1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến sự sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương cúc bóng tại huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên

76 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU (9)
    • 1.1. Đặt vấn đề (9)
    • 1.2. Mục đích,yêu cầu (11)
      • 1.2.1. Mục đích (11)
      • 1.2.2. Yêu cầu (11)
    • 1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (11)
      • 1.3.1. Ý nghĩa khoa học (11)
      • 1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn (11)
  • PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (12)
    • 2.1. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu (12)
      • 2.1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu (12)
    • 2.2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam (13)
      • 2.2.1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới (13)
      • 2.2.3. Tình hình sản xuất đậu tương tại Thái Nguyên (19)
    • 2.3. Kết quả nghiên cứu bón phân cho đậu tương trên thế giới và Việt Nam (21)
      • 2.3.1. Kết quả nghiên cứu bón phân cho đậu tương trên thế giới (21)
      • 2.3.2. Kết quả nghiên cứu bón phân đậu tương ở Việt Nam (23)
  • PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (26)
    • 3.1. Đối tượng nghiên cứu (26)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian thực tập và nghiên cứu (26)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (26)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (26)
      • 3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm (26)
      • 3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi (27)
      • 3.4.3. Quy trình kỹ thuật (30)
      • 3.4.4. Phương pháp xử lí số liệu (31)
  • PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (32)
    • 4.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến sự sinh trưởng, phát triển của giống đậu tương Cúc bóng vụ Xuân năm 2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (32)
      • 4.1.1. Giai đoạn từ gieo đến mọc (33)
      • 4.1.2. Giai đoạn từ gieo đến phân cành (33)
      • 4.1.3. Giai đoạn từ gieo đến ra hoa tạo quả (34)
      • 4.1.4. Giai đoạn từ gieo đến chín (35)
    • 4.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến đặc điểm hình thái của giống đậu tương Cúc bóng vụ Xuân năm 2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (0)
    • 4.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến chỉ số diện tích lá và khả năng tích lũy vật chất khô của giống đậu tương Cúc bóng vụ Xuân năm 2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (37)
    • 4.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu của giống đậu tương Cúc bóng vụ Xuân năm 2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (40)
    • 4.5 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến khả năng chống chịu sâu bệnh và khả năng chống đổ của giống đậu tương Cúc bóng vụ Xuân năm 2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (42)
    • 4.6 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu tương Cúc bóng vụ Xuân năm 2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (44)
  • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (47)
    • 5.1. Kết luận (47)
    • 5.2. Đề nghị (48)
    • 6.2 Nốt sần thời kỳ hoa rộ Số lượng (0)
  • rep 3 1 2 3 (0)
  • trt 3 1 2 3 (0)
  • Model 4 32.65777778 8.16444444 27.42 0.0036 (0)
  • Error 4 1.19111111 0.29777778 (0)
  • rep 2 0.00888889 0.00444444 0.01 0.9852 (0)
  • trt 2 32.64888889 16.32444444 54.82 0.0012 (0)
  • Alpha 0.05 (0)

Nội dung

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

- Giống đậu tương Cúc bóng huyện Võ Nhai và các liều lượng phân lân.

Địa điểm và thời gian thực tập và nghiên cứu

- Địa điểm: xã Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian thực tập và nghiên cứu: vụ Xuân (từ tháng 2-5/2020).

Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến sự sinh trưởng và phát triển sinh lý của giống đậu tương Cúc bóng tại xã Bình Long, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Kết quả sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho việc tối ưu hóa quy trình canh tác đậu tương tại khu vực này.

- Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống đậu tương Cúc bóng ở các liều lượng phân lân khác nhau

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống đậu tương Cúc bóng tại xã Bình Long, huyện Võ Nhai Kết quả sẽ giúp xác định liều lượng phân lân tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất đậu tương trong khu vực.

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm:

- Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, 3 lần nhắc lại, diện tích ô là 8,5 m2 (5m x 1,7m); mặt luống rộng 1,4m, xẻ 4 hàng dọc, hàng cách hàng 0,35m, rảnh 0,3m

- Khoảng cách nhắc lại giữa các hàng là 0,3m Xung quanh thí nghiệm phải có ít nhất một luống bảo vệ

Sơ đồ bố trí thí nghiệm:

Công thức 1: Nền + 30kg P2O5 - Công thức đối chứng

Công thức nền: 5 tấn phân chuồng +30 kg N + 60 kg K2O

3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi Áp dụng theo hệ thống tiêu chuẩn QCVN 01 - 58: 2001/BNNPTNT (Quy chuẩn Việt Nam, Trung tâm Khảo nghiệm, Kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón Quốc gia QCVN 01 - 58 : 2011/BNNPTNT)

* Sinh trưởng và phát triển

- Ngày mọc: Ngày có khoảng 50% số cây trên ô mọc 2 lá mầm;

- Ngày có 3 lá: Ngày có khoảng 50% số cây xòe 3 lá kép;

- Ngày ra hoa: Ngày có khoảng 50% số cây trên ô ra hoa đầu tiên;

- Ngày chắc xanh: Ngày có 50% số cây có 1 quả đạt kích thước tối đa nằm ở một trong 4 đốt trên cùng của thân chính;

- Ngày chín: Ngày có 95% số quả chín khô/ô;

Chiều cao cây được đo từ đốt của lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính tại thời điểm thu hoạch Để đảm bảo tính chính xác, chọn 10 cây mẫu trong mỗi ô, lấy 5 cây liên tục từ 2 hàng giữa luống, loại trừ 5 cây đầu hàng.

- Số cành cấp 1: Đếm số cành mọc ra từ thân chính của 10 cây mẫu;

- Số đốt trên thân: Đếm số đốt trên thân chính của 10 cây mẫu

* Một số đặc tính sinh lý

Chỉ số diện tích lá (CSDTL) được tính bằng mét vuông lá trên mét vuông đất, được xác định dựa trên ba cây ngẫu nhiên trong hàng giữa ô Việc đo lường được thực hiện theo phương pháp cân nhanh tại hai thời kỳ quan trọng: ra hoa rộ và chắc xanh.

CSDTL (m 2 lá/m 2 đất) = PB x Mật độ (cây/m 2 )

PAx 100 x 3 Trong đó: PA: Khối lượng 1 dm 2 lá

PB: Khối lượng toàn bộ số lá

Khả năng tích lũy vật chất khô (g/cây) được xác định ở thời kỳ ra hoa rộ và thời kỳ chắc xanh, với tỷ lệ tích lũy chất khô (%) cũng được tính toán Để xác định khả năng TLCK, mẫu chỉ số diện tích lá được sử dụng, bao gồm toàn bộ các bộ phận trên mặt đất Mẫu này được cân xác định khối lượng tươi, sau đó được sấy ở nhiệt độ 76°C trong 48-60 giờ cho đến khi đạt trọng lượng không đổi, từ đó khả năng TLCK được tính toán chính xác.

Khả năng TLCK (g/cây) = Khối lượng sau sấy

Khả năng cố định nitơ (N) được đánh giá thông qua việc đếm số lượng nốt sần (SLNS) và cân khối lượng nốt sần hữu hiệu trên mỗi cây (KLNS) trong giai đoạn chắc xanh Số lượng và khối lượng nốt sần hữu hiệu được ghi nhận từ cùng một mẫu nhằm xác định khả năng tổng hợp nitơ của cây.

* Mức độ nhiễm sâu bệnh hại chính

Sâu cuốn lá (Lamprosema indicata) là một loại sâu hại quan trọng, với tỷ lệ lá bị hại được tính bằng số lá bị cuốn chia cho tổng số lá được điều tra Để đánh giá mức độ thiệt hại, cần tiến hành điều tra ít nhất 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc.

Sâu đục quả (Eitiella zinekenalla) gây hại cho cây trồng, với tỷ lệ quả bị hại được tính bằng số quả bị hại chia cho tổng số quả được điều tra Để có kết quả chính xác, cần tiến hành điều tra ít nhất 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc.

* Tính tách quả và tính chống đổ:

Tính chống đổ được đánh giá ở thời kỳ chín theo thang điểm từ 1-5 Điểm 1 cho thấy không có cây nào bị đổ (hầu hết các cây đều đứng thẳng), trong khi điểm 2 chỉ ra rằng có dưới 25% số cây bị đổ rạp Điểm 3 thể hiện tình trạng trung bình, với từ 25% đến 50% số cây bị đổ rạp, trong đó các cây khác có dấu hiệu nghiêng.

≥45%) Điểm 4: Nặng (51-75% số cây bị đổ rạp) Điểm 5: Rất nặng (>75% số cây bị đổ rạp)

* Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

- Số cây thực thu/ô: Đếm số cây thực tế mỗi ô thí nghiệm khi thu hoạch

- Số quả/cây: Đếm tổng số quả trên 10 cây mẫu/ô, tính trung bình

- Số quả chắc/cây: Đếm số quả chắc trên 10 cây mẫu/ô, tính trung bình

- Số quả 1 hạt/cây: Đếm số quả có 1 hạt trên 10 cây mẫu/ô, tính trung bình

- Số quả 2 hạt/cây: Đếm số quả có 2 hạt trên 10 cây mẫu/ô, tính trung bình

- Số quả 3 hạt/cây: Đếm số quả có 3 hạt trên 10 cây mẫu/ô, tính trung bình

- Khối lượng 1000 hạt (P1000): Lấy ngẫu nhiên 3 mẫu 1000 hạt(độ ẩm 12%) cân khối lượng tính giá trị trung bình

- Năng suất lý thuyết (NSLT): Theo công thức

NSLT (tạ/ha) = Mật độ (cây/m 2 ) x Số quả chắc/cây x Số hạt/quả x P1000 (g)

Năng suất thực thu (NSTT) được xác định bằng cách thu hoạch riêng từng ô và đập để lấy hạt khô sạch Sau đó, cần cân khối lượng hạt, bao gồm cả hạt của 10 cây mẫu, và tính toán năng suất hạt theo đơn vị tạ/ha.

- Thời vụ gieo: vụ Xuân (gieo ngày 27/02/2020)

- Phân bón: bón theo từng công thức

+ Bón thúc khi cây có 4-5 lá thật: 50%N + 50%K2O

+ Dặm tỉa cây đảm bảo số cây trên đơn vị diện tích, đảm bảo mật độ khi cây có 1 lá thật

Vun xới và làm cỏ là các biện pháp quan trọng nhằm tiêu diệt cỏ dại, tạo điều kiện thuận lợi cho rễ cây và vi sinh vật phát triển Việc vun xới cần được thực hiện dựa trên các giai đoạn phát triển của cây đậu tương để đạt hiệu quả tối ưu.

+ Thời kỳ nảy mầm: nếu gặp mưa thì phá váng nhẹ

+ Thời kì cây con: khi cây có 3-5 lá kép, tiến hành xới lần 1 kết hợp làm cỏ, bón thúc nốt số phân còn lại

+ Xới đợt 2 sau lần 1 khoảng 10-15 ngày lúc cây có 5-6 lá kép

Để đậu tương mọc được, điều tiết nước và độ ẩm đất khi gieo cần đạt 50% Trong quá trình sinh trưởng, nếu gặp hạn, cần tưới bổ sung vào những giai đoạn quan trọng như lúc ra hoa và phát triển hạt.

+ Phòng trừ sâu bệnh: thường xuyên theo dõi, kịp thời phát hiện sâu bệnh để có biện pháp phòng trừ cần thiết

- Thu hoạch: Khi có khoảng 95% số quả trên cây đã chín (vỏ quả có màu nâu hoặc đen)

3.4.4 Phương pháp xử lí số liệu:

- Đánh dấu các cây trên ô để theo dõi thu thập số liệu rồi lấy số trung bình của các lần nhắc lại

- Các số liệu được xử lí trên EXCEL VÀ SAS

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến sự sinh trưởng, phát triển của giống đậu tương Cúc bóng vụ Xuân năm 2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Cây trồng, đặc biệt là cây đậu tương, cần trải qua quá trình sinh trưởng và phát triển để hoàn thành chu kỳ sống Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc của tế bào và mô, dẫn đến tăng số lượng, kích thước và thể tích sinh khối Trong khi đó, phát triển là quá trình biến đổi chất bên trong tế bào và mô, dẫn đến thay đổi về hình thái và chức năng Hai quá trình này có mối quan hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau Mỗi cây trồng cần một khoảng thời gian nhất định để sinh trưởng và phát triển, và đối với cây đậu tương, thời gian này được chia thành hai giai đoạn: sinh trưởng sinh dưỡng (từ khi gieo đến khi ra hoa) và sinh trưởng sinh thực (từ ra hoa đến chín).

Giai đoạn này chịu ảnh hưởng không chỉ bởi đặc điểm của giống cây mà còn bởi nhiều yếu tố khác như điều kiện môi trường, chế độ chăm sóc, thời vụ, loại phân bón và các biện pháp kỹ thuật áp dụng.

Kết quả theo dõi thời gian sinh trưởng của giống đậu tương Cúc bóng ở các công thức phân lân bón được thể hiện qua bảng 4.1

Bảng 4.1: Kết quả theo dõi thời gian sinh trưởng của giống đậu tương

Công thức Thời gian từ gieo (ngày)

Mọc Phân cành Hoa rộ Chắc xanh Chín

4.1.1.Giai đoạn từ gieo đến mọc Đây là thời kỳ hạt chuyển từ trạng thái ngủ nghỉ sang trạng thái sống để tạo cơ thể mới được tính từ khi hạt hút nước trương lên đến khi mầm mọc lên khỏi mặt đất, xoè hai lá tử diệp Thời kỳ này khi nhô lên khỏi mặt đất lá diệp tử đã bắt đầu quang hợp Song vật chất quang hợp được là không đáng kể, sinh trưởng của cây chủ yếu dựa vào chất dinh dưỡng trong hạt Đây là thời kỳ có ý nghĩa rất quan trọng đến sự tồn tại và sức sống của cây Tỷ lệ nảy mầm của hạt quyết định đến mật độ cây/đơn vị diện tích, sức nảy mầm, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của đậu tương sau này Hạt nảy mầm nhanh và đều, cây con sinh trưởng khỏe thì khả năng chống chịu tốt, có thể cho năng suất cao Nếu hạt nảy mầm chậm, cây con yếu, sức sinh trưởng kém ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng, phát triển về sau

Theo bảng 4.1, thời gian từ gieo đến mọc của các công thức dao động từ 6 đến 7 ngày, với công thức 3 có thời gian mọc chậm hơn 1 ngày so với các công thức khác.

Sự chênh lệch về thời gian từ gieo đến nảy mầm của các công thức phân bón tham gia thí nghiệm không lớn.

4.1.2.Giai đoạn từ gieo đến phân cành

Giai đoạn phân cành bắt đầu khi cây đậu tương có lá kép và kéo dài đến khi cây bắt đầu phân cành, được gọi là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng Trong giai đoạn đầu, cây con phát triển chậm trong khi bộ rễ lại phát triển nhanh chóng cả về chiều sâu lẫn chiều ngang, hình thành các nốt sần trên rễ để bắt đầu hoạt động cố định đạm Đây là thời kỳ quan trọng quyết định sự phát triển của cây, giúp cây có thân to, mập, đốt ngắn, rễ ăn sâu và nhiều mầm hoa Do đó, cần chú trọng bón phân đầy đủ và cân đối, cũng như xới xáo sớm để tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành của nốt sần.

Thời gian gieo đến khi phân cành của các công thức trong bảng 4.1 dao động từ 26 đến 27 ngày, với công thức 1 có thời gian phân cành ngắn nhất là 26 ngày, trong khi các công thức khác là 27 ngày Đánh giá khả năng phân cành của giống là cần thiết để áp dụng các biện pháp kỹ thuật kịp thời và tối ưu như mật độ trồng, tỉa định cây, vun xới và chăm sóc, nhằm phân hóa mầm hoa tốt hơn, tránh sinh trưởng dinh dưỡng quá mạnh và tạo tiền đề cho quá trình ra hoa kết quả, từ đó đạt năng suất cao.

4.1.3.Giai đoạn từ gieo đến ra hoa tạo quả Đây là giai đoạn cây bước vào thời kì sinh trưởng sinh thực là giai đoạn quan trọng nhất trong chu kì sinh trưởng của cây quyết định đến năng suất đậu tương sau này Thời kì nở hoa của đậu tương thường kéo dài hơn các cây trồng khác, trung bình từ 3 – 4 tuần Thời gian nở kéo dài là đặc tính có lợicho cây đậu tương vì khi nở hoa gặp điều kiện không thuận lợi làm rụng hoa thì những đợt hoa sau có thể bổ xung làm giảm khả năng mất mùa của đậu tương Thời kì này rất mẫm cảm với điều kiện thời tiết, khí hậu bất thuận: mưa to, gió lớn, khô, nóng Mặc dù số lượng hoa của mỗi cây rất nhiều nhưng số hoa được thụ phấn và tạo quả rất ít

Qua bảng số liệu 4.1 thấy, thời gian hoa rộ của đậu tương dao động từ 36 – 37 ngày, công thức 2 và công thức 3 ra hoa muộn hơn công thức 1 là

Quá trình hình thành quả và hạt diễn ra song song với quá trình ra hoa, bắt đầu từ khi hoa nở và kéo dài khoảng 5-7 ngày để quả hình thành Ban đầu, quả và hạt phát triển chậm, nhưng tốc độ tăng trưởng của quả nhanh chóng gia tăng ngay sau khi hoa tàn Đồng thời, tốc độ tích lũy chất khô của hạt cũng tăng đều cho đến khi hạt đạt độ chắc Thời kỳ quả mẩy là giai đoạn quan trọng quyết định năng suất, vì vậy cần đảm bảo cung cấp đủ độ ẩm cho đậu tương trong giai đoạn này.

Theo bảng số liệu 4.1, thời gian từ gieo đến chắc xanh của các công thức thí nghiệm dao động từ 62 đến 64 ngày Trong đó, công thức 1 có thời gian chắc xanh sớm hơn công thức 2 và công thức 3 lần lượt là 1 ngày và 2 ngày.

4.1.4.Giai đoạn từ gieo đến chín

Giai đoạn chín của cây diễn ra ngắn hơn so với các giai đoạn khác và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố môi trường Thời gian sinh trưởng được xác định từ khi gieo hạt cho đến khi khoảng 95% số quả trên cây chín Trong giai đoạn này, quá trình sinh trưởng sinh dưỡng gần như ngừng lại, và các chất đồng hóa được vận chuyển tích cực vào hạt Khi quả đạt kích thước tối đa và đã chín, cây ngừng sinh trưởng Hạt trở nên rắn chắc và đạt độ chín sinh lý, vỏ hạt có màu sắc đặc trưng của giống, trong khi vỏ quả chuyển sang màu vàng và lá cây bắt đầu úa và rụng Lúc này, trong hạt diễn ra quá trình chuyển hóa mạnh mẽ.

Theo bảng 4.1, thời gian sinh trưởng của các công thức dao động từ 81 đến 83 ngày Cụ thể, công thức 1 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất là 79 ngày, trong khi công thức 2 và công thức 3 kéo dài thêm 2 ngày so với công thức 1.

Qua kết quả trên cho thấy sử dụng liều lượng phân bón khác nhau đã ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng và phát triển của đậu tương

4.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân bón đến đặc điểm hình thái của giống đậu tương Cúc bóng vụ Xuân năm 2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Chiều cao cây, số cành cấp 1 và số đốt/thân chính là các chỉ tiêu hình thái quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khả năng tích luỹ vật chất khô và năng suất của cây đậu tương Những chỉ tiêu này phản ánh mức độ sinh trưởng và khả năng thích nghi của từng giống trong các điều kiện cụ thể.

Dựa vào đặc điểm hình thái của cây, chúng ta có thể đánh giá khả năng sinh trưởng của giống cây đó và ước đoán khả năng cho năng suất hạt.

Bảng 4.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân bón đến đặc điểm hình thái của giống đậu tương Cúc bóng

Công thức Chiều cao cây

Số đốt trên thân chính (đốt)

Số cành cấp 1 trên cây (cành)

Chiều cao cây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh quá trình sinh trưởng của cây, phụ thuộc vào bản chất di truyền của giống và các yếu tố ngoại cảnh như chế độ nhiệt, nước, ánh sáng và dinh dưỡng Trong thí nghiệm, các yếu tố ngoại cảnh và giống được giữ cố định, vì vậy sự khác biệt về chiều cao cây chủ yếu do ảnh hưởng của liều lượng phân bón Kết quả cho thấy, lượng phân lân trong các công thức thí nghiệm tỉ lệ thuận với chiều cao của giống đậu tương Cúc bóng.

Chiều cao cây đậu tương Cúc bóng dao động từ 43,93 đến 47,27 cm, trong đó công thức 3 đạt chiều cao cao nhất là 47,27 cm Chiều cao này tương đương với công thức 2 và vượt trội hơn so với các công thức còn lại, đặc biệt là công thức 1, với mức độ tin cậy 95%.

4.2.2 Số đốt trên thân chính

Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến chỉ số diện tích lá và khả năng tích lũy vật chất khô của giống đậu tương Cúc bóng vụ Xuân năm 2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Diện tích lá và khả năng tích lũy vật chất khô là hai chỉ tiêu sinh lý quan trọng, phản ánh khả năng sinh trưởng của giống cây và ảnh hưởng lớn đến năng suất hạt Lá đậu tương đóng vai trò chính trong quá trình quang hợp, là nền tảng tạo ra vật chất khô cho cây Đáng chú ý, 90-95% vật chất khô của cây trồng được sản xuất thông qua quá trình quang hợp.

Theo nghiên cứu của Canery (1953), 85% vật chất khô trong hạt được chuyển từ lá, trong khi 15% còn lại đến từ rễ và thân Diện tích lá và chỉ số diện tích lá (CSDTL) có mối tương quan tỷ lệ thuận; khi diện tích lá tăng, chỉ số diện tích lá cũng sẽ tăng theo và ngược lại.

Sự tích lũy chất khô của cây trồng phụ thuộc vào diện tích lá, hiệu suất quang hợp và khả năng hấp thu dinh dưỡng, là yếu tố quyết định năng suất cây trồng Khối lượng chất khô tích lũy thể hiện khả năng sinh trưởng và tiềm năng năng suất của cây Để đánh giá tiềm năng năng suất của từng công thức thí nghiệm, chúng tôi đã nghiên cứu chỉ số diện tích lá và khả năng tích lũy vật chất khô trong giai đoạn hoa rộ và chắc xanh, với dữ liệu thu thập từ bảng số liệu 4.3 và 4.4.

Bảng 4.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến chỉ số diện tích lá của giống đậu tương Cúc bóng

Công thức Chỉ số diện tích lá (m 2 lá/m 2 đất)

Thời kỳ hoa rộ Thời kỳ chắc xanh

Theo bảng 4.3, chỉ số diện tích lá (CSDTL) của các công thức thí nghiệm đều tăng qua các thời kỳ sinh trưởng, đạt cao nhất vào thời kỳ chắc xanh Trong thời kỳ hoa rộ, CSDTL của các công thức đậu tương dao động từ 2,35 đến 2,78 m² lá/m² đất, trong đó công thức 2 có CSDTL tương đương với công thức 3 và cao hơn công thức 1 với mức độ tin cậy 95% Ở thời kỳ chắc xanh, CSDTL dao động từ 2,93 đến 3,19 m² lá/m² đất.

2 có CSDTL cao nhất đạt 3,19m 2 lá/m 2 đất cao hơn 2 công thức còn lại từ 0,1 – 0,43 m 2 lá/m 2 đất

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến khả năng tích lũy vật chất khô của giống đậu tương Cúc bóng Chỉ tiêu

Thời kỳ hoa rộ Thời kỳ chắc xanh Khối lượng

Khả năng tích lũy vật chất khô (KNTLVCK) của các công thức thí nghiệm tăng dần qua các giai đoạn sinh trưởng, đạt đỉnh cao nhất trong giai đoạn chắc xanh, đặc biệt là vào thời kỳ hoa rộ.

Khả năng tích lũy vật chất khô của các công thức dao động từ 8,80 đến 9,50g/cây, trong đó công thức 2 có khả năng tương đương với công thức 3 và cao hơn các công thức khác Tỷ lệ chất khô của các công thức nằm trong khoảng 23,94% đến 25,10%, với công thức 2 đạt 25,10%, tương đương công thức 3 và cao hơn công thức 1, trong khi công thức 1 có tỷ lệ chất khô thấp nhất chỉ đạt 23,94%.

Khả năng tích lũy vật chất khô của các công thức tăng nhanh, dao động từ 22,79 đến 24,50 g/cây Trong số đó, công thức 2 đạt KNTLVCK cao nhất với 24,50 g/cây, vượt trội hơn so với các công thức khác Công thức 3 có KNTLVCK tương đương với công thức 2, trong khi công thức 1 ghi nhận KNTLVCK thấp nhất.

Tại thời điểm này, tỷ lệ chất khô dao động từ 28,79% đến 31,00% Công thức 2 có tỷ lệ chất khô cao nhất đạt 31,00%, tiếp theo là công thức 3 với 30,24%, trong khi công thức 1 chỉ đạt 28,79%, là mức thấp nhất.

Kết quả cho thấy chỉ số diện tích lá và khả năng tích lũy vật chất khô có mối tương quan chặt chẽ Cụ thể, công thức 2 với chỉ số diện tích lá lớn nhất cũng đạt khả năng tích lũy vật chất khô cao nhất.

Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu của giống đậu tương Cúc bóng vụ Xuân năm 2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Nốt sần ở rễ cây đậu tương được hình thành nhờ sự cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium japonicum, có khả năng cố định nitơ trong không khí thành đạm dễ tiêu Nốt sần xuất hiện khoảng 3 tuần sau khi gieo, thường tập trung ở tầng đất mặt từ 0 – 20cm và độ sâu 20 – 30cm Có hai loại nốt sần: hữu hiệu và vô hiệu Nốt sần hữu hiệu lớn hơn, nằm trên rễ chính và rễ ngang, chứa dịch màu hồng do leghemoglobin, giúp cung cấp oxy cho mô nốt sần Ngược lại, nốt sần vô hiệu nhỏ hơn và có dịch màu đen.

Nốt sần cây họ đậu đóng vai trò quan trọng trong việc chọn tạo giống, và là một chỉ tiêu cần chú ý Nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá ảnh hưởng của các liều lượng phân lân đến khả năng hình thành và phát triển nốt sần Số lượng và khối lượng nốt sần của giống đậu tương Cúc bóng được khảo sát vào hai thời kỳ: hoa rộ và thời kỳ chắc xanh, với kết quả được trình bày trong bảng số liệu.

Bảng 4.5 trình bày ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu của giống đậu tương Cúc bóng trong hai giai đoạn: thời kỳ hoa rộ và thời kỳ chắc xanh.

Theo bảng số liệu 4.5, việc sử dụng các liều lượng phân lân khác nhau trong cùng một giống cây đã dẫn đến sự khác biệt về số lượng và khối lượng nốt sần Cụ thể, khi liều lượng phân lân được tăng lên, số lượng nốt sần cũng tăng theo.

Số lượng nốt sần hữu hiệu trên cây tăng nhanh, dao động từ 6,07 đến 9,00 cái/cây Đặc biệt, công thức 3 đạt số lượng nốt sần hữu hiệu cao nhất với 9,00 cái/cây, vượt trội hơn so với các công thức khác từ 0,87 đến 2,93 cái/cây.

Khối lượng nốt sần dao động từ 0,52-0,80 g/cây, với công thức 2 và công thức 3 có khối lượng nốt sần hữu hiệu tương đương nhau, cao hơn công thức 1 từ 0,23-0,28 g/cây.

Số lượng nốt sần hữu hiệu trên cây tăng nhanh, dao động từ 18,67 đến 23,13 cái/cây Trong đó, công thức 2 và công thức 3 có số lượng nốt sần tương đương nhau và cao hơn so với công thức 1.

Khối lượng nốt sần ở kỳ này dao động từ 1,63-1,82 g/cây, với công thức 2 và công thức 3 đạt khối lượng nốt sần hữu hiệu lần lượt là 1,79 g/cây và 1,82 g/cây, cao hơn so với công thức 1.

Kết quả cho thấy, các liều lượng phân lân khác nhau đã tác động đến sự hình thành nốt sần hữu hiệu của giống đậu tương Cúc bóng một cách khác nhau.

Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến khả năng chống chịu sâu bệnh và khả năng chống đổ của giống đậu tương Cúc bóng vụ Xuân năm 2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng đậu tương Sự biến đổi này có thể dẫn đến sự gia tăng hoặc giảm sút đáng kể trong sản lượng.

Trong thí nghiệm vụ Xuân năm 2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi đã theo dõi sự xuất hiện của sâu bệnh hại, chủ yếu là sâu cuốn lá, do thời tiết thuận lợi cho sự phát triển của chúng Kết quả theo dõi cho thấy sâu cuốn lá là loại sâu bệnh phát triển mạnh nhất trong vụ này.

Bảng 4.6 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến khả năng chống chịu sâu bệnh và khả năng chống đổ của giống đậu tương Cúc bóng

Công thức Sâu cuốn lá

Sâu đục quả (% quả bị hại)

Khả năng chống đổ ( điểm 1-5)

* Ghi chú các mức độ đổ của cây: Điểm 1: Không đổ (Hầu hết các cây đều đứng thẳng); điểm 2: Nhẹ (75% số cây bị đổ rạp)

Sâu cuốn lá (Lamprosema Indicata) xuất hiện khi cây đã có lá thật, và phát triển mạnh nhất trong giai đoạn ra hoa đến khi quả bắt đầu chín, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của cây.

Sâu cuốn lá gây thiệt hại nghiêm trọng cho cây trồng, dẫn đến hiện tượng cây còi cọc, rụng hoa sớm và năng suất quả thấp Sâu non gặm biểu bì lá ở mặt dưới, sau đó nhả tơ cuốn gập lá lại, ăn chất xanh bên trong Sự phá hoại này làm giảm diện tích quang hợp, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng Vòng đời của sâu cuốn lá kéo dài từ 24,4-28,7 ngày, và ở nhiệt độ thấp, vòng đời này càng dài hơn Sâu non gây hại chủ yếu khi cây có 3-6 lá kép và khi ra quả Đặc biệt, cây gieo muộn thường bị hại nặng hơn so với cây gieo sớm, và hiện tại chưa có giống đậu tương kháng sâu cuốn lá.

Theo kết quả theo dõi, mức độ hại của sâu cuốn lá ở các công thức tương đương nhau đạt độ tin cậy 95%, dao động từ 4,47% đến 5,58% Trong đó, công thức 1 có mức độ hại cao nhất là 5,58%, vượt trội hơn so với các công thức khác từ 0,76% đến 0,83%.

Sâu đục quả (Etiella Zincknella) là một loại sâu hại phổ biến, gây thiệt hại lớn cho các vùng trồng đậu tương trên toàn quốc Loài sâu này tấn công từ khi quả hình thành cho đến khi thu hoạch, đục vỏ quả và chui vào bên trong để ăn hạt, dẫn đến hiện tượng khuyết hạt và giảm năng suất thu hoạch.

Tỷ lệ quả bị hại của cây đậu tương Cúc bóng trong các thí nghiệm dao động từ 3,48% đến 4,81% Trong đó, công thức có mức độ sâu đục quả cao nhất đạt 4,81%, trong khi công thức thấp nhất ghi nhận tỷ lệ hại thấp hơn.

Khả năng chống đổ là tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn giống đậu tương Giống đậu tương có khả năng chống đổ tốt thường có hiệu suất quang hợp cao, đồng thời ít bị ảnh hưởng bởi sâu bệnh.

Cây có tiềm năng năng suất cao thường cho kết quả tốt trong quá trình quang hợp, trong khi cây bị đổ sẽ gặp khó khăn trong việc này, dẫn đến khả năng nhiễm sâu bệnh cao hơn, tỷ lệ đậu quả thấp và tỷ lệ quả lép tăng, cuối cùng làm giảm năng suất.

Khả năng chống đổ của cây phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm chiều cao cây, đường kính thân và đặc tính di truyền của giống Những giống cây cao với đường kính thân nhỏ thường dễ bị đổ hơn so với các giống cây thấp và có đường kính thân lớn Ngoài ra, khả năng chống đổ còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh như độ ẩm, ánh sáng, gió bão và chế độ dinh dưỡng.

Cây đậu tương Cúc bóng thể hiện khả năng chống đổ tốt, với tất cả ba công thức đều được đánh giá ở điểm 1 theo bảng số liệu 4.6.

Theo quan sát, liều lượng phân lân có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với mức độ sâu hại và khả năng chống đổ của các công thức bón lân, cho thấy hiệu quả tích cực trong việc cải thiện sức khỏe cây trồng.

Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu tương Cúc bóng vụ Xuân năm 2020 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

Năng suất là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá công thức phân bón mới trước khi sản xuất, được xem xét qua năng suất lý thuyết và thực thu Khả năng hình thành quả và hạt của giống đậu tương là yếu tố kinh tế tổng hợp quan trọng, phản ánh quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Chỉ tiêu năng suất hạt đậu tương phụ thuộc vào nhiều yếu tố như số lượng quả chắc, quả một hạt, hai hạt, ba hạt, trọng lượng hạt và khối lượng 1000 hạt Sự hình thành quả và hạt chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố ngoại cảnh, trong đó lượng dinh dưỡng cung cấp đóng vai trò quyết định, cùng với các biện pháp kỹ thuật canh tác.

37 động và giống có khả năng điều chỉnh các yếu tố cấu thành năng suất, góp phần tạo ra sự cân bằng tích cực cho sự phát triển năng suất của đậu tương.

Nghiên cứu của chúng tôi về ảnh hưởng của các liều lượng phân lân khác nhau đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đậu tương đã cho thấy kết quả đáng chú ý, được trình bày chi tiết trong bảng 4.7.

Bảng 4.7 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu tương Cúc

Số quả chắc/cây (quả)

Số hạt chắc/quả (hạt)

Năng suất lý thuyết (tạ/ha)

Năng suất thực thu (tạ/ha)

 Tổng số quả chắc trên cây:

Tổng số quả chắc trên cây là yếu tố quyết định năng suất cây trồng và quần thể Yếu tố này phụ thuộc vào khả năng tích lũy chất khô và vận chuyển vật chất về hạt trong giai đoạn quả mẩy Những giống cây có tỷ lệ quả chắc cao thường có tiềm năng năng suất lớn Việc bón phân lân với liều lượng cao sẽ làm tăng số lượng quả chắc trên cây.

Qua bảng 4.7 cho thấy: Tổng số quả chắc trên cây đậu tương của các công thức dao động từ 25,90 – 27,0000 quả/cây Trong đó công thức 3 có số

38 quả chắc trên cây là 27,00 quả/cây, tương đương với công thức 2 và cao hơn công thức 1, chắc chắn ở mức tin cậy 95%

 Số hạt chắc trên quả:

Chỉ tiêu này phụ thuộc vào số lượng quả 1 hạt, 2 hạt, 3 hạt trên cây đậu tương và cũng bị phụ thuộc nhiều vào tính chất của giống

Theo bảng số liệu 4.7, số hạt chắc trên quả của các công thức thí nghiệm dao động từ 2,09 đến 2,14 hạt/quả Trong đó, công thức 2 ghi nhận số hạt chắc cao nhất với 2,14 hạt/quả, trong khi công thức 1 có số hạt chắc tương đương với công thức 3.

Khối lượng 1000 hạt là chỉ tiêu quan trọng phản ánh đặc tính di truyền của giống cây, ít bị ảnh hưởng bởi điều kiện ngoại cảnh Độ lớn của hạt quyết định khối lượng này; giống có hạt to sẽ có khối lượng 1000 hạt cao, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất.

Theo bảng số liệu 4.7, khối lượng 1000 hạt của cây đậu tương Cúc bóng ở các công thức dao động từ 125,11 đến 129,67 gam Trong đó, công thức 2 có khối lượng 1000 hạt cao nhất, đạt 129,67 gam, trong khi công thức 1 có khối lượng 1000 hạt thấp nhất.

Năng suất lý thuyết phản ánh tiềm năng năng suất của giống cây trồng trong điều kiện canh tác cụ thể Mức độ cao hay thấp của năng suất lý thuyết phụ thuộc vào các yếu tố như số quả chắc trên cây, số hạt chắc trên quả, khối lượng 1000 hạt và mật độ gieo trồng.

Theo bảng số liệu 4.7, năng suất lý thuyết của cây đậu tương Cúc bóng ở các công thức dao động từ 20,35 đến 21,90 tạ/ha, với công thức 2 đạt năng suất cao nhất là 21,90 tạ/ha, vượt trội hơn so với các công thức khác.

Công thức 3 có năng suất lý thuyếtđạt 21,60 tạ/ha Năng suất lý thuyết của cây Đậu tương Cúc bóng tại công thức 1 là thấp nhất chỉ đạt 20,35 tạ/ha

Năng suất thực thu là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả của giống cây trồng và biện pháp kỹ thuật trong canh tác Nó phản ánh năng suất thực tế trên đồng ruộng và giúp xác định khả năng thích ứng của giống với điều kiện sinh thái cụ thể Mục tiêu cao nhất trong nghiên cứu giống và kỹ thuật canh tác là nâng cao năng suất thực thu.

Theo bảng số liệu 4.7, năng suất thực thu của cây đậu tương cúc bóng dao động từ 17,94 đến 18,81 tạ/ha Trong đó, công thức 2 đạt năng suất cao nhất với 18,81 tạ/ha, vượt trội so với các công thức khác Ngược lại, công thức 1 ghi nhận năng suất thấp nhất chỉ đạt 17,94 tạ/ha.

Ngày đăng: 03/06/2021, 16:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w