Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất về môi trường và phát triển NCED được tổ chức tại Rio de Janeino Brazil - 1992 và hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tại Johannesburg CH Nam Phi - 2002 đ
Trang 1I MỞ ĐẦU
Hiện nay, môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế - xã hội không ngừng có những biến đổi sâu sắc và đang có sự tác động mạnh mẽ tới cuộc sống của con người Hàng loạt các sự cố về môi trường đã và đang xảy ra như: hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ôzôn, sự suy giảm tài nguyên rừng và tính đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí… Ở một vài nơi, môi trường xã hội cũng đang bị xuống cấp, khi
mà chiến tranh, xung đột và khủng bố đang đe dọa nền hòa bình Vì vậy, phát triển bền vững (PTBV) chính là mục tiêu mà chúng ta cần phải đạt tới để vừa đảm bảo được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của thế
hệ tương lai
Tại hội nghị Thượng đỉnh về môi trường và phát triển năm 1992 ở Rio de Janeiro, các nhà lãnh đạo thế giới đã khẳng định: PTBV là mục tiêu tối cao của thế giới hiện đại Thế giới toàn cầu sẽ không có tương lai nếu không PTBV…
Tuy nhiên, PTBV chỉ có thể đạt được nếu như chúng ta tiến hành đổi mới một cách toàn diện và sâu sắc: đổi mới toàn diện trên cả ba mặt cơ bản: thể chế, công nghệ, nhận thức và hành vi Để đạt được điều này thì giáo dục có nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Chính vì vậy, chúng ta có thể khẳng định giáo dục là chìa khóa của PTBV
Trong nhà trường phổ thông, Địa lí là môn học có tính chất tổng hợp của những tri thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Đây cũng là một trong những môn học
có “tính môi trường” nhất đối với giáo dục vì sự PTBV Chính vì vậy, môn Địa lí ở trường phổ thông có nhiều thuận lợi để giáo dục vì sự PTBV cho học sinh
Là giáo viên giảng dạy môn Địa lí tại trường THPT, tôi nhận thấy rõ tính cấp thiết, thực tế và vai trò của giáo dục vì sự PTBV cho học sinh Với những lí do trên,
tôi chọn đề tài “Giáo dục sự phát triển bền vững cho học sinh trường THPT Lê Lợi qua dạy học môn Địa lí lớp 12”
II NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận
1.1 Phát triển (PT) là gì?
‘‘PT là một quá trình gồm nhiều thành tố khác nhau: kinh tế, kĩ thuật, xã hội, chính trị, văn hóa và không gian Mỗi thành tố ấy là một quá trình tiến hóa, nhằm biến đổi một xã hội nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên thành một xã hội
Trang 2công nghiệp hiện đại ít phụ thuộc vào thiên nhiên.” (Nguyễn Đình Hòe - Môi trường
và sự phát triển bền vững, NXB Giáo dục năm 2007).
Như vậy PT là một quá trình xã hội đạt đến sự thỏa mãn những nhu cầu mà xã hội ấy gọi là cơ bản PT là quy luật chung của mọi thời đại, mọi quốc gia; là mục tiêu của các chính phủ, là trách nhiệm chính trị của các quốc gia
1.2 Bền vững (BV) là gì?
Trong tài liệu Chăm sóc Trái Đất đã viết: “BV là sự cải thiện chất lượng cuộc sống của con người trong khuôn khổ phạm vi sức chứa của hệ sinh thái trợ giúp”
“Bền vững là sự khỏe mạnh và sức sống văn hóa, kinh tế và môi trường lâu dài, có coi trọng lâu dài tầm quan trọng của việc gắn hạnh phúc của chúng ta về mặt xã hội, tài chính với môi trường”
Như vậy, định nghĩa nói trên cho chúng ta thấy khái niệm BV liên quan đến kinh tế, môi trường và xã hội và mối tương tác giữa ba bộ phận này Mục đích của BV
là nâng cao chất lượng cuộc sống của con người trong sức chứa của Trái Đất BV và
PT là hai khái niệm không thể tách rời nhau trong quá trình tiến hóa của loài người Chỉ có PT mới đảm bảo được tính BV
1.3 Phát triển bền vững là gì?
Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai của chúng ta”, Ủy ban quốc tế về Môi trường
và phát triển (WCBP) của Liên Hợp Quốc đã định nghĩa: “PTBV là sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai” Báo cáo này khẳng định, phát triển kinh tế và môi trường là không tách rời nhau PTBV ngày càng phổ biến trên qui mô toàn cầu
Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất về môi trường và phát triển (NCED) được tổ chức tại Rio de Janeino (Brazil - 1992) và hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tại Johannesburg (CH Nam Phi - 2002) đã đưa ra khái niệm: “PTBV là một quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng những nhu cầu của đời sống con người trong hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai”
Ở Việt Nam, PTBV được hiểu một cách toàn diện “PTBV bao trùm tất cả các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ
Trang 3công bằng xã hội, gìn giữ và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị, xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh”
Như vậy, khái niệm PTBV ngày càng được hoàn thiện và mở rộng PTBV không phải là một khái niệm tuyệt đối, mà đó là mục tiêu cần phấn đấu Nội dung cụ thể của PTBV luôn phát triển cùng với sự phát triển của tri thức và các giá trị đang tồn tại trong xã hội hiện tại
1.4 Giáo dục vì sự PTBV là gì?
Giáo dục vì sự PTBV về cơ bản là một quá trình giáo dục về khả năng nâng cao năng lực con người, về nhu cầu học tập để duy trì, nâng cao chất lượng cuộc sống của
chúng ta và các thế hệ tương lai
Giáo dục vì sự PTBV mở ra cho tất cả mọi người cơ hội giáo dục, cho phép họ tiếp thu các tri thức và các giá trị cũng như học được hành vi, lối sống cần thiết cho một tương lai bền vững và thay đổi xã hội một cách tích cực
Như vậy, giáo dục vì sự PTBV là một khái niệm rất rộng mà trọng tâm là giáo dục để tìm kiếm sự cân bằng giữa con người và kinh tế cũng như với các truyền thống văn hoá, sự tôn trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Trái Đất Giáo dục vì sự PTBV là một quá trình học tập suốt đời, bồi dưỡng kĩ năng, thái độ, hành động vì một
xã hội lành mạnh về môi trường sinh thái, thịnh vượng về kinh tế và tôn trọng nhu cầu của các thế hệ hiện tại và tương lai
1.5 Giáo dục vì sự PTBV ở Việt Nam
Để thực hiện Thập kỉ Giáo dục vì sự PTBV do Liên Hợp Quốc công bố, ngày 11/11/2005, Thủ tướng chính phủ đã kí quyết định về thành lập Ủy ban Quốc gia Thập kỉ Giáo dục vì sự PTBV của Việt Nam Mục tiêu của Thập kỉ Giáo dục vì sự PTBV ở Việt Nam là:
- Tích hợp nội dung giáo dục PTBV vào hệ thống giáo dục các cấp
- Mang lại cho mọi người cơ hội tiếp cận một nền giáo dục có chất lượng cao và học hỏi những giá trị, cách cư xử và lối sống cần thiết cho một tương lai bền vững
- Tích hợp nội dung giáo dục PTBV vào các chính sách, chiến lược và các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
- Thúc đẩy cải cách giáo dục và tăng cường sự hợp tác giữa các bên tham gia vào giáo dục PTBV ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế…
Trang 4Việc thực hiện Thập kỉ Giáo dục vì sự PTBV ở nước ta bước đầu đã mang lại kết quả tích cực, nhận thức của toàn dân về PTBV ngày một đầy đủ, sâu rộng hơn PTBV đã trở thành tiêu chí, mục tiêu cho các chiến lược hành động Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì tình hình PTBV của nước ta vẫn còn nhiều hạn chế: tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, nhất là ở các khu vực đông dân, các khu công nghiệp; những nguy cơ mai một về văn hóa, xã hội; sự suy giảm một số giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, gia tăng các tệ nạn Mặt khác, xét về nhận thức của sự đổi mới giáo dục thì không phải tất cả các địa phương, các trường học, các giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục PTBV cho học sinh Chính vì vậy, đẩy mạnh giáo dục PTBV cho học sinh ở nước ta là một yêu cầu cấp thiết
2 Thực trạng của vấn đề
2.1 Đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh lớp 12
Ở lứa tuổi này học sinh đã có sự phát triển khá đầy đủ về thể chất, tâm sinh lí và trí tuệ Các em đã xác định được động cơ học tập, có quyết tâm cao và khả năng hành động độc lập để thực hiện được mục đích của mình Ở tuổi này, các em thích tranh luận, trao đổi, bày tỏ quan điểm của mình về các vấn đề trong học tập và đời sống Các
em đã có khả năng tiếp cận cao với giáo dục PTBV Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy môn Địa lí tại trường THPT Lê Lợi, qua tiếp xúc, trao đổi với học sinh và các giáo viên dạy môn Địa lí và qua các bài kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, tôi nhận thấy: nhiều em học sinh, nhất là ở những lớp học theo chương trình Chuẩn vẫn chưa có nhận thức rõ về tầm quan trọng và tư duy logic để có được sự PTBV Vì vậy, các em cần phải được các giáo viên giáo dục về sự PTBV
2.2 Nhận thức của giáo viên về giáo dục vì sự PTBV
Để tìm hiểu về nhận thức của các giáo viên dạy môn Địa lí nói chung và giáo viên dạy môn Địa lí trường THPT Lê Lợi nói riêng về giáo dục PTBV, tôi tiến hành một số biện pháp như thông qua phỏng vấn, trao đổi trực tiếp và dự các giờ giảng dạy của các giáo viên và tôi đã rút ra kết luận như sau:
Phần lớn các thầy cô giáo đều có nhận thức khá đầy đủ về khái niệm PTBV, giáo dục vì sự PTBV và mục tiêu của giáo dục vì sự PTBV Các thầy cô đều có trách nhiệm dạy cho học sinh những kĩ năng, giá trị, triển vọng về tương lai, nhằm khuyến khích, hướng dẫn các em tìm kiếm, phát hiện ra năng lực thực sự của mình Tuy nhiên,
Trang 5khi thực hiện nhiệm vụ này các thầy cô thường gặp không ít khó khăn như điều kiện
cơ sở vật chất không đảm bảo; thời gian ngắn; năng lực nhận thức của nhiều học sinh còn hạn chế; phương pháp, cách thức triển khai của một số thầy cô chưa thật sự hợp lí
3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Có rất nhiều hình thức, biện pháp để tiến hành giáo dục vì sự PTBV Tuy nhiên, trên thực tế giảng dạy môn Địa lí lớp 12 tại trường THPT Lê Lợi tôi đã sử dụng và tham khảo những hình thức như sau:
3.1 Hình thức dạy học bài lớp
Chương trình nội dung sách giáo khoa Địa lí lớp 12 có khối lượng kiến thức lớn nhưng số tiết học còn hạn chế, vì vậy, chủ yếu được tiến hành bằng hình thức dạy học bài lớp Tuy nhiên, PTBV là vấn đề liên quan mật thiết tới thực tiễn địa phương nên ngoài hình thức bài lớp thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu các vấn đề thực tiễn của địa phương để liên hệ
Ví dụ: Bài 44 + 45: Tìm hiểu địa lí tỉnh, thành phố: giáo viên có thể hướng dẫn
học sinh tìm hiểu các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, văn hóa - xã hội của địa phương nơi học sinh sinh sống, học tập, cụ thể là Tỉnh Quảng Trị
Để hình thức dạy học bài lớp có hiệu quả cao trong việc giáo dục PTBV cho học sinh cần vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học như:
3.1.1 Phương pháp đàm thoại gợi mở
Đối với giáo dục PTBV được tích hợp trong chương trình Địa lí lớp 12, những vấn đề địa lí có liên quan trực tiếp tới các nội dung của giáo dục PTBV là kinh tế - xã hội - tài nguyên thiên nhiên và môi trường Do đó, phương pháp đàm thoại gởi mở giúp học sinh khai thác các kiến thức từ thực tiễn để trả lời câu hỏi của giáo viên Đây
là phương pháp mang lại hiệu quả cao trong giáo dục
Ví dụ: Bài 16: Đặc điểm dân số và phân bố dân cư nước ta
- GV đặt câu hỏi: Đặc điểm dân số và phân bố dân cư nước ta có ảnh hưởng
như thế nào đến phát triển kinh tế - xã hội và môi trường?
- HS có thể trả lời dựa trên các ý sau:
+ Về mặt kinh tế: kiềm chế tốc độ tăng trưởng kinh tế, giảm tích lũy
+ Về chất lượng cuộc sống: thu nhập bình quân theo đầu người thấp, văn hóa, y
tế, giáo dục chậm phát triển, các tệ nạn xã hội tăng nhanh,…
Trang 6+ Về mặt môi trường: Cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường,…
- GV đưa tiếp câu hỏi: Trước tình hình đó, nhà nước ta cần có chiến lược như thế nào để phát triển dân số hợp lí và sử dụng nguồn lao động một cách hiệu quả?
- HS có thể trả lời thông qua sơ đồ sau:
Như vậy, đàm thoại gợi mở là phương pháp dùng lời nói có khả năng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ, lôgic và lượng kiến thức của học sinh tăng theo quá trình học Với phương pháp này, người giáo viên không mất nhiều thời gian cho một tiết học mà học sinh lại hoạt động tích cực, sôi nổi, đem lại hiệu quả cao trong dạy học Địa lí nói chung và giáo dục PTBV nói riêng
3.1.2 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
Ví dụ: bài 16: Đặc điểm dân số và phân bố dân cư nước ta
Khi dạy phần 2 Dân số còn tăng nhanh, cơ cấu dân số trẻ
- GV đặt vấn đề: Tại sao dân số nước ta tăng nhanh lại là thách thức rất lớn hiện nay?
- HS suy nghĩ và đưa ra các giả thuyết:
Dân số đông gây ra hàng loạt các hậu quả nghiêm trọng trên cả 3 lĩnh vực: tài nguyên môi trường - kinh tế - xã hội
Chiến lược phát triển dân số và sử dụng hiệu quả nguồn lao động nước ta
Kiềm chế
tốc độ tăng
dân số
Xuất khẩu lao động
Phát triển công nghiệp ở miền núi
và nông thôn
Chuyển dịch cơ cấu dân số nông thôn và thành thị.
Phân bố lại dân cư giữa các vùng
Trang 7- GV: Như vậy, dân số tăng nhanh gây hậu quả nghiêm trọng, tác động đến cả 3
mặt của phát triển bền vững: kinh tế - xã hội - môi trường Vậy, để PTBV Việt Nam cần có biện pháp gì?
- HS: Muốn PTBV phải giải quyết vấn đề gia tăng dân số Học sinh có thể đưa
ra các giải pháp sau:
+ Giảm tỉ lệ gia tăng dân số
+ Thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn và đô thị hóa bền vững
+ Thực hiện triệt để chính sách dân số
+ Thực hiện công bằng giới, nâng cao đời sống nhân dân…
Như vậy, trong dạy học giải quyết vấn đề, giáo viên đặt học sinh vào các tình huống có vấn đề, dẫn dắt các em tìm cách giải quyết các vấn đề đó Bằng cách này, học sinh vừa học được tri thức vừa học được phương pháp đi tới các tri thức đó, lại vừa phát triển được tư duy mới, tích cực hơn Nhưng cần lưu ý rằng, để dạy học giải quyết vấn đề đạt hiệu quả tối ưu, người giáo viên cần chú ý tới cách đưa câu hỏi, nội dung câu hỏi và nên kết hợp với các phương pháp dạy học khác, đặc biệt là phương pháp dạy học tích cực
3.1.3 Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm
Ví dụ: Bài 15: Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai.
