Mục tiêu nghiên cứu: 1/Mô tả thực trạng đổi mới PPDH theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập của người học từ đó chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu và bất cập trong thực tiễn[r]
Trang 1Các tình huống ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn ngữ văn ở trường THCS
Nhóm nghiên cứu: CNĐT- ThS Nguyễn Thị Thu Hòa
Thư điện tử: info@123doc.org; Điện thoại: 0904276915
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định một số tình huống dạy học ứng dụng CNTT có hiệu quả trong môn
Ngữ văn ở trường THCS.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu lí luận; phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn;
phương pháp chuyên gia; phương pháp thử nghiệm sư phạm
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Về lí luận
Xác định một số khái niệm:
- Tình huống dạy học: là những sự việc hiện tượng chứa đựng những vấn đề học tập
do GV tạo ra tại thời điểm nhất định có sự kết hợp các yếu tố vật chất (tài liệu, phương tiện trực quan), và các yếu tố tinh thần (tâm lí nhóm, chú ý, kí ức, thái độ và những hiện tượng tâm lí cá nhân) theo hình thức và cấu trúc được tổ chức sư phạm gắn với nội dung học tập và kinh nghiệm hiện có ở người học Nó hỗ trợ thúc đẩy người học suy nghĩ tìm tòi, lĩnh hội được nội dung học tập
- Tình huống ứng dụng CNTT trong dạy học: là những sự việc hiện hiện tượng do
GV sử dụng các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại; chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông tạo nên để phục vụ, hỗ trợ quá trình dạy học
- Tình huống ứng dụng CNTT trong dạy học môn Ngữ văn: GV có thể ứng dụng CNTT trong những trường hợp sau:
Cài đặt, trình chiếu hình ảnh, âm thanh và các tư liệu cần thiết về tác giả, tác phẩm để dẫn dắt khơi gợi cho HS tìm hiểu TPVH
Cài đặt, trình chiếu hình ảnh, âm thanh và các tư liệu cần thiết để hướng HS suy nghĩ
về các khái niệm, thuật ngữ văn học
Dùng các hiệu ứng của CNTT hướng sự tập trung chú ý của HS vào những từ ngữ, hình ảnh, chi tiết, những đoạn văn bản chứa đựng nội dung bài học
Bằng các phần mềm sơ đồ hóa (grap) kiến thức giúp HS tổng hợp chốt lại những vấn
đề cơ bản của bài học
Bằng các phần mềm tạo các kiểu câu hỏi kiểm tra trắc nghiệm khách quan giúp HS có hứng thú học tập và tiếp nhận kiến thức
Tác Giả :ThS Nguyễn Thị Thu
Hòa
Trang 2Xác định các nguyên tắc sư phạm khi ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn:
- Các nguyên tắc chung: 1/ Phù hợp với chương trình, nội dung dạy học; 2/Góp phần tích cực hoá hoạt động học tập của HS; 3/Phù hợp tâm lí lứa tuổi học sinh THCS; 4/Bảo dảm tính thẩm mỹ, tính giáo dục
- Các nguyên tắc riêng: 1/Không trình chiếu tranh ảnh, băng hình để minh họa có tính chất áp đặt cách hiểu của HS về những hình tượng nghệ thuật được tạo nên bởi sự hư cấu sáng tạo của tác giả Các tư liệu được trình chiếu phải có tác dụng khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng của người học, hỗ trợ cho việc đọc - hiểu TPVH của HS; 2/Không lạm dụng trình chiếu quá nhiều biến giờ dạy Văn- vốn là giờ dạy tìm hiểu suy ngẫm, liên tưởng về nghệ thuật sử dụng từ ngữ thành giờ xem - nhìn;3/Việc dùng PMDH thiết kế những câu hỏi trắc nghiệm không ảnh hưởng đến việc rèn luyện kĩ năng nghe nói, đọc viết của HS
2 Về thực tiễn
Khảo sát tình hình ứng dụng CNTT trong giờ dạy học Ngữ văn ở trường THCS bằng phiếu hỏi 50 GV dạy Ngữ văn ở phòng Giáo dục Hà Đông và Cầu Giấy Hà Nội; dự giờ ở các tỉnh thành: Thái Bình, Hà Tây, Hà Nội; tìm hiểu các giáo án điện tử được giới thiệu trên thư viện điện tử Bạch Kim Tổng số giờ dự được khảo sát là 30 trong đó có 20 giờ văn, 2 giờ tập làm văn, 8 giờ tiếng Việt ở cả bốn khối lớp 6, 7, 8, 9 Nhận định: chất lượng và hiệu quả các giờ dạy có ứng dụng CNTT môn Ngữ văn còn chưa đồng đều Nhìn chung là hiệu quả chưa cao Bên cạnh một số trường hợp ứng dụng đạt hiệu quả tốt (chủ yếu là giờ tiếng Việt) còn rất nhiều giờ dạy chưa thành công Phổ biến là tình trạng lạm dụng phô diễn công nghệ; ứng dụng CNTT rất tùy tiện, không chú ý đến đặc trưng của PPDH bộ môn, không chú ý tới đặc điểm tâm lí lứa tuổi… làm ảnh hưởng tới chất lượng bài dạy Nguyên nhân dẫn đến kết quả trên là các GV thiết kế PMDH, sử dụng giáo án điện tử hiện nay phần nhiều là do phong trào,
sử dụng tùy tiện theo cảm tính Ở các trường THCS, GV chỉ được tập huấn về cách thức tạo lập các phần mềm về mặt kĩ thuật như: các kiểu phông nền, chữ; cách chèn tranh ảnh, băng hình; cách tạo các bài tập trắc nghiệm bằng các phần mềm chứ chưa được tập huấn về việc lựa chọn các tình huống sư phạm để ứng dụng CNTT
Đề xuất tình huống ứng dụng CNTT có hiệu quả trong Giờ dạy học văn Ở đề tài này chỉ đi sâu tìm hiểu và đề xuất các tình huống ứng dụng CNTT có hiệu quả trong từng phần cụ thể ở dạng bài đọc - hiểu văn bản - dạng bài chiếm số lượng lớn nhất trong chương trình Ngữ văn
Trong phần tìm hiểu chung về văn bản:
- Ở phần dẫn dắt giới thiệu bài: có thể ứng dụng CNTT khi cần đưa một số hình ảnh
để khơi gợi, dẫn dắt tạo cho HS tâm thế đón nhận tác phẩm Thí dụ bài “Sự tích Hồ Gươm” (Ngữ văn 6) Với những HS ở vùng sâu vùng xa, chưa có điều kiện được tận mắt nhìn thấy Hồ Gươm, GV có thể trình chiếu cho HS quan sát một số hình ảnh đẹp thơ mộng của Hồ Gươm rồi từ đó nêu vấn đề: Tại sao một cái Hồ nằm giữa thủ đô Hà Nội đẹp và thơ mộng như thế lại
có tên là Hồ Gươm? Với sự dẫn dắt của GV, khi được tận mắt chứng kiến những hình ảnh ấy
HS sẽ hào hứng tập trung suy nghĩ tìm hiểu truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm
- Ở phần giới thiệu tác giả tác phẩm: Không phải tác phẩm nào cũng cần sử dụng
Trang 3CNTT Chúng ta chỉ nên ứng dụng CNTT khi cần nêu một số hình ảnh về tác giả và tác phẩm hoặc cần mạnh một số chi tiết trong cuộc đời tác giả có liên quan đến việc hiểu tác phẩm, có tác dụng giúp HS trong việc nhận thức về tác phẩm
- Ở phần tóm tắt và tìm hiểu bố cục của văn bản: Với những TP ngắn, nội dung tình tiết đơn giản, chúng ta không cần sử dụng CNTT để thực hiện thao tác này Song với những tác phẩm truyện, những bài thơ có nhiều khổ, nhiều đoạn chúng ta cần hướng dẫn HS tóm tắt, phân đoạn để nắm được cái cốt chính của TP từ đó giúp HS có hướng suy nghĩ, tìm hiểu thì việc sử dụng CNTT rất có hiệu quả
Trong phần đọc - hiểu văn bản: Ở phần này, cần có sự lựa chọn, cân nhắc thật cẩn trọng kỹ càng khi ứng dụng CNTT Ở phần này, phương pháp tối ưu nhất bằng giọng đọc, bằng những câu hỏi dẫn dắt gợi mở… GV khơi gợi sự liên tưởng, tưởng tượng của HS để giúp các em tìm hiểu tác phẩm Tuy nhiên có chúng ta vẫn có thể CNTT trong một số trường hợp sau:
Cần đưa một số hình ảnh minh họa để giúp HS hiểu một số sự vật, sự việc, địa danh… được nhắc đến trong tác phẩm tạo cơ sở cho HS cảm nhận tác phẩm Cần đưa một số hình ảnh
để trợ giúp cho HS trong việc liên tưởng, tưởng tượng, cảm nhận được những hình tượng nghệ thuật được hư cấu, sáng tạo trong TP
Cần hướng HS tập trung chú ý vào những từ ngữ, câu chữ, hình ảnh, chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong văn bản
Cần chốt lại những kiến thức nội dung chính của từng phần và những nét đặc sắc nhất
về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm GV có thể dùng sơ đồ hoặc trò chơi ô chữ để tóm tắt nhấn mạnh ý
Trong phần củng cố, tổng kết bài học: có thể ứng dụng CNTT trong những trường hợp sau: Cần dùng sơ đồ để giúp HS khái quát chốt lại những điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm; cần dùng câu hỏi trắc nghiệm để hướng dẫn HS, củng cố và luyện tập Từ
đó, nhóm đề tài đã đề xuất tình huống ứng dụng CNTT có hiệu quả trong Giờ dạy học tiếng Việt Chúng ta có thể ứng dụng CNTT trong tất cả các kiểu bài Ở đề tài này chỉ tập trung tìm hiểu các tình huống ứng dụng CNTT trong kiểu bài hình thành các kiến thức ngôn ngữ (các khái niệm)
Trong phần giới thiệu kiến thức mới: Ở phần này, chúng ta có thể ứng dụng CNTT khi: 1/Cần phân tích các mẫu câu, từ, cụm từ… từ đó rút ra những kết luận có tính chất quy luật của các hiện tượng ngôn ngữ trong nói và viết tiếng Việt 2/Cần đưa tư liệu chứa những tình huống cụ thể về cách dùng từ ngữ để HS quan sát, nhận xét và rút ra khái niệm
Trong phần ghi nhớ, chúng ta có thể ứng dụng CNTT khi: cần dùng các câu hỏi trắc nghiệm giúp HS nắm chắc hơn những kiến thức then chốt trong nội dung bài học vừa thu nhận được ở phần trên; cần tạo các văn bản hoặc sơ đồ giúp HS tập trung chú ý vào những nội dung kiến thức cần ghi nhớ
Trong phần luyện tập củng cố, chúng ta có thể ứng dụng CNTT khi: cần sử dụng các dạng bài tập trắc nghiệm phong phú đa dạng của PMDH giúp HS luyện tập, củng cố, khắc sâu kiến thức đã thu nhận được; cần trình chiếu các đoạn băng hình hoặc tiếng tạo điều kiện cho
HS tham gia hoạt động tìm tòi, phát hiện, vận dụng kiến thức để giải quyết một số vấn đề thực
Trang 4tiễn; giúp cho HS nhận xét về cách dùng câu chữ trong các tình huống cụ thể
Đề xuất tình huống ứng dụng CNTT có hiệu quả trong Giờ dạy học tập làm văn Căn
cứ vào mục đích yêu cầu của từng dạng bài, GV chỉ nên lựa chọn một số tình huống sau:
- Dạng bài hình thành khái niệm về các thể loại: Với dạng bài này chúng ta có thể ứng dụng CNTT khi: cần đưa ra những hình ảnh sinh động cụ thể cho HS quan sát, nhận xét, phân tích để rút ra khái niệm; cần thiết kế các dạng câu hỏi hoặc sơ đồ, bảng biểu để giúp HS nắm chắc đặc điểm bản chất thể loại
- Dạng bài luyện tập kĩ năng làm văn (phương pháp kĩ năng viết văn: phân tích đề, lập dàn ý và dựng đoạn): Ở những giờ học này chủ yếu là HS làm việc suy nghĩ và viết và trình bày ý kiến cách thức của mình CNTT không thể thay thế được công việc này Tuy nhiên, ở một số nội dung chúng ta có thể sử dụng PMDH để trình chiếu thu hút sự chú ý của HS và tiết kiệm thời gian Cụ thể là cần nêu những văn bản có thể hiện cách viết, cách lập ý và sắp xếp ý khác nhau về cùng một nội dung yêu cầu cho HS tiện quan sát, nhận xét
- Giờ trả bài tập làm văn, chúng ta có thể ứng dụng CNTT khi: cần nêu những đề văn
có cấu trúc phức tạp, không dễ hiểu để HS quan sát phân tích rút ra những yêu cầu và dàn ý của đề; cần đưa ra những thí dụ cụ thể về cách dùng từ ngữ, cách diễn đạt hay (hoặc dở) của
HS để minh họa cho nhận xét của GV về những ưu nhược điểm cần rút kinh nghiệm trong các bài văn của HS; cần nêu những lỗi sai sót điển hình để HS cả lớp quan sát, nhận xét, sửa chữa, rút kinh nghiệm
Đề tài đã tiến hành thiết kế thử nghiệm một số tình huống ứng dụng CNTT trong 3 giờ dạy ở 3 phân môn văn, tiếng Việt và tập làm văn Đó là các bài “Sự tích Hồ Gươm” Ngữ văn 6; “Từ trái nghĩa” Ngữ văn 7; “Tìm hiểu chung về văn thuyết minh” Ngữ văn 8 Việc thử nghiệm được tiến hành theo quy trình sau:
Căn cứ vào nội dung chương trình, nội dung mục đích yêu cầu của bài học và các nguyên tắc, các tình huống dạy học đã nêu ở trên thiết kế một số phần mềm dạy học
Lấy ý kiến của GV
Chỉnh sửa cho hoàn chỉnh
Dạy thử nghiệm trên lớp
Kết quả thử nghiệm cho thấy cả 3 giờ dạy ở trường THCS Herman thuộc phòng Giáo dục Cầu Giấy Hà Nội đều được xếp loại tốt
3 Khuyến nghị
Đối với các cơ quan nghiên cứu giáo dục:
- Cần tập trung nghiên cứu và ban hành những tài liệu, thiết kế một số bài dạy thử nghiệm mang tính định hướng cho GV các trường và cán bộ quản lí ở các cấp về việc lựa
Trang 5chọn các tình huống ứng dụng CNTT trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS
- Đưa ra những tiêu chí cụ thể để đánh giá những giờ dạy Ngữ văn có ứng dụng CNTT Để hạn chế tình trạng ứng dụng CNTT một cách gượng ép, không nên lấy tiêu chí có ứng dụng CNTT hay không, ứng dụng nhiều hay ít để xếp loại giờ dạy Ngữ văn
Đối với các cơ quan quản lí giáo dục:
- Tổ chức các chuyên đề bàn về chọn lựa các tình huống ứng dụng CNTT trong dạy học Ngữ văn
- Lập thư viện điện tử về các môn trong đó có môn Ngữ văn nhằm cung cấp cung cấp cho GV nguồn tư liệu phong phú để GV có cơ hội được lựa chọn, tham khảo phục vụ cho việc thiết kế các PMDH, các giáo án điện tử thích hợp với HS từng khối lớp, từng vùng miền, từng trình độ
Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS theo CT và SGK mới
Nhóm nghiên cứu: CNĐT- PGS TS Nguyễn Thuý Hồng; Thành viên: CN Nguyễn Phương Hồng;
PGS TS Vũ Trọng Rỹ; PGS TS Đào Thái Lai.
Thư điện tử: info@123doc.org ; Điện thoại: 0913352481
Thời gian thực hiện: từ 6/2006 đến 6/2008.
Mục tiêu nghiên cứu: 1/Mô tả thực trạng đổi mới PPDH theo định hướng tích cực hoá hoạt động học
tập của người học từ đó chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu và bất cập trong thực tiễn vận dụng đổi mới PPDH ở trường THCS Việt Nam thời gian triển khai đại trà CT và SGK THCS mới, minh hoạ qua 3 môn học Ngữ văn, Toán, Vật lí; 2/Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới PPDH các môn học theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập của người học ở trường THCS, minh hoạ qua 3 môn Ngữ văn, Toán, Vật lí.
KẾT QUẢ CHÍNH ĐẠT ĐƯỢC
1 Về lí luận
Đề tài đã xác định được một số vấn đề về đổi mới PPDH và nghiên cứu thực trạng đổi mới PPDH ở trường phổ thông, lấy đó làm căn cứ để nghiên cứu thực trạng đổi mới PPDH ở các trường THCS Việt Nam sau 4 năm triển khai đại trà CT, SGK THCS mới, minh hoạ qua 3 môn học Ngữ văn, Toán, Vật lí
PPDH là “cách thức hợp tác của thày và trò, trong đó thày truyền đạt tri thức, kỹ năng, thái độ, thày điều khiển việc học của trò, trò tiếp thu và điều khiển sự học tập của bản thân, học những điều được truyền thụ để phát triển nhân cách PPDH bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học Hai phương pháp này trong suốt quá trình dạy học luôn có quan hệ chặt
Tác Giả :PGS TS Nguyễn Thuý
Hồng
Trang 6chẽ, thống nhất với nhau Dạy và học là một hoạt động mang tính sáng tạo, đa dạng và linh hoạt, nên không thể có PPDH vạn năng, cứng nhắc, đơn điệu , áp đặt PPDH luôn biến đổi
và tuân theo qui luật về sự thống nhất của mục đích, nội dung, phương pháp và phù hợp với đối tượng
Đổi mới PPDH là một định hướng dạy học được đề xuất trong giai đoạn dạy học hiện tại căn cứ vào những đổi mới của mục tiêu và nội dung giáo dục trong nhà trường
Yêu cầu của đổi mới PPDH ở trường phổ thông Việt Nam được xác định thông qua định hướng của các Nghị quyết TW Đảng, Chiến lược phát triển giáo dục, Luật Giáo dục về:
- Mục đích của đổi mới PPDH ở trường phổ thông
- Định hướng đổi mới PPDH ở trường phổ thông
- Yêu cầu chung về đổi mới PPDH ở trường phổ thông và những yêu cầu đối với HS
và GV khi thực hiện đổi mới PPDH
- Đổi mới PPDH được thể hiện trong biên soạn CT và SGK THCS
- Đổi mới PPDH thể hiện trong các hoạt động triển khai CT SGK THCS mới
2 Về thực tiễn
Đề tài đã thực hiện các nghiên cứu định tính và định lượng nhằm thu thập, xử lý và phân tích các thông tin theo các chỉ số đã được xác định qua các hoạt động: xin ý kiến HS các khối lớp 6, 7, 8, 9
ở 10 trường THCS thuộc 2 nhóm trường thuận lợi, khó khăn của 4 tỉnh, thành phố Hà Nội, Hà Tĩnh,
Hồ Chí Minh, Long An; xin ý kiến GV và dự giờ (212 giờ), phỏng vấn, toạ đàm với GV và CBQL, HS
và quan sát các điều kiện dạy học tại 45 trường THCS thuộc 14 tỉnh thành phố Từ đó đã mô tả được bức tranh toàn cảnh về thực trạng đổi mới PPDH ở các trường THCS Việt Nam trong thời gian triển khai đại trà CT, SGK THCS mới theo các lĩnh vực chính sau:
Thực trạng đổi mới PPDH ở trường THCS (minh chứng qua 3 môn Ngữ văn, Toán, Vật lí) được tổng kết trên 7 phương diện cơ bản là: nhận thức về đổi mới PPDH của GV, CBQL; sự vận dụng các PPDH; sử dụng PTDH của GV trong các giờ học; kết hợp đổi mới PPDH và đổi mới đánh giá; rèn kĩ năng tự học cho HS; tạo lập môi trường, hứng thú học tập cho HS của GV trong các giờ học và thực trạng đổi mới thiết kế kế hoạch bài học của GV
Thực trạng điều kiện hỗ trợ đổi mới PPDH ở trường THCS (minh chứng qua 3 môn Ngữ văn, Toán, Vật lí) được tổng kết trên 5 phương diện cơ bản là: CT, SGK, SGV; các tài liệu đổi mới PPDH; hoạt động bồi dưỡng GV; điều kiện CSVC, PTDH và con người
Qua phân tích thực trạng, đề tài đã đưa ra một số kiến nghị về giải pháp nâng cao hiệu quả đổi mới PPDH ở trường THCS theo quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của người học theo 3 phương diện:
Trang 7Nhóm giải pháp đối với GV như: Tạo động lực cho GV THCS đổi mới PPDH, Tăng cường năng lực GV THCS về PPDH và đổi mới PPDH
Nhóm giải pháp đối với HS như: Tạo động lực học tập cho HS THCS; Bồi dưõng PP học chủ động, độc lập, tích, sáng tạo của HS THCS
Nhóm giải pháp nâng cao điều kiện hỗ trợ cho đổi mới PPDH như: Quản lí hoạt động đổi mới PPDH, Quản lí hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ GV, Cải thiện điều kiện CSVC và PTDH của các nhà trường THCS
3 Khuyến nghị
Với các trường THCS:
- Có hình thức quản lý và chỉ đạo hợp lý nội dung và hình thức của các hoạt động bồi dưỡng nhận thức, năng lực của CBQL và giáo viên THCS về đổi mới PPDH, chú ý hơn tới các hoạt động bồi dưỡng thường xuyên, tại chỗ trong đó chủ yếu bồi dưỡng một cách có hệ thống các kỹ năng tích cực dạy học, vận dụng các PPDH, ứng dụng CNTT vào từng môn học
- Tăng cường bồi dưỡng giáo viên về đổi mới kiểm tra, đánh giá;
- Tăng cường công tác kiên cố hóa trường học và trang thiết bị dạy học thông thường;
- Duy trì thường xuyên hoạt động dự giờ, thao giảng, sinh hoạt chuyên môn, phong trào thi GV dạy giỏi, kịp thời động viên, khen thưởng GV, CBQL tích cực đổi mới PPDH
- Quan tâm tạo điều kiện cho GV THCS yên tâm công tác và hứng thú với việc đổi mới PPDH
Với các cơ quan nghiên cứu:
- Nghiên cứu xây dựng chương trình và biên soạn các tài liệu bồi dưỡng giáo viên về đổi mới PPDH ở trường THCS cập nhật với những xu thế đổi mới PPDH ở các nước khu vực
và trên thế giới
- Nghiên cứu hứng thú học tập các môn học của học sinh THCS, nhất là các môn học sinh cho là khó và khổ
- Nghiên cứu PP học tập các bộ môn, hướng tới việc hình thành cho học sinh THCS những kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, tự đánh giá phù hợp với nội dung môn học, thậm chí từng kiểu bài trong chương trình
- Nghiên cứu dạy học tự chọn và các hình thức đánh giá kết quả qua học tập cho học sinh trong trường THCS để giảm thiểu các môn học và số giờ học bắt buộc, giảm áp lực căng thẳng về điểm số qua các kỳ thi, giúp học sinh được chọn môn học, chủ đề học tập thích hợp
Trang 8- Nghiên cứu xây dựng các trang web có nội dung bồi dưỡng giáo viên về nội dung học tập, PPDH, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo những đổi mới của CT, SGK
Với cơ quan quản lý, chỉ đạo cấp Bộ:
- Có lộ trình đổi mới CT, SGK THCS để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh;
- Có lộ trình đổi mới PPDH các môn học ở trường THCS cho GV theo những qui định của Luật Giáo dục 2005, đảm bảo có kế hoạch lâu dài cho việc đào tạo về PPDH cho GV THCS
- Hoàn thiện, bổ sung những văn bản pháp qui về đánh giá đổi mới PPDH của GV trường THCS
- Ban hành chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất và PPDH cho các trường THCS đồng thời với việc huy động các nguồn hỗ trợ nâng cao số lượng và chất lượng cơ sở vật chất và phương tiện dạy học ở tất cả các trường THCS
- Thay đổi định biên số giờ dạy/giáo viên và giảm số định biên HS còn 25 học sinh/lớp học và chỉ học 4 tiết/buổi
- Có chiến lược ưu tiên cho nâng cao chất lượng giáo dục THCS ở vùng khó khăn và vùng dân tộc, đặc biệt là hỗ trợ HS dân tộc lứa tuổi 12-16 nâng cao năng lực nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt
Nghiên cứu chi phí giáo dục cho cấp trung học cơ sở
Nhóm nghiên cứu: CNĐT- ThS Lê Thị Mỹ Hà; Thư ký- CN Phạm Thị Thu Hằng; Thành
viên- TS Tạ Ngọc Thanh, TS Nguyễn Hồng Thuận, ThS.Trịnh Thị Hồng Hà, CN Hồ Thanh
Bình, CN Mai Kim Oanh, ThS Dương Quang Ngọc
Thư điện tử: info@123doc.org; Điện thoại: 04.39423430
Thời gian thực hiện: từ tháng 6/2005 đến tháng 12/2006.
Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích thực trạng chi phí giáo dục cấp Trung học cơ sở ở một số
trường THCS đại diện về các khỏan chi và tỷ lệ các khoản mục chi, trên cơ sở đó đề xuất một
số giải pháp điều chỉnh chi phí theo hướng nâng cao hiệu quả chi phí giáo dục cấp Trung học
cơ sở sau năm 2010
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu chi phí ở một số trường THCS tại một số
tỉnh có tính chất đại diện như Điện Biên, Tuyên Quang (miền núi), Vĩnh Phúc, Thái Bình, Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh Ngoài ra đề tài có lấy ý kiến của các giáo viên, cán bộ quản lý,
Tác Giả :ThS Lê Thị Mỹ
Hà
Trang 9hiệu trưởng ở một số tỉnh khác.
Nhiệm vụ nghiên cứu: 1/Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu chi phí giáo dục; 2/Phân tích thực
trạng chi phí giáo dục Trung học cơ sở ở nước ta; 3/Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả chi phí giáo dục ở trường THCS
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHÍNH
1 Về lý luận
Ðề tài đã làm sáng tỏ một số khái niệm cơ bản về: Chi phí giáo dục; Giá thành giáo dục và phương pháp tính giá thành giáo dục ; Các phạm trù chi phí giáo dục trung học cơ sở (Chi phí cơ hội, chi phí đầu vào, chi phí thường xuyên và chi phí đầu tư xây dựng cơ bản); Phân loại chi phí giáo dục; Các nguồn thu tài chính giáo dục; Hiệu quả chi phí giáo dục; Các nguồn tài chính giáo dục; Bản chất kinh tế - xã hội của chi phí giáo dục; Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu về tài chính giáo dục
Bên cạnh đó để có cơ sở cho việc đề xuất giải pháp, nhóm thực hiện đề tài cũng đã tổng hợp, nghiên cứu phân tích kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về các vấn đề như: Chi phí và cấu trúc chi phí giáo dục; Xu hướng đầu tư cho giáo dục; Nguồn tài chính cho giáo dục tính theo phần trăm GDP; Sự phân bổ và chi tiêu nguồn tài chính ở các cấp giáo dục; Chi phí hàng năm tính trên đầu học sinh; Chi tiêu của hộ gia đình cho học sinh
2 Về thực tiễn
Thực trạng chi phí giáo dục cho cấp trung học cơ sở: Nhóm đề tài phân tích thực trạng chi phí giáo dục trung học cơ sở dựa trên những dữ liệu đã có, đồng thời kết hợp với việc điều tra trên một số mẫu nhỏ để đối chiếu, so sánh và kiểm chứng Nhóm đề tài đã nêu lên được thực trạng trên các khía cạnh sau: Tình hình phát triển chung của giáo dục trung học cơ sở ở nước ta hiện nay; Thực trạng về cơ chế, chính sách tài chính giáo dục của Nhà nước có tác động đến hoạt động "thu-chi" ở trường THCS; Thực trạng về chi phí giáo dục THCS hiện nay ở nước ta;
Bức tranh về thực trạng tuy chưa được thực hiện trên mẫu lớn trên một quy mô rộng
và có thể còn nhiều thiếu sót cần bổ sung thêm, nhưng có thể nhận thấy: Mức chi từ NSNN cho giáo dục nói chung và giáo dục THCS nói riêng không ngừng tăng lên trong suốt 10 năm qua Đóng góp của nhân dân cho sự nghiệp giáo dục cũng rất đáng trân trọng Tuy nhiên, nếu tăng mức học phí cho học sinh từ cấp THCS sẽ là một vấn đề khó khăn cho các gia đình nghèo khó Vì vậy, bên cạnh vấn đề xã hội hoá giáo dục cần phải tìm ra giải pháp hỗ trợ trẻ
em có hoàn cảnh khó khăn để đạt được mục tiêu phổ cập giáo dục THCS đến năm 2020
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, hiệu quả đầu tư cho giáo dục cũng sẽ tăng tỷ lệ thuận với việc tăng đầu tư ngân sách cho giáo dục
Từ lý luận và thực tiễn thu được nhóm thực hiện đề tài đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chi phí ở các trường THCS như: 1/Nâng cao nhận thức và trình độ
Trang 10quản lý tài chính của lãnh đạo trường, mà trước hết là hiệu trưởng và cán bộ kế toán ở trường THCS; 2/Tăng kinh phí cho chuyên môn nghiệp vụ và mua sắm tài sản cố định, các yếu tố tác động đến chất lượng giáo dục THCS; 3/Ðổi mới cơ chế phân bổ ngân sách; 4/Phân cấp tài chính cho cơ sở giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả chi phí; 5/Tăng cường hoạt động xã hội hoá, huy động các nguồn ngoài ngân sách Nhà nước để phát triển giáo dục
3 Khuyến nghị
Đối với Đảng và Nhà nước: Tăng NSNN cho giáo dục Dù NSNN dành cho giáo dục
đã không ngừng tăng trong suốt những năm qua, nhưng đứng trước yêu cầu của xã hội về giáo dục và sự đổi mới không ngừng của giáo dục hiện nay, giáo dục cần được đầu tư nhiều hơn nữa để phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên, CBQL, tăng cường cơ
sở vật chất, trang thiết bị để đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá Cần có văn bản pháp lý quy định rõ nhiệm vụ, chức năng, vai trò của Bộ GD & ĐT với các Bộ liên ngành khác trong vấn đề lập kế hoạch ngân sách cho giáo dục và được tự chủ tài chính trong giáo dục, chủ động điều tiết ngân sách cho giáo dục giữa các cấp, bậc học và các hạng mục đầu tư
Đối với Bộ GD & ĐT: Phân bổ kinh phí có sự ưu tiên giữa các cấp/bậc giáo dục Cần
có các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường hỗ trợ kinh phí NN cho các Cần có các giải pháp cụ thể nhằm tăng cường hỗ trợ kinh phí NN cho các
Đối với các nhà trường: Phải chủ động trong khâu Lập kế hoạch ngân sách cho nhà trường, mạnh dạn đề xuất kế hoạch thu chi trong nhà trường cho các hoạt động giáo dục hữu ích, thiết thực, nhất là ngân sách dành cho các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả và chi phí giáo dục và nâng cao chất lượng dạy - học