụ cắm hom: đông xuân (tháng 1 - 2) và hè thu (tháng 7 – 8)
3 Chăm sóc: cần làm giàn che cho vườn giâm hom với ánh sáng khoảng
70 – 80%; nhiệt độ tốt nhất để hom ra rễ là 25 – 30 oC Tưới nước bằng hệ thống phun sương để giữ ẩm Hom ra rễ được cắm vào bầu đất xếp trong giàn che và tưới nước mỗi ngày một, hai lần Nếu giâm hom đúng thời vụ, có giàn che tốt, thì việc chăm sóc chủ yếu là tưới nước, giữ ẩm hợp lý và tỷ lệ sống của cây con rất cao Trà là cây thường xanh, không có thời gian ngủ (ngừng sinh trưởng) rõ rệt Trong một năm có: thời kỳ sinh trưởng là xuân hạ (từ tháng 2 – 5); thời kỳ tích lũy vật chất cho giai đoạn phát triển của nụ và quả là hạ thu (thường từ tháng
5 – 10); thời kỳ ra hoa vào cuối thu đến đầu xuân Cây trà ở các giai đoạn phát triển đều cần được chăm sóc chu đáo Thời kỳ sinh trưởng cần nhiều đạm và kali, thời kỳ nụ và quả cần lân và kali Trà hoa cũng có thể giâm bằng lá cho ra
rễ, song thời gian từ lúc ra rễ đến lúc ra ngọn non kéo dài hơn Phổ biến vẫn là giâm cành Thời gian từ lúc giâm cành tới khi cây ra hoa là khoảng 12 tháng
* Kết luận về tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Cây trà Hoa Vàng là một cây dược liệu quý có giá trị kinh tế cao, được biết và sử dụng phổ biến tại một số quốc gia như Trung Quốc và đang được thế giới quan tâm nghiên cứu và sử dụng
- Tại Việt Nam trà Hoa Vàng được phát hiện phân bố tự nhiên dưới tán rừng ở các tỉnh như Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Bắc Giang,…tuy nhiên thời gian gần đây vấn đề nghiên cứu về phân bố, nhân giống mới được quan tâm thực hiện trên một số loài trà Hoa Vàng tại Tam Đảo - Vĩnh Phúc, Ba Chẽ - Quãng Ninh Tuy nhiên kết quả nghiên cứu về nhân giống trà hoa vàng bằng phương pháp giâm hom vẫn chưa có nhiều kết quả tại các tỉnh Miền Núi đặc biệt là ở Yên bái Do vậy cần thiết nghiên cứu nhân giống trà hoa vàng tại Yên Bái làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 33PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Hom giống cây Trà Hoa Vàng thu thập tại địa phương (xã Nà Hẩu, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái)
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
Thành phần -SốCAS:133-324
-Là 1 dạng Auxin tổng hợp, thuộc nhóm dẫn xuất inđole
-C12H13NO2
-N11%,P2O53%,
K2O2.5%,B 100ppm, Cu,Zn,Mn,Fe mỗi loạI: 0,2%
Phụ gia đặc biệt 100%
-Chất hữu cơ(Acid humic đậm
đặc):21%, Nitrogen (N): 6%, Available phosphat (P2O5):8%, Soluble potassium (K2O): 6%
Công dụng -Thúc đẩy sự sinh
trưởng và phát triển của bộ rễ
-Kích thích ra rễ cực mạnh
- Đặc biệt trong giâm hom
-Kích thích ra rễ cây
ăn trái, cây công nghiệp, vườn ươm, cây kiểng
-Tưới gốc để tăng cường bộ rễ
-Nhúng cành giâm, thoa vào chỗ chiết để kích thích ra rễ
-Phun lên lá làm cây đâm tược mới, làm lớn
lá, chống rụng hoa, tăng đậu trái
-Phát triển mạnh bộ
rễ , kích thích cành chiết, cành giâm -Cải thiện mạnh nền đất
-Hồi nhanh và tái sinh hệ rễ mới
-Phun lên lá hoặc tưới quang gốc
Trang 343.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2020
Địa điểm nghiên cứu: Xã Nà Hẩu, huyện văn Yên, tỉnh Yên Bái
3.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng (IBA,N3M,Bimax) đến khả năng nhân giống của cây Trà Hoa Vàng bằng phương pháp giâm cành (cần thống nhất từ một cành)
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 35* Các bước tiến hành- Đóng bầu: bầu thí nghiệm là bầu PE kích thước
7×11cm (ruột bầu được đóng theo các công thức giá thể) xếp thành từng luống Luống được xây trong nhà giâm hom, nhà giâm hom có mái tre bằng lưới đen với độ chiếu sáng tùy theo từng thí nghiệm
- Chuẩn bị hom: Cây mẹ được chọn là những cây Trà hoa vàng sinh
trưởng tốt và không bị sâu bệnh, tránh những cây mẹ già tuổi Vì công việc chọn hom rất quan trọng nó đóng vai trò quyết định đến sự thành công của thí nghiệm nên sau khi chọn được cây mẹ tốt chúng ta tiến hành tỉa, cắt những cành gần gốc nhằm tạo chồi gốc mới làm vật liệu cho giâm hom
- Hom sử dụng cho thí nghiệm là hom được lựa chọn từ cành bánh tẻ, đồng đều, và được lấy từ các chồi mọc gần gốc hoặc chồi vượt, còn màu xanh không quá già, quá non có chiều dài cành hom 5 - 7 cm trên hom có 2 - 3 lá được cắt vát và để lại 2/3 diện tích lá Trước khi xử lý chất kích thích ra rễ cành giâm được xử lý bằng dung dịch benlat 0.15% trong 15 phút để khử nấm sau đó vớt ra để ráo và bó thành bó và xử lý chất kích thích ra rễ với các nồng
độ theo các công thức thí nghiệm Thời gian xử lý chất kích thích ra rễ là 60 phút sau đó cắm vào giá thể theo các ô thí nghiệm Các thí nghiệm sau khi được bố trí xong thì được làm vòm che phủ nilông, hàng ngày tưới phun 2 lần vào sáng sớm và chiều mát để giữ ẩm và được làm cỏ thường xuyên, 1 tháng phun thuốc trừ nấm 1 lần bằng thuốc Daconil 75WP Tiến hành đo đếm các chỉ tiêu theo dõi trên 6 cây / 1 lần nhắc lại
* Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Tỉ lệ sống (%): Đếm số hom sống trên toàn ô Theo dõi sau khi cắm
hom 15 ngày
Tỉ lệ sống (%) = ∑ số hom sống
x 100
∑ số hom thí nghiệm
Trang 36+ Tỉ lệ bật mầm (%): Sau khi cắm hom 30 ngày, tại mỗi ô lấy mẫu theo
phương pháp đường chéo 5 điểm, tại mỗi điểm lấy 6 hom để quan sát và theo dõi
Tỉ lệ bật mầm (%) = ∑ số hom bật mầm x 100
∑ số hom thí nghiệm
+ Tỉ lệ ra rễ (%): Sau khi cắm hom 30 ngày, theo dõi 30 ngày một lần
Tại mỗi ô lấy mẫu theo phương pháp đường chéo 5 điểm, tại mỗi điểm lấy 6 hom để quan sát, theo dõi
Tỉ lệ ra rễ (%) = ∑ số hom ra rễ x 100
∑ số hom thí nghiệm
+ Diện tích lá của cây hom ở mỗi công thức thí nghiệm:
Diện tích lá của cây hom = chiều dài x chiều rộng x 0,7
- Tỷ lệ hom giâm đạt tiêu chuẩn xuất vườn được tính trong tổng số các hom giâm ban đầu
+ Tỷ lệ hom đạt TCXV (%) = Số hom đạt TCXV x 100
Tổng số hom giâm (90)
Tiêu chuẩn cây xuất vườn: Cây có mầm có từ 3 lá trở lên, trong đó có ít nhất có 2 lá cứng cáp, dày, xanh Gốc chồi hoá nâu, xuất hiện chùm rễ có màu vàng nâu chiều dài từ 3 cm trở lên
3.4.1 Phương pháp xử lí số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel và SAS 9.1
Trang 37PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống của hom giâm cây Trà hoa vàng
Việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng thích hợp được đánh giá là nhân tố quan trọng nhất trong sự thành bại của công tác giâm hom Tuy nhiên, mỗi loài cây chỉ phù hợp với một loại hóa chất ở một nồng độ nhất định, thậm chí cùng loại hóa chất và nồng độ nhưng phương pháp và thời gian xử lý cũng phải khác nhau mới mang lại hiệu quả cao cho sản xuất
Chính vì vậy mà đề tài đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng khác nhau bao gồm: IBA, N3M, Bimix đều ở nồng độ 100ppm và không thêm chất điều hòa sinh trưởng cho loài Trà hoa vàng
Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của hom cây Trà Hoa Vàng của các công thức thí
nghiệm theo định kì theo dõi
Công
thức
Số hom
thí
nghiệm
Thời gian theo dõi
Số hom sống
Tỷ lệ (%)
Số hom sống
Tỷ lệ (%)
Số hom sống
Tỷ lệ (%)
Số hom sống
Tỷ lệ (%)
CT1 90 46 51,1c 42 46,7c 34 37,7b 26 28,9c CT2 90 75 83,3a 69 76,7a 62 68,9a 54 60,0a
CT3 90 64 71,1b 59 65,6b 54 60,0a 47 52,2b CT4 90 66 73,3b 61 67,8b 56 62,2a 50 55,6b
Trang 38Qua bảng 4.1 ta có thể thấy tỷ lệ hom sống cao nhất ở công thức 2 sau
30 ngày tiến hành giâm hom, tỷ lệ hom sống của các công thức đều đạt công thức sau 30 ngày giâm sau đó giảm dần Trà hoa vàng là loại cây thân bụi có khả năng sinh trưởng tốt mặc dù chưa mọc rễ nhưng cây có thể sinh trưởng trong 1 khoảng thời gian nhất định sau đó mới ngừng sinh trưởng Trà hoa vàng ở Yên Bái là cây hơi khó sống cho tỷ lệ sống của cây cụ thể:
Sau 30 ngày, tỉ lệ sống của Trà hoa vàng ở các CTTN đều cao hơn CT/ đối chứng ( không sử dụng chất ĐHST) chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%
Tỷ lệ sống của Trà hoa vàng các CTTN dao động từ 71,1-83,3% Trong
đó tỷ lệ sống của Trà hoa vàng ở CT2 là cao nhất( đạt 83,3%) và cao hơn tỉ lệ sống ở CT3 và CT4 chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%
Tỷ lệ sống của Trà hoa vàng ở CT3 với CT4 không có sự sai khác khi
so sánh Duncan
Sau 60 ngày, tỉ lệ sống của Trà hoa vàng ở các CTTN đều cao hơn CT/ đối chứng ( không sử dụng chất ĐHST) chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%
Tỷ lệ sống của Trà hoa vàng các CTTN dao động từ 65,6-76,7% Trong
đó tỷ lệ sống của Trà hoa vàng ở CT2 là cao nhất( đạt 76,7%) và cao hơn tỉ lệ sống ở CT3 và CT4 chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%
Tỷ lệ sống của Trà hoa vàng ở CT3 với CT4 không có sự sai khác khi
so sánh Duncan
Sau 90 ngày, tỉ lệ sống của Trà hoa vàng ở các CTTN đều cao hơn CT/ đối chứng ( không sử dụng chất ĐHST) chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%
Tỷ lệ sống của Trà hoa vàng các CTTN dao động từ 60-68,9% Trong
đó tỷ lệ sống của Trà hoa vàng ở CT2 là cao nhất( đạt 68,9%) và cao hơn tỉ lệ sống ở CT3 và CT4 chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%
Trang 39Tỷ lệ sống của Trà hoa vàng ở CT3 với CT4 không có sự sai khác khi
so sánh Duncan
Sau 120 ngày, tỉ lệ sống của Trà hoa vàng ở các CTTN đều cao hơn CT/ đối chứng ( không sử dụng chất ĐHST) chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%
Tỷ lệ sống của Trà hoa vàng các CTTN dao động từ 52,2-60% Trong
đó tỷ lệ sống của Trà hoa vàng ở CT2 là cao nhất( đạt 60%) và cao hơn tỉ lệ sống ở CT3 và CT4 chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%
Tỷ lệ sống của Trà hoa vàng ở CT3 với CT4 không có sự sai khác khi
Trang 40vậy nên nếu cây không có rễ thì không thể sinh trưởng và phát triển, đặc biệt trong nhân giống vô tính tỷ lệ ra rễ của hom giâm rất quan trọng vì nó thể hiện
sự thành công hay thất bại của việc nghiên cứu và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng suất vườn của cây con Qua quá trình theo dõi chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 4.2: Chỉ tiêu ra rễ của hom cây Trà Hoa Vàng của các
công thức thí nghiệm 120 ngày
CTTN
Số hom
thí nghiệm
Số hom
ra rễ (hom)
Tỷ lệ số hom ra
rễ (%)
Số rễ Tb trên hom (cái)
Chiều dài rễ
Tb (cm)
Chỉ số
ra rễ (%)