- Giáo viên chia lớp thành 5 nhóm và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm:
Nhóm 1: Tìm hiểu về bão và hoàn thành phiếu học tập số 1
Thiên tai
Thời gian và khu vực hay xảy
Biện pháp phòng chống Thời gian Khu vực
Bão
Nhóm 2: Tìm hiểu về ngập lụt và hoàn thành phiếu học tập số 2
Thiên tai Thời gian và khu vực hay xảy ra Hậu quả Biện pháp
phòng chống
Thời gian Khu vực Ngập lụt
Nhóm 3: Tìm hiểu về lũ quét và hoàn thành phiếu học tập số 3
Thiên tai Thời gian và khu vực hay xảy ra Hậu quả Biện pháp
phòng chống
Thời gian Khu vực
Lũ quét
Nhóm 4: Tìm hiểu về hạn hán và hoàn thành phiếu học tập số 4
Thiên tai Thời gian và khu vực hay xảy ra Hậu quả Biện pháp
Thời gian Khu vực
Trang 8phòng chống Hạn hán
Nhóm 5: Tìm hiểu về động đất và hoàn thành phiếu học tập số 5:
Thiên tai Thời gian và khu vực hay xảy ra Hậu quả Biện pháp
phòng chống
Thời gian Khu vực Động đất
Dạy học hợp tác theo nhóm là phương pháp thích hợp để thực hiện giáo dục PTBV Sử dụng thành công phương pháp này còn góp phần thực hiện mục tiêu hình thành cho học sinh những giá trị, những kĩ năng về một cuộc sống bền vững
3.1.4 Phương pháp khảo sát, điều tra
Ví dụ: Kết thúc bài 14: Sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
- GV giao nhiệm vụ cho HS tìm hiểu thực trạng ô nhiễm môi trường ở địa phương em theo các nội dung sau:
+ Tình trạng khói bụi
+ Nước thải sinh hoạt chưa qua xử lí
+ Tình trạng sử dụng phân bón, hoá chất của bà con nông dân và vấn đề phát triển nông thôn bền vững
Qua những nội dung khảo sát được, rút ra nhận xét về mức độ phát triển bền vững và các giải pháp giải quyết Sau khi giúp học sinh nắm được mục đích, yêu cầu của nội dung khảo sát, điều tra, giáo viên hướng dẫn học sinh viết báo cáo
3.1.5 Phương pháp dạy học dự án
Ví dụ: Khi học bài 45: Địa lí địa phương
- GV giao nhiệm vụ cho HS tìm hiểu về thực trạng về tài nguyên, môi trường ở Địa phương mình sinh sống Mục tiêu giúp học sinh có nhận thức đúng và hành động thiết thực bảo vệ tài nguyên môi trường
Hướng dẫn HS:
+ Lập kế hoạch thực hiện dự án: Phân công công việc, thời gian thực hiện, chuẩn bị phương tiện…
+ Viết báo cáo, chuẩn bị trình bày dự án
- GV: Tổ chức một buổi cho học sinh trình bày, đánh giá kết quả dự án
Sau đây là một dự án dạy ở bài 44, 45 địa lí địa phương:
Chuyên đề
2
TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI, VẤN NẠN KHAI THÁC TÀI
NGUYÊN
Trang 9VÀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ
HỘI
GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG
A/ Nội dung chuẩn bị: Tìm hiểu về đặc điểm, đánh giá thuận lợi đối với phát triển
kinh tế - xã hội của Tỉnh
I TÁC ĐỘNG VẤN NẠN KHAI THÁC TÀI NGUYÊN THIÊN ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1 Thực trạng
a Đánh giá chung
b Vấn nạn khai thác một số tài nguyên
b.1 Đất nông nghiệp (Chuyển đổi đất sản xuất sang đất khác; ô nhiếm đất) b.2 Tài nguyên rừng (Gỗ, động vật)
b.3 Tài nguyên biển (hải sản)
b.4 Tài nguyên nước (thiếu nước ngot, ô nhiễm nguồn nước)
b.5 Tài nguyên khoáng sản (Cát, ti tan ven biển; cát, sỏi đầu nguồn sông; đá
vôi
b.6 Tài nguyên du lịch
2 Giải pháp
II TÁC ĐỘNG THIÊN TAI VÀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH
TẾ - XÃ HỘI
1 Thực trạng
a Đánh giá chung
b Tác động một số thiên tai và sự cố môi trường đến phát triển kinh tế - xã hội
b.1 Bão, Lũ, lụt
b.2 Hạn hán và gió phơn Tây Nam khô nóng (gió Lào)
b.3 Lốc xoáy, sét
b.4 Cát bay, cát chảy
b.5 Sụt lở và trượt lở đất đá
b.6 Xói, lở bờ sông
2 Giải pháp đề ra:
Trang 10MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH CHỨNG CÁC EM HỌC SINH THỰC HIỆN DỰ ÁN