NGUYỄN PHƯƠNG NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, MOSHAV PARAN, VÙNG AR
Trang 1NGUYỄN PHƯƠNG NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP,
MOSHAV PARAN, VÙNG ARAVA, ISRAEL
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý đất đai Khoa : Quản lý tài nguyên Khóa học : 2016 - 2020
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2NGUYỄN PHƯƠNG NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP,
MOSHAV PARAN, VÙNG ARAVA, ISRAEL
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, bước đầu làm quen với kiến thức khoa học Qua đó sinh viên ra trường sẽ hoàn thiện hơn về kiến thức lí luận, phương pháp làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công việc sau này
Được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, Trung tâm Đào tạo và Phát triển Quốc tế và dưới sự hướng dẫn của thầy giáo T.S Nguyễn Ngọc Anh, em đã tiến hành
nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại trung
tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, moshav Paran, vùng Arava, Israel”
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, Trung tâm Đào tạo và Phát triển Quốc tế, Trung tâm Đào tạo Nông nghiệp Quốc tế Arava (AICAT), ông Tamir Oren và các thầy, cô giáo bộ môn và đặc biệt là thầy giáo TS Nguyễn Ngọc Anh người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trong thời gian thực tập khóa luận, bản thân em đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn để hoàn thiện khoá luận Tuy nhiên với thời gian ngắn và hạn chế về kiến thức và nguồn tư liệu nên chuyên đề của em khó tránh khỏi những thiếu sót Vậy nên kính mong các thầy cô và giáo viên hướng dẫn giúp đỡ, góp ý, tạo điều kiện để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Phương Nam
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Thông tin về các nhà lưới của farm 30
Bảng 4.2 Các kiểu sử dụng đất của trung tâm 32
Bảng 4.3 Chi phí sản xuất cho 1 năm trồng ớt chuông cho toàn bộ 6 nhà lưới (6 farm) 32
Bảng 4.4 Năng suất ớt thu được trên diện tích 1 dunam theo tháng (1 dunam = 1000m2) 33
Bảng 4.5 Sản lượng của 2 giống ớt chuông thu được trong mùa 2019-2020 34
Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế của hoạt động trồng ớt của trung tâm 35
Bảng 4.7 Hiệu quả xã hội của các LUT 37
Bảng 4.8 Hiệu quả môi trường của các LUT 38
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Vị trí vùng Arava 6Hình 2.2 Vị trí của moshav Paran 7Hình 4.1 Ảnh chụp Moshav Paran từ trên cao 26Hình 4.2 Ảnh chụp trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp vùng Arava,
Israel từ trên cao 29Hình 4.3 Quy trình sản xuất ớt chuông tại trung tâm 30Hình 4.4 Biểu đồ năng suất của 2 giống ớt theo từng tháng trên diện tích 1 dunam
(1000 m2) 34
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GDP Tổng giá trị thị trường của tất cả các sản phẩm và dịch vụ của
một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc
Moshav Nhiều trang trại sản xuất với diện tích lớn, vừa sản xuất vừa
chuyển giao công nghệ
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan về đất nước Israel và vùng Arava 3
2.1.1 Tổng quan về đất nước Israel 3
2.1.2 Tổng quan về vùng Arava và Moshav Paran 5
2.1.3 Tổng quan về nông nghiệp Israel 7
2.2 Cơ sở khoa học của đánh giá hiệu quả sử dụng đất 9
2.3 Cơ sở thực tiễn 19
2.3.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 19
2.3.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam và các địa phương 21
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Nội dung nghiên cứu 24
3.3 Phương pháp nghiên cứu 24
3.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp 24
3.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp 24
3.3.3 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 25
Trang 7Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
4.1 Khái quát về trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, moshav Paran- Arava- Israel 26
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của Moshav Paran 26
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của Moshav Paran 27
4.1.3 Đánh giá chung điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của Moshav Paran 28
4.2 Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ ớt chuông tại trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, Moshav Paran- Vùng Arava- Israel 29
4.2.1 Khái quát cơ bản 29
4.2.2 Tình hình sản xuất 31
4.2.3 Tình hình chế biến và tiêu thụ 33
4.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, Moshav Paran, Arava, Israel 34
4.3.1 Hiệu quả kinh tế 34
4.3.2 Hiệu quả xã hội 36
4.3.3 Hiệu quả môi trường đối với các loại hình sử dụng đất 38
4.4 Thuận lợi, khó khăn, bài học kinh nghiệm và khả năng áp dụng tại Việt Nam 39 4.4.1 Thuận lợi 39
4.4.2 Khó khăn 40
4.4.3 Bài học kinh nghiệm 40
4.4.4 Khả năng áp dụng tại Việt Nam 40
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 PHỤ LỤC
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, vô cùng quan trọng đối với quá trình sinh trưởng, phát triển của con người và các sinh vật Đất không chỉ là nền tảng để con người sống và hoạt động trên đó mà nó là tư liệu sản xuất, là đối tượng lao động không thể thay thế được, đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp Ngày nay, với sự gia tăng dân số, sự phát triển và mở rộng mạnh của các khu công nghiệp, các khu đô thị hay các khu du lịch vui chơi, giải trí, đã tạo rất nhiều áp lực lên việc sử dụng đất đai Cộng với việc nhiều vùng diễn ra tình trạng hạn hán kéo dài hoặc xâm nhiễm mặn khiến cho quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất lương thực, thực phẩm Việc chịu các điều kiện tự nhiên bất lợi không những ảnh hưởng lớn đến việc bố trí các loại cây trồng vật nuôi
mà còn ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân
Ngành nông nghiệp Israel phát triển ở trình độ cao Bất chấp điều kiện địa lý không thích hợp cho nông nghiệp Là một đất nước nhỏ với diện tích trên 20.000 km2, trong đó 70% diện tích lãnh thổ là sa mạc, còn lại là đồi núi đá trọc, khí hậu cực kỳ khắc nghiệt, sự tìm tòi nghiên cứu, sáng tạo của con người Israel cũng như việc áp dụng hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp là lời giải đáp cho một nền nông nghiệp tiên tiến hàng đầu thế giới của người Israel Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và nhu cầu sử dụng đất, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo T.S Nguyễn Ngọc Anh, em tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại
trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, Moshav Paran, vùng Arava, Israel” nhằm xác định các loại hình sử dụng đất phù hợp và đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững, đồng thời cũng làm thay đổi cơ cấu kinh tế, đời sống của nhân dân cả nước
Trang 91.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ ớt chuông tại trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, Moshav Paran, vùng Arava, Israel
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tại trang trại trồng ớt chuông
- Từ tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ ớt chuông và hiệu quả sử dụng đất của trung tâm ta đưa ra được các thuận lợi, khó khăn, bài học kinh nghiệm và khả năng áp dụng tại Việt Nam
1.3 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và những kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở
Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài
Trên cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng nhóm đất nông nghiệp từ đó đề xuất được những giải pháp sử dụng đất đạt hiệu quả cao
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về đất nước Israel và vùng Arava
2.1.1 Tổng quan về đất nước Israel
- Israel (phiên âm: I-xra-en; tên đầy đủ là Nhà nước Israel, còn được gọi là Nhà nước Do Thái) là một quốc gia theo chế độ cộng hòa ở vùng Trung Đông bên cạnh Địa Trung Hải Tên "Israel" bắt nguồn từ Kinh thánh Hebrew: Jacob, tổ phụ của dân tộc Do Thái, đã được đổi tên Israel sau khi chiến đấu với Đức Chúa Trời Theo đó, hậu duệ của Jacob được gọi là "con cái của Israel", trong tiếng Anh gọi là
"Israelites" Các công dân của nước Israel hiện đại ngày nay theo tiếng Anh, được gọi là "Israelis"
- Tên đầy đủ: Quốc gia Israel;
- Vị trí địa lý: Nằm ở Trung Đông, tiếp giáp biển Địa Trung Hải, nằm giữa
Ai cập và Lebanon;
- Diện tích Km2: 220,770;
- Tài nguyên thiên nhiên: Gỗ xây dựng, mỏ đồng, khí tự nhiên, đá photphat, magie bromua, kali cacbonat, đất sét, cát;
- Dân số (triệu người): 8.609.694;
- Dân tộc: Người Do Thái, người Ả Rập;
- Thủ đô: Tel Aviv;
- Hệ thống pháp luật: Dựa theo hệ thống luật pháp và quy định của Anh;
- GDP (tỷ USD): 316,12;
- Lực lượng lao động theo lĩnh vực nghề nghiệp: tỷ lệ người dân theo ngành dịch vụ chiếm đa số là 82%, công nghiệp chiếm 16% và cuối cùng là nông nghiệp với 2%;
- Sản phẩm Nông nghiệp: Cam quýt, rau, bông, thịt bò, gia cầm, các sản phẩm từ sữa;
- Công nghiệp: Sản phẩm công nghiệp cao ( bao gồm cả hàng không, thông tin liên lạc, sản xuất, sợi quang học), gỗ và sản phẩm giấy, kali cacbonnat và
Trang 11photphat, thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, natri hydroxit, xi măng, xây dựng, sản phẩm kim loại, sản phẩm hóa chất, chất dẻo, cắt kim cương, dệt may, giày dép;
- Mặt hàng xuất khẩu: Máy móc và thiết bị, phần mềm, cắt kim cương, sản phẩm nông sản, hóa chất, dệt may và đồ thêu trang trí;
- Mặt hàng nhập khẩu: Nguyên liệu, thiết bị quân đội, đầu tư, kim cương thô, nhiên liệu,lương thực, hàng tiêu dùng;
* Thể chế nhà nước
Theo thể chế Dân chủ nghị viện, chế độ một viện (từ năm 1948) không có Hiến pháp thành văn, chỉ có những điều luật riêng rẽ 120 thành viên của Quốc hội được bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu theo hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ, nhiệm kỳ 4 năm Thủ tướng được bầu trực tiếp trong tổng tuyển cử, nhiệm kỳ 4 năm Các thành Quốc hội bầu, nhiệm kỳ 5 năm (không có quyền hành pháp - quyền hành pháp thuộc về Thủ tướng)
* Địa lý
Theo nghị quyết 181 (II) của Liên hợp quốc, Nhà nước Israel thành lập ngày 14 tháng 5 năm 1948 trên diện tích 14.100km2 Tuy nhiên, sau các cuộc chiến tranh chấp với các nước Ả-rập, Israel quản lý khoảng 28.000km2 Thuộc Trung cận Đông Nước Israel trong khuôn khổ biên giới năm 1949, gồm một đồng bằng hẹp và màu mỡ ven biển Địa Trung Hải, vùng núi trơ trụi Giu-đa ở trung tâm, sa mạc Nê-gếp ở phía nam và một phần của thung lũng Gioóc-đan ở đông bắc Sông chính của Israel là sông Gioóc-đan dài 321km
- Khí hậu: Khí hậu Địa Trung Hải, mùa hè nóng và khô, mùa đông ôn hòa
và ẩm Phần lớn lãnh thổ của Israel có lượng mưa dưới 200mm
* Kinh tế
