1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

bai du thi tim hieu Viet Nam Lao suu tam

31 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 60,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân dịp giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện hoà hợp dân tộc, thống nhất quốc gia, thành lập Chính phủ Liên hiệp, ngày 10 tháng 1 năm 1958, Ban Chỉ đạo Đảng Nhân dân Lào [r]

Trang 1

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM-LÀO, LÀO-VIỆT NAM

Đơn vị: Trung Tâm GDTX Sa Pa

CÂU 1: NHỮNG NHÂN TỐ HÌNH THÀNH VÀ QUYẾT ĐỊNH MỐI QUAN HỆ HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO , LÀO – VIỆT NAM ?

- Các nhân tố dân cư, xã hội, văn hóa và lịch sử Trong Thế chiến thứ hai, người Nhậtchiếm Đông Dương Khi Nhật đầu hàng, những người quốc gia Lào tuyên bố độc lập, nhưng tớiđầu năm 1946, quân Pháp tái chiếm nước này và chỉ trao cho họ một số quyền tự trị hạn chế TrongChiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Đảng cộng sản Đông Dương đã lập ra tổ chức kháng chiếnPathet Lào nhằm giành độc lập cho Lào Lào hoàn toàn độc lập sau khi Pháp bị những người cộngsản Việt Nam đánh bại và sau Hội nghị Genève năm 1954.Từ năm 1955 đến năm 1975, Vươngquốc Lào lệ thuộc mạnh mẽ vào Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống cộng sản tại Đông Dương, tìnhhình đod đã lôi kéo Lào vào cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, là yếu tố dẫn đến nội chiếnLào và xảy ra một vài cuộc đảo chính Thi hành Nghị quyết đại hội II của Đảng cộng sản ĐôngDương (2/1951), ngày 22/3/1955, Đại hội thành lập Đảng nhân dân Lào khai mạc tại một khu rừngthuộc tỉnh Hưa Phen ( Sầm Nưa) Đảng nhân dân Lào lấy kim chỉ nam cho hành động, xác định kẻthù của cách mạng Lào là Đế quốc Mỹ, phái thực dân phá hoại hiệp định đình chiến và bè lũ tay saicủa chúng.đảng đề ra nhiện vụ chiến lược trong giai đoạn mới là: “ đoàn kết lãnh đạo toàn dân,phấn đấu hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thực hiện một nước Lào hoà bình độc lập,dânchủ , thống nhất và thịnh vượng”Từ năm 1968, được sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam đã

hỗ trợ các đơn vị tham chiến cùng quân Pathét chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ Sức mạnhtổng hợp của cách mạng Lào trong khối liên minh đoàn kết chiến đấu với các nước Đông Dương

đã dồn đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào vào thế bị động, khốn quẩn chưa từng thấy Mỹ thấy khôngthắng được Pathét Lào bằng sức mạnh quân sự do đó phải chấp nhận phương sách “hoà hoãn” vớicác lực lượng cách mạng Lào Một thời gian ngắn sau Hiệp định hoà bình Paris dẫn tới sự rút quâncủa Mỹ khỏi Việt Nam, một cuộc ngừng bắn diễn ra giữa Pathet Lào và chính phủ dẫn tới việcthành lập một chính phủ liên minh mới Tuy nhiên, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà không thực sựrút quân khỏi Lào và Pathet Lào vẫn là một đội quân phụ thuộc vào Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, Pathet Lào với sự hỗ trợ của Việt Nam đã có thể chiếm toàn bộquyền lực mà chỉ gặp phải một sự chống đối ít ỏi Ngày 2 tháng 12 năm 1975, nhà vua buộc phảithoái vị và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào được thành lập

- Sự phối hợp tự nguyện của nhân dân hai nước trong truyền thống chống giặc ngoại xâm

- Công lao thiết lập và xây dựng của các vị lãnh tụ

* Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam được phát triển từ quan hệ truyền thống

do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng chủ tịch Cayxỏn Phômvihản,chủ tịch Xuphannuvông và các thế hệ lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nướcdày công vun đắp Cùng với thời gian, mối quan hệ này đã trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt,đày hi sinh, gian khổ vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân hai dân tộc, đã trở thành quy luậtsống và sức mạnh kì diệu đưa tới những thắng lợi vĩ đại của Việt Nam và Lào trong đấu tranh

Trang 2

giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược, tiến hành thànhcông sự nghiệp đổi mới, đưa hai nước cùng phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa

CÂU 2:TÌNH CẢM GẮN BÓ KEO SƠN GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO TRONG NHỮNG NĂM THÁNG CHIẾN TRANH TRƯỚC ĐÂY CŨNG NHƯ TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY ?

Trả lời:

Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào – ViệtNam là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thuỷ chung, trong

sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội Quan hệ đặc biệt

Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch Hồ Chí Minh xâydựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và cácthế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp Một trong nhữngnhân tố làm nên mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào-Việt Nam, đó chính là tình cảm gắn bókeo sơn giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào trong những năm tháng chiến tranh trước đây cũng nhưtrong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay

Thứ nhất: Hai dân tộc sát cánh bên nhau, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, đòan kết gắn

bó đánh giặc ngoại xâm

Dân tộc Việt Nam kể từ khi Nhà nước Văn Lang thành lập đã trải qua mấy ngàn năm lịch

sử và liên tục bị chế độ phong kiến phương Bắc xâm lược, thống trị và do đó đã phải không ngừngchiến đấu giành và bảo vệ độc lập dân tộc Nước Lào cũng trải qua lịch sử hàng nghìn năm và cũngphải ngoan cường chống xâm lược để khẳng định sự tồn tại của mình với tư cách một dân tộc, mộtquốc gia độc lập

Từ đầu thế kỷ 20, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Lào-Việt Nam đã đoàn kết,cùng nhau đấu tranh chống Pháp Trong đó, có phong trào chống Pháp ở Áttapư do Khi Volảlạtlãnh đạo (1900-1901), phong trào Phùmibun ở Trung Lào của Phò Càduột (1901-1902) và cuộckhởi nghĩa Hạ Lào do ông Kẹo, ông Côm mađăm lãnh đạo (1901-1937) đã có sự liên kết với cáccuộc nổi dậy chống Pháp của bộ tộc Xơ đăng ở KonTum (Việt Nam) Đặc biệt, năm 1918, phongtrào chống Pháp của người Mông ở Tây Bắc Việt Nam do Chạu Phạpắt chây lãnh đạo lan rộng trênđịa bàn nhiều tỉnh Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam, kéo dài đến tận năm 1922 gây cho Pháp nhiêùthiệt hại

Như vậy, trước 1930, đã xuất hiện đoàn kết Lào-Việt cùng chiến đấu chống kẻ thù chungnhưng lúc đó chỉ dừng lại ở tính chất tự phát do hạn chế về trình độ nhận thức và điều kiện lịch sử

Từ khi được chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặc biệt là từ khi ĐảngCộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranhgiải phóng của hai dân tộc Lào-Việt Nam, tình đoàn kết đó đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục

Nhân dân Lào cùng Việt kiều đấu tranh chống chế độ thuộc địa, phối hợp và ủng hộ cách mạng Việt Nam giai đoạn (1930-1939)

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930) đã mở đầu trang sử vẻ vang của quan hệ

đặc biệt Việt Nam – Lào

Tại Hội nghị lần thứ nhất (tháng 10 -1930) Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên thành ĐảngCộng sản Đông Dương, đồng thời xác lập các nguyên tắc, phương hướng, đường lối chính trị vànhững nhiệm vụ cơ bản cho phong trào cách mạng của ba dân tộc ở Đông Dương; đặt phong tràocách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ĐôngDương Chính vì vậy, trong những năm 1930 - 1939, các cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vàLào đã hỗ trợ lẫn nhau, góp phần thúc đẩy sự phát triển phong trào cách mạng mỗi nước

Trong thời gian trên, Tỉnh uỷ Quảng Trị đã bắt mối xây dựng một số chi bộ Đảng trong Việtkiều ở địa bàn Trung Lào Sự ra đời của các chi bộ này, thể hiện sự phát triển của phong trào đấutranh của công nhân và nhân dân lao động Lào cũng như vai trò rất lớn của Việt kiều Dưới sự lãnhđạo của các chi bộ Đảng, sự vận động của các đoàn thể quần chúng, những hoạt động chống Pháp

có tính chất lẻ tẻ trong phạm vi bộ tộc, bộ lạc, mang tính chất địa phương và tự phát ở Lào dầnchuyển lên mang tính tổ chức, hoà nhịp với phong trào đấu tranh của ba nước Đông Dương Nhữnghoạt động yêu nước và cách mạng ở Việt Nam và Lào có sự phối hợp và ngày càng gắn kết chặtchẽ bổ sung, hỗ trợ nhau

Trang 3

Nhân dân hai nước Việt Nam-Lào giúp nhau tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền thắng lợi(1939 - 1945).

Trước sự tồn vong của các dân tộc Đông Dương, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương

liên tiếp tổ chức các cuộc hội nghị quan trọng, đặc biệt, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảngtháng 5- 1941 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã quyết định nhiệm vụ giải phóng dân tộc vàgiải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước và thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộcthống nhất rộng rãi trong đó nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng trước tiên của cáchmạng Đông Dương Hội nghị cho rằng các dân tộc Đông Dương đều chịu chung một ách thống trịcủa phát xít Pháp-Nhật cho nên phải đoàn kết lại đánh đuổi kẻ thù chung

Cuối năm 1944 đầu năm 1945, tình hình thế giới và Đông Dương có nhiều biến đổi, đe doạ

trực tiếp quyền lực và lợi ích của phát xít Nhật ở Đông Dương Trước tình hình đó, hai dân tộc ViệtNam - Lào đã phối hợp đấu tranh chống phát-xít Nhật tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền thắnglợi, thành lập chính phủ độc lập ở mỗi nước Sự ra đời của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộnghoà (ngày 2-9-1945), Chính phủ Lào Ítxalạ (Lào tự do) (ngày 12-10-1945) là một trong những cơ

sở đưa tình đoàn kết, giúp đỡ nhau lên tầm liên minh chiến đấu để hai bên xây dựng mối quan hệhữu hảo và vững chãi hơn trước là một bước ngoặt đưa tình đoàn kết, giúp đỡ nhau lên tầm liênminh chiến đấu

Liên minh Việt Nam-Lào , Lào-Việt Nam chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược

Sau khi giành lại được chính quyền, Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợ Lào – Việt (1) và Hiệp định về tổ chức Liên quân Lào - Việt (2), đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tácgiúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt Nam - Lào

Ngày 25-11-1945, trước nguy cơ tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nước Việt Nam - Lào

- Campuchia, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc để chỉ đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương Chỉ thị chủ trương:

“Thống nhất mặt trận Việt – Miên - Lào chống Pháp xâm lược” Thực hiện chủ trương này, trong 3

năm (1945-1948), liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào từng bước được hình thành, phát triển vàthu được nhiều kết quả, góp phần thúc đẩy quan hệ đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào gắn bó mật

thiết hơn Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ sáu, (tháng 1- 1949) đã quyết định “mở rộng mặt trận Lào - Miên”, trong đó nhấn mạnh yêu cầu mở rộng Mặt trận kháng chiến Lào và Campuchia,

củng cố các lực lượng Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở hai nước, tăng cường thêm cán bộ, xâydựng và mở rộng các căn cứ ở Lào Thực hiện chủ trương đó, Việt Nam đã cử nhiều cán bộ phốihợp với lực lượng kháng chiến Lào mở lớp huấn luyện quân sự và học tập chính trị Lực lượng này,

sau được tổ chức thành hệ thống riêng và lấy tên là Quân tình nguyện.

Đại hội Quốc dân Lào (Mặt trận Lào kháng chiến) họp từ ngày 13 đến ngày 15 - 8 - 1950,tại Tuyên Quang (Việt Nam) đã đề ra Cương lĩnh chính trị 12 điểm, trong đó nhấn mạnh yêu cầutăng cường đoàn kết quốc tế, trước hết là với Việt Nam và Campuchia, cùng nhau đánh đuổi kẻ thùchung là thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, góp phần bảo vệ hòa bình thế giới

Ngày 11-3-1951, theo sáng kiến của Đảng Lao động Việt Nam, Hội nghị khối liên minhnhân dân Việt Nam – Lào – Campuchia đã thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tươngtrợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, cùng nhau đánh đuổi bọn thực dân, đế quốc xâm lược, giànhđộc lập thực sự cho nhân dân Đông Dương Hội nghị đề ra chương trình hành động chung và cử Ủyban liên minh gồm đại diện của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia Việc thành lập khối liên minhnhân dân Việt Nam – Lào – Campuchia đã tạo cơ sở để nâng cao quan hệ đoàn kết và phối hợpchiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương và đã giáng đòn mạnh mẽ vào chính sách “chia đểtrị” của bọn thực dân, đế quốc Tháng 12-1953, một bộ phận quân chủ lực Việt Nam phối hợp với

bộ đội Lào Ítxalạ và quân tình nguyện Việt Nam tại Lào mở chiến dịch Trung, Hạ Lào Chiến thắngcủa Liên quân Việt – Lào góp phần làm phá sản kế hoạch tập trung quân của Nava, buộc địch phải

1

Trang 4

phân tán lực lượng đối phó trên nhiều chiến trường, tạo điều kiện củng cố, phát triển thế phối hợpchiến lược giữa hai nước Việt Nam và Lào.

Với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ 1954, cách mạng hai nước Việt Nam, Lào bước vào

thời kỳ mới: thời kỳ tập trung xây dựng lực lượng, đẩy mạnh đấu tranh để giữ vững hòa bình vàgiành độc lập, thống nhất ở mỗi nước Tuy nhiên, đế quốc Mỹ vẫn nuôi tham vọng xâm lược, ra sứccan thiệp vào miền Nam Việt Nam và Lào, âm mưu biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới và căn cứquân sự, để làm bàn đạp tiến công các nước xã hội chủ nghĩa Trước sự chuyển biến mới của cáchmạng Lào, Đại hội thành lập Đảng Nhân dân Lào được tiến hành từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 6tháng 4 năm 1955 tại tỉnh Sầm Nưa Đảng Nhân dân Lào ra đời đã tạo cơ sở vững chắc để tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Lào, đồng thời là nhân tố trọng yếu, có ý nghĩaquyết định thúc đẩy quan hệ đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước Lào - Việt Nam.Đặc biệt, sau Đại hội đại biểu lần thứ II của Neo Lào Hắc Xạt (Mặt trận Lào yêu nước) đã mở ratriển vọng mới cho sự tăng cường hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa cách mạng hai nước Việt Nam –Lào

Sau khi Đảng Nhân dân Lào được thành lập, các lực lượng yêu nước Lào với sự phối hợp,

hỗ trợ tích cực của các tổ cố vấn quân sự và dân chính Việt Nam đã liên tiếp đánh bại các cuộc tiếncông của các thế lực phái hữu trong chính quyền và quân đội Viêng Chăn vào vùng căn cứ cáchmạng, gây cho địch nhiều thiệt hại Đúng như khẳng định của Ban Chỉ đạo Đảng Nhân dân

Lào:“ Sở dĩ cách mạng Lào đạt được những thắng lợi to lớn đó là do tinh thần đoàn kết đấu tranh anh dũng kiên cường của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, đồng thời cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng theo dõi, giúp đỡ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng” 3

Từ cuối năm 1958, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đẩy mạnh các hoạt động lật lọng, từng bướcxoá bỏ các hiệp ước hoà hợp dân tộc đã được ký kết để cuối cùng trắng trợn xoá bỏ Chính phủ liênhiệp và hoà hợp dân tộc Trước sự can thiệp trắng trợn của đế quốc Mỹ vào Lào, Hội nghị Trungương Đảng Nhân dân Lào (3-6-1959) xác định cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào đangchuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn từ đấu tranh công khai hợp pháp là chủ yếu, chuyển sangđấu tranh vũ trang là chủ yếu, kết hợp với các hình thức đấu tranh khác Thống nhất với quan điểmtrên của Đảng Nhân dân Lào, Hội nghị Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam (2-7-1959) đề ra chủtrương chi viện cách mạng Lào đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển lực lượng trong tình hình mới

và coi đây là một nhiệm vụ quốc tế hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng ViệtNam Về phía Việt Nam, được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân các bộ tộc Lào, các đoàn công tácquân sự của ta đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng, phục vụ cho việc mở tuyến đường mớidọc Tây Trường Sơn trên đất Lào

Ngày 5-9-1962, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Vương quốc Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Đầu năm 1963 vua Lào Xỉxávàng Vắthana dẫn đầu

đoàn đại biểu Hoàng gia Lào thăm Việt Nam Trong buổi chiêu đãi vua Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh

khẳng định: “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dải đất, cùng có chung một dãy núi Trường Sơn Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh em… Ngày nay chúng ta lại đang giúp đỡ nhau để xây dựng một cuộc sống mới Tình nghĩa láng giềng anh em Việt - Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được” (4)

Mặc dù Hiệp định Giơnevơ năm 1962 về Lào được ký kết, đế quốc Mỹ vẫn chưa từ bỏ âmmưu xâm lược Lào, tăng cường viện trợ, giúp chính quyền tay sai thân Mỹ tiến công lấn chiếmvùng giải phóng, đồng thời ra sức phá hoại Chính phủ liên hiệp, cô lập và vu cáo Neo Lào Hắc Xạt

Từ cuối năm 1963, Việt Nam cử chuyên gia quân sự sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào và đến giữanăm 1964, thành lập hệ thống chuyên gia quân sự Việt Nam từ trên cơ quan Tổng tư lệnh Làoxuống đến Bộ tư lệnh các quân khu, tỉnh đội và cấp tiểu đoàn, có nhiệm vụ phối hợp với bạn đểnghiên cứu kế hoạch tác chiến, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng và củng cố các vùng căn cứ

3

Trang 5

ở Lào Đồng thời, các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với bộ đội Pathết Lào mở nhiềuchiến dịch, chủ yếu ở khu vực đường 9 – Trung Lào, Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, đập tancác cuộc tấn công lấn chiếm của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Lào, tạo điều kiện thuậnlợi cho quân và dân Việt Nam vận chuyển trên đường Tây Trường Sơn để chi viện cho chiếntrường miền Nam Việt Nam và cách mạng hai nước Lào, Campuchia.

Ngày 22-6-1965, Đảng Lao động Việt Nam đã thống nhất với Đảng Nhân dân Lào về việcphối hợp và giúp đỡ lẫn nhau, trong đó tập trung giúp Lào xây dựng vùng giải phóng về mọi mặt.Tiếp đó, ngày 3/ 7/ 1965, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra

Nghị quyết khẳng định: “Việt Nam cần phải nỗ lực đáp ứng đến mức cao nhất mọi yêu cầu đối với công cuộc phát triển cách mạng của Lào” 5 Đầu năm 1968, bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp

với Quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến công Nặm Bạc thắng lợi, giải phóng hoàn toàn khuvực Nặm Bạc – Khăm Đeng với trên một vạn dân, nối liền vùng giải phóng Thượng Lào thành khuvực liên hoàn, tạo thế vững chắc cho hậu phương cách mạng Lào và hỗ trợ thiết thực cho cuộckháng chiến của nhân dân Việt Nam và Campuchia

Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cách mạng Lào, đồngthời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa quân và dân hai nước ViệtNam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chân thành nhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sựnghiệp cách mạng Lào, như đồng chí Cay xỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng

Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của Việt Nam cho cách mạng Lào hết sức tận tình và vô tư Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương máu Xương máu của nhân dân Việt Nam đã nhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của Lào…Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan hệ đặc biệt, thực tế đó cũng

là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản” 6

Trước âm mưu và thủ đoạn chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, Trung ương Đảng Lao độngViệt Nam và Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã ra chỉ thị khẳng định tăng cường đoàn kết giữanhân dân hai nước, quyết tâm đánh bại đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai trong bất cứ tình huống nào.Với tinh thần đó, đến cuối năm 1972, cách mạng Lào đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng vàcùng với những chiến thắng to lớn về nhiều mặt của quân tình nguyện Việt Nam và quân giảiphóng nhân dân Lào cuối năm 1972, đầu năm 1973 đã trực tiếp góp phần quan trọng buộc chính

phủ Viêng Chăn phải ký kết Hiệp định Viêng Chăn “lập lại hoà bình và thực hiện hòa hợp dân tộc

ở Lào” (21-2-1973)

Bước vào thời kỳ mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai Đảng Nhân dân Lào đã quyếtđịnh đổi tên Đảng thành Đảng Nhân dân cách mạng Lào; Đại hội đã suy tôn đồng chí Hồ Chí Minh

là lãnh tụ của Đảng; thông qua Nghị quyết: “Tăng cường đoàn kết Lào – Việt” Đặc biệt, đại hội

khẳng định tình đoàn kết Lào – Việt trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tinh thần quốc tế vô sản

là mối quan hệ đặc biệt Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào cũng đã

thống nhất phương hướng hợp tác cần tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất, những khâu then chốt nhất, tạo điều kiện cho Lào nhanh chóng đảm đương được công việc một cách độc lập, tự chủ.

Thực hiện chủ trương trên, Việt Nam từng bước rút chuyên gia ở tỉnh và huyện về nước(trước tháng 5-1974), đồng thời điều chỉnh các lực lượng chuyên gia và quân tình nguyện còn lại đểphối hợp và giúp Lào thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới Sự phối hợp chặt chẽ vàgiúp đỡ hiệu quả giữa Việt Nam và Lào nói trên, đã làm cho thế và lực của cách mạng Lào lớnmạnh vượt bậc, tạo điều kiện thúc đẩy phong trào đấu tranh của quần chúng ngày càng lan rộng vàsôi nổi, nhất là ở Thủ đô Viêng Chăn, buộc Chính phủ liên hiệp phải chấp nhận Cương lĩnh chínhtrị 18 điểm và Chương trình hành động 10 điểm do Mặt trận Lào yêu nước đưa ra (12-1974), đồngthời góp phần hỗ trợ tích cực cho nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia anh em giành thắnglợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược

5

Trang 6

Trước thắng lợi dồn dập, to lớn của nhân dân Việt Nam, Campuchia trong tháng 4-1975,nhất là chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam (30-4-1975) của nhân dân Việt Nam, ngày 5-5-

1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào tổ chức Hội nghị mở rộng, quyếtđịnh phát động toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong cả nước nổi dậy đoạt lấy chính quyền vàgiành thắng lợi hoàn toàn

Tháng 12 năm 1975, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời Đây là thắng lợi to lớn,triệt để của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời cũng là thắng lợi quan trọng của mối quan hệ đặcbiệt, liên minh đoàn kết chiến đấu, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam – Lào

Thứ hai: Hợp tác và giúp đỡ nhau, vượt qua khó khăn cùng xây dựng chủ nghĩa xã

hội, hội nhập và phát triển.

Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang mới Đây là thời kỳ ĐảngCộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào trở thành Đảng cầm quyền ở mỗi nước; cảhai nước càng có điều kiện phát huy truyền thống tốt đẹp đã từng gắn bó keo sơn trong cuộc đấutranh chống kẻ thù xâm lược, xây dựng và tăng cường quan hệ liên minh, liên kết và hợp tác toàndiện về chính trị, quốc phòng an ninh, kinh tế, văn hoá, giáo dục… Tuy nhiên, vào thời điểm nàyhai nước đều phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, đặc biệt là hậu quả thống trịcủa chủ nghĩa thực dân mới Trong khi đó, các thế lực thù địch trong nước và bên ngoài câu kết,tìm cách chia rẽ Lào với Việt Nam, Việt Nam với Lào gây khó khăn, trở ngại không nhỏ cho mốiquan hệ giữa Việt Nam và Lào

Ngày 30-4-1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết Về tăng cường giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới, xác định: việc tăng cường

đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối với Lào là một trong những nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng vànhân dân Việt Nam Từ ngày 15 đến ngày 18-7-1977, Đoàn đại biểu cao cấp Đảng và Chính phủViệt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghịchính thức Lào Hai bên đã trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quantâm, cũng như các vấn đề nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ vànhân dân hai nước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn của hai dân tộctrong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội

Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước: Hiệp ước hữu

nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; và ra Tuyên bố chung tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu dài, tạo cơ sở chính trị

và pháp lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tình đoàn kết, mối quan hệ đặc biệt ViệtNam – Lào, mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước

Ngày 3-7-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ thị: “Trên cơ sở quántriệt đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, các Nghị quyết 10 và 11 của BộChính trị về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia và nội dung thỏa thuậntrong các cuộc hội đàm lần này7, các bộ ban ngành và các tỉnh trực tiếp làm nhiệm vụ hợp tác với bạncần kiểm điểm, rút kinh nghiệm, kiên quyết xử lý và có biện pháp chấm dứt các hiện tượng tiêu cực,các quan điểm, nhận thức và hành động sai trái gây phương hại cho quan hệ đặc biệt giữa ta vớiLào”8 Về phía Lào, Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào cũng khẳng định:

“Xuất phát từ truyền thống lịch sử và tình hình, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng ba nước, sựtăng cường liên minh hợp tác toàn diện giữa ba Đảng, ba nước Lào – Việt Nam – Campuchia mớitrở thành nhiệm vụ chiến lược số một, là nguyên tắc cách mạng bất di bất dịch của mỗi nước, là vấn

đề sống còn của mỗi nước”9 Đặc biệt, Chỉ thị của Ban Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào ghi

7

8

Trang 7

rõ: “hai bên nhất trí phải tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ quan hệđoàn kết sống còn và lâu dài, quán triệt quan điểm, phương châm nguyên tắc của mối quan hệ tronggiai đoạn cách mạng mới, uốn nắn tư tưởng và tác phong làm việc mới, tránh những bảo thủ, chủquan, chống mọi hiện tượng lơ là mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm, chống tư tưởng dân tộc hẹphòi”10

Theo tinh thần đó, từ năm 1988, cuộc gặp hàng năm giữa hai Bộ Chính trị đã trở thành một

cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Đảng và hai Nhà nước Trong đó có sự kiện có ý nghĩa quantrọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữunghị chính thức nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản ViệtNam do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 -7-1989 Đây là chuyến thămLào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau Đại hội IV ĐảngNhân dân Cách mạng Lào Hai bên thống nhất với nhau nhiều vấn đề quan trọng trong việc đổi mớiphương thức hợp tác giữa hai nước và giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực Thành tựu nổi bật

nhất của quan hệ hợp tác chính trị Việt Nam – Lào trong giai đoạn này là hai nước vẫn kiên định giữ vững định hướng chính trị theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Tháng 10 năm 1991, đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạngLào và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thăm chính thức Việt Nam Hai bênkhẳng định quyết tâm trước sau như một là tăng cường, củng cố và nâng cao quan hệ đoàn kết đặcbiệt Lào – Việt Nam, Việt Nam – Lào, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, định kỳ trao đổi cấp Thứ trưởngNgoại giao giữa hai nước nhằm phối hợp chặt chẽ các hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốctế

Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng cử trên 30 đoàn từ cấp Trung ương đến cấptỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, về côngtác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận Quan hệ giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương,nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩa đều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đivào chiều sâu với nội dung thiết thực và có hiệu quả Đặc biệt, hai bên phối hợp nghiên cứu, biên

soạn công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam (1930 – 2007) nhằm

tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, đúckết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệtViệt Nam – Lào, Lào – Việt Nam lên một tầm cao mới

CÂU 3: VAI TRÒ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, CHỦ TỊCH CAYXỎN PHÔMVI HẲN, CHỦ TỊCH XUPHANUVÔNG VÀ CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CẤP CAO CỦA HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT NAM ?

Trả lời:

Trong lịch sử quan hệ quốc tế từ xưa tới nay, quan hệ Việt Nam - Lào, Lào – Việt Nam làquan hệ đặc biệt, là một điển hình, một tấm gương mẫu mực, hiếm có về sự gắn kết bền chặt, thuỷchung, trong sáng và đầy hiệu quả giữa hai dân tộc đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội.Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam phát triển từ quan hệ truyền thống, do Chủ tịch

Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chíXuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vunđắp; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vàĐảng Cộng sản Việt Nam:

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.

Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chính Nguyễn Ái Quốc, với lòng yêu nước nồng nàn vànghị lực phi thường, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đã tự mình khám phá thế giới tư bản chủnghĩa và các dân tộc thuộc địa, nhằm phát hiện chân lý cứu nước Người tiếp nhận và vận dụngsáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Đông Dương để xác định con đường giảiphóng các dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia theo con đường cách mạng vô sản

Trang 8

Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến tình hìnhLào Người không chỉ lên án chế độ thực dân Pháp nói chung mà còn tố cáo cụ thể sự tàn bạo củathực dân Pháp ở Lào (1) Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên- tổ chức tiền thân của Đảng Cộngsản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tại Quảng Châu (TrungQuốc), đến tháng 2 năm 1927, Hội này gây dựng được cơ sở tại Lào Thông qua hoạt động của HộiViệt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để ngườiViệt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựngmối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên đã lập Hội Ái hữu, Hội Việt kiều yêu nước, mở các lớp huấn luyện cách mạng trên đấtLào Trên thực tế, từ nửa sau những năm 20 thế kỷ XX, Lào là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủnghĩa Mác – Lênin và tư tưởng cứu nước mới của Nguyễn Ái Quốc vào Đông Dương Năm 1928,đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thực địa tại Lào (2) càng cho thấy mối quan hệ gắn bó mậtthiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào Cũng trong năm này, chi bộ Thanh niên cộngsản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Làovới Việt Nam được tổ chức

Như vậy, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dương của Nguyễn ÁiQuốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Người

về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương Quá trình Nguyễn Ái quốc đặt nền móngcho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắptới của cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng Lào

Ngày 3 21930, Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lapạ đã ra đời tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương cũng là sự mở đầu những trang sử vẻ vang của quan hệđặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

-Trên cơ sở sự phát triển của tổ chức Đảng ở Lào, tháng 9 năm 1934, Ban Chấp hành Đảng

bộ lâm thời Ai Lao (tức Xứ uỷ lâm thời Ai Lao) được thành lập Sự ra đời của Xứ uỷ Ai Lao là một

dấu mốc quan trọng trong lịch sử đấu tranh yêu nước của nhân dân các bộ tộc Lào, khẳng định trênthực tế vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Lào đối với cách mạng Lào cũng như đánh dấu một bước pháttriển mới trong quan hệ giữa phong trào cách mạng hai nước Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng Cộng sản Đông Dương còn đề

ra những chủ trương và giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộ Đảng và phong trào cách mạng ĐôngDương cũng như tăng cường sự quan hệ mật thiết, nương dựa lẫn nhau của hai dân tộc Việt Nam vàLào trên hành trình đấu tranh giành tự do, độc lập cho mỗi dân tộc Điều này thêm một lần nữakhẳng định: quá trình chuẩn bị công phu về mọi mặt chính trị, tư tưởng, và tổ chức cho cách mạngViệt Nam, đồng thời với việc quan tâm xây dựng nhân tố bên trong cho cách mạng Lào, cả vềphương diện tổ chức lẫn chỉ đạo thực tiễn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thật sự tạo ra nền tảnghoàn toàn mới về chất cho lớp người cộng sản Đông Dương đầu tiên, bất luận họ là người ViệtNam, người Lào, hay là người Campuchia Đây chính là nền móng vững chắc của quan hệ đặc biệtViệt Nam-Lào, Lào-Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc là kiến trúc sư vĩ đại của tình đoàn kết đặc biệtđó

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng chí Kayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam.

Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Hoàngthân Xuphanuvông đang ở Vinh ra Hà Nội và tiếp Hoàng thân Cuộc gặp gỡ đã có tác động mạnh

mẽ, quyết định đối với Hoàng thân trong việc chọn lựa con đường làm cách mạng Ngày

3-10-1945, tại cuộc mít tinh của hàng vạn nhân dân tỉnh Savẳnnakhệt đón chào Hoàng thân

Xuphanuvông trở về tham gia chính phủ Lào, Hoàng thân tuyên bố: “Quan hệ Lào - Việt từ nay sẽ

mở ra một kỷ nguyên mới ” Hình ảnh, uy tín, quyết tâm làm cách mạng, cứu nước và những lời

nói tốt đẹp của Hoàng thân về quan hệ Lào - Việt đã tác động lớn lao đến sự hưởng ứng, tham giacách mạng của các tầng lớp nhân dân Lào, càng tạo thêