TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Lý do chọn đề tài
Để xác định tính cấp thiết của đề tài, phần này sẽ trình bày bối cảnh doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam và tổng quan các lý thuyết cùng nghiên cứu trước đó Dựa trên những phân tích này, tác giả sẽ lý giải lý do chọn đề tài nghiên cứu.
Tại Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được hình thành rất sớm
Từ năm 1954 ở miền Bắc và 1975 ở miền Nam, số lượng doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã giảm mạnh từ 12.000 doanh nghiệp vào năm 1986 xuống còn khoảng 526 DNNN vào cuối năm 2017 Mặc dù DNNN chiếm 70% tài sản quốc gia và 50% vốn đầu tư toàn xã hội, nhưng hiệu quả hoạt động của họ lại thấp, chỉ đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 11,7% trong giai đoạn 1991-1995, so với 8,2% của nền kinh tế Để cải thiện tình hình, nhà nước đã chủ trương sắp xếp lại, chuyển đổi và thoái vốn DNNN, bắt đầu bằng việc tiến hành cổ phần hóa.
Giai đoạn thí điểm cổ phần hóa từ 1998 trở về trước: có 123 DN và bộ phận
Giữa năm 1998 và 2011, Việt Nam đã đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) theo các Nghị định 44/1998/NĐ-CP, 64/2002/NĐ-CP, 187/2004/NĐ-CP và 109/2007/NĐ-CP, dẫn đến việc cổ phần hóa 3.858 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp Từ năm 2012 đến 2016, cổ phần hóa tiếp tục được thực hiện nhằm tái cơ cấu DNNN theo Quyết định 929/QĐ-TTg và các Nghị định 59/2011/NĐ-CP, 189/2013/NĐ-CP, với 535 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp được cổ phần hóa.
Nghị định 59/2011/NĐ-CP đã thay thế Nghị định 109/2007/NĐ-CP, quy định về việc chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Theo nghị định mới, danh sách đối tượng được cổ phần hóa đã bị thu hẹp từ 6 xuống còn 3 đối tượng.
Công ty TNHH MTV do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ đóng vai trò là công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty Nhà nước, bao gồm cả Ngân hàng Thương mại Nhà nước.
Công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là doanh nghiệp thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cũng như UBND tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương.
(iii) DN 100% vốn Nhà nước chưa chuyển thành Công ty TNHH MTV
Tiến trình cổ phần hóa diễn ra chậm chạp và không đạt yêu cầu tiến độ, trong khi các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn hoạt động kém hiệu quả Để khắc phục tình trạng này, nhà nước đã tăng cường cổ phần hóa và tái cơ cấu tổ chức, đồng thời tìm hiểu nguyên nhân khiến DNNN, mặc dù có lợi thế về nguồn lực vật chất và mối quan hệ tốt với các cơ quan nhà nước, vẫn phát triển không tương xứng Một số nguyên nhân chính đã được chỉ ra (Ban Chỉ đạo và Đổi mới DN, 2016).
Lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước đôi khi lợi dụng mối quan hệ với các cơ quan nhà nước để phục vụ cho lợi ích cá nhân, dẫn đến tình trạng thất thoát và lãng phí vốn cũng như tài sản của nhà nước.
- Có DNNN sử dụng cơ sở vật chất hiện có phục vụ nhóm lợi ích;
- Tinh thần doanh nghiệp không cao, còn dựa giẫm vào nhà nước; hay ỷ lại, đùn đẩy, lẫn tránh trách nhiệm, còn có tư duy nhiệm kỳ;
Lợi nhuận thu được hiện nay đang bị phân bổ không hợp lý, thiếu hoạch định nguồn lực cho hoạt động bền vững và lâu dài, dẫn đến việc phân chia hết thành quả hoạt động tức thì Đây là những vấn đề quan trọng mà nhà nước cần tập trung chỉ đạo, đồng thời thúc đẩy tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước (DNNN) để hình thành loại hình doanh nghiệp có vốn nhà nước (DNCVNN) tại Việt Nam.
Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa tại Việt Nam là những doanh nghiệp mà Nhà nước giữ dưới 100% vốn điều lệ hoặc cổ phần Các doanh nghiệp này hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần, góp phần vào sự phát triển kinh tế và thu hút đầu tư.
DNCVNN tại Việt Nam đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế, cung cấp sản phẩm và dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, đồng thời hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô Để DNCVNN hoạt động hiệu quả và bền vững, cần nghiên cứu sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động, không chỉ dựa vào nguồn vốn vật chất mà còn khai thác các nguồn lực phi vật chất như vốn xã hội, tinh thần doanh nghiệp và khả năng thích ứng Việc phân bổ nguồn lực hợp lý và khơi dậy tinh thần doanh nghiệp là cần thiết để DNCVNN có thể thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh tế, từ đó tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn nhà nước và đảm bảo hoạt động ổn định, bền vững.
DNCVNN tại Việt Nam cần được nghiên cứu để tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực phi vật chất Điều này không chỉ giúp đảm bảo lợi nhuận cao từ nguồn vốn đầu tư của nhà nước mà còn cho thấy sự cần thiết phải cải tổ mô hình này, thay vì bán hoặc thoái vốn hoàn toàn.
Vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp, giúp giảm thiểu rủi ro và duy trì sức mạnh kinh tế, đồng thời ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất kinh doanh Nó cải thiện lợi ích vật chất, nâng cao sản lượng và lợi nhuận, góp phần phát triển vốn con người Vốn xã hội cũng tác động đến cơ hội và sự thành công của doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tinh thần kinh doanh, giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn và duy trì hoạt động hiệu quả, bền vững Hơn nữa, vốn xã hội tạo điều kiện cho sự hợp tác hài hòa, đơn giản hóa quy trình làm việc và cung cấp giải pháp cho các tình huống khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải.
Vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động, khả năng thích ứng và tinh thần kinh doanh của doanh nghiệp Nghiên cứu cho thấy rằng vốn xã hội có tác động tích cực đáng kể đến khả năng cạnh tranh và sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp.
Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng khả năng thích ứng của doanh nghiệp là việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực để phản ứng, duy trì và điều chỉnh tích cực Điều này giúp củng cố, duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh, nâng cao hiệu quả và lợi thế cạnh tranh một cách bền vững, ngay cả trong môi trường đầy biến động và thách thức.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này phân tích tác động trực tiếp và đồng thời của vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam Bên cạnh đó, nó cũng xem xét tác động gián tiếp của vốn xã hội thông qua tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đối với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này.
Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích tác động đồng thời của vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam Mục tiêu là làm rõ mối liên hệ giữa các yếu tố này và hiệu suất của các doanh nghiệp, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong bối cảnh kinh tế hiện nay.
Nghiên cứu này nhằm khám phá tác động gián tiếp của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNCVNN) tại Việt Nam, thông qua tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng Điều này cho thấy vai trò quan trọng của vốn xã hội trong việc thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và khả năng điều chỉnh của các doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
− Nghiên cứu sự tác động gián tiếp của tinh thần kinh doanh thông qua khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam;
− Các hàm ý quản trị cho các nhà quản trị về việc góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động DNCVNN tại Việt Nam.
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu thì luận án cần phải trả lời được các câu hỏi sau:
Vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam Những yếu tố này không chỉ tác động trực tiếp mà còn hỗ trợ lẫn nhau, tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Việc phát huy vốn xã hội giúp tăng cường sự tin tưởng và hợp tác giữa các bên liên quan, trong khi tinh thần kinh doanh khuyến khích sự đổi mới và sáng tạo Khả năng thích ứng linh hoạt với thay đổi của thị trường cũng là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp vượt qua thách thức và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động.
Vốn xã hội ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam (DNCVNN) thông qua việc thúc đẩy tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng Sự kết nối và tin tưởng trong cộng đồng giúp tạo ra môi trường thuận lợi cho đổi mới và sáng tạo, từ đó nâng cao hiệu suất làm việc Ngoài ra, khả năng thích ứng của DNCVNN trong bối cảnh thị trường thay đổi nhanh chóng cũng được cải thiện nhờ vào các mối quan hệ xã hội mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Tinh thần kinh doanh có tác động gián tiếp thông qua khả năng thích ứng như thế nào đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam?
Các hàm ý quản trị cho các nhà quản trị về việc góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động DNCVNN tại Việt Nam là như thế nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung vào nghiên cứu ba khía cạnh chính liên quan đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam: (1) tác động trực tiếp của vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng, (2) tác động gián tiếp của vốn xã hội thông qua tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng, và (3) tác động gián tiếp của tinh thần kinh doanh thông qua khả năng thích ứng.
− Khách thể nghiên cứu: Các DNCVNN đang hoạt động tại Việt Nam
Đối tượng khảo sát bao gồm các lãnh đạo của Doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam, cụ thể là Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, hoặc những người được ủy quyền có hiểu biết sâu sắc về hoạt động của doanh nghiệp, do Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc chỉ định và trình lãnh đạo phê duyệt trước khi gửi phản hồi cho người viết.
− Phạm vi nghiên cứu: Các DNCVNN tại Việt Nam (các DNNN đã cổ phần hóa tính đến tháng 8 năm 2019 theo trang Web: chinhphu.vn)
− Thời gian nghiên cứu: năm 2018, 2019.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng; trong đó nghiên cứu định lượng là chính; trình tự như sau:
Phương pháp phỏng vấn chuyên gia, bao gồm phỏng vấn sâu và thảo luận tay đôi, được sử dụng để làm rõ các khái niệm và điều chỉnh thang đo sơ bộ về vốn xã hội, tinh thần kinh doanh, khả năng thích ứng và hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam Đối tượng phỏng vấn bao gồm các Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc và Phó Giám đốc của DNCVNN Mười chuyên gia có kinh nghiệm đã được chọn để tham gia phỏng vấn sâu, với danh sách đính kèm ở phụ lục, trang 176; phỏng vấn đến người thứ 10 không còn cung cấp thêm thông tin mới.
− Nghiên cứu định lượng sơ bộ:
Sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát bằng cách gửi bản câu hỏi để khảo
Người viết đã gửi 100 phiếu điều tra và thu về 60 quan sát thông qua phương pháp chọn mẫu phi xác suất, cụ thể là lấy mẫu thuận tiện từ 720 doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa đến tháng 8/2019 Đối tượng khảo sát bao gồm các Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, hoặc người được ủy quyền am hiểu hoạt động của doanh nghiệp Mục tiêu là đánh giá tính nhất quán và cấu trúc thang đo Phần mềm phân tích độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố khám phá (EFA) đã được sử dụng để sàng lọc và xác định cấu trúc thang đo, từ đó hoàn thiện phiếu khảo sát cho nghiên cứu định lượng chính thức.
− Nghiên cứu định lượng chính thức:
Phương pháp điều tra khảo sát được thực hiện bằng cách gửi phiếu khảo sát, thu về 568 phiếu hợp lệ từ mẫu tổng thể 720 doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa tính đến tháng 8/2019 Đối tượng khảo sát bao gồm các Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, hoặc người được ủy quyền am hiểu hoạt động doanh nghiệp Dữ liệu thu thập được phân tích bằng phần mềm máy tính để kiểm tra độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và nhân tố khẳng định (CFA), nhằm đánh giá tính tương thích, giá trị phân biệt, giá trị hội tụ và độ tin cậy tổng hợp của các thang đo Kiểm định mô hình lý thuyết được thực hiện bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để rút ra kết luận về mô hình và các giả thuyết liên quan đến tác động của vốn xã hội, tinh thần kinh doanh, và khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cổ phần hóa tại Việt Nam.
Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của đề tài
1.5.1 Đóng góp về khoa học
Nghiên cứu này phân tích tác động đồng thời của vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam Kết quả cho thấy rằng các yếu tố này có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu suất và cải thiện hoạt động của doanh nghiệp, góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích tác động gián tiếp của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam (DNCVNN), thông qua hai yếu tố quan trọng là tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của vốn xã hội trong việc nâng cao hiệu suất hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam.
− Nghiên cứu sự tác động gián tiếp của tinh thần kinh doanh thông qua khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam.
1.5.2 Đóng góp về thực tiễn
Nghiên cứu cho thấy vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam Điều này nhấn mạnh rằng những yếu tố này là rất quan trọng trong việc thực hiện chiến lược kinh doanh và hoạch định chính sách vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam.
Nghiên cứu này cung cấp tài liệu tham khảo quý giá cho lãnh đạo các DNCVNN tại Việt Nam, hỗ trợ họ trong việc quyết định sử dụng, kết hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực vô hình Điều này nhằm mục đích duy trì hoạt động ổn định, hiệu quả và bền vững cho tổ chức.
− Kết quả nghiên cứu có thể tham khảo cho kỹ năng quản trị nguồn lực, quản trị rủi ro trong các DNCVNN tại Việt Nam
Các cơ quan Nhà nước nên tham khảo kết quả nghiên cứu này để nhận diện sự vận động và tầm quan trọng của các nguồn lực vô hình như vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng trong các doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam Điều này sẽ giúp họ ban hành kịp thời các chính sách điều chỉnh phù hợp.
Điểm mới của luận án
Luận án dựa trên dữ liệu khảo sát 720 doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam tính đến tháng 9/2018, đã chỉ ra rằng các nguồn lực vô hình như vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, đây là điểm mới nổi bật của nghiên cứu.
Ba nguồn lực vô hình, bao gồm vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng, có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam (DNCVNN) Đây là loại hình doanh nghiệp đặc thù đang trong quá trình chuyển đổi và tái cấu trúc để nâng cao hiệu quả hoạt động.
− Sự tác động gián tiếp của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động DNCVNN tại Việt Nam thông qua tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng.
− Sự tác động gián tiếp của tinh thần kinh doanh đến hiệu quả hoạt động DNCVNN tại Việt Nam thông qua khả năng thích ứng.
Kết cấu của luận án
Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu nêu ra, kết cấu luận án này bao gồm 5 chương như sau:
Chương 1 trình bày bối cảnh nghiên cứu nhằm lý giải sự lựa chọn đề tài, đồng thời nêu rõ mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Chương này cũng xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được áp dụng, điểm mới của luận án, cũng như các đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn Cuối cùng, chương sẽ giới thiệu cấu trúc tổng quát của luận án.
Chương 2 cung cấp cơ sở lý thuyết với các khái niệm và lý thuyết nền tảng, đồng thời tổng hợp các mô hình nghiên cứu trước đây Ngoài ra, chương này còn phát triển giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu mới.
Chương 3 mô tả phương pháp nghiên cứu, bao gồm quy trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu định tính, hiệu chỉnh thang đo, nghiên cứu định lượng và cách xử lý dữ liệu.
Chương 4 của bài viết trình bày kết quả nghiên cứu, bao gồm thống kê mẫu, kiểm định thang đo, và các giả thuyết nghiên cứu Từ những kết quả này, chúng tôi đưa ra kết luận về tính chính xác của giả thuyết và mô hình nghiên cứu đã đề xuất.
Chương 5 tổng kết kết quả nghiên cứu và đề xuất các hàm ý cho nhà quản trị trong việc phối hợp sử dụng và phân bổ hợp lý các nguồn lực vô hình của DNCVNN tại Việt Nam Nghiên cứu cũng nêu rõ ý nghĩa và các đóng góp của nó, đồng thời chỉ ra những hạn chế hiện tại và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
Tóm tắt chương Một
Chương 1 đã giới thiệu về bối cảnh nghiên cứu để nêu lý do chọn đề tài Sau đó, chương này đề cập đến mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp về khoa học và thực tiễn, điểm mới của luận án cũng như giới thiệu về kết cấu của luận án Chương 2 sẽ trình
Bài viết này trình bày các cơ sở lý thuyết và lý thuyết nền tảng, đồng thời lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan, nhằm tạo nền tảng cho việc phát triển giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu cho luận án.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Vốn xã hội doanh nghiệp (Corporate social capital)
2.1.1 Khái niệm vốn xã hội doanh nghiệp
Vốn xã hội là khái niệm xuất phát từ xã hội học, được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, giáo dục, xã hội và tâm lý trên toàn cầu (Grootaert, 1998; Nahapiet).
& Ghoshal, 1998) Vốn xã hội theo cách hiểu căn bản nhất bao gồm các thành tố:
Hệ thống mạng lưới xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng niềm tin giữa con người và khả năng kết nối để hợp tác vì lợi ích chung Theo Prusak & Cohen (2001), sự hợp tác giữa con người được xây dựng dựa trên niềm tin, sự hiểu biết lẫn nhau và việc chia sẻ các giá trị đạo đức cùng chuẩn mực xã hội Vốn xã hội không chỉ kết nối các thành viên trong cộng đồng mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp hành động hiệu quả.
Vốn xã hội đã được nghiên cứu ở ba cấp độ: cá nhân, doanh nghiệp và quốc gia, với vốn xã hội cá nhân tập trung vào mối liên kết xã hội ở cấp độ vi mô, trong khi vốn xã hội quốc gia nhấn mạnh cấu trúc xã hội Vốn xã hội doanh nghiệp, mà bài viết này tập trung vào, đề cập đến các nguồn lực phát sinh từ các kết nối mạng lưới bên trong doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp với nhau.
Vốn xã hội doanh nghiệp, theo Leenders & Gabbay (1999, 2013), được định nghĩa là các nguồn lực hiện hữu hoặc ảo mà doanh nghiệp tích lũy thông qua các mối quan hệ xã hội, nhằm đạt được mục tiêu của mình Cách tiếp cận này cho thấy vốn xã hội là một phần của cấu trúc xã hội, tiềm ẩn trong các mối liên hệ giữa các cá nhân và tổ chức.
Vốn xã hội doanh nghiệp được phân tích qua bốn cấp độ: cá nhân, nhóm, doanh nghiệp và mạng lưới kết nối bên ngoài Các kết nối cá nhân tạo nên vốn xã hội thông qua cấu trúc phi chính thức, bao gồm giao tiếp liên quan và không liên quan đến công việc Những mối quan hệ này có thể mở rộng ra ngoài tổ chức, như mạng lưới bạn bè, đồng nghiệp cũ Vốn xã hội tích lũy các nguồn lực hữu hình và vô hình thông qua cấu trúc xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cá nhân và tổ chức đạt được mục tiêu.
Cấu trúc xã hội bao gồm nhiều loại quan hệ khác nhau như kinh tế, nghề nghiệp và cá nhân, được chia thành nhiều lớp khác nhau Mỗi cá nhân có thể tham gia vào nhiều kiểu quan hệ hoặc chỉ một kiểu Những quan hệ này có thể mang lại lợi ích hoặc trách nhiệm (Gabbay & Leenders, 1999) Trong doanh nghiệp, một số vị trí giúp cá nhân xây dựng mối quan hệ xã hội, từ đó doanh nghiệp cung cấp vốn xã hội cho mỗi cá nhân Ngược lại, mỗi cá nhân cũng đóng góp vào sự phong phú của vốn xã hội trong doanh nghiệp, tạo ra sự gia tăng vốn xã hội cho cả hai bên.
Hình 2.1: Sự tác động qua lại giữa cấu trúc xã hội và vốn xã hội doanh nghiệp
Mỗi cá nhân và tổ chức đều tích cực xây dựng các mối quan hệ xã hội nhằm tối ưu hóa lợi ích và khám phá cơ hội mới Việc tạo dựng nhiều kết nối và đa dạng hóa các mối quan hệ là chìa khóa để phát triển bền vững và đạt được thành công trong môi trường cạnh tranh hiện nay.
Cấu trúc ở cấp độ doanh nghiệp Cấu trúc ở cấp độ cá nhân
Vốn xã hội cá nhân
Vốn xã hội doanh nghiệp
Kết nối với mạng lưới có nguồn lực tốt giúp cá nhân và tổ chức tận dụng các nguồn lực mà các mối quan hệ trong mạng lưới cung cấp, từ đó mang lại lợi ích cho họ.
Vị trí doanh nghiệp trong mạng lưới đối tác ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp cận và sử dụng vốn xã hội Lòng tin là nền tảng quan trọng trong việc thiết lập và duy trì mối quan hệ với các đối tác, giúp giảm thiểu chi phí giao dịch và ngăn chặn tình trạng lợi dụng trong quan hệ hợp tác Đồng thời, lòng tin cũng là kết quả của các chiến lược hợp tác và liên minh giữa doanh nghiệp và đối tác.
Các nghiên cứu về vốn xã hội doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào việc phân tích vốn xã hội cá nhân, đặc biệt là vốn xã hội của các lãnh đạo doanh nghiệp (Tushman).
Vốn xã hội trong doanh nghiệp được phân chia thành hai loại: vốn xã hội bên trong và bên ngoài, theo các nghiên cứu của McElroy, Jorna, Engelen (2006) và Brookes, Morton, Dainty, Burns (2006) Mỗi nghiên cứu có thể tập trung vào hai khía cạnh khác nhau của vốn xã hội, bao gồm chất lượng mạng lưới và cấu trúc mạng lưới, tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể.
Bảng 2.1 Các khía cạnh của vốn xã hội
Các khía cạnh Cấu trúc mạng lưới Chất lượng mạng lưới
Cơ cấu tổ chức mạng lưới
Mối quan hệ chiều ngang, chiều dọc
Nhận thức mối quan hệ: Lòng tin, chia sẻ, hỗ trợ, chuẩn mực, nghĩa vụ, trách nhiệm, kỳ vọng của mỗi người
Sự liên kết: Co cụm vào nhau, vươn ra bên ngoài, kết nối
Sự tham gia vào các tổ chức xã hội: tần suất, mức độ kết nối, nhận được sự hỗ trợ từ mạng lưới
Các khía cạnh Cấu trúc mạng lưới Chất lượng mạng lưới
Cơ cấu tổ chức mạng lưới
Mối quan hệ chiều ngang, chiều dọc
Nhận thức mối quan hệ: Lòng tin, chia sẻ, hỗ trợ, chuẩn mực, nghĩa vụ, trách nhiệm, kỳ vọng của mỗi người
Sự liên kết: Co cụm vào nhau, vươn ra bên ngoài, kết nối
Sự tham gia vào các tổ chức xã hội: tần suất, mức độ kết nối, nhận được sự hỗ trợ từ mạng lưới
Các khía cạnh Cấu trúc mạng lưới Chất lượng mạng lưới
Cơ cấu tổ chức mạng lưới
Mối quan hệ chiều ngang, chiều dọc
Nhận thức mối quan hệ: Lòng tin, chia sẻ, hỗ trợ, chuẩn mực, nghĩa vụ, trách nhiệm, kỳ vọng của mỗi người
Sự liên kết: Co cụm vào nhau, vươn ra bên ngoài, kết nối
Sự tham gia vào các tổ chức xã hội: tần suất, mức độ kết nối, nhận được sự hỗ trợ từ mạng lưới
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Vốn xã hội có thể được tiếp cận từ nhiều cấp độ và khía cạnh khác nhau, bao gồm cá nhân, tổ chức và quốc gia Các cấp độ này có mối quan hệ tương hỗ, với vốn xã hội cá nhân và tổ chức phát triển dựa trên nền tảng vốn xã hội quốc gia Vốn xã hội của tổ chức được hình thành từ vốn xã hội của từng cá nhân trong tổ chức và ngược lại, đồng thời cũng làm giàu vốn xã hội cá nhân Khái niệm vốn xã hội là đa chiều, yêu cầu xem xét cả cấu trúc và chất lượng mạng lưới để có cái nhìn toàn diện Trong nghiên cứu này, vốn xã hội doanh nghiệp được định nghĩa là tổng hợp các nguồn vốn xã hội của doanh nghiệp, bao gồm cả cá nhân và tổ chức, được phân tích qua hai khía cạnh: cấu trúc mạng lưới và chất lượng mạng lưới, với trọng tâm là vốn xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp.
Lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến vốn xã hội của tổ chức Cấu trúc và chất lượng mạng lưới nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp cần được nghiên cứu để hiểu rõ hơn về tác động của lãnh đạo đối với sự phát triển bền vững.
2.1.2 Đo lường vốn xã hội doanh nghiệp
Cấu trúc xã hội của doanh nghiệp được hình thành từ nền tảng văn hóa, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng các chuẩn mực, giá trị và lòng tin theo thời gian (Marcoulides & Heck, 1993) Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của văn hóa doanh nghiệp trong việc phát triển cấu trúc xã hội.
“Chất keo kết dính xã hội” là yếu tố quan trọng giúp gắn kết các cá nhân trong doanh nghiệp, hướng tới tầm nhìn và giá trị chung một cách hiệu quả Theo Coleman (1988), có ba yếu tố cấu thành vốn xã hội: các kênh thông tin, trách nhiệm và lòng tin, cùng với các hành vi chuẩn mực Trong bối cảnh doanh nghiệp, lòng tin đóng vai trò then chốt trong việc trao đổi thông tin, từ đó tăng cường sự hợp tác giữa các cá nhân và bộ phận Nếu doanh nghiệp thiết lập chuẩn mực tốt trong chia sẻ thông tin, họ có thể tận dụng hiệu quả các mối quan hệ giữa các thành viên, tạo ra một dạng vốn xã hội nội bộ quý giá (Hoài & Điền, 2010).
Tinh thần kinh doanh (Entrepreneurship)
2.2.1 Khái niệm về tinh thần kinh doanh
Tinh thần kinh doanh (entrepreneurship) là một chiến lược tìm kiếm cơ hội cạnh tranh, thể hiện sự chủ động, đổi mới và chấp nhận rủi ro (Purwanti et al., 2020) Thuật ngữ này đã tồn tại từ lâu trên thế giới và được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam (Lộc, 2011) Trong bối cảnh thế giới liên tục thay đổi và đối mặt với các khủng hoảng kinh tế, tinh thần kinh doanh ngày càng được khuyến khích cả ở Việt Nam và toàn cầu.
Chua, Chrisman và Sharma (1999) định nghĩa tinh thần kinh doanh là quá trình mà cá nhân hoặc nhóm cá nhân, liên kết với một tổ chức hiện có, tiến hành tạo ra giá trị mới.
Tổ chức mới hoặc đổi mới chiến lược là những yếu tố quan trọng trong tinh thần kinh doanh, bao gồm tham gia mạo hiểm, đổi mới chiến lược và đổi mới sản phẩm, dịch vụ Các nghiên cứu của Wang, Chung, & Lim (2015) và Zahra & Garvis (2000) đã áp dụng lý thuyết tổ chức để phân tích tinh thần kinh doanh, với ba thành tố chính là đổi mới, mạo hiểm và kết nối Nhiều nghiên cứu khác như của Ling, Simsek, Lubatkin, & Veiga (2008) và Heavey & Simsek (2013) cũng đồng thuận về các yếu tố cấu thành tinh thần kinh doanh, dựa trên các lý thuyết như lý thuyết phong cách lãnh đạo, lý thuyết tri thức, lý thuyết cấu trúc ngẫu nhiên, cùng với lý thuyết vốn con người và xã hội.
Tinh thần kinh doanh được coi là một phong thái chiến lược, thể hiện qua việc chủ động tìm kiếm cơ hội, tự chủ và cạnh tranh quyết liệt thông qua đổi mới sản phẩm, đồng thời sẵn sàng chấp nhận rủi ro (Covin & Slevin, 1991; Lumpkin & Dess).
Tự chủ là hành động độc lập trong việc theo đuổi mục tiêu, trong khi sáng tạo thể hiện xu hướng tìm kiếm giải pháp mới để phát triển doanh nghiệp Chấp nhận rủi ro cho thấy ý định nắm bắt cơ hội trong bối cảnh không chắc chắn, và chủ động miêu tả doanh nghiệp tiên phong trong việc giới thiệu sản phẩm mới Quyết liệt cạnh tranh phản ánh sự sẵn sàng thách thức đối thủ để duy trì lợi thế cạnh tranh Những khía cạnh này là cốt lõi cho hành động của doanh nhân, giúp biến những cảm nhận nhạy bén về kinh doanh thành sản phẩm có giá trị kinh tế cao Những người có tinh thần kinh doanh mạnh mẽ luôn tìm kiếm cách đổi mới, chấp nhận rủi ro để tạo ra giá trị mới và phát triển doanh nghiệp, cho thấy tự chủ là đặc trưng nổi bật của tinh thần kinh doanh.
Đam mê, bên cạnh sự chủ động và chấp nhận rủi ro, là những yếu tố quan trọng trong tinh thần kinh doanh (Fang & An, 2017) Đam mê không chỉ thúc đẩy sự sáng tạo mà còn khuyến khích việc tiếp nhận các mô hình kinh doanh mới (Hartmann & Herb).
Tinh thần kinh doanh được xem là sự hiện thân của đam mê, cho phép doanh nhân tin rằng những gì họ làm là chìa khóa để thực hiện ước mơ và vượt qua khó khăn (Rieckhoff & Larsen, 2012) Niềm đam mê này thể hiện cảm xúc tích cực và tinh thần mạnh mẽ, đồng thời gắn liền với nhận thức và hành vi giá trị cá nhân cao (Nunnally, 2012) Ruvio, Rosenblatt, & Hertz-Lazarowitz (2010) nhấn mạnh rằng đam mê kinh doanh là một cảm xúc mạnh mẽ, giúp doanh nhân có nhận thức tích cực và thực hiện các hoạt động có giá trị Shane (2012) chỉ ra rằng doanh nhân với đam mê có sự nhận thức và hành vi rõ ràng về vai trò cá nhân, từ đó làm nổi bật giá trị cá nhân và tổ chức Trong bối cảnh không chắc chắn, Fagan & Ployhart (2015) cho rằng đam mê là động lực thúc đẩy tinh thần kinh doanh, truyền cảm hứng cho ý tưởng và công việc hàng ngày Tương tự, Chowdhury, Schulz, Milner, & Van De Voort (2014) xác định đam mê kinh doanh là một loại cảm xúc tích cực, giúp con người sẵn sàng đầu tư thời gian và năng lượng để hiện thực hóa chiến lược bản thân.
Chấp nhận rủi ro là một phần không thể thiếu trong tinh thần kinh doanh, với rủi ro được xem là một hàm của những biến đổi trong phân phối khả năng xảy ra kết quả kinh doanh (Xu & Ruef, 2004) Quan điểm cho rằng doanh nhân là người mạo hiểm đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ cộng đồng nghiên cứu (McClelland, 1961), và điều này càng trở nên rõ ràng hơn trong môi trường của các công ty khởi nghiệp (Begley & Boyd, 1987; Busenitz).
Vào năm 1999, việc chấp nhận rủi ro đã chứng minh rằng nó có thể mang lại kết quả cao, do đó, các doanh nhân sẵn sàng đối mặt với sự mơ hồ trong các tình huống chiến lược Thực tế, những cá nhân có nhu cầu cao thường tìm kiếm cơ hội trong những tình huống không chắc chắn này.
Các doanh nhân thường có thành tích quyết đoán, tham vọng và sẵn sàng chấp nhận rủi ro, như đã chỉ ra bởi Tang & Hull (2012) Họ chấp nhận rủi ro để nắm bắt cơ hội, với Giacomin và các tác giả khác (2011) xem rủi ro là ý định chấp nhận rủi ro của người ra quyết định, ảnh hưởng đến khả năng nắm bắt cơ hội và thông tin Các nhà quản lý chấp nhận rủi ro thường đưa ra quyết định nhanh hơn và sử dụng ít thông tin hơn Nghiên cứu của Chang & Chiu (2012) cho thấy những người có xu hướng chấp nhận rủi ro cao có khả năng ra quyết định nhanh hơn so với những người có xu hướng chấp nhận rủi ro thấp Trong các công ty đại chúng, những cá nhân này thường thể hiện hiệu quả công việc tốt hơn khi cần đưa ra quyết định nhanh chóng.
Tinh thần đổi mới và sáng tạo là thuộc tính quan trọng của tinh thần kinh doanh (Drucker, 2014) Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng sự sáng tạo là yếu tố phân biệt doanh nhân với những người khác, và nó xuất phát từ những ý tưởng mới (Hennessey & Amabile, 2010) Việc áp dụng tư tưởng, phương pháp và cách tiếp cận mới dựa trên nghiên cứu và phát triển là chìa khóa để tạo ra lợi thế cạnh tranh và sản phẩm mới Sự sáng tạo của doanh nhân không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại của thị trường mà còn định hướng cho nhu cầu trong tương lai (Miller, 1983; Miller, 2011).
Các công ty Mỹ đang thực hiện tái lập và đổi mới để phát triển, coi đây như một cuộc cách mạng trong kinh doanh Thành công của họ phụ thuộc vào tinh thần kinh doanh mạnh mẽ của các lãnh đạo công ty (Hammer & Champy).
Tại Việt Nam, tinh thần kinh doanh được hình thành từ chín yếu tố quan trọng: khát vọng kinh doanh, khả năng tìm kiếm và nắm bắt cơ hội, sự độc lập và tự tin, dám chịu trách nhiệm, tính linh hoạt, tư duy đổi mới, đạo đức kinh doanh, sự bền bỉ, và khả năng đạt được thành quả kinh tế Những yếu tố này được phân nhóm thành bốn nhân tố chính của tinh thần kinh doanh.
Sáng tạo và đổi mới là nền tảng cho việc phát hiện và tạo ra cơ hội kinh doanh mới, trong khi sự dám nghĩ, dám làm và chấp nhận rủi ro giúp doanh nhân thực hiện các kế hoạch kinh doanh dù thông tin chưa rõ ràng Việc nắm bắt cơ hội và chấp nhận rủi ro không chỉ giúp doanh nhân đi trước đối thủ mà còn mang lại thành quả tốt, từ đó tạo điều kiện cho tái đầu tư vào một chu kỳ kinh doanh mới Bốn yếu tố cốt lõi của tinh thần kinh doanh, bao gồm chủ động nắm bắt cơ hội, chấp nhận rủi ro và sáng tạo đổi mới, sẽ tạo ra sự phát triển liên tục cho doanh nhân, thúc đẩy việc thực hiện những ý tưởng mới trong doanh nghiệp.
7) đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội, 8) bền bỉ và 9) đạt được thành quả về kinh tế thuộc nhân tố “thành quả bền vững”, là thang đo hiệu quả công việc Vì vậy, trong luận án này, tinh thần kinh doanh được tiếp cận và phân tích sâu ở 3 thành tố cốt lõi như được tóm tắt ở bảng 2.3
Bảng 2.3 Định nghĩa ba thành tố cốt lõi của tinh thần kinh doanh
Khả năng thích ứng (resilience capability)
2.3.1 Khái niệm khả năng thích ứng
Khả năng thích ứng là một khái niệm quan trọng được thảo luận trong nhiều lĩnh vực khoa học, bao gồm khoa học vật liệu, sinh thái, lý thuyết tổ chức, kinh tế, quản lý rủi ro, xã hội học, tâm lý học và mạng máy tính.
1973) Khái niệm này được nghiên cứu ở khối ngành quản lý công từ cuối thập niên
80 Theo Wildavsky (1988), khả năng thích ứng là một trong hai chiến lược quan trọng (bên cạnh khả năng dự báo) để xử lý vấn đề rủi ro trong xã hội hiện đại
Weick, Sutcliffe và Obstfeld (2008) cho rằng khả năng thích ứng là việc duy trì sự điều chỉnh tích cực trong những điều kiện đầy thách thức, từ đó cung cấp một khuôn mẫu hữu ích để xác định khả năng này Đối với các nhà quản lý, việc xây dựng và duy trì khả năng thích ứng liên quan đến nhận thức về sự thích ứng như là các hiện tượng cân bằng hoặc biến đổi Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng đây là một sự đánh đổi và đề xuất rằng các tổ chức nên tập trung vào năng lực và tăng trưởng để xây dựng khả năng thích ứng.
2003); khai thác và khám phá (March, 1991) và duy trì lợi thế cạnh tranh bằng cách quản lý hiệu suất và các hệ thống thích ứng (Robb, 2000)
Khả năng thích ứng của tổ chức được thể hiện qua sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ trong môi trường đầy thách thức, biến đổi và không chắc chắn.
Khả năng thích ứng của tổ chức liên quan đến việc đối phó với các thách thức như cú sốc, khủng hoảng và cạnh tranh Một tổ chức có khả năng thích ứng là tổ chức có thể học hỏi từ các sự kiện đã xảy ra và điều chỉnh theo những thay đổi Tuy nhiên, khái niệm này thường chỉ tập trung vào hành vi con người mà không xem xét các yếu tố như quy trình, hệ thống và công nghệ Sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc vào các hệ thống hỗ trợ, bao gồm hệ thống thông tin và ứng dụng trong tổ chức, giúp cải thiện quy trình hoạt động và dịch vụ Thông tin và kết nối là hai yếu tố quan trọng, cho phép doanh nghiệp ra quyết định nhanh chóng và linh hoạt hơn Do đó, để có cái nhìn toàn diện về khả năng thích ứng, cần tích hợp các định nghĩa từ nhiều lĩnh vực khác nhau.
Bảng 2.5 Các định nghĩa về khả năng thích ứng
…khả năng thích ứng là khả năng đưa hệ thống quay lại tình trạng ban đầu (hay mong muốn) sau khi bị gián đoạn
khả năng để đối phó với những mối nguy hiểm không lường trước được sau khi đã trở nên rõ ràng, học cách đáp trả lại
Công ty có khả năng duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững bằng cách đạt được kết quả vượt trội so với các mục tiêu hiện tại và cải tiến hiệu quả để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng và hỗn loạn trong thị trường và công nghệ Sheffi & Rice nhấn mạnh rằng khả năng thích ứng này có thể đạt được thông qua các chiến lược linh hoạt và hiệu quả.
Jr, (2005) việc tạo dư thừa hoặc tăng tính linh hoạt
Khả năng hấp thụ căng thẳng và bảo vệ, hoặc cải thiện bản thân trước những nghịch cảnh và sự kiện không may, là điều quan trọng trong cuộc sống.
Sự kết hợp độc đáo giữa các đặc điểm nhận thức, hành vi và bối cảnh giúp nâng cao khả năng nắm bắt tình hình hiện tại của công ty, từ đó phát triển các phản hồi tùy chỉnh phản ánh sự hiểu biết đó.
…duy trì điều chỉnh tích cực trong điều kiện khó khăn, thách thức
Phản ứng thông minh là điều cần thiết để nhận diện và khắc phục các lỗi đã xảy ra, nhằm ngăn chặn tình huống trở nên tồi tệ hơn và gây ra những hậu quả nghiêm trọng.
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Khả năng thích ứng được định nghĩa khác nhau trong các lĩnh vực, phản ánh sự khác biệt giữa quan điểm cân bằng trong khoa học vật liệu và quan điểm hữu cơ hoặc đổi mới của các hệ sinh thái Điều này giúp nhận thức rõ về phạm vi ứng biến, phản hồi và biến đổi trong các bối cảnh khác nhau.
Khả năng điều chỉnh và tiến triển với các điều kiện thay đổi là yếu tố quan trọng cho sự thích ứng của tổ chức Việc tổng hợp các nghiên cứu trước đây về khả năng thích ứng sẽ giúp đánh giá sâu sắc hơn về cách các tổ chức có thể phát triển và quản lý yếu tố này Tác giả đề xuất rằng khả năng thích ứng của doanh nghiệp là cách thức sử dụng nguồn lực để phản ứng và điều chỉnh tích cực, từ đó củng cố, duy trì và phát triển các hoạt động kinh doanh, hiệu suất và lợi thế cạnh tranh một cách bền vững.
2.3.2 Đo lường khả năng thích ứng Định nghĩa khả năng thích ứng của DN cho thấy các thành phần của khả năng thích ứng bao gồm: 1) tính thích nghi, 2) tính dự đoán, 3) tính nhanh nhạy và 4) tính linh hoạt (Erol, Sauser, & Mansouri, 2010) Dalziell & McManus (2004) thảo luận về tầm quan trọng của việc đo lường khả năng thích ứng Đây là yếu tố quan trọng cho chiến lược thích ứng của một tổ chức Các yêu cầu chính được đề ra là: (i) sự phát triển của các phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả để các tổ chức có thể sử dụng để đánh giá khả năng thích ứng và chiến lược để cải thiện; (ii) một thuật ngữ
Để thúc đẩy đối thoại và tranh luận trong các tổ chức về ưu tiên thích ứng, cần thiết lập 30 yếu tố tạo điều kiện cho sự giao tiếp hiệu quả giữa các tổ chức về các vấn đề chung và sự phụ thuộc lẫn nhau trong chiến lược thích ứng Đồng thời, cần xác định các thông số đánh giá khả năng thích ứng, những thông số này phải có ý nghĩa đối với các quyết định của lãnh đạo trong tổ chức và liên quan trực tiếp đến các mục tiêu chung mà tổ chức hướng tới.
Theo Azadegan và Jayaram (2018), khả năng dự đoán giúp tổ chức cảm thấy an toàn và tăng cường khả năng đối phó Năng lực dự đoán cho phép các tổ chức chủ động dự báo tương lai, nhằm tránh những cái bẫy thành công và thất bại (Boyd, Nykvist, Borgström, & Stacewicz, 2015) March (1995) chỉ ra rằng bẫy thành công xảy ra khi tổ chức lặp lại mù quáng kinh nghiệm quá khứ, trong khi bẫy thất bại là kết quả của việc thử nghiệm ý tưởng mới mà không cho đủ thời gian để chúng phát triển Các tổ chức có thể dễ dàng rơi vào một trong hai cái bẫy này và không thể lường trước mọi nguy cơ.
Tính linh hoạt là yếu tố quan trọng trong khả năng thích ứng của hệ thống, bên cạnh tính dự đoán (Hildebrandt, McCall, Engen, & Singer, 2016; Haimes, Crowther, & Horowitz, 2008) Nghiên cứu cho thấy khả năng thích ứng có thể được cải thiện thông qua thiết kế và xây dựng tính linh hoạt trong các hệ thống (Sheffi & Rice, 2005) Tính linh hoạt được định nghĩa là khả năng của hệ thống thích ứng với yêu cầu thay đổi của môi trường và các bên liên quan với thời gian và nỗ lực tối thiểu (Erol, Sauser, & Mansouri, 2010) Đây là một đặc tính hệ thống quan trọng, góp phần vào khả năng thích ứng Helaakoski, Iskanius, & Peltomaa (2007) chỉ ra rằng tính linh hoạt liên quan đến sự nhanh nhẹn và khả năng thích ứng, cho thấy hệ thống có thể nhanh chóng thích nghi với sự thay đổi của môi trường Hu, Li, & Holloway (2008) nhấn mạnh rằng tính linh hoạt bổ sung cho khả năng thích ứng thông qua hiệu quả, sự đáp ứng, linh hoạt và sức mạnh Do đó, tính linh hoạt đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
2.4.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (DN) là một khái niệm được định nghĩa đa dạng bởi các nhà nghiên cứu và cần phân biệt với hiệu quả doanh nghiệp rộng hơn Venkatraman & Grant (1986) đã mô tả khái niệm này thông qua hình ảnh ba vòng tròn đồng tâm, trong đó vòng tròn lớn nhất biểu thị cho hiệu quả tổng thể của DN.
Vòng tròn hiệu quả doanh nghiệp bao gồm hai phần: vòng tròn trung bình thể hiện hiệu quả kinh doanh và vòng tròn nhỏ bên trong phản ánh hiệu quả tài chính Hiệu quả doanh nghiệp liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm hoạt động của doanh nghiệp khi không gặp căng thẳng hay lỗi nội bộ, tham gia vào các hoạt động hợp pháp, huy động nguồn lực và hoàn thành các mục tiêu đã đề ra.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (HQKD) thường được định nghĩa là sự so sánh giữa đầu vào và đầu ra, cụ thể là chi phí và lợi ích, với mục tiêu nâng cao các chỉ tiêu đo lường HQKD Tuy nhiên, HQKD không phải là yếu tố duy nhất để đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức Antony & Bhattacharyya (2010) cho rằng hiệu quả hoạt động là thước đo giá trị mà tổ chức mang lại cho các cổ đông, cả bên trong lẫn bên ngoài Adams, Muir, & Hoque (2014) cũng nhấn mạnh tính bền vững của hiệu quả, bao gồm cả các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính Ngoài ra, hiệu quả hoạt động còn được đánh giá qua các tiêu chí định tính và định lượng, như được chỉ ra bởi Kennerley & Neely (2003) và Pun & White (2005).
Tóm lại, nghiên cứu này áp dụng định nghĩa về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, bao gồm các chỉ số đo lường hiệu quả kinh doanh, nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các bên liên quan, cả nội bộ lẫn bên ngoài doanh nghiệp.
2.4.2 Đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có thể được đo lường qua nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm mô hình đơn bậc và đa bậc Theo Kennerley & Neely (2003) và Neely (2005), các tiêu chí định lượng như chỉ số lợi nhuận, chỉ số tài chính và thu nhập của nhân viên là những yếu tố quan trọng để đánh giá kết quả và hiệu quả quản lý Ngược lại, Pun & White (2005) lại tập trung vào các tiêu chí định tính liên quan đến sự hài lòng và trải nghiệm của nhân viên trong doanh nghiệp.
Sự hài lòng của khách hàng và hiệu quả lãnh đạo được xác định qua việc cung cấp giá trị cho khách hàng Hoạt động của doanh nghiệp có thể được đo lường bằng các chỉ số khách quan và chủ quan Các chỉ số chủ quan dựa vào ý kiến của nhân viên (Jaworski & Kohli, 1993), trong khi các chỉ số khách quan dựa trên dữ liệu thứ cấp (Dess & Robinson Jr, 1984) Hiện nay, vẫn còn tranh cãi về hiệu quả và độ chính xác của hai phương pháp đo lường này (Mezias & Starbuck).
Sự tồn tại của nhiều phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và thiếu sự đồng thuận về thuật ngữ đã tạo ra thách thức cho các nhà nghiên cứu và thực hành (Pun & White, 2005) Để khắc phục, nhiều hệ thống, mô hình và khung đo lường hiệu quả hoạt động (PM) đã được phát triển, như khung của Kaplan & Norton (2000) và Neely (2005), giúp doanh nghiệp cải thiện hiệu quả hoạt động Các hệ thống PM được phân loại thành hai nhóm: một nhóm tập trung vào tự đánh giá và nhóm còn lại hỗ trợ quản lý đo lường và cải thiện quy trình kinh doanh (Neely, 2005) Một số ví dụ về hệ thống PM bao gồm kỹ thuật SMART (McNair, Lynch, & Cross, 1990), câu hỏi PMQ (Dixon, Nanni, & Vollmann, 1990), thẻ điểm cân bằng BSC (Kaplan & Norton, 2000) và Quy trình đo lường hiệu quả Cambridge (CPMP) (Neely, 2005) Các lý do thực hiện hệ thống PM bao gồm giám sát hiệu quả, xác định khu vực cần cải thiện, tăng cường động lực, cải thiện truyền thông và tăng cường trách nhiệm (Neely, 2005).
Mặc dù các biện pháp tự đánh giá có thể gây ra thiên lệch, Dess & Robinson (1984) cho rằng chúng có thể là chỉ số thay thế đáng tin cậy khi thiếu các chỉ số khách quan Các nhà nghiên cứu như Kaplan & Norton (2000) khuyến nghị sử dụng cấu trúc đa chiều với các chỉ số tài chính, hoạt động và khách hàng khi không thể đạt được đo lường khách quan hoàn toàn Một ví dụ điển hình về việc áp dụng thang đo tự đánh giá là nghiên cứu của Chu (2015).
35 đánh giá hiệu quả hoạt động của DN, với 3 nhóm đo lường gồm (1) Lợi nhuận, (2) sự hài lòng của khách hàng và (3) hiệu quả thị trường (xem bảng 2.7)
Bảng 2.7 Thang đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Mức độ hài lòng của khách hàng đối với doanh nghiệp
Mức độ doanh nghiệp cung ứng giá trị cho khách hàng
Mức độ doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Mức lợi tức đầu tư (ROI)
Mức lợi nhuận bán hàng (ROS)
Khả năng đạt được các chỉ tiêu tài chính
Mức độ tăng trưởng doanh thu
Mức độ mở rộng thị trường (tìm thêm khách hàng mới)
Mức độ duy trì khách hàng cũ
Các lý thuyết nền tảng cho nghiên cứu
2.5.1 Lý thuyết hỗ trợ mối quan hệ giữa vốn xã hội và hiệu quả hoạt động
Lý thuyết vốn xã hội chỉ ra rằng vốn xã hội mang đặc tính của nguồn lực kinh tế, nơi mỗi cá nhân đầu tư vào mối quan hệ để tạo ra lợi ích Các mạng lưới sở hữu nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp cận thông tin, đặc biệt trong bối cảnh thị trường không hoàn hảo Mối quan hệ xã hội không chỉ giúp cá nhân tiếp cận thông tin mà còn ảnh hưởng đến quyết định của những người có vai trò quan trọng, khi một số mối liên kết có thể mang lại nguồn lực và quyền lực lớn hơn Lý thuyết này phân tích sự di động xã hội, giúp cá nhân nâng cao vị trí trong xã hội, đồng thời làm mờ ranh giới giữa nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp Mạng lưới mối liên hệ tạo thành vốn xã hội có thể hoạt động cả trong doanh nghiệp và mở rộng ra các doanh nghiệp khác.
36 với nhau và thậm chí là tham gia vào thị trường
Lý thuyết sức mạnh của những liên kết yếu (Granovetter, 1973) nhấn mạnh vai trò của mạng lưới mở và khả năng khai thác nguồn lực đa dạng bên ngoài Liên kết yếu, thông qua các mối liên hệ gián tiếp, giúp phá vỡ tính địa phương và gia tăng tính hướng ngoại của mối quan hệ Điều này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp, vì nó là nền tảng cho chiến lược hợp tác (Morgan, 2012) So với liên kết mạnh và mạng lưới đóng, liên kết yếu và mạng lưới mở yêu cầu ít nỗ lực hơn trong việc duy trì, đặc biệt trong bối cảnh công nghiệp 4.0 Lý thuyết này cũng giải thích vai trò của vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua việc huy động nhiều nguồn lực và giảm chi phí giao dịch.
Lý thuyết lỗ hổng cấu trúc của Burt (2009) mở rộng lý thuyết sức mạnh của liên kết yếu, nhấn mạnh vai trò của mạng lưới trung gian trong việc kết nối cá nhân và tập thể từ hai cấu trúc mạng khác nhau Mạng lưới trung gian giúp lưu chuyển nguồn lực trong một mạng lưới rộng lớn hơn, từ đó giải thích vai trò của các trung gian trong hoạt động doanh nghiệp Lý thuyết này cũng thể hiện vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp, cho thấy rằng việc huy động và khai thác nhiều nguồn lực có thể gia tăng hiệu quả hoạt động và giảm chi phí giao dịch cũng như tìm kiếm thông tin từ mạng lưới bên ngoài.
Lý thuyết thể chế (Institutional Theory) được hình thành từ sự đóng góp của các nhà kinh tế học, xã hội học và khoa học chính trị, nhấn mạnh vai trò của các tổ chức và quy tắc trong việc định hình hành vi con người và quyết định kinh tế.
Các khía cạnh của thể chế bao gồm thể chế chính thức và thể chế phi chính thức (Coase, 1960; Williamson, 1985; North, 1991) Về phương diện thể chế chính thức, lý thuyết này cho rằng khi lãnh đạo doanh nghiệp ban hành cơ chế, nó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động và hiệu quả của tổ chức.
Phân quyền và phân cấp mạnh mẽ cùng với việc ban hành cơ chế phối hợp chủ động giữa các cá nhân và phòng ban sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Cơ chế hợp tác với các bên liên quan cũng tạo điều kiện cho các thành viên thực hiện công việc một cách hiệu quả hơn Nhờ có chính sách thưởng phạt rõ ràng, doanh nghiệp sẽ triển khai nhanh chóng các quyết định, từ đó tối ưu hóa hiệu quả hoạt động Lý thuyết này khẳng định vai trò của vốn xã hội trong việc cải thiện hiệu quả doanh nghiệp.
Lý thuyết các bên liên quan, do Freeman (1984) phát triển, đã mở rộng khái niệm từ lý thuyết người đại diện bằng cách bổ sung các bên liên quan bên ngoài doanh nghiệp như chính quyền, nhà cung cấp và khách hàng Lý thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của các bên liên quan trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững Do nhu cầu đa dạng và thay đổi của các bên liên quan, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp với chuẩn mực và giá trị xã hội để đạt được lợi thế cạnh tranh và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững (Patel, Hair, & Pieper, 2016).
Lý thuyết này củng cố khái niệm vốn xã hội, đặc biệt là "vốn xã hội của các bên liên quan", nhằm giải thích động cơ kết nối và phát triển các loại vốn xã hội trong doanh nghiệp Điều này bao gồm vốn xã hội của lãnh đạo và vốn xã hội bên trong, bên ngoài doanh nghiệp, tất cả đều hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh Nghiên cứu của Balkundi, Kilduff, Barsness, & Michael (2007) và Maak (2007) chỉ ra rằng vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp.
* Lý thuyết người đại diện (agency theory): Lý thuyết này được Jensen &
Lý thuyết của Meckling (1976) đã được giới thiệu trong kinh tế học và nhanh chóng lan rộng ra nhiều lĩnh vực khác nhau Hiện nay, lý thuyết này đóng vai trò là khung phân tích quan trọng trong quản trị doanh nghiệp và sở hữu doanh nghiệp, như được nêu bởi Durisin & Puzone (2009) và Boyd.
Lý thuyết này tập trung vào sự tương tác xã hội giữa người chủ (principal) và người đại diện (agent) trong doanh nghiệp, nhằm thực hiện các hoạt động được ủy quyền Người đại diện thường phải đối mặt với áp lực từ thị trường và các cổ đông để đổi mới sáng tạo và cắt giảm chi phí.
Lý thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ tại nơi làm việc và tinh thần hợp tác thông qua mô hình hành vi giữa người đại diện và các đồng nghiệp Nó đề cập đến vốn xã hội bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, cho thấy rằng vốn xã hội của lãnh đạo có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nghiên cứu của Rob & Zemsky (2002) chỉ ra rằng vốn xã hội doanh nghiệp có mối liên hệ thống kê quan trọng với hiệu suất, từ đó giải thích cách mà vốn xã hội có thể gia tăng hiệu quả hoạt động.
Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực cho rằng doanh nghiệp không thể hoạt động độc lập mà cần có mối liên hệ với các bên liên quan và tổ chức bên ngoài Việc khai thác và tận dụng nguồn lực từ bên ngoài giúp doanh nghiệp giảm thiểu bất ổn trong môi trường kinh doanh và giảm chi phí giao dịch, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động Lý thuyết này cũng giải thích vai trò của vốn xã hội trong việc gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
2.5.2 Lý thuyết hỗ trợ mối quan hệ giữa vốn xã hội và khả năng thích ứng
Lý thuyết nguồn lực cho rằng doanh nghiệp là tập hợp các nguồn lực và năng lực, tạo ra lợi thế cạnh tranh (Penrose, 1959) Vốn xã hội doanh nghiệp, như một loại nguồn lực, giúp duy trì hoạt động ổn định và bền vững Sự linh hoạt trong phân bổ và khai thác nguồn lực theo lý thuyết nguồn lực là yếu tố then chốt cho sự bền vững của doanh nghiệp Tính linh hoạt, một phần của khả năng thích ứng, cho thấy rằng vốn xã hội doanh nghiệp có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng thích ứng của doanh nghiệp.
* Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (resource dependence theory): Lý thuyết này được Pfeffer & Salancik giới thiệu lần đầu vào năm 1978 và tái bản vào năm
Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, được nghiên cứu và thảo luận nhiều trong cộng đồng học thuật (Pfeffer & Salancik, 2003; Nienhüser, 2008), khẳng định rằng doanh nghiệp không thể hoạt động độc lập mà luôn phụ thuộc vào các nguồn lực từ bên ngoài và các bên liên quan Việc khai thác và tận dụng các nguồn lực này giúp doanh nghiệp giảm thiểu bất ổn trong môi trường kinh doanh (Pfeffer, 1972) Tính linh hoạt trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực là yếu tố cốt lõi cho khả năng thích ứng của doanh nghiệp Lý thuyết này cũng nhấn mạnh rằng vốn xã hội bên ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường tính linh hoạt và khả năng thích ứng của doanh nghiệp, từ đó chứng minh rằng vốn xã hội có ảnh hưởng tích cực đến khả năng thích ứng của tổ chức.
2.5.3 Lý thuyết hỗ trợ mối quan hệ giữa vốn xã hội và tinh thần kinh doanh
Lý thuyết lợi thế nguồn lực (resource- advantage theory) nhấn mạnh rằng doanh nghiệp sở hữu nguồn lực đặc biệt sẽ nâng cao khả năng chủ động và đổi mới trong các chiến lược kinh doanh Vốn xã hội doanh nghiệp được xem là một nguồn lực quan trọng, mang lại lợi thế cạnh tranh Hai yếu tố chủ động và đổi mới là cốt lõi của tinh thần kinh doanh, do đó, lý thuyết này khẳng định rằng vốn xã hội doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến tinh thần khởi nghiệp.
* Lý thuyết người đại diện (agency theory): Lý thuyết này được Jensen &
Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan
2.6.1 Nghiên cứu về Vốn xã hội
Vốn xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt trong bối cảnh nguồn lực hạn chế Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài & Huỳnh Thanh Điền (2010) đã chỉ ra rằng vốn xã hội doanh nghiệp tồn tại trong các hoạt động nội bộ, bên ngoài và cá nhân của lãnh đạo Vốn xã hội này không chỉ nâng cao tinh thần doanh nhân mà còn tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực tổ chức Khi được đầu tư đúng mức và minh bạch, vốn xã hội có thể cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cùng với việc phối hợp các nguồn lực hữu hình khác.
Hình 2.3 Khung phân tích vốn xã hội trong DN và hiệu quả hoạt động của DN
Nguồn: Nguyễn Trọng Hoài &Huỳnh Thanh Điền (2010)
Tuy nhiên khung phân tích đề xuất này mới chỉ dừng lại ở mô hình khái niệm, chưa được kiểm chứng trong bối cảnh doanh nghiệp cụ thể ở Việt Nam
Nghiên cứu của Huỳnh Thanh Điền (2012) đã khắc phục những hạn chế của các nghiên cứu trước đó bằng cách áp dụng cho doanh nghiệp bất động sản tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu làm rõ vai trò của vốn xã hội trong các hoạt động của doanh nghiệp bất động sản, bao gồm hoạt động đầu vào, xây dựng, sản xuất và bán sản phẩm Các giả thuyết nghiên cứu đã được kiểm định một cách định lượng.
Hình 2.4 Khung phân tích mối liên hệ giữa vốn xã hội với hoạt động DN
Nghiên cứu này chỉ ra rằng vốn xã hội doanh nghiệp bao gồm ba thành phần chính: vốn xã hội của lãnh đạo, vốn xã hội bên trong và vốn xã hội bên ngoài Tất cả các thành phần này đều có ảnh hưởng tích cực đến các hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm hoạt động đầu vào, sản xuất và đầu ra.
Sự cấu thành và chất lượng mạng lưới
Các hoạt động của doanh nghiệp
Vốn xã hội bên trong
Vốn xã hội bên ngoài
Vốn xã hội của lãnh đạo
Hoạt động sản xuất Vốn xã hội của doanh nghiệp Các nhóm hoạt độngcủa doanh nghiệp
Biểu hiện/ đề cập đến Quan hệ nhân quả
Bản chất đa chiều của vốn xã hội cần được nghiên cứu sâu hơn để tối ưu hóa việc khai thác vốn xã hội trong doanh nghiệp.
Theo Koka & Prescott (2002), vốn xã hội có tính chất đa chiều và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong môi trường cạnh tranh Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của động lực quan hệ trong việc tạo ra luồng thông tin với các đối tác Mô hình nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về vốn xã hội, với ba lợi ích chính liên quan đến thông tin, bao gồm sự đa dạng, phong phú và dung lượng thông tin.
Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu vốn xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Nghiên cứu này mở rộng mô hình lý thuyết về vốn xã hội bằng cách xác định ba khía cạnh khác nhau của nó Các công ty có mức vốn xã hội khác nhau không chỉ dựa vào vị trí trong mạng lưới liên minh mà còn vào động lực hình thành và duy trì các liên minh đó Sự khác biệt này mang lại những lợi ích khác nhau cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Do đó, các nhà quản lý cần chú trọng đến tất cả các hình thức liên minh khi đưa ra quyết định Qua việc áp dụng các tiếp cận đa chiều về vốn xã hội, nhà nghiên cứu có thể xác định chức năng của từng khía cạnh đối với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Môi trường thay đổi Mật độ kết nối Chiến lược công ty
Hiệu quả hoạt động của DN tại
Cái nhìn đa chiều của vốn xã hội
Dung lượng thông tin Đa dạng thông tin
48 động của doanh nghiệp, từ đó có thể chỉ ra được loại vốn xã hội nào có hiệu quả nhất
De Oliveira (2013) đã phát triển một mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, với ba giả thuyết chính: H1- Sự đa dạng và số lượng các mối quan hệ kết nối ngang của doanh nhân có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh; H2- Kích thước mối quan hệ trong vốn xã hội của doanh nhân cũng ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kinh doanh; H3- Kích thước nhận thức trong vốn xã hội của doanh nhân có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh Mô hình này còn xem xét các biến kiểm soát như tài chính, khách hàng, học tập và đổi mới, quy trình nội bộ Theo Nahapiet & Ghoshal (1998), vốn xã hội được phân tích qua ba khía cạnh: vốn cấu trúc, vốn quan hệ và vốn nhận thức, như thể hiện trong Hình 2.6 về mối quan hệ giữa vốn xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của De Oliveira (2013)
Nghiên cứu này cho thấy vốn xã hội doanh nghiệp có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Servaes và Tamayo (2013) nghiên cứu vốn xã hội của công ty thông qua việc đo lường mức độ các hoạt động trách nhiệm xã hội (CSR), nhằm khám phá tác động của vốn xã hội đối với hiệu quả hoạt động của công ty trong bối cảnh khủng hoảng.
Vốn xã hội của DN vốn cấu trúc Vốn quan hệ
Hiệu quả hoạt động DN
Nghiên cứu về tài chính năm 2008-2009 cho thấy rằng các công ty có trách nhiệm xã hội cao có lợi nhuận cổ phiếu cao hơn từ 4% đến 5% so với các công ty có trách nhiệm xã hội thấp trong giai đoạn khủng hoảng Mặc dù không có sự khác biệt về lợi nhuận giữa các công ty có trách nhiệm xã hội cao và thấp trước hoặc sau khủng hoảng, nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, những công ty này lại ghi nhận lợi nhuận và tăng trưởng doanh số cao hơn so với các công ty có trách nhiệm xã hội thấp.
Nghiên cứu này mở ra nhiều hướng đi mới trong lĩnh vực vốn xã hội, đặc biệt là phát triển khung lý thuyết cho trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) theo Russo & Perrini (2010) Các kênh khác nhau mà CSR có thể tác động đến hiệu quả doanh nghiệp rất phong phú, do đó, việc khám phá các kênh này sẽ làm phong phú thêm lý thuyết và thực tiễn, đồng thời cung cấp những gợi ý quý giá cho các nhà quản lý nhằm nâng cao hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp.
Noel Johnson (2010) trong luận án tiến sĩ đã thực hiện các nghiên cứu tình huống và chứng minh rằng vốn xã hội của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp.
* Aldrich & Meyer, (2015) đã chứng minh vốn xã hội của doanh nghiệp góp phần nâng cao khả năng thích ứng doanh nghiệp,
* Chen, C.N & ctg, (2007) trong nghiên cứu của mình đã chứng minh rằng vốn xã hội của doanh nghiệp góp phần nâng cao tinh thần kinh doanh
Nghiên cứu của Torres, Marshall và Sydnor (2019) đã chỉ ra rằng vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong khả năng thích ứng của doanh nghiệp tại Mỹ, đặc biệt trong bối cảnh xảy ra biến cố bất ngờ Sử dụng mô hình probit trong nghiên cứu hai giai đoạn, họ xác định rằng vốn xã hội của chủ doanh nghiệp, được xây dựng từ mạng lưới kết nối với chính quyền, hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp Tương tự, Polyviou, Croxton và Knemeyer (2019) cũng khẳng định rằng vốn xã hội bên trong là nguồn lực quan trọng giúp tăng cường khả năng thích ứng cho các doanh nghiệp vừa tại Mỹ.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng vốn xã hội bên trong doanh nghiệp, bao gồm cấu trúc, quan hệ và tri nhận, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động và tinh thần kinh doanh Gửlgeci & Kuivalainen (2020) khẳng định rằng khả năng thích ứng là yếu tố trung gian trong mối quan hệ này, dựa trên dữ liệu khảo sát từ 265 doanh nghiệp tại Thổ Nhĩ Kỳ Piran và các cộng sự (2015) cũng xác nhận rằng vốn xã hội có tác động tích cực đến tinh thần kinh doanh, với 53% giải thích cho các khía cạnh như sáng tạo, chủ động và chấp nhận rủi ro Kết quả cho thấy rằng doanh nghiệp sở hữu vốn xã hội tốt sẽ thúc đẩy sự phát triển ý tưởng mới thông qua việc trao đổi và chia sẻ thông tin, từ đó nâng cao khả năng sáng tạo và tinh thần kinh doanh.
Kết quả các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng vốn xã hội có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời vai trò trung gian của khả năng thích ứng và tinh thần kinh doanh cũng được xác định Tuy nhiên, các nghiên cứu này thường chỉ phân tích từng biến một cách riêng lẻ Do đó, việc nghiên cứu vai trò của vốn xã hội và các kênh mà nó tác động đến hiệu quả doanh nghiệp trong một nghiên cứu duy nhất là cần thiết, nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về vấn đề, làm phong phú thêm lý thuyết và thực tiễn, cũng như đưa ra những gợi ý giá trị cho các nhà quản lý doanh nghiệp.
2.6.2 Nghiên cứu về khả năng thích ứng
Sutcliffe và Vogus (2003) nhấn mạnh rằng khả năng thích ứng là một lĩnh vực quan trọng cho nghiên cứu học thuật, vì nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về nguyên nhân và quá trình điều chỉnh tích cực trong những điều kiện khó khăn Nghiên cứu này xem xét các lý thuyết về khả năng thích ứng ở cấp độ cá nhân, nhóm và tổ chức, nhằm xác định các chủ đề chung.
Phát triển các giả thuyết và mô hình nghiên cứu
2.7.1 Mối quan hệ giữa Vốn xã hội và hiệu quả hoạt động
Nghiên cứu chỉ ra rằng vốn xã hội (VXH) có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm sự đổi mới, hiệu quả hoạt động, hợp tác kinh doanh và cơ hội thành công Bên cạnh đó, vai trò lãnh đạo của người đứng đầu doanh nghiệp cũng rất quan trọng, vì cá nhân lãnh đạo thể hiện và phát huy vốn xã hội một cách rõ rệt.
60 nhất và việc vận dụng vốn xã hội hiệu quả sẽ dẫn đến việc cải thiện hiệu quả hoạt động của DN
Vốn xã hội của lãnh đạo tốt tạo ra mối quan hệ và hỗ trợ thông tin từ các bên trong và bên ngoài, giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn và thách thức Điều này cho phép doanh nghiệp ứng phó linh hoạt với các tình huống xấu, mang lại thành quả cao trong hoạt động Vốn xã hội cá nhân của lãnh đạo nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua sự hợp tác, hỗ trợ và tin tưởng bên trong, từ đó giảm chi phí giao dịch trong các hoạt động.
Vốn xã hội bên trong doanh nghiệp (DN) đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa nguồn lực tổ chức, giúp các thành viên chủ động phối hợp, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm và bảo vệ sự ổn định bền vững cho DN Sự phát triển của vốn xã hội này cho phép kịp thời phát hiện các nguy cơ tiềm ẩn và ứng phó linh hoạt, giảm thiểu thiệt hại Đồng thời, vốn xã hội bên ngoài cũng cần được chú trọng để nâng cao hiệu suất kinh doanh, nhất là trong môi trường có mạng lưới quan hệ phức tạp, tạo ra cơ hội và thách thức cho DN Việc xây dựng mối quan hệ tốt theo chiều dọc và chiều ngang sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của DN.
Việc hợp tác giữa các cấp chính quyền và các tổ chức tư vấn sẽ hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn về thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và kỹ thuật Điều này cung cấp cho doanh nghiệp thông tin và lời tư vấn hữu ích, giúp họ sẵn sàng nắm bắt cơ hội và đạt được thành công cao trong hoạt động Như vậy, vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động.
Tổng hợp ba thành tố của Vốn xã hội, bao gồm vốn xã hội của lãnh đạo, vốn xã hội bên ngoài và vốn xã hội bên trong, đều có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước (DNCVNN) tại Việt Nam Do đó, người viết đề xuất một giả thuyết rằng sự kết hợp này có thể nâng cao hiệu suất và sự phát triển bền vững của các DNCVNN.
H 1 : Vốn xã hội doanh nghiệp có tác động dương đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam
2.7.2 Mối quan hệ giữa Vốn xã hội và khả năng thích ứng
Vốn xã hội doanh nghiệp được phân tích qua ba khía cạnh chính: vốn xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp, vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp và vốn xã hội bên trong doanh nghiệp (Huỳnh Thanh Điền, 2012).
Lãnh đạo có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Họ cần xây dựng mối quan hệ tốt với các bên liên quan, giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn và thách thức Lãnh đạo cũng cần dự đoán và chủ động ứng phó với các tình huống xấu, thích nghi với biến động môi trường, đồng thời phân bổ nguồn lực một cách linh hoạt và hợp lý Từ đó, vốn xã hội của lãnh đạo sẽ góp phần nâng cao khả năng thích ứng và đảm bảo sự bền vững cho doanh nghiệp.
Vốn xã hội bên trong doanh nghiệp được xây dựng tốt thúc đẩy sự hợp tác và chia sẻ kiến thức, tạo ra sự ổn định nhờ vào niềm tin và sự đồng thuận cao Điều này giúp doanh nghiệp chủ động thích nghi với môi trường, dự đoán các tình huống bất lợi và linh hoạt trong việc phân bổ nguồn lực để đáp ứng những thay đổi Nhờ đó, vốn xã hội bên trong nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp.
Vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp được xây dựng tốt sẽ cải thiện mối quan hệ theo chiều ngang với các tổ chức tư vấn và chiều dọc với các cấp chính quyền Điều này giúp doanh nghiệp dự đoán và thích nghi hiệu quả với biến động môi trường, đồng thời nhanh nhạy và linh hoạt trong việc phân bổ nguồn lực để phản ứng và điều chỉnh tích cực trong mọi tình huống.
62 nghiệp cũng giúp nâng cao khả năng thích ứng
Vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong khả năng thích ứng của doanh nghiệp và giúp xử lý các tình huống khó khăn kịp thời Các nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng vốn xã hội có ảnh hưởng tích cực đến khả năng thích ứng, tuy nhiên, vẫn còn ít nghiên cứu về vấn đề này tại Việt Nam, đặc biệt là đối với doanh nghiệp nhà nước Do đó, nghiên cứu này đề xuất một giả thuyết mới để khám phá mối quan hệ giữa vốn xã hội và khả năng thích ứng của doanh nghiệp tại Việt Nam.
H 2 :Vốn xã hội doanh nghiệp có tác động dương đến khả năng thích ứng của DNCVNN tại Việt Nam
2.7.3 Mối quan hệ giữa vốn xã hội và Tinh thần kinh doanh
Khi doanh nghiệp sở hữu nhân sự có năng lực và phẩm chất tốt, điều này sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Lãnh đạo cần có tinh thần doanh nhân, tâm huyết và tầm nhìn để xây dựng mối quan hệ tốt với các bên liên quan, đặc biệt là chính quyền và truyền thông Sự kết nối này giúp lãnh đạo vượt qua khó khăn, chủ động đổi mới và chấp nhận rủi ro để đạt được mục tiêu một cách hiệu quả, đồng thời không lo ngại về trách nhiệm cá nhân Như vậy, vốn xã hội của lãnh đạo sẽ góp phần nâng cao tinh thần kinh doanh trong tổ chức.
Vốn xã hội bên trong doanh nghiệp, bao gồm sự hợp tác, hỗ trợ, tin tưởng và chia sẻ kiến thức, đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện giao tiếp nội bộ Nó tạo ra sự ổn định nhờ vào niềm tin và sự đồng thuận cao, giúp doanh nghiệp tự tin và chủ động hơn Điều này khuyến khích sự đổi mới trong phương thức hoạt động và sẵn sàng chấp nhận rủi ro, từ đó thúc đẩy tinh thần kinh doanh và đạt được các mục tiêu đề ra.
Vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp được xây dựng vững mạnh sẽ cải thiện mối quan hệ theo chiều dọc với chính quyền và chiều ngang với các tổ chức tư vấn, đối tác chiến lược Điều này giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn về thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và kỹ thuật, đồng thời cung cấp thông tin, tư vấn hữu ích và hợp đồng hợp tác Nhờ đó, doanh nghiệp có thể chủ động, đổi mới và sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong môi trường cạnh tranh mà không lo ngại thiệt hại.
63 khi có những tình huống xấu xảy ra; như vậy vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp giúp nâng cao tinh thần kinh doanh
Vốn xã hội ảnh hưởng đến sự đổi mới trong doanh nghiệp (Landry & ctg,
Nghiên cứu của Cheng-Nan và cộng sự (2007) chỉ ra rằng vốn xã hội có ảnh hưởng tích cực đến tinh thần kinh doanh Tuy nhiên, hiện tại có rất ít nghiên cứu về vấn đề này tại Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNCVNN) Do đó, nghiên cứu này đề xuất một giả thuyết mới nhằm khám phá mối quan hệ giữa vốn xã hội và tinh thần kinh doanh tại Việt Nam.
H 3 :Vốn xã hội doanh nghiệp có tác động dương đến tinh thần kinh doanh của DNCVNN tại Việt Nam
2.7.4 Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và Hiệu quả hoạt động DN
Khả năng thích ứng của doanh nghiệp giúp dự đoán và điều chỉnh hiệu quả trước những biến động của môi trường, từ đó tối ưu hóa phân bổ nguồn lực và tạo ra lợi thế cạnh tranh Điều này không chỉ nâng cao sự hài lòng của khách hàng mà còn gia tăng lợi nhuận và hiệu quả hoạt động Nghiên cứu cho thấy rằng khả năng thích ứng ở cấp độ tổ chức có mối liên hệ tích cực với hiệu suất làm việc, đặc biệt trong bối cảnh thay đổi Mặc dù có nhiều nghiên cứu quốc tế về khả năng thích ứng của doanh nghiệp trong môi trường biến động, nhưng tại Việt Nam, đặc biệt là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, vẫn còn thiếu sót trong lĩnh vực này Do đó, nghiên cứu này sẽ đề xuất giả thuyết liên quan đến khả năng thích ứng của doanh nghiệp tại Việt Nam.
H 4 : Khả năng thích ứng có tác động dương đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam
2.7.5 Mối quan hệ giữa tinh thần kinh doanh và hiệu quả hoạt động DN
Tóm tắt chương 2
Chương 2 trình bày quá trình lược khảo các lý thuyết có liên quan đến bốn khái niệm: vốn xã hội, tinh thần kinh doanh, khả năng thích ứng và hiệu quả hoạt
Nghiên cứu này tập trung vào 66 động của doanh nghiệp, trình bày một số lý thuyết nền tảng để hỗ trợ cho các lập luận về tác động của các khái niệm Các nghiên cứu trước được phân tích để làm nổi bật điểm chung và khác biệt, cho thấy rằng số lượng nghiên cứu trong nước về bốn vấn đề này còn hạn chế, đặc biệt là vai trò của khả năng thích ứng đối với hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam, trong khi nghiên cứu quốc tế phong phú hơn Tác giả đề xuất một mô hình nghiên cứu với sáu giả thuyết, cho rằng vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng có mối quan hệ tích cực và ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam Chương 3 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đã đề ra.