Ngành dịch vụ đứng đầu chiếm 81%GDP cả nước, công nghiệp chiếm 17%
và nông nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số GDP cả nước là 2%
Những vấn đề kinh tế nghiêm trọng phát sinh do ngân sách quốc phòng lớn và hoàn cảnh chính trị đã cản trở thương mại giữa Israel và các nước láng giềng Israel là một trong những nước xuất khẩu nhiều nhất hoa quả họ chanh bưởi Phần lớn diện
Trang 12tích của Israel được canh tác do các tập thể và hợp tác xã Tài nguyên của Israel nghèo Gia công kim cương nhập khẩu là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu Du lịch đến các vùng đất Thánh cũng đóng vai trò quan trọng cho nguồn thu ngân sách; Xuất khẩu đạt 23,5 tỷ USD, nhập khẩu 30,6 tỷ USD; nợ nước ngoài: 18,7 tỷ USD
Nông nghiệp, khoa học - kỹ thuật và quản lý kinh tế rất tiên tiến Israel là một trong số những nước có thu nhập đầu người cao trên thế giới; sản xuất thực phẩm, kim cương đã chế tác, hàng dệt, thiết bị điện, giao thông, thiết bị quân sự, hàng điện
tử công nghệ cao; sản xuất điện năng đạt 35,4 tỷ kWh, tiêu thụ 31,8 tỷ kWh
* Văn hóa - xã hội
Số người biết đọc, biết viết: 95%; trong đó tỷ lệ người nam biết đọc, biết viết là 97%, tỷ lệ người nữ là 93% Ở Israel áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc 11 năm miễn phí Người dân tự do lựa chọn trường dạy qua tiếng Ả-rập hoặc tiếng Hebrew Hệ thống giáo dục theo các bậc: tiểu học 6 năm, trung học 3 năm và trên trung học 2 năm Bằng tốt nghiệp xong ba cấp này có giá trị thi vào đại học và kiếm việc làm Đại học mở, đại học dạy từ xa khá phát triển
Người dân được bảo hiểm y tế do Nhà nước dài thọ Cho cả y tế tư nhân hoạt động Thiết bị và chất lượng dịch vụ y tế hiện đại và cao
Những danh thắng dành cho du lịch, nghỉ ngơi và giải trí: Thành phố cổ Jerusalem, biển chết, biển đỏ, khu vườn địa đàng tại thành phố Haifa, biển địa trung hải tại Telaviv,
2.1.2 Tổng quan về vùng Arava và Moshav Paran
Tổng quan về vùng Arava
Arava nằm ở khu vực phía Nam của lưu vực Biển Chết, là một phần của ranh giới giữa Israel với phía tây và Jordan về phía đông [https://en.wikipedia.org/wiki/Arabah]
Thung lũng Arava được đặc trưng bởi khí hậu khắc nghiệt nhất Cường độ nắng mạnh, khô, nhiệt độ cao và lượng mưa hàng năm thấp 25-50 mm so với tỷ lệ bốc hơi hàng năm cao, đặc trưng cho khí hậu này Mặc dù nhiệt độ cao, trung tâm Arava không phải là không có nguy cơ băng giá Tốc độ gió Arava không thích hợp
Trang 13để thiết lập trang trại gió Tuy nhiên, khu vực này rất thích hợp để thiết lập tháp năng lượng mặt trời [https://en.wikipedia.org/wiki/Arabah]
Hình 2.1 Vị trí vùng Arava
Mặc dù chủ yếu là sa mạc, 90% dân cư là nông dân thành công Nông dân Arava đã vượt qua những khó khăn thiên nhiên tạo ra cho họ như đất mặn, thiếu nước, nắng nóng cháy và trồng được các loại cây nông nghiệp như ớt, quả sung, cà chua, dưa hấu, hoa, nho Chất dinh dưỡng và lượng nước chính xác được phân phối bằng công nghệ máy tính thậm chí có thể tái chế nước tưới Cà chua, ví dụ, được trồng chủ yếu để xuất khẩu, với một số nông dân đã được thử hơn 100 giống mỗi năm cho đến khi họ tìm đúng màu sắc, hương vị mà người mua tìm kiếm Một số loại có hàm lượng cao lycopene, một chất màu sắc của gia đình carotene được cho
là có đặc tính chống oxy hóa tốt [https://en.wikipedia.org/wiki/Arabah]
Một số nông dân ở Arava chuyên về canh tác hữu cơ và trồng trọt Họ cũng hợp tác với nông dân ở biên giới Jordan gần đó Chia sẻ kiến thức rất quan trọng ở đây; chính quyền địa phương duy trì một trung tâm đào tạo chào đón sinh viên từ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á, và các trạm nghiên cứu nông nghiệp làm việc liên tục nâng cấp sản phẩm của Arava
Trang 14 Tổng quan về Moshav Paran
Moshav Paran được thành lập tháng 11 năm 1971, Paran là một moshav nhỏ ở thung lũng Arava phía Nam Israel, phía Bắc của Eilat Nằm trên mực nước biển khoảng 100m Năm 2017, moshav Paran có hơn 200 hộ gia
đình với dân số khoảng 440
Hình 2.2 Vị trí của moshav Paran
điều hành các trang trại bò với mật độ 40-45 con bò sữa/chuồng Trong số các trang trại nhỏ hơn là vườn chà là, sản xuất gà tây và cừu
Có điều kiện tự nhiên phù hợp để canh tác ớt chuông và đó cũng là cây trồng chính tại moshav Sản lượng và chất lượng của ớt chuông tại moshav đạt cao nhất trong vùng thung lũng Arava (10 tấn/dunam) Ngày nay, một số hộ nông dân còn trồng thêm một vài loại rau củ như: súp lơ, hành, tỏi, bí xanh, cà tím Bên cạnh đó,
có 2 hộ nông dân trồng,sản xuất và xuất khẩu hoa đạt năng suất và chất lượng cao [https://en.wikipedia.org/wiki/Paran,_Israel]
2.1.3 Tổng quan về nông nghiệp Israel
Israel là một nhà xuất khẩu lớn của thế giới về nông sản và đứng hàng đầu về công nghệ trong nông nghiệp Hơn một nửa diện tích đất là sa mạc, điều kiện khí hậu khắc nghiệt và thiếu nước hoàn toàn không thích hợp cho nông nghiệp Tính đến năm 2014, 24,2% diện tích Israel là đất nông nghiệp Hiện nay, nông nghiệp chiếm 2,5% tổng GDP và 3,6% giá trị xuất khẩu Mặc dù lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 3,7% tổng lực lượng lao động trong nước, Israel tự sản xuất được
Trang 1595% nhu cầu thực phẩm, phần còn lại được bổ sung từ việc nhập khẩu ngũ cốc, các loại hạt lấy dầu, thịt, cà phê, ca cao, đường [https://vi.wikipedia.org/wiki/Israel] Sản lượng nông nghiệp Israel tăng 26% từ năm 1999 tới năm 2009, trong khi số lượng nông dân giảm từ 23.500 xuống 17.000 Nông dân cũng tạo ra nhiều sản phẩm hơn với lượng nước giảm, giảm 12% lượng nước tiêu thụ trong khi tăng 26% sản lượng Hầu hết ngành nông nghiệp Israel dựa trên các nguyên tắc về hợp tác có từ đầu thế kỷ thứ 20 Hai loại hợp tác độc đáo là Kibbutz và Moshav
Kibbutz: một cộng đồng trong đó sản phẩm làm ra được sở hữu chung và thành quả lao động của cá nhân đem lại lợi ích cho mọi người;
Moshav: một dạng làng nông nghiệp trong đó mỗi gia đình sở hữu riêng đất đai trong khi việc mua bán và tiếp thị được thực hiện chung trong sự hợp tác
Cả hai loại hình cộng đồng đều nhằm giúp hiện thực hóa giấc mơ muốn có những cộng đồng công bằng, hợp tác và tương trợ lẫn nhau nhưng cũng đồng thời tạo ra lợi thế về năng suất Ngày nay, 76% nông sản quốc gia là sản phẩm từ các Kibbutz và Moshav, cũng như rất nhiều thực phẩm đóng hộp [https://vi.wikipedia.org/wiki/Israel]
* Sản phẩm nông nghiệp
Chăn nuôi: Bò sữa của Israel cho lượng sữa trung bình hàng năm cao nhất thế giới, 10.208 kg (khoảng 10.000 lít) trong năm 2009 (theo số liệu thống kê của cục thống kê Israel xuất bản năm 2011)
Nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản; Nguồn cung cấp cá nước ngọt phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nuôi trồng Cá từ biển hồ Galilee bao gồm cá mè trắng Hoa Nam, cá trắm cỏ, cá đối đầu dẹt, cá rô phi, ambloplites rupestris, cá chẽm, silver perch, cá tráp đầu vàng, cá chẽm châu âu, giống cá meager Nam Mỹ, cá hương và
cá hồi
Trái cây và rau củ: đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu trái cây thuộc chi cam chanh, bao gồm cam, bưởi chùm, quýt và pomelit Ngoài ra còn có bơ, chuối, táo, cherry, mận, mơ, đào, nho, chà là, dâu tây, prickly pear, persimmon, nhót tây, lựu Israel đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu trái nhót tây
Trang 16Sản phẩm hữu cơ chiếm 1,5% tổng sản phẩm nông nghiệp và 13% sản lượng xuất khẩu Israel có 70 km2 các cánh đồng canh tác hữu cơ
Hoa: Loại hoa phổ biến nhất là Chamelaucium, tiếp đến là hoa hồng với diện tích trồng là 214 hecta Ngoài ra còn có các loại hoa được phương Tây ưa chuộng như là hoa huệ, tu líp
* Quản lý nhà nước về nông nghiệp
Gần như không còn tình trạng sản xuất thừa ở Israel, mỗi đơn vị được cấp hạn ngạch nông sản và hạn ngạch nước cho mỗi vụ, điều này giúp giá cả luôn ổn định Hạn ngạch sản xuất áp dụng cho sữa, trứng, gia cầm và khoai tây Nhà nước Israel cũng thúc đẩy việc giảm chi phí nông nghiệp bằng cách khuyến khích chuyên canh
và dừng việc sản xuất các loại nông sản lợi nhuận thấp Bộ nông nghiệp quản lý các lĩnh vực nông nghiệp bao gồm việc duy trì các tiêu chuẩn về cây trồng và sức khỏe vật nuôi, hoạch định nông nghiệp, nghiên cứu và tiếp thị sản phẩm [https://vi.wikipedia.org/wiki/Israel]
2.2 Cơ sở khoa học của đánh giá hiệu quả sử dụng đất
a Khái niệm chung
Đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất nhưng khái niệm
chung nhất có thể hiểu: Đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng bao gồm: Khí hậu của bầu khí quyển, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất; Theo chiều ngang, trên mặt đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật với các thành phần khác, nó tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống xã hội của loài người
Luật đất đai hiện hành đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”[Luật đất đai 2013] Như vậy đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con
Trang 17người Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trông thủy sản, làm muối và mục đích bảo
vệ, phát triển rừng bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất sản xuất nông nghiệp khác
Đối với các ngành nông lâm nghiệp đất đai có vai trò vô cùng quan trọng Đất đai không chỉ là cơ sở không gian, là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại
mà còn là yếu tố tích cực của các quá trình sản xuất Điều này thể hiện ở chỗ đất luôn chịu tác động như: cày, bừa, làm đất nhưng cũng đồng thời là công cụ sử dụng
để trồng trọt và chăn nuôi do đó nó là đối tượng lao động nhưng cũng lại là công cụ hay phương tiện lao động Quá trình sản xuất nông lâm nghiệp luôn gắn bó chặt chẽ với đất và các sản phẩm làm ra được luôn phụ thuộc vào các đặc điểm của đất mà
cụ thể là độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất
Tuy nhiên độ phì nhiêu của đất không phải là yếu tố vĩnh viễn và cố định mà luôn thay đổi trong quá trình hình thành và phát triển của tự nhiên Ngoài ra trong quá trình sản xuất dưới tác động của con người thì độ phì nhiêu ngày càng có sự biến động rất lớn Nếu tác động xấu thì độ phì nhiêu ngày càng cạn kiệt, ngược lại nếu tác động của con người có sáng tạo và khoa học thì độ phì nhiêu của đất ngày càng được nâng cao vì ngoài nhân tố tự nhiên còn có xã hội tham gia vào quá trình hình thành và phát triển của đất đai
b Sử dụng đất và những quan điểm sử dụng đất
Khái niệm sử dụng đất
Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ vào quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng ổn định và bền vững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý nhất
là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất [Lương Văn Hinh,2003] Vì vậy, sử dụng đất thuộc
Trang 18phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với vai trò là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất đai được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh
tế sử dụng đất
- Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai một cách kinh tế, tập trung, thâm canh
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
Phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất v.v.… vừa bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, vừa bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy, những điều kiện và nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến việc sử dụng đất là:
Yếu tố điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có rất nhiều yếu tố như: ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, thủy văn, không khí v.v.… trong các yếu tố đó khí hậu là nhân tố hàng đầu của việc
sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai chủ yếu là địa hình, thổ nhưỡng và các nhân tố khác
+ Điều kiện khí hậu: Đây là nhóm yếu tố ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn nhiều hay ít, nhiệt độ cao hay thấp, sự sai khác về nhiệt độ về thời gian và không gian, biên độ tối cao hay tối thấp giữa ngày và đêm v.v.… trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh yếu
có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và ẩm độ của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước
Trang 19+ Điều kiện đất đai: Sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mực nước biển, độ dốc, hướng dốc v.v.… thường dẫn đến đất đai, khí hậu khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp,
là căn cứ cho việc lựa chọn cơ cấu cây trồng, xây dựng đồng ruộng, thủy lợi canh tác và cơ giới hóa
Mỗi vùng địa lý khác nhau có sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác Các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy cần tuân theo các quy luật của
tự nhiên, tận dụng các lợi thế đó nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội
và môi trường
Yếu tố về kinh tế - xã hội
Bao gồm các yếu tố như: Chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý, trình độ phát triển của kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bổ sản xuất, các điều kiện về nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ, trình độ quản lý, sử dụng lao động… yếu tố kinh tế -
xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên tới việc sử dụng đất được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất Thực trạng sử dụng đất liên quan đến lợi ích kinh tế của người sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất Nếu có chính sách ưu đãi sẽ tạo điều kiện cải tạo và hạn chế sử dụng đất theo kiểu bóc lột đất đai Mặt khác, sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối đa cũng dẫn đến tình trạng đất đai không những bị sử dụng không hợp lý mà còn bị hủy hoại
Như vậy, các nhân tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai Tuy nhiên, mỗi yếu tố giữ vị trí
và có tác động khác nhau Vì vậy, cần dựa vào yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội
Trang 20trong lĩnh vực sử dụng đất đai để từ đó tìm ra những nhân tố thuận lợi và khó khăn
để sử dụng đất đai đạt hiệu quả cao
Tác động của con người đã làm cho độ phì nhiêu của đất ngày càng bị suy giảm và dẫn đến thoái hoá đất, lúc đó khó có thể phục hồi lại độ phì nhiêu của đất nếu muốn phục hồi lại thì cần phải chi phí rất lớn Đất có những chức năng chính là: Duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá học và địa hoá học, phân phối nước, tích trữ và phân phối vật chất, mang tính đệm và phân phối năng lượng Các chức năng trên của đất là những trợ giúp cần thiết cho các hệ sinh thái Sử dụng đất đai một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của con người Vì vậy tìm kiếm những biện pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế quan tâm Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” (Sustainable land use) đã trở lên thông dụng trên thế giới như hiện nay
Nông nghiệp bền vững không có nghĩa là khước từ những kinh nghiệm truyền thống mà phối hợp, lồng ghép những sáng kiến mới từ các nhà khoa học, từ nông dân hoặc cả hai Điều trở nên thông thường với những người nông dân, bền vững là việc sử dụng những công nghệ và thiết bị mới vừa được phát kiến, những
mô hình canh tác tổng hợp để giảm giá thành đầu vào Đó là những công nghệ về chăn nuôi động vật, những kiến thức về sinh thái để quản lý sâu hại và bệnh dịch
Trang 21Để tạo nông nghiệp bền vững cần có 3 điều kiện đó là: công nghệ bảo tồn tài nguyên, những tổ chức từ bên ngoài và những tổ chức về các nhóm địa phương Tác giả cho rằng xu thế phát triển nông nghiệp bền vững được các nước phát triển khởi xướng và hiện nay đã trở thành đối tượng mà nhiều nước nghiên cứu theo hướng kế thừa, chắt lọc cái tinh tuý của nền nông nghiệp chứ không chạy theo cái hiện đại để bác bỏ những cái thuộc về truyền thống Trong nông nghiệp bền vững việc chọn cây
gì, con gì trong một hệ sinh thái tương ứng không thể áp đặt theo ý muốn chủ quan
mà phải điều tra nghiên cứu để hiểu biết tự nhiên
Không ai hiểu biết hệ sinh thái nông nghiệp ở một vùng bằng chính những người sinh ra và lớn lên ở đó Vì vậy, xây dựng nông nghiệp bền vững nhất thiết cần phải có sự tham gia của người dân trong vùng nghiên cứu Phát triển bền vững
là việc quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên tự nhiên, định hướng những thay đổi công nghệ thể chế theo một phương thức sao cho đạt đến sự thỏa mãn một cách liên tục nhu cầu của con người, của những thế hệ hôm nay và mai sau Sự phát triển nông nghiệp bền vững chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động thực vật, không bị suy thoái môi trường, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội
FAO đã đưa ra những chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững[phương pháp đánh giá đất đai của FAO, 1976], đó là:
- Thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản cho thế hệ về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác
- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống tốt cho những người trực tiếp làm nông nghiệp
- Duy trì và có thể tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên, khả năng tái sản xuất của các tài nguyên tái tạo được không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và cân bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hóa -
xã hội của cộng đồng sống ở nông thôn hoặc không gây ô nhiễm môi trường
- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin cho nông dân
Trang 22Những nguyên tắc được coi là trụ cột trong sử dụng đất đai bền vững và là những mục tiêu cần đạt được:
- Duy trì, nâng cao sản lượng (Hiệu quả sản xuất);
- Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất (An toàn);
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa đất, nước;
- Có hiệu quả lâu dài;
- Được xã hội chấp nhận”
Thực tế nếu diễn ra đồng bộ với những mục tiêu trên thì khả năng bền vững
sẽ đạt được, nếu chỉ đạt được một hay vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận
Vận dụng các nguyên tắc đã nêu ở trên, ở Việt Nam một loại hình được coi
là bền vững phải đạt được 3 yêu cầu:
- Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho năng suất cao, chất lượng tốt, được thị trường chấp nhận
Hệ thống sử dụng phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ phẩm
Về chất lượng, sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy vào mục tiêu của từng vùng
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sản xuất không có lãi, lãi suất phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng
- Bền vững về mặt xã hội: Nâng cao được đời sống nhân dân, thu hút được lao động, phù hợp với phong tục tập quán của người dân
Đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nông hộ là việc được ưu tiên hàng đầu, nếu họ muốn quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ nguồn đất đai, môi trường xung quanh, ) Sản phẩm thu được phải thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc, ở của người nông dân
Trang 23Nội lực và nguồn lực của địa phương phải phát huy Về đất đai, hệ sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà người nông dân có thể hưởng thụ lâu dài các sản phẩm nông sản đem lại từ việc khai thác đất đai
Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hóa dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ
- Bền vững về môi trường: Các loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái đất
Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu liều lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép Độ phì nhiêu đất tăng dần là yếu tố bắt buộc đối với quản lý sử dụng đất bền vững Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài
Ba yêu cầu trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất ở thời điểm hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá theo các yêu cầu trên để có những định hướng phát triển nông nghiệp ở từng vùng
Tóm lại: Đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững chỉ đạt được trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm đối với tài nguyên đất đai theo thời gian
và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động sống của con người
d Phân loại đất nông nghiệp
Theo luật đất đai 2013, nhóm đất nông nghiệp được phân thành các loại đất sau:
- Đất trồng cây hàng năm: Là loại đất dùng để trồng các loại cây ngắn ngày,
có chu kỳ sinh trưởng không quá một năm Đất trồng cây hàng năm bao gồm:
Đất một vụ là loại đất chỉ trồng và thu hoạch có 1 lúa hoặc 1 vụ màu/ năm
Đất hai vụ là loại đất trồng và có thu hoạch 2 vụ/ năm với công thức 2 lúa,
1 lúa – 1 màu hay là 2 màu
Đất ba vụ là loại đất trồng và có thu hoạch 3 vụ/ năm với các công thức 3
vụ lúa, 2 lúa - 1 màu hoặc 1 lúa - 2 màu
Trang 24- Đất trồng cây lâu năm: Là loại đất bao gồm đất dùng để trồng các loại cây
có chu kỳ sinh trưởng kéo dài trong nhiều năm, phải trải qua thời kỳ kiến thiết cơ bản mới đua vào kinh doanh, trồng một lần nhưng thu hoạch trong nhiều năm
- Đất trồng rừng sản xuất: Loại đất dùng để chuyên trồng các loại cây với mục đích sản xuất
- Đất rừng phọng hộ: Là diện tích đất được trồng các loại cây với mục đích phòng hộ
- Đất rừng đặc dụng: Là diện tích đất được Nhà Nước quy hoạch, đưa vào sử dụng với mục đích riêng
- Đất nuôi trồng thủy sản: Là diện tích đất được dùng để nuôi trồng thủy sản như: Tôm, Cua,Cá …
Đất làm muối: Là diện tích đất được dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất muối
e Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong nông nghiệp
Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó
là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất C.Mác đã nhấn mạnh “Đất là
mẹ, lao động là cha của mọi của cải vật chất xã hội”, “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể” Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và phát triển mọi nền văn minh vật chất, văn hóa tinh thần, các thành tựu khoa học công nghệ đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản - sử dụng đất
Trong sản xuất nông lâm nghiệp đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Ngoài vai trò là cơ sở không gian, đất còn có các chức năng đặc biệt quan trọng:
- Là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình sản xuất
- Là nơi con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm
- Đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng, nước, không khí và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển
Trang 25Như vậy, đất gần như trở thành một công cụ sản xuất Năng suất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất Trong tất cả các tư liệu sản xuất dùng trong nông nghiệp chỉ có đất mới có chức năng này[Nguyễn Thế Đặng, 1999]
Chính vì vậy, có thể nói rằng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt trong nông nghiệp
f Vai trò của sản xuất nông nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân
Cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn xã hội
Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Những hàng hóa có chứa chất dinh dưỡng nuôi sống con người này chỉ có thể có được thông qua hoạt động sống của cây trồng và vật nuôi hay nói cách khác là thông qua quá trình sản xuất nông nghiệp
Quyết định an ninh lương thực quốc gia, góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp, các ngành kinh tế khác và phát triển đô thị
Nông nghiệp cung cấp các nguyên liệu cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Nông nghiệp là khu vực dự trữ và cung cấp nguồn lao động dồi dào cho phát triển công nghiệp, các ngành kinh tế khác và đô thị Nông nghiệp nông thôn
là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho hàng hóa công nghiệp và các ngành kinh tế khác
Nguồn thu ngân sách quan trọng của nhà nước
Nông nghiệp là ngành kinh tế sản xuất có quy mô lớn nhất nước ta Tỷ trọng giá trị tổng sản lượng và thu nhập quốc dân trong khoảng 25 % tổng thu ngân sách trong nước Việc huy động một phần thu nhập từ nông nghiệp được thực hiện dưới nhiều hình thức: Thuế nông nghiệp, các loại thuế kinh doanh khác, Bên cạnh nguồn thu ngân sách cho nhà nước việc xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp làm tăng nguồn thu ngoại tệ góp phần thiết lập cán cân thương mại đồng thời cung cấp vốn ban đầu cho sự phát triển của công nghiệp
Trang 26 Hoạt động sinh kế chủ yếu của đại bộ phận dân nghèo nông thôn
Nước ta với hơn 70 % dân cư tập trung ở nông thôn họ sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, với hình thức sản xuất tự cấp tự túc đáp ứng nhu cầu cấp thiết hàng ngày
Tái tạo tự nhiên
Nông nghiệp còn có tác dụng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Trong các ngành sản xuất chỉ có nông nghiệp mới có khả năng tái tạo tự nhiên cao nhất mà các ngành khác không có được Tuy nhiên nông nghiệp lạc hậu và phát triển không có kế hoạch cũng dẫn đến đất rừng bị thu hẹp, độ phì đất đai giảm sút, các yếu tố khí hậu thay đổi bất lợi Nông nghiệp giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trong việc thiết lập lại cân bằng sinh thái động thực vật Vì thế phát triển công nghiệp phải trên cơ sở phát triển nông nghiệp bền vững
2.3 Cơ sở thực tiễn
2.3.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Đánh giá đất đai của Docutraiev cho rằng để đánh giá đất đai có hiệu quả cần nghiên cứu khả năng tự nhiên của đất Theo ông, khả năng tự nhiên của đất là yếu tố quyết định giá trị của đất và sự thu thập từ đất Đánh giá đất đai của Docutraiev dựa vào những luận điểm sau:
Những yếu tố đánh giá đất và chỉ tiêu của chúng ở những vùng khác nhau thì khác nhau
Những yếu tố đánh giá đất dự đoán chủ yếu là những yếu tố có mối liên quan chặt chẽ với năng suất cây trồng và được thể hiện giá trị tương đối bằng điểm
Những yếu tố đánh giá đất chủ yếu có thể là:
Loại đất theo phát sinh
Những số liệu phân tích về tính chất đất (tính chất hóa học, lý học và các dấu hiệu khác)
Việc lựa chọn các yếu tố đánh giá đất cần được hoàn thiện để phù hợp với điều kiện khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hội của vùng
Trang 27Tại hội nghị Quốc tế về Đánh giá đất lần thứ X tại Matxcơva (1974), một luận điểm mới về đánh giá đất của Rozop và cộng sự đã dược trình bày và nhất trí cao Nội dung luận điểm của Rozop bao gồm những điểm sau:
* Đánh giá đất phải dựa vào các vùng địa lý, thổ nhưỡng khác nhau và có các yếu tố đánh giá đất khác nhau
* Đánh giá đất phải dựa vào đặc điểm cây trồng
* Cùng một loại cây trồng, cùng một loại đất nhưng không thể áp dụng hoàn toàn những tiêu chuẩn đánh giá đất của vùng này cho vùng khác
* Đánh giá đất phải dựa vào trình độ thâm canh
* Có một mối tương quan chặt chẽ giữa chất lượng đất và năng suất cây trồng Theo Ruanell, nhà thổ nhưỡng học người Anh thì: “Đánh giá đất theo năng suất cây trồng gặp rất nhiều khó khăn vì năng suất cây trồng biểu hiện cả sự hiểu biết của người sử dụng đất Bởi vậy đánh giá đất theo năng suất chỉ được sử dụng
để sơ bộ đánh giá độ phì của các loại đất khác nhau”
Năm 1972 tổ chức lương thực thế giới (FAO) đã phác thảo “Đề cương đánh giá đất” và công bố vào năm 1973 Năm 1975, Hội nghị đánh giá đất ở Rome dự thảo đề cương đánh giá đất của FAO, được các nhà khoa học đất hàng đầu bổ sung
và công bố năm 1976 (Khung đánh giá đất đai - Frameword for land Evaluation) Tài liệu này đã được nhiều nước nghiên cứu và ứng dụng cho đến ngày nay
Theo FAO, việc đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý Vì vậy, khi đánh giá, đất được nhìn nhận như là “một vạt đất xác định về mặt địa lý, là một diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của môi trường xung quanh nó như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thủy văn, động vật, thực vật, những tác động trước đây và hiện nay của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng vạt đất đó trong hiện tại và trong tương lai”
Tổng diện tích bề mặt của toàn thế giới là 510 triệu km2trong đó đại dương chiếm 361 triệu Km2 (71%), còn lại là diện tích lục địa chỉ chiếm 149 triệu Km2
Trang 28(29%) Bắc bán cầu có diện tích lớn hơn nhiều so với Nam bán cầu Toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới là 3.256 triệu ha, chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền Diện tích đất nông nghiệp trên thế giới phân bố không đều: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu Âu chiếm 13%, Châu Á chiếm 26%, Châu Phi chiếm 6% Bình quân đất nông nghiệp trên thế giới là 12.000m2 Đất trồng trọt trên toàn thế giới mới đạt 1,5 tỷ chiếm 10,8% tổng diện tích đất đai, 46% đất có khả năng sản xuất nông nghiệp như vậy còn 54% đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác Diện tích đất đang canh tác trên thế giới chỉ chiếm 10% tổng diện tích đất tự nhiên (khoảng 1.500 triệu ha), được đánh giá là:
Đất có năng suất cao: 14%
Đất có năng suất trung bình: 28%
Đất có năng suất thấp: 58%
Nguồn tài nguyên đất trên thế giới hàng năm luôn bị giảm, đặc biệt là đất nông nghiệp mất đi do chuyển sang mục đích sử dụng khác Mặt khác dân số ngày càng tăng, theo ước tính mỗi năm dân số thế giới tăng từ 80 - 85 triệu người Như vậy, với mức tăng này mỗi người cần phải có 0,2 - 0,4 ha đất nông nghiệp mới đủ lương thực, thực phẩm Đứng trước những khó khăn rất lớn đó thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất của đất nông nghiệp là hết sức cần thiết
2.3.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam và các địa phương
Theo kết quả thống kê diện tích đất đai của cả nước Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.123.077 ha, bao gồm: diện tích nhóm đất nông nghiệp là 27.302.206 ha; diện tích nhóm đất phi nông nghiệp là 3.697.829 ha; diện tích nhóm đất chưa sử dụng: 2.123.042 ha[Báo cáo thuyết minh tổng hợp điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016 - 2020) cấp quốc gia, 2015] ;
Diện tích đất bình quân đầu người ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới Ngày nay với áp lực về dân số và tốc độ đô thị hóa diện tích đất đai nước ta ngày càng giảm, đặc biệt là diện tích đất nông nghiệp Vì vậy, vấn đề đảm bảo lương thực, thực phẩm trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm đang là một áp
Trang 29lực rất lớn Do đó việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất nông nghiệp càng trở nên quan trọng đối với nước ta
Từ những năm 1990 đến nay, viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu đánh giá, đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái và nhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư như Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng (1994) với “Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam” hay Nguyên Công Pho (1995) với “Đánh giá khả năng sử dụng đất đai vùng đồng bằng sông Cửu Long”… Tháng 1 năm 1995, viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã tổ chức hội thảo về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Hội nghị đã tổng kết, đánh giá ứng dụng quy định đánh giá của FAO vào thực tiễn ở Việt Nam, nêu những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để đưa kết quả đánh giá vào quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả Thông qua việc đánh giá khả năng thích hợp của đất đai để thấy tiềm năng đa dạng của nông nghiệp, khả năng tăng vụ, lựa chọn hệ thống sử dụng đất, loại hình sử dụng đất phù hợp để tiến tới sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả cao hơn
Quy trình đánh giá đất của FAO được vận dụng trong đánh giá đất đai của Việt Nam từ các địa phương đến các vùng, miền của toàn quốc Những công trình nghiên cứu để triển khai sâu rộng ở một số vùng sinh thái lớn có đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu:
- Vùng đồng bằng sông Hồng với những công trình nghiên cứu có kết quả đã công bố của các tác giả Cao Liêm, Vũ Thị Bình, Quyền Đình Hà(1992, 1993), Phạm Văn Lang(1995) Trong công trình nghiên cứu đã vận dụng phương pháp đánh giá đất của FAO, thực hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/250.000 cho phép đánh giá ở mức độ tổng hợp phục vụ cho quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng Kết quả nghiên cứu đã khẳng định vùng đồng bằng sông Hồng có 33 đơn vị đất đai (22 đơn vị đất đai thuộc đồng bằng và 11 đơn vị đất đai thuộc đất đồi núi) Loại hình sử dụng đất của vùng rất phong phú và đa dạng với 3 vụ chính là vụ xuân, vụ mùa và
vụ đông