Đem lại lợi nhuận cao hơn nhiều so với một số cây trồng khác trên đất đồi dốc Theo kết quả điều tra sơ bộ của công ty Nông nghiệp xanh Thái Nguyên, năm 2017 Đã có một số công trình nghiê
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THỊ THU HÀ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ, TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG
CỦA CÂY CÁT SÂM TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Ngành: Khoa học cây trồng Khoa: Nông học
Lớp: TT-K48-N02 Giáo viên hướng dẫn: ThS Vũ Thị Nguyên
Thái Nguyên - 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình hay khóa luận nào trước đây
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là khâu rất quan trọng trong quá trình học tập và rèn luyện Qua quá trình thực tập giúp cho mỗi sinh viên củng cố lại kiến thức đã được học trên ghế nhà trường và ứng dụng vào trong thực tế, đồng thời qua đó giúp nâng cao trình
độ chuyên môn cũng như năng lực công tác cho sinh viên để có thể vững vàng khi ra trường và đi xin việc
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Nông Học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của cô giáo,
giảng viên hướng dẫn ThS Vũ Thị Nguyên , em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá đặcđiểm phân bố, tình hình sử dụng và ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng của cây cát sâm tại Thái Nguyên” Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Nông Học, cùng tất cả các thầy – cô đã tận tình dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn tới giảng viên hướng dẫn thầy giáo, giảng viên hướng dẫn ThS.Vũ Thị Nguyên, em xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của cô đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn để em hoàn thành khóa luận này
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, bài khóa luận này của em không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy – cô giáo
và bạn bè để bài khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020
Sinh viên
Nông Thị Thu Hà
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2.Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1.Mục đích 2
1.2.2.Yêu cầu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.2 Khái quát về cây dược liệu Cát sâm 4
2.2.1 Nguồn gốc và phân loại 4
2.2.2 Đặc điểm thực vật và yêu cầu sinh thái cây cát sâm 5
2.2.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cát sâm 6
2.3 Các chính sách phát triển cây dược liệu tại Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên 8
2.3.1 Chính sách phát triển cây dược liệu tại Việt Nam 8
2.3.2 Phát triển cây dược liệu tại Thái Nguyên 9
2.4 Sự cần thiết phát triển dược liệu 10
2.5.Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về cây dược liệu 11
2.5.1 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên thế giới 11
2.5.2.Tình hình nghiên cứu cây dược liệu ở Việt Nam 14
2.6 Những kết luận được rút ra từ tổng quan 23
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 25
3.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.2 Địa điểm, thời gian nơi nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp điều tra (nội dung 1) 25
Trang 53.4.2 Phương pháp nghiên cứu (nội dung 2) 26
3.4.2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 28
Các phương pháp theo dõi: Theo dõi 5 cây/ ô thí nghiệm (15 cây/ công thức)
trên 5 điểm của đường chéo (mỗi điểm 1 cây) tính theo các chỉ tiêu sau: 28
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1.Tình hình phân bố và sử dụng cây thuốc và Cát Sâm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 30
4.1.1 Những loài cây thuốc đang được khai thác và tình hình phân bố cây Cát Sâm
tại 4 huyện điều tra của tỉnh Thái Nguyên 30
4.1.2 Tình trạng các loài cây thuốc ở 4 huyện điều tra của tỉnh Thái Nguyên 32
4.1.3 Nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc 34
4.1.4 Những hoạt động của người dân và chính quyền địa phương nhằm bảo tồn
và phát triển tài nguyên cây thuốc 35
4.1.5 Xácđịnh cây thuốc cần bảo tồn và phát triển 36
4.1.6 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển cây thuốc 37
4.2.Nghiên cứu ảnh hưởng của mọt số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng phát triển
của cây cát sâm 39
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 KẾT LUẬN 46
5.2 KIẾN NGHỊ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 6PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Câycát sâm(Callerya Specioca) hay còn gọi là “nam sâm”, “sâm chuột”,”cát
muộn”, “sơn liên ngẫu”,”sâm chèo mèo”, “kim chung”, “độc cước lập”… là một loại cây dược liệu được gọi như là một vị thuốc bổ mát, do đó mới có tên sâm Dược liệu Cát sâm thường dùng trong những trường hợp suy nhược, ho, sốt, khát nước, nhức đầu, tiểu tiện khó khăn, dùng riêng hay kết hợp với nhiều vị thuốc khác dưới dạng sắc [4]
Cây Cát sâm là một loại cây nhỡ, có thân gỗ Có cành mọc tựa, dài hàng mét.Thường cành non có nhiều lông mềm như nhung, màu trắng; sau nhẵn, màu nâu.Lá kép lông chim lẻ, cuống lá dài phủ đầy lông; lá cây chét hình mũi mác thuôn dài hoặc hình bầu dục, gốc hình tròn đầu nhọn, trên mặt màu lục sẫm, có lông ở gân, mặt dưới phủ lông dày màu trắng, gân lá thành mạng rất rõ Trước những năm 1995 cây Cát sâm phân bố nhiều tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc (Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái…) song nhiều năm gần đây cây Cát sâm đã bị khai thác cạn kiệt và gần như không còn được tìm thấy ngoài tự nhiên [1]
Hiện nay nhu cầu thu mua củ Cát Sâm trên thị trường từ các công ty dược liệu tại Việt Nam và Trung Quốc hiện nay là rất lớn, số lượng không giới hạn, giá bán củ tươi từ 100.000 -150.000đ/kg củ tươi Có thể trồng ở mật độ đến 10.000 cây/ha – 15.000 cây/ha, sau 3 - 5 năm thu hoạch trung bình từ 2,5 – 3,5kg củ/gốc, năng suất trung bình đạt từ 25,0 – 40 tấn/ha/3-5 năm Đem lại lợi nhuận cao hơn nhiều so với một số cây trồng khác trên đất đồi dốc (Theo kết quả điều tra sơ bộ của công ty Nông nghiệp xanh Thái Nguyên, năm 2017)
Đã có một số công trình nghiên cứu về cây cát sâm như trong luận án của TS
Lê Thị Thanh Hương (Trường Đại học KHTN) [11], nghiên cứu nhân giống vô tính sâm núi Dành tại Bắc Giang của Nguyễn Thanh Loan (Học viện KH&CN) [12], cùng một số công trình nghiên về sử dụng, bảo tồn cây thuốc của các tác giả khác, tuy nhiên đến nay có rất ít đề nghiên cứu về sự phân bố cũng như về các biện pháp kỹ thuật trồng trọt trong đó có kỹ thuật bón phân cho cây cát sâm ở Thái Nguyên Vì thế chúng em
Trang 7thực hiện đề tài: “Đánh giá đặc điểm phân bố, tình hình sử dụng và ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng của cây cát sâm tại Thái Nguyên”Kết quả
của đề tài sẽ là cơ sở để triển khai vào thực tiễn sản xuất trồng cây Cát sâm theo hướng hàng hóa của địa phương
1.2.Mục đích và yêu cầu
1.2.1.Mục đích
Điều tra được đặc điểm phân bố, tình hình sử dụng dược liệu nói chung và cây Cát sâm nói riêng Xác định được một số tổ hợp phân bón thích hợp đến sinh trưởng cây cát sâm tại tỉnh Thái Nguyên
1.2.2.Yêu cầu
- Điều tra thực trạng phân bố và tình hình sử dụng cây dược liệu cát sâm tại Thái Nguyên
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng cây cát sâm
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Bổ sung các dẫn liệu cơ bản trong nghiên cứu về thực trạng phân bố và một số
tổ hợp phân bón thích hợp cho cây cát sâm
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học góp phần hoàn thiện thâm canh đạt hiệu quả cao cho cây cát sâm
- Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu
1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn
- Điều tra thực trạng phân bố và nghiên cứu một số tổ hợp phân bón cho cây cát sâm góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế, bổ sung vào hệ thống cây trồng tỉnh Thái Nguyên
- Thúc đẩy mở rộng quy mô diện tích trồng cây dược liệu nói chung và Cát sâm nói riêng trên phạm vi toàn tỉnh
Trang 8PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Việt Nam có một lịch sử lâu đời trong sử dụng cây cỏ tự nhiên và một nền y học
cổ truyền có bản sắc riêng để phòng và chữa bệnh cho con người Nằm trong khu vực nhiệt đới Đông Nam Á có đa dạng sinh học rất cao Theo ước tính Việt Nam có khoảng trên 12.000 loài thực vật bậc cao, chiếm khoảng 4-5% tống số loài thực vật bậc cao đã biết trên thế giới và khoảng 25% số loài thực vật bậc cao đã biết ở châu Á[7] Trong
số này, có khoảng 4000 loài thực vật và 400 loài động vật được dùng làm thuốc Thế nhưng, các thuốc này mới chủ yếu được sử dụng trong y học cổ truyền và y học dân gian Việt Nam Theo số liệu điều tra cơ bản nguồn dược liệu toàn quốc của Viện Dược Liệu-Bộ Y Tế (2003) Việt Nam có 3.830 loài thực vật làm thuốc, chiếm khoảng 36%
số thực vật có mặt ở Việt Nam
Tỉnh Thái Nguyên là một trung tâm chính trị, kinh tế của vùng trung du miền núi Đông Bắc, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Đồng thời, Thái Nguyên là nơi có hệ sinh thái đa dạng, nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như: Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao Từ rất lâu đời, đồng bào các dân tộc ở Thái Nguyên đã có truyền thống chữa bệnh bằng cây thuốc, mỗi dân tộc lại có những kinh nghiệm riêng, đặc trưng cho dân tộc mình Do đó, việc trồng và phát triển cây dược liệu tại Thái Nguyên là rất cần thiết
Cát sâm có tên Khoa học: Callerya speciosa (Champ ex Benth.) Schot Tên tiếng
Việt: Cát sâm; Sâm nam; sâm trâu; sâm chào mào; sâm cheo mèo; mát to; ngưu dại lực
đằng, Sâm gạo, Lăng yên to, sâm núi Dành.Tên khác: Millettia speciosa Champ ex
Benth.;
Giá trị dược liệu và kinh tế của cây cát sâm nằm ở củ Trong củ có chứa nhiều tinh bột và đặc biệt có chứa Alcaloid (Sở thí nghiệm dược phẩm Quảng Châu – Nông thôn Trung Thảo Dược chế kỹ thuật 1971, 237) Tác dụng của của cát sâm được coi như là một vị thuốc bổ mát Thường dùng trong những trường hợp suy nhược, ho, sốt khát nước, nhức đầu, tiểu tiện khó khăn, dùng riêng hay phối hợp với nhiều vị thuốc
Trang 9khác dưới dạng sắc Theo Đỗ Tất Lợi, dược liệu Cát Sâm được nhân dân sử dụng để chữa các bệnh thấp, viên gan mạn tính, viên phế quản …
Đến nay tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu nào về tình hình sử dụng cây thuốc trong đó có Cát Sâm, nghiên cứu nhân giống vô tính cây Cát Sâm nhưng có rất
ít đề tài nghiên cứu về phân bố và các biện pháp kỹ thuật cho cây Cát sâm phát triển theo hướng hàng hóa Bón phân có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất củ và thành phần hoạt chất có trong củ cát sâm Bón phân không cân đối có ảnh hưởng rất lớn đến quá trinh tích lũy tinh bột và dược tính trong củ cát sâm Bón quá nhiều đạm, thân lá phát triển, ảnh hưởng đến quá trình tích lũy tinh bột Bón không đúng liều lượng cây có năng suất củ kém, sinh trưởng của cây không thuận lợi…do vậy việc thử nghiệm một
số tổ hợp phân bón và mật độ trồng cho cây cát sâm là hết sức cần thiết
2.2 Khái quát về cây dược liệu Cát sâm
2.2.1 Nguồn gốc và phân loại
+ Nguồn gốc, phân loại:
Cát Sâm là một đối tượng chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam và trên thế giới Vì vậy, việc tiếp cận các kết quả nghiên cứu còn hạn chế, việc định hướng các tài liệu tham khảo trong và ngoài nước cũng khó khăn
Từ xa xưa, ông bà ta đã biết đến cây cát sâm, một loại cây mọc sâu trong rừng,
là một loại dược liệu quý, dùng để điều trị nhiều loại bệnh Cát sâm cũng đã được đưa vào từ điển các loại cây thuốc đông y để tìm hiểu, nghiên cứu và sử dụng trị bệnh cho bệnh nhân Ở Việt Nam, cây được tìm thấy nhiều tại vùng núi rừng thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hà Tây (cũ), Hòa Bình và Nghệ An
Cát Sâm cũng được biết đến qua một số bài báo với tên là sâm núi Dành của tác giả Trần Đình Dũng, Trung tâm Khoa học Công nghệ và Môi trường huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Theo bài viết của tác giả, trong sách “Đại Nam nhất thống chí”,
có ghi: “Tên nỏ sản xuất tại Yên Thế Sâm Nam sẵn ở đỉnh núi Chung Sơn
Cỏ thi cũng có ở Chung Sơn” Núi Chung Sơn được nhắc tới đó là Núi Dành, nay phần lớn thuộc xã Liên Chung và phần còn lại thuộc địa phận xã Việt Lập, huyện Tân Yên Những câu chuyện quanh loài Sâm quý này được người dân sinh sống dưới chân Núi dành kể lại Theo ông Nguyễn Văn Được, 72
Trang 10tuổi ở thôn Hậu, nhà ngay dưới chân Núi dành cho biết: “Núi dành xưa kia toàn cây de với giàng giàng, mỗi lần Lý trưởng kiếm được củ sâm thì mừng lắm, hiện ở góc vườn nhà tôi còn một khóm sâm, mỗi năm nó chỉ ra một đốt
từ đó mọc rễ và ra củ nên củ không lớn, tôi cũng đã từng nhân thử giống Sâm Núi dành nhưng không thành công, và cũng đã nhiều lần thử du nhập những giống sâm khác về trồng nhưng không sống được có lẽ do thời tiết và thổ nhưỡng không hợp” Ông Nguyên Khắc Lư, 62 tuổi, ở thôn Hậu, xã Liên Chung tâm sự, gần hai chục năm trước ông nhận đất trồng rừng ở chân Núi dành Trong một lần cuốc đất thấy bật lên những củ nhỏ, mùi thơm, nếm thử thấy ngọt mát, vốn gia đình có nghề làm thuốc Đông y nên ông Lư biết mình gặp may khi tìm thấy gốc Sâm Núi dành và ông giữ gìn từ đó cho tới bây giờ Theo ông Lư, loại sâm này phải trên 10 năm tuổi dùng mới hữu dụng Những căn bệnh thông thường như ho cảm sốt, đau đầu, nhất là đối với trẻ nhỏ dùng chút ít là khỏi [12]
Cát sâm, tên Khoa học: Callerya speciosa (Champ ex Benth.) Schot Thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliphita), lớp Ngọc lan (Magnoliopsita), phân lớp Hoa hồng (Rosidae), bộ Đậu (Fabaceae), họ Đậu (Fabaceae), phân họ Đậu (Faboideae)
Hình 1: Hoa và lá cây cát sâm Hình 2: Củ cây cát sâm
2.2.2 Đặc điểm thực vật và yêu cầu sinh thái cây cát sâm
Cây gỗ nhỏ đứng hoặc bò, 1-3 mét, vỏ cây màu nâu, cành non, cuống cụm hoa mang nhiều lông màu vàng, rễ củ nạc, lá kép lông chim dài 10cm, cuống lá dài 3-4 cm,
Trang 11lá kèm dài 5-6mm, lá chét 7-13, xoăn hay thuôn dài, kick thước 4,5 x 2,2cm, cứng mặt trên xám hay đen, mặt dưới xám nâu phủ lông nhất là tại các gân của lá, gốc lá tròn, gân 5-6 cặp tạo thành gân chìa, cuống lá chét dài 4mm, lá kèm của lá chét dài 1,5mm cụm hoa dạng chùy ở ngọn , cành cum dài 6-20cm, có phủ lông màu vàng nâu , hoa lớn màu trắng, lúc khô có màu đen, thơm dài 2,5-3,5 cm, đài và cuống hoa mang nhiều lông, tràng hoa màu trắng, mặt ngoài nhẵn, cánh cờ dài đến 18mm, nhụy có lông bao phủ phía ngoài mang nhiều noãn Quả dài 9-13 cm, dẹt, có lông màu vàng nâu phủ phía ngoài, hạt 4-6 màu đen, hình trứng, kích thước 10 x 8mm
Cây ra hoa tháng 6 đến tháng 9, có quả tháng 9 đến tháng 12, cây mọc trong rừng núi chỗ rãi nắng, trong rừng hở, rừng thưa ven suối, lùm bụi ở độ cao 100-300m
so với mực nước biển
Cây cát sâm ưa sáng và hơi chịu bóng khi còn nhỏ Thường leo trùm lên những cây bụi và cây gỗ nhỏ ven rừng, rừng thứ sinh, nhất là rừng núi đá vôi; độ cao dưới 1000m; lượng mưa từ 1.500 - 2.500 mm/năm, nhiệt độ từ 180C - 340C Cây mọc tự nhiên ở rừng các tỉnh vùng núi Bắc Bộ, sinh trưởng bình thường ở hầu hết các dạng đất và mọc tốt trên đất có độ pH trung tính hoặc hơi kiềm Sinh trưởng mạnh trong mùa xuân - hè; tái sinh tự nhiên chủ yếu bằng hạt và tái sinh chồi sau khi bị chặt Một khóm có thể thu hoạch được 2-3 kg củ[19]
2.2.3 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cát sâm
+ Đất trồng:
- Đất trồng Cát sâm cần tơi xốp, thoát nước tốt PH thích hợp từ 4,5 – 5,0 có tầng canh tác dầy >1m
- Bón lót phân chuồng từ 1,0 kg – 2,0 kg phân chuồng ủ hoai/gốc
- Trồng trên đất đồi thấp, độ dốc <100, nếu ở đất bằng hoặc đất ruộng thấp cần đổ thêm đất và lên luống cao, chống ngập đọng nước gây thối củ
+ Cây giống
- Tiêu chuẩn cây giống đem trồng: Cây cao > 10 -15 cm, có ít nhất 3 cặp lá thật, không bị nấm bệnh, do công ty TNHH Nông nghiệp xanh trồng
+ Mùa vụ trồng:
Trang 12- Trồng cây vào vụ xuân: từ tháng 2-4, hoặc vụ thu 8-10 Lựa chọn mùa vụ trồng thích hợp, tránh được giai đoạn khô hạn khi cây còn nhỏ Vì vậy mùa vụ thích hợp nhất trồng vào vụ xuân từ tháng 2 – tháng 4
+ Kỹ thuật trồng
- Cuốc hố rộng 40cm x 40cm, bón lót phân chuồng
- Rạch bỏ túi nilon vỏ bầu, đặt bầu giữa hố
- Vun đất kín xung quanh bầu cây, ấn nhẹ tay khi vun nhằm giữ cho cây ổn định
và đứng thẳng
+ Chăm sóc cây con sau khi trồng
- Duy trì độ ẩm thường xuyên đặc biệt cần tưới 2-3 ngày/lần trong giai đoạn cây mới trồng Chú ý cần làm cọc ngay sau khi trồng cho cây leo Cọc có thể có bằng gỗ, tre, lứa…
- Sử dụng phân bón tổng hợp N,P,K bón từng gốc Lượng bón 3 lần bón/năm Bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân vào đầu năm Phân đạm và Kali được chia đều cho 3 lần bón/năm, bón vào tháng 4, tháng 7 và tháng 10
Lượng bón:
- Thu hoạch – sơ chế
+ Giá trị dược liệu được sử dụng trên củ
+ Thu củ sau trồng 2 -3 năm, trung bình mỗi gốc có từ 1,5 – 3,5kg/gốc
+ Tiến hành nhổ hoặc đào, không để củ dập nát gây thối hỏng hoặc xót củ
+ Chặt cuống củ, loại bỏ sạch đất bám trên bề mặt củ, xếp gọn thành đống Chiều cao của đống củ dược liệu không cao qua 1,0m
Trồng bằng hom: Tách hom khỏi vườn ươm, tránh để đứt nhiều rễ ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây sau khi trồng Đặt hom giống thẳng đứng xuống hốc đã đào sẵn, lấp đất, kéo cây nhẹ để rễ cây duỗi thăng không bị cuấn, cây sẽ phát triển kém.Lấp đất quanh gốc rồi ấn xung quanh để cây đứng vững
Sau khi trồng cây cần tưới ẩm thường xuyên cho cây phát triển tốt.Thân cát sâm dài nhỏ, thường mọc dựa, vì vậy cần cắm cọc hoặc trồng gần hàng rào để cây có chỗ tựa.Hàng năm cần xới xáo làm cỏ, dùng các loại phân nước để tưới thúc 2 – 3 lần vào lúc cây sinh trưởng mạnh và làm cỏ[19]
Trang 132.3 Các chính sách phát triển cây dược liệu tại Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên
2.3.1 Chính sách phát triển cây dược liệu tại Việt Nam
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước rất quan tâm việc phát triển dược liệu, nhằm khai thác tiềm năng, lợi thế của Việt Nam và coi đó là một trong các nhóm giải pháp của công tác xóa đói, giảm nghèo, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn,
do giá trị thu nhập của dược liệu mang lại Ngày 30-10-2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1976/QĐ-TTg về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, với quan điểm phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu trên cơ sở sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng về điều kiện tự nhiên và xã hội, phát triển dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển dược liệu, đẩy mạnh xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu
Phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam trên cơ sở sử dụng
có hiệu quả mọi tiềm năng về điều kiện tự nhiên và xã hội để phát triển các vùng trồng dược liệu, gắn với bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn dược liệu tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường sinh thái
Phát triển dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn sản xuất nguyên liệu với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng vùng trồng dược liệu gắn với công nghiệp chế biến, cơ cấu sản phẩm đa dạng bảo đảm an toàn và chất lượng, khả năng cạnh tranh cao, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước và xuất khẩu
Nhà nước hỗ trợ đầu tư về nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong việc bảo tồn nguồn gen, khai thác dược liệu tự nhiên, trồng trọt, chế biến dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển trồng dược liệu, đẩy mạnh xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu, góp phần tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp dược trong tổng sản phẩm nội địa (GDP)
Ngày 19-12-2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, trong đó có các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nói chung và gây trồng, thu hái cây dược liệu nói riêng
Trang 14Quyết định số 68/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10 tháng 1 năm 2014 phê duyệt chiến lược quốc gia phát triển ngành dược liệu Việt Nam giai đoạn đến năm
2020 và định hướng đến năm 2030 Bộ Y tế ban hành ra nhiều nghị định, quyết định khuyến khích địa phương, các công ty, doanh nghiệp tập trung đầu tư vào phát triển ngành dược Quyết định số 206/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày 22 tháng 1 năm 2015 về việc ban hành về danh mục cây dược liệu ưu tiên phát triển giai đoạn 2015-2010 Nhiều địa phương trong cả nước như: Quảng Ninh, Hà Giang, Bắc Kạn, Bắc Giang, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Lâm Đồng, An Giang,… bước đầu đã xây dựng định hướng và triển khai các mô hình trồng dược liệu Hầu hết các mô hình dược liệu do các tỉnh triển khai chỉ là các mô hình thí điểm, khả năng nhân rộng còn hạn chế do chưa hình thành cụ thể những quy chuẩn, quy chế, những quy định về đầu tư và khuyến khích đầu tư
Từ chính sách đến thực tế phát triển các vùng trồng dược liệu trong những năm qua tại Việt Nam, đề tài này thấy rằng, quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 vẫn chỉ là kế hoạch, chưa được chú trọng đầu
tư, bố trí nguồn kinh phí để phát triển dược liệu Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
về dược liệu còn thiếu, hoạt động kinh doanh, sản xuất dược liệu vẫn dựa theo các quy định về quản lý thuốc tân dược, cho nên, có nhiều bất hợp lý
Để nâng cao công tác quản lý chất lượng dược liệu và củng cố hệ thống cung ứng dược liệu, cần có cơ chế hỗ trợ, ưu tiên đối với dược liệu trồng trong nước, dược liệu khai thác hợp pháp, thuốc sản xuất từ dược liệu trong nước Tăng cường kiểm tra, ngăn chặn các dược liệu nhập khẩu không rõ nguồn gốc xuất xứ
2.3.2 Phát triển cây dược liệu tại Thái Nguyên
Là tỉnh miền núi, Thái Nguyên có các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp phát triển cây dược liệu
Một số khu vực có hình thái tiểu khí hậu như sườn dãy núi Tam Đảo, núi Hồng (huyện Đại Từ); khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa, Phượng Hoàng (huyện Võ Nhai); ATK Định Hóa (huyện Định Hóa) là điều kiện lý tưởng cho việc SX một số loại dược liệu riêng có ở địa phương
Ông Nguyễn Vy Hồng (Giám đốc Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên) cho biết, qua điều tra, khảo sát, trên địa bàn Thái Nguyên có nguồn dược liệu khá phong phú và đa dạng
Trang 15Có nhiều loài dược liệu quý hiếm được tìm thấy tại các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn loài và sinh cảnh Trong khi đó, thực tế sử dụng thuốc y học cổ truyền của các đơn
vị y tế tổng hợp, có tới hơn 240 vị thuốc với trên 300 tấn được sử dụng hàng năm
Các loài cây dược liệu tại Thái Nguyên đã tồn tại từ lâu và phân bố rộng rãi trên các diện tích rừng tự nhiên Tuy nhiên, trải qua quá trình canh tác sản xuất, cùng với việc một số diện tích bị thu hẹp, chuyển đổi đất lâm nghiệp nên nhiều loài dược liệu bị khai thác cạn kiệt
Để tiếp tục mở rộng quy mô, huyện đề nghị Sở NN-PTNT bổ sung Đề án phát triển cây quế vào Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững Đồng thời mong muốn tỉnh sớm điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng để xây dựng kế hoạch triển khai trong những năm tiếp theo
Ông Đoàn Văn Tuấn (Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên) cho biết, thực tế, Thái Nguyên chưa có quy hoạch cho việc phát triển cây dược liệu Trong khi đó, kinh phí đầu tư thực hiện trồng cây lớn, nhân dân chưa mạnh dạn đầu tư do thị trường không
ổn định Trong thời gian tới, tỉnh sẽ phối hợp với các đơn vị khảo sát, điều tra để xác định các tiểu vùng, xác định địa điểm trồng với từng loại cây dược liệu
2.4 Sự cần thiết phát triển dược liệu
Theo suckhoevadoisong.vn, để kế thừa, bảo tồn và phát triển nềny dược cổ truyền, chúng ta cần có nguồn dược liệu đảm bảo về chất lượng và đa dạng về chủng loại Việt Nam là nước có nền y dược cổ truyền lâu đời Nền y dược đó có tiềm năng
và vai trò to lớn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Tuy nhiên để
kế thừa, bảo tồn và phát triển, không những chúngta cần có một đội ngũ thầy thuốc giỏi mà còn phải có nguồn dược liệu đảm bảo về chất lượng và đa dạng về chủng loại
Hiện nay không chỉ Việt Nam mà trên thế giới, với xu hướng “Trở về thiên nhiên” thì việc sử dụng các thuốc từ dược liệu của người dân ngày càng gia tăng bởi
nó ít có những tác động có hại và phù hợp với qui luật sinh lý của cơ thể Theo Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng Trong tuyên ngôn Alma Alta năm 1978 và “Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền” năm 1991, WHO luôn khuyến
Trang 16nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chăm sóc sức khỏe ban đầu, đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả cũng như bảo đảm nguồn cung cấp những thuốc này
Dược liệu nói chung, cây thuốc nói riêng có giá trị kinh tế có thể cao hơn trồng cây lương thực, thực phẩm Trong mấy thập niên qua, hàng chục ngàn tấn dược liệu đã được khai thác tự nhiên và trồng trọt hàng năm, đem lại lợi nhuận lớn Cây thuốc được phát triển có thể giúp cho nhiều vùng nông thôn, miền núi xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường Dược liệu nói chung, cây thuốc nói riêng tồn tại cùng với thế hệ sinh thái rừng, nông nghiệp và nông thôn, lại có mối tương quan chặt chẽ giữa đa dạng sinh học cây thuốc và đa dạng văn hóa, y học
cổ truyền, gắn với tri thức y dược học của 54 dân tộc, là bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam
Trong tình hình hiện nay chúng ta thấy tỷ lệ dược liệu nhập khẩu ngày càng nhiều, nhất là nhập qua đường tiểu ngạch, điều đó làm cho việc quản lý chất lượng dược liệu rất khó khăn, ảnh hưởng đến chất lượng điều trị và uy tín của y dược cổ truyền Việt Nam
Để chủ động trong lĩnh vực phát triển y dược cổ truyền và đảm bảo y dược cổ truyền giữ được thế mạnh của y học Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì chúng ta phải chủ động được nguồn dược liệu Hơn bao giờ hết, lúc này phát triển dược liệu nên được coi là an ninh quốc gia Phát triển nuôi trồng dược liệu còn là giải pháp quan trọng hạn chế tối đa việc khai thác tự nhiên, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và bảo vệ động, thực vật hoang dã đang có nguy cơ tuyệt chủng
2.5.Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về cây dược liệu
2.5.1 Tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên thế giới
Từ ngàn xưa, trong quá trình hái lượm các loại cây cỏ để làm thức ăn, con người
đã phát hiện ra những cây cỏ có độc thì tránh; những cây cỏ ăn được thì sử dụng làm lương thực, thực phẩm; những loại cây cỏ ăn vào khỏi bệnh thì dần được tích lũy thành kinh nghiệm sử dụng làm thuốc và được truyền tụng từ đời này qua đời khác Cùng với sự tiến hóa và phát triển của xã hội, kho tàng kiến thức về cây thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú
Trang 17Năm 1838 TCN, Thần Nông đã biên soạn cuốn sách “Thần nông bảnthảo”.Cuốn
sách có ghi chép về364 vịthuốc và cách sửdụng.Đây là cuốnsách nền tảng cho sự phát triển của nghành y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay
Năm 1595, Lý Thời Trân đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây thuốc, kinh
nghiệm sử dụng và soạn ra cuốn “Bản thảo cương mục” Đây là cuốn sách vĩ đại nhất
của Trung Quốc về lĩnh vực dược liệu, mô tả 1094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ
Năm 348 – 322 TCN , Aristote người Hy Lạp đã có những ghi chép về cây cỏ
của Hy Lạp Sau đó năm 340 Theophrate với tác phẩm “Lịch sửvạnvật” đã giới thiệu
gần 480 loài cây cỏvà công dụng của chúng Tuy tácphẩm chỉ mới dừng lại ở mô tả các đặc điểm của cây cỏ, nhưng nó đã đặt nền tảng cho các khoa học nghiên cứu về thực vật sau này
Năm 60 – 20 TCN, thầy thuốc Dioscorides người Hy Lạp đã mô tả 600 loài cây
cỏ chủ yếu để chữa bệnh, ông cũng là người đặt nền móng cho y dược học Hy Lạp
Năm 79 – 24 TCN, nhà tự nhiên học Plinus người La Mã đã soạn thảo bộ sách
“Vạn vật học” gồm 37 tập, giới thiệu gần 1000 loài thực vật có ích
Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên
Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1952 các tác giả
A.I.Ermakov, V.V.Arasimovich, …đã nghiên cứu thành công công trình “Phương
pháp nghiên cứu hoá sinh–sinh lý cây thuốc” Công trình này là cơ sở cho việc sử dụng
và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loài cây thuốc.Các tác giả A.F.Hammerman, M.D.Choupinxkaia và A.Yatsenko đã đưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế) trong tập
sách “Giá trịcây thuốc” Năm 1972 tác giả N.G.Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả
nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại
cho sức khoẻ của con người Qua cuốn sách "Chữabệnh bằng cây thuốc" tác giả
Kovalena đã giúp người đọc tìm được loài cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều lượng
đã được định sẵn (Dẫn theo Trần Thị Lan, 2005)
Năm 1952, A.Petelot đã soạn thảo cuốn sách “Les plantes demédicinales du
Cambodye, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập đã giới thiệuvề các loại cây thuốc và
sản phẩm làm thuốc ở Đông Dương
Trang 18Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1985, trong tổng số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng 20.000 loài được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau Trong đó, Ấn Độ được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới
2000 loài là cây thuốc [2]
Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã có tài liệu hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Good Agricultural and Collection Practices - GACP) Tài liệu đã đưa ra những hướng dẫn cụ thể từ chọn cây thuốc, chọn vùng trồng trọt thích hợp, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch Đây là một hướng dẫn và là thước đo chất lượng sản phẩm dược liệu khi trở thành sản phẩm hàng hóa trên Thế giới Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước đã dựa trên tài liệu hướng dẫnnày
để xây dựng khung quy định chung cho sản xuất cây dược liệu, nhằm đưa cây dược liệu
và các sản phẩm dược liệu trở thành sản phẩm hàng hóa trên toàn Thế giới [17]
Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đã đẩy mạnh việc nghiên cứu các chế phẩm mới từ cây thuốc Ở Mỹ, 25% các đơn thuốc được pha chế tại các cửa hàng dược gồm các chất chiết từ cây cỏ, 13% từ các loài vi sinh và 3% từ động vật với nhu cầu hàng tỷ USD/ năm Ở Trung Quốc, có 940 xí nghiệp và xưởng sản xuất thuốc
từ cây cỏ với 6266 mặt hàng; doanh thu các thuốc từ cây cỏ chiếm 33,1% thị trường thuốc năm 1995; tổng giá trị xuất khẩu dược liệu và thuốc cổ truyền từ năm 1997 đạt
600 triệu USD Hiện nay, Trung Quốc có chủ trương đầu tư mạnh cho công tác nghiên cứu dược liệu, đã tự túc được khoảng 90% nhu cầu thuốc trong nước, trong đó thuốc sản xuất từ nguồn gốc thực vật chiếm ưu thế [17]
Như vậy, con người đã nghiên cứu về các loại cây thuốc từ rất lâu đời Ban đầu, những nghiên cứu về cây thuốc chỉ dừng lại ở mức mô tả các đặc điểm và cách sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật phát triển, đã có nhiều nghiên cứu sâu hơn về hoạt chất chính có tác dụng trong cây thuốc, tạo sự tin tưởng cho người bệnh khi sử dụng các sản phẩm thuốc có nguồn gốc từ cây cỏ
Theo đánh giá của WHO, có khoảng 70 - 80% dân số các vùng nông thôn các nước đang phát triển (Ethiopia 90%, India 70%, Tanzania 60%, Uganda 60%) dựa chủ yếu vào sử dụng thuốc cổ truyền cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe Với dân số chiếm
Trang 19tới hơn 1/6 nhân loại, thị phần thuốc có nguồn gốc tự nhiên của Trung Quốc cũng vào khoảng 30 - 50% Doanh thu từ sản xuất thuốc Đông dược đạt 1,8 tỷ USD mỗi năm Ngay tại một số quốc gia phát triển, nhu cầu chăm sóc sức khỏe bằng thảo dược cũng tăng lên nhiều trong hơn thập niên trở lại đây Nhật Bản có tổng giá trị thuốc từ thảo dược trong năm 2000 là 2,4 tỷ USD Mỹ thu khoảng 1,5 tỷ USD lợi nhuận mỗi năm từ thảo dược Các nước phát triển khác như Canada, Đức, Pháp, Úc, Bỉ…cũng ngay càng tăng xu thế sử dụng thuốc có nguồn gốc tự nhiên như là các liệu pháp bổ trợ (Canada
là 70%, Úc là 48 %, Pháp 49%, Mỹ 42%, Bỉ 31%).[15]
Theo đánh giá của WHO tổng giá trị dược liệu và thuốc từ dược liệu sử dụng hiện nay vào khoảng 80 tỷ USD mỗi năm.Các nước phát triển đồng thời cũng là những nước có những tập đoàn dược phẩm hàng đầu thế giới.Họ đang tìm cách khai thác triệt
để những thế mạnh của tiềm năng dược liệu phương Đông để tạo nên những sản phẩm đặc biệt có giá trị trong việc bảo vệ và nâng cao sức khoẻ
2.5.2.Tình hình nghiên cứu cây dược liệu ở Việt Nam
Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, nước ta có nguồn tài nguyênthực vật vô cùng phong phú và đa dạng Theo Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Nghĩa Thìn, số lượng thực vật bậc cao đã thống kê được ở nước ta khoảng 10.500 loài, dự đoán khoảng 12.000 loài Trong đó các loài cây được sử dụng làm thuốc khoảng trên 3.900 loài thuộc 307 họ thực vật (Dẫn theo NguyễnThị NgọcHuê,2015).[5]
Nền y học cổ truyền Việt Nam có lịch sử phát triển từ rất lâu đời Cộng đồng các dân tộc Việt Nam có nhiều kinh nghiệm độc đáo trong việc sử dụng các loài cây
cỏ để làm thuốc Từ xa xưa, ông cha ta đã biết sử dụng các loài cây thuốc sẵn có trong
tự nhiên với các phương pháp bào chế khác nhau để sử dụng chữa bệnh cho mọi người Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ thế hệ trước truyền cho thế hệ sau đã đúc kết được các kinh nghiệm từ thực tiễn lâm sàng, xây dựng nên lý luận về các phương pháp phòng
và chữa bệnh Đồng thời còn dựa vào hệ thống Triết học phương Đông, vận dụng vào
y học để chữa bệnh phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của con người Việt Nam
Từ thời Hồng Bàng và các Vua Hùng (2879 – 257 TCN), người dân đã có tục
ăn trầu và nhuộm răng đen với mục đích bảo vệ răng, làm chắc răng Việc sử dụng
Trang 20gừng, tỏi, ớt, sả làm gia vị trong các bữa ăn hàng ngày giúp tiêu hóa tốt, phòng trừ các bệnh đường ruột [6]
Cuối thế kỷ III TCN, ở Nam Việt Giao Chỉ đã phát hiện và sử dụng các loại cây thuốc để chữa bệnh như sắn dây, gừng, riềng, đậu khấu, ích trí, lá lốt, sả, quế, vông nem….[6], [7]
Dưới các thời phong kiến, các Thái y, viện Thái y đã hình thành để chữa bệnh cho vua, quan và nhân dân Dưới triều Trần, danh y Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh) đã
nói “Nam dược trịNam nhân”, ông cũng đề xuất việc trồng cây thuốc và chữa bệnh trong nhân dân Ông đã biên soạn cuốn sách “Nam dược thần hiệu”, mô tả 499 vị thuốc
và các phương thuốc để chữa 184 bệnh Năm 1717, “Nam dược thần hiệu” đổi tên thành “Hồng nghĩa giáclĩnh tư y thư” gồm 590 vịthuốc [5]
Dưới triều đại nhà Lê, nổi bật trong nền y học nước nhà là danh y Hải Thượng lãn ông – Lê Hữu Trác Ông đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu trong sử dụng các
loại dược liệu chữa bệnh trong bộ sách “ Hải Thượng ytông tâm lĩnh” gồm 28 tập,
66 quyển.Theo kết quả điều tra của Viện dược liệu Bộ Y tế năm 1985, nước ta có
1863 loài cây thuốc thuộc 236 họ thực vật.Theo giáo sư Võ Văn Chi trong cuốn “Từ
điển cây thuốc” số loài cây thuốc ở Việt Nam là trên 3000 loài Trên 3/4 cây trong
số này là những cây mọc tự nhiên, phần lớn sinh sống ở rừng.Kết quả điều tra sơ bộ ban đầu ở rừng một số tỉnh miền bắc cho thấy tỷ lệ cây làm thuốc thường chiếm khoảng 25-55% số cây điều tra và vùng có xen núi đá vôi thường có tỷ lệ cây làm thuốc rất cao, [2]
Năm 1952: Toàn Đông Dương có 1.350 loài
Năm 1986: Việt Nam đã biết có 1.863 loài
Năm 1996: Việt Nam đã biết có 3.200 loài
Năm 2000: Việt Nam đã biết có 3.800 loài
(Nguồn: Lã Đình Mỡi, 2003)
Trong nền y học cổ truyền hiện đại, Đảng và Nhà nước rất quan tâmđến Y học
cổ truyền trong hệ thống các bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh Điều 49, chương III,
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Năm (1992) đã nêu rõ “Phát
Trang 21triển và hoàn thiện hệthống bảo vệsức khỏe chongười dân trên cơ sở kết hợp y học, dược học hiện đại với y học cổ truyền”
Ngày 4/11/1955, Bộ y tế có công văn 9126 YD/PBCB hướng dẫn các địa phương khai thác và sử dụng các loại thuốc Nam để chữa bệnh trong nhân dân
Nghị định 238/TTg về việc thành lập Viện nghiên cứu Đông y; Thành lập các vườn thuốc mẫu y học cổ truyền từ Trung ương cho đến các địa phương với mục đích giúp cho sinh viên, học viên học tập, người dân biết cách nhận biết và sử dụng một số cây thuốc Nam để chữa bệnh.Trên cơ sở chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây dược liệu trong nhân gian để phục vụ công tác chữa bệnh, bảo tồn và phát triển các loại cây thuốc, bài thuốc quý
Năm 1963, Hội đồng Dược điển Việt Nam được thành lập để tổ chức công tác xây dựng Dược điển Việt Nam và tiêu chuẩn hóa thuốc; Hội đồng Dược điển đã biên soạn, trình Bộ y tế ban hành 04 bộ Dược điển Việt Nam, xuất bản vào các năm 1979,
1990, 2002 và 2009 Dược điển Việt Nam xuất bản lần thứ 4 (năm 2009) gồm 314 chuyên luận dược liệu và thuốc từ dược liệu[12]
Khoa học ngày càng phát triển, con người ngày càng đi sâu khám phá thế giới
tự nhiên, trong đó nghiên cứu các loại cây thuốc có tầm quan trọng đặc biệt GS.TS
Đỗ Tất Lợi là một nhà nghiên cứu cây thuốc nổi tiếng ở nước ta; sau nhiều năm nghiên
cứu và sưu tầm các loại dược liệu, ông đã biên soạn cuốn sách “Những cây thuốc và
vịthuốc Việt Nam”, mô tả đặc điểm hình thái và cách sử dụng gần 800 loài cây thuộc
164 họ thực vật có tác dụng chữa 60 nhóm bệnh Đây là một công trình nghiên cứu rất
có giá trị trong nước cũng như trên thế giới Trên cơ sở cuốn sách này, năm 1968 Hội đồng chứng chỉ tối cao Liên Xô đã công nhận học vị tiến sĩ cho Dược sĩ Đỗ Tất Lợi Năm 1980, ông được Chính phủ phong học hàm Giáo sư đại học Đến năm 1996, Đỗ Tất Lợi vinh dự được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học kỹ thuật.Theo thống
kê, ở nước ta hiện có 3.948 loài cây được dùng làm thuốc với khoảng trên dưới 300 loài thường xuyên được khai thác sử dụng cho thị trường trong và ngoài nước Nhu cầu về thị trường dược liệu ở nước ta hiện nay khoảng 50.000 - 60.000 tấn dược liệu mỗi năm, trong đó khoảng 2/3 được khai thác tự nhiên và trồng trọt Có khoảng 20.000
- 30.000 tấn dược liệu cho nhu cầu thuốc y học cổ truyền, bao gồm cả số lượng nhập
Trang 22khẩu qua nhiều con đường Mặc dù Việt Nam là một nước có tiềm năng lớn về nguồn nguyên liệu làm thuốc nhưng theo điều tra của Viện dược liệu, nhiều loài cây thuốc có giá trị chữa bệnh và kinh tế cao trước đây có trữ lượng lớn cho khai thác thì nay đã bị giảm sút và trở nên hiếm như: Hà thủ ô đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên, Ngũ gia bì gai, Ba kích, Cốt toái bổ, Đảng sâm, Hoàng tinh… Đã có 123 loài thuộc 53 họ được đưa vào Danh lục đỏ, Sách Đỏ ViệtNam và Danh mục thuộc Nghị định 48 CP/2002 của Chính phủ Trong đó có tới 55 loài được phân hạng theo IUCN ở mức bị đe dọa tuyệt chủng Nhiều cây thuốc trước những năm 90 đã di thực thành công và đã trồng đáp ứng đủ cho nhu cầu sử dụng trong nước thì nay đã phải nhập lại như: Đương quy, Bạch truật, Xuyên khung, Ngưu tất, Huyền sâm… [11], [13] Đây là những vị thuốc chiếm một tỷ trọng rất lớn trong điều trị bằng y học cổ truyền Chỉ tính riêng mức sử dụng một vị dược liệu của một bệnh viện y học cổ truyền cũng phải tới 4 - 5 tấn mỗi năm Mặc dù hiện nay, thuốc tân dược được phát triển mạnh ở hầu khắp các nước trên Thế giới nhưng 18 đại bộ phận dân cư các nước đang phát triển vẫn ưa sử dụng thuốc cổ truyền, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe ban đầu Cùng với sự phát triển không ngừng của những tiến bộ khoa học, người ta càng nhận biết nhiều hơn những giá trị của thảo dược trong phòng và chữa bệnh
Việt Nam với dân số trên 90 triệu người như hiện nay, theo thống kê, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong năm 2011 là 2,4 tỷ USD, trong đó thuốc sản xuất trong nước đạt 1,15 tỷ USD Và Việt Nam cũng đang được nhìn nhận như là một thị trường dược phẩm có sức hấp dẫn lớn đối với các doanh nghiệp dược phẩm cả trong và ngoài nước Làm sao để phát huy thế mạnh của dược liệu để đưa nền công nghiệp dược Việt Nam trở thành nền kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước và bảo
vệ sức khoẻ nhân dân đã trở thành mục tiêu có tính chiến lược của quốc gia[7]
Theo Ninh Khắc Bản (2003), khi điều tra về nguồn thực vật phi gỗ tại Hương Sơn
- Hà Tĩnh bước đầu đã xác định được khoảng 300 loài cây có thể sử dụng để làm thuốc Tuy nhiên trong quá trình điều tra thấy các loài cây được sử dụng làm thuốc chữa bệnh như: Hà thủ ô, Thiên niên kiện, Thạch xương bồ, Ngũ gia bì, Sa nhân [1]
Năm 2006 nhóm tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Viện Dược liệu đã tổ chức điều tra nguồn tài
Trang 23nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh và đã ghi nhận được có 288 loài thuộc 233 chi, 107 họ và 6 ngành thực vật Tất cả đều là những cây thuốc mọc hoang dại trong các quần xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi.Trong đó có 8 loài được coi là mới (chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam), [11]
Theo Trương Thị Tố Uyên (2010), khi nghiên cứu tính đa dạng thực vật và tài nguyên cây thuốc ở xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 56
họ, 107 chi, 135 loài và phân loại được 13 nhóm cây thuốc Trong đó có 28 cây thuốc thông tiểu, thông mật; 27 cây thuốc chữa tê thấp; 22 cây thuốc chữa bệnh tiêu hóa; 21 cây thuốc chữa ho hen; 16 cây thuốc có tác dụng cầm máu; 17 cây thuốc có tác dụng giải độc; 16 cây thuốc chữa cảm sốt; 14 cây thuốc chữa mụn nhọt, mẩn ngứa; 9 cây thuốc chữa bệnh dạ dày; 6 cây thuốc trị giun sán; 3 cây thuốc giúp hạ huyết áp; 3 cây thuốc chữa bệnh về mắt và 2 cây thuốc có tác dụng chữa ung thư
Báo cáo khoa học “Tài nguyên cây thuốcở Sơn La và kết quảnghiêncứu trồng thử
nghiệm một số cây thuốc có giá trị tại Chiềng Sinh, thị xã Sơn La “ (1994) đã công
bố500 loài cây thuốcởTây Bắc Riêng Sơn La có 70họ, 109 chi và 249 loài cây thuốc Trong đó : Nhóm cây 2 lá mầm gồm 54 họ, 159 chi và 203 loài; nhóm cây 1 lá mầm gồm 10 họ, 27 chi và 31 loài nhóm cây hạt trần gồm 2 họ, 2 chi và 2 loài; nhóm thông đất gồm 1 họ, 1 chi và 1 loài; nhóm dương xỉ gồm 3 họ, 9 chi và 12 loài
Ngày 30/10/2013, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020và định hướng đến năm 2030 Phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam trên cơ sở sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng về điều kiện tự nhiên và xã hội để phát triển các vùng trồng dược liệu, gắn với bảo tồn và khai thác hợp lý nguồn dược liệu tự nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường sinh thái
Phát triển dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn sản xuất nguyên liệu với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng vùng trồng dược liệu gắn với công nghiệp chế biến, cơ cấu sản phẩm đa dạng bảo đảm an toàn và chất lượng, khả năng cạnh tranh cao, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước và xuất khẩu
Trang 24Nhà nước hỗ trợ đầu tư về nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong việc bảo tồn nguồn gen, khai thác dược liệu tự nhiên, trồng trọt, chế biến dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu
Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển trồng dược liệu, đẩy mạnh xuất khẩu dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu, góp phần tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp dược trong tổng sản phẩm nội địa (GDP)
Theo Nguyễn Tập và Ngô Văn Trại đã điều tra đánh giá hiện trạng và tiềm năng
về y học cổ truyền trong cộng đồng các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, kết quả đã thu thập được nhiều cây thuốc, bài thuốc các thầy lang trong cộng đồng thường sử dụng, nhằm kế thừa và quảng bá rộng rãi những tri thức bản địa này của địa phương Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để duy trì, bảo tồn và khai thác được vốn kinh nghiệm quý báu này [8], [10]
Năm 2005, Bộ y tế, Viện y học cổ truyền biên soạn cuốn sách “Câyhoa cây
thuốc”, hướng dẫn cách sửdụng 29 loài cây hoa cây cảnh có tácdụng chữa bệnh thông
thường Cuốn sách sau khi xuất bản đã được đông đảo cán bộ và nhân dân tìm đọc, trở thành nhu cầu cần thiết đối với cộng đồng
Năm 2013 viện dược liệu đã xuất bản cuốn sách “Kỹthuật trồng cây thuốc”
Cuốn sách đã trình bày chi tiết kỹthuật trồng trọt,chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản đối với 38 cây thuốc thông dụng; đồng thời cũng mô tả đặc điểm, cách sử dụng 124 vị thuốc chữa bệnh phụ khoa, 10 loại rau, 21 loại quả và một số loại hạt có tác dụng chữa bệnh
Nguyễn Bá Hoạt đã hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt sử dụng và chế biếncây thuốc
có nhu cầu lớn làm nguyên liệu cho sản xuất quốc phòng, chữa bệnh, xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu sản xuất đại trà trên diện tích lớn, xây dựng vùng dược liệu theo hướng
an toàn theo tiêu chuẩn GAP (Good Agricultural Pratice) Cuốn sách còn cung cấp một
số thông tin cơ bản về giá trị của từng cây nhằm quảng bá, xây dựng thương hiệu sản phẩm Trong phần chế biến, các tác giả giới thiệu một số phương pháp chế biến theo học cổ truyền, giúp cho cơ sở trồng trọt đầu tư làm tăng chất lượng của sảnphẩm và dễ bảo quản hơn.[4]
Trang 25+ Vị thuốc cây Cát Sâm
Công dụng: Trừ hư nhiệt, dưỡng tỳ, lợi tiểu, bổ trung ích khí
Chủ trị: Ho nhiều đờm, sốt về chiều đêm, nhức đầu, bí tiểu, kém ăn, chống
suy nhược cơ thể, thuốc bổ mát…
Theo y học hiện đại:
Chiết xuất từ cát sâm có thể làm giảm hoạt động của ALT và AST ở trong huyết thanh Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số gan cũng như hàm lượng MDA trong homogenate gan Từ đó có thể đưa ra kết luận là dược liệu có tác dụng bảo vệ tổn thương gan cấp tính
Phần củ của dược liệu còn có tác dụng chống mỏi mệt đáng kể Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định rằng, đây chính là một nguyên liệu rất tiềm năng với ngành thực phẩm chức năng
+Một số bài thuốc từ cây cát sâm:
1 Bài thuốc chữa ho khan, ho dai dẳng, sốt khát nước
Chuẩn bị: 12g cát sâm, 12g mạch môn, 8g thiên môn, 8g vỏ rễ dâu
Thực hiện: Các dược liệu trên cho vào ấm, thêm 400ml nước và sắc trên lửa nhỏ
Khi lượng thuốc còn 200ml là đạt Chia đều thành 3 lần uống trong ngày, sắc uống mỗi ngày chỉ một thang
2 Bài thuốc chữa cảm sốt, khát nước
Chuẩn bị: 12g cát sâm, 12g cát căn, 4g cam thảo
Thực hiện: Cho vào ấm sắc chung với khoảng 600ml nước đến khi còn 300ml
thì ngưng Chia đều làm 3 lần uống trong ngày, dùng với liều lượng chỉ 1 thang/ngày
3 Bài thuốc chữa nhức đầu, khát nước, bí tiểu tiện
Chuẩn bị: 30g cát sâm
Trang 26 Thực hiện: Đem dược liệu đi thái lát, tẩm mật rồi cho lên chảo nóng sao vàng
Sau đó cho vào ấm sắc chung với 400ml nước đến khi còn 200ml Chia đều thành 3 lần uống, dùng 1 thang/ngày
4 Bài thuốc chữa kém ăn
Chuẩn bị: Cát sâm với lượng tùy ý
Thực hiện: Dược liệu đem thái lát và tẩm với nước gừng rồi sao vàng trên lửa
nhỏ Mỗi lần chỉ lấy 30g để sắc chung với 400ml nước đến khi còn 200ml Chia lượng thuốc này thành 3 lần uống trong ngày, sử dụng với liều lượng đúng 1 thang/ngày
5 Bài thuốc chữa cảm nắng
Chuẩn bị: 16g cát sâm, 14g mạch môn, 14g cát căn, 14g cam thảo đất
Thực hiện: Các vị thuốc trên đem cho hết vào ấm để sắc lấy nước uống trong
ngày Bài thuốc này đáp ứng tốt trong các trường hợp cảm nắng với triệu chứng sốt nóng, ho khan, đổ mồ hôi Hoặc chữa chứng trằn trọc ngủ không yên, nóng ấm về đêm
ở trẻ em
6 Bài thuốc chữa thủy đậu
Chuẩn bị: 12g cát sâm, 12g vỏ hạt đỗ xanh, 12g sinh địa, 12g đậu ván trắng, 12g
hạt đỗ đen, 10g hoàng tinh, 10g lá dâu, 10g mạch môn, 10g cam thảo dây
Thực hiện: Các vị thuốc đem rửa sạch, phơi cho khô rồi sắc lấy nước uống trong
ngày Dùng với liều lượng đúng 1 thang thuốc/ngày Lưu ý, chỉ dùng khi các nốt đậu
đã xẹp xuống
7 Bài thuốc chữa suy nhược cơ thể
Chuẩn bị: 10g cát sâm, 20g lá đinh lăng khô, 15g rễ đinh lăng đã sao, 8g sinh địa
Thực hiện: Các vị thuốc trên cho hết vào ấm sắc chung với 500ml nước đến khi
còn khoảng 150ml thì ngưng Chia đều làm 3 lần uống trong ngày, mỗi ngày dùng đúng 1 thang thuốc Cần duy trì liên tục trong khoảng 10 – 15 ngày
8 Bài thuốc chữa viêm gan truyền nhiễm
Chuẩn bị: 20g cát sâm, 20g rau má, 20g chó đẻ răng cưa, 16g nhân trần, 16g hạt
dành dành, 16g cam thảo nam
Thực hiện: Các dược liệu đem cho hết vào siêu đất sắc chung với 1 thăng nước
đến khi còn nửa thăng Chia làm nhiều lần uống trong ngày, dùng đúng 1 thang/ngày
Trang 27Cần duy trì trong thời gian dài để nhận được hiệu quả Thái Nguyên là một tỉnh trung
du miền núi vùng Đông Bắc Việt Nam, với diện tích rừng tự nhiên của tỉnh là 102.190
ha, thuận lợi cho sự phát triển của cây thuốc Trong những năm gần đây tình trạng phá rừng, khai thác dược liệu ồ ạt, đồng thời chưa có kế hoạch tái sinh phát triển các loại cây thuốc mọc tự nhiên nên nhiều loại dược liệu quý đang bị suy giảm nghiêm trọng Nghiên cứu thực trạng các loài cây thuốc quý hiếm tại tỉnh Thái Nguyên của Lê Thị Thanh Hương &cs đã ghi nhận một số kết quả: bước đầu đã xác định được 25 loài thực vật bậc cao có mạch sử dụng làm thuốc cần đươc phải bảo tồn Trong đó, theo Sách đỏ Việt Nam có 20 loài (cấp EN có 6 loài, cấp VU có 11 loài và cấp K có 3 loài); theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP có 6 loài (1 loài ở mức độ nghiêm cấm khai thác sử dụng
- IA và 5 loài hạn chế khai thác sử dụng - IIA); theo Danh lục đỏ cây thuốc có 15 loài (cấp EN có 10 loài và cấp VU có 5 loài)[6]; [12]; [13]
Các loài cây dược liệu tại Thái Nguyên đã tồn tại từ lâu và phân bố rộng rãi trên các diện tích rừng tự nhiên Tuy nhiên, trải qua quá trình canh tác sản xuất, cùng với việc một số diện tích bị thu hẹp, chuyển đổi đất lâm nghiệp nên nhiều loài dược liệu bị khai thác cạn kiệt
Quyết định số 1676/QĐ-UBND ngày 18/6/2019 về việc ban hành Danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực tỉnh Thái Nguyên, theo đó huyện Võ Nhai quy hoạch vùng sản xuất cây dược liệu tập trung dưới tán rừng với quy mô 500-1.000ha tại 6 xã phía Bắc của huyện; nhưng hiện nay con số thống kê cả huyện chỉ có 60 ha, chủ yếu là quế (35 ha), ba kích (8 ha), đinh lăng (7,5 ha) và một số cây dược liệu được trồng phân tán trong vườn nhà như hà thủ ô, sâm cát, đàn hương
Huyện định hóa Theo đồng chí Phạm Việt Dũng, Phó Chủ tịch UBND huyện: phát triển cây quế với mục tiêu mỗi năm trồng 500 ha quế trở lên Đến nay, toàn huyện
có 1860 ha quế được trồng với 2.722 hộ gia đình thực hiện
Mô hình trồng cây Ba Kích dưới tán rừng (từ năm 2011 đến 2015) với diện tích 24,5 ha; mô hình cây Sa Nhân được trồng thí điểm năm 2011 với diện tích 3ha; Dự án trồng cây Đinh Lăng được triển khai năm 2016 với quy mô 1ha Dự án trồng cây dược liệu tại xã Quân Chu do Công ty TNHH Tuấn Minh Spirit Thái Nguyên triển khai với quy mô 1,7ha Ngoài ra, tại một số xã như Phú Lạc, An Khánh; mô hình trồng Nghệ
Trang 28(năm 2018) do Hợp tác xã Nông nghiệp Trung Na triển khai thực hiện với quy mô 20 ha; người dân trồng 3 ha các loại cây như Đinh Lăng, Xạ Đen, Kim Ngân… trên đất ruộng và đất vườn đồi
Như vậy theo đề án phát triển cây dược liệu của tỉnh cho thấy nhóm cây dược liệu (Cà gai leo, đinh lăng, ba kích, hà thủ ô, khôi nhung, sa nhân, trà hoa vàng, dây thìa canh, sạ đen, nghệ, gừng, sả, địa liền, gấc, giảo cổ lam, ích mẫu, kim tiền thảo, ý
dĩ, bạch chỉ, bạch truật, địa hoàng,cát sâm …) sẽ được quy hoạch phát triển trên các huyện như: Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Lương, Định Hoá, Đại Từ; thành phố Sông Công
2.6 Những kết luận được rút ra từ tổng quan
Cùng với các công trình nghiên cứu về đặc điểm, công dụng của các loại cây thuốc trong tự nhiên Để cây thuốc sử dụng rộng rãi, trở thành sản phẩm hàng hóa, đồng thời bảo vệ các nguồn gen cây thuốc ngoài tự nhiên đang bị cạn kiệt dần Các cơ
sở nghiên cứu và các nhà khoa học đã nghiên cứu biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây thuốc, trong đó có loài cát sâm
Để chủ động trong lĩnh vực phát triển y dược cổ truyền và đảm bảo y dược cổ truyền giữ được thế mạnh của y học Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì chúng ta phải chủ động được nguồn dược liệu Hơn bao giờ hết, lúc này phát triển dược liệu nên được coi là an ninh quốc gia Phát triển nuôi trồng dược liệu còn là giải pháp quan trọng hạn chế tối đa việc khai thác tự nhiên, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và bảo vệ động, thực vật hoang dã đang có nguy cơ tuyệt chủng
Phát triển dược liệu theo hướng sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn sản xuất nguyên liệu với tiêu thụ sản phẩm, xây dựng vùng trồng dược liệu gắn với công nghiệp chế biến, cơ cấu sản phẩm đa dạng bảo đảm an toàn và chất lượng, khả năng cạnh tranh cao, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước và xuất khẩu
Cát sâm có tên Khoa học: Callerya speciosa (Champ ex Benth.) Schot Tên
tiếng Việt: Cát sâm; Sâm nam; sâm trâu; sâm chào mào; sâm cheo mèo; mát to; ngưu
dại lực đằng, Sâm gạo, Lăng yên to, sâm núi Dành.Tên khác: Millettia
speciosa Champ ex Benth.;
Trang 29Giá trị dược liệu và kinh tế của cây cát sâm nằm ở củ Trong củ có chứa nhiều tinh bột và đặc biệt có chứa Alcaloid (Sở thí nghiệm dược phẩm Quảng Châu – Nông thôn Trung Thảo Dược chế kỹ thuật 1971, 237) Tác dụng của của cát sâm được coi như là một vị thuốc bổ mát Thường dùng trong những trường hợp suy nhược, ho, sốt khát nước, nhức đầu, tiểu tiện khó khăn, dùng riêng hay phối hợp với nhiều vị thuốc khác dưới dạng sắc Theo Đỗ Tất Lợi, dược liệu Cát Sâm được nhân dân sử dụng để chữa các bệnh thấp, viên gan mạn tính, viên phế quản …
Hiện nay tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về tình hình sử dụng cây thuốc trong đó có Cát Sâm, nghiên cứu nhân giống vô tính cây Cát Sâm nhưng có rất ít đề tài nghiên cứu về phân bố và các biện pháp kỹ thuật cho cây Cát sâm phát triển theo hướng hàng hóa Với tình hình cây dược liệu nói chung và cây Cát Sâm nói riêng đang
bị suy giảm một cách nhanh chóng tại nước ta, để bảo tồn và phát triển cây thuốc là điều rất cần thiết vì thế chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá đặc điểm phân bố, tình hình sử dụng và ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng của cây Cát Sâm tại Thái Nguyên” nhằm mục đích phát triển rộng rãi nguồn cây thuốc Cát Sâm và nâng cao thu nhập của người dân
Trang 30PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cây cát sâm(Callerya speciosa ) do công ty TNHH nông nghiệp xanh Thái
Nguyên nhân giống từ hạt
- Supe lân lâm Thao của công ty supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao Thành phần: Hàm lượng P2O5 hữu hiệu 16 - 16.5%, hàm lượng P2O5 tự do: <= 4%, hàm lượng Lưu huỳnh: 11%
- Đạm urê của công ty phân bón và hóa chất dầu khí (PVFCCo), thành phần : Đạm tổng số (Nts): 46.3% BIURET: 1.0 %
- Phân kali clorua của công ty cp phụ gia công nghiệp minh quang, thành phần: 61% K2O, WEIGHT: 50 KGS
3.2 Địa điểm, thời gian nơi nghiên cứu
- Địa điểm điều tra: Huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ, Phú lương- tỉnh Thái Nguyên
- Địa điểm nghiên cứu kỹ thuật trồng trọt (phân bón): Theo dõi trên mô hình trồng cây cát sâm của công ty TNHH Nông nghiệp xanh Thái Nguyên tại xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian thực tập:12tháng từ 7/2019 – 7/2020
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra phân bố, thu thập thông tin về thực trạng các loài cây thuốc quý; tình hình khai thác và sử dụng cây thuốc quý theo kinh nghiệm của một số dân tộc trên 4 huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng và sâu bệnh hại của cây cát sâm
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra (nội dung 1)
3.4.1.1.Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu
Tham khảo các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: Điều kiện tựnhiên kinh tế xã hội của xã, các báo cáo của xã,huyệncó liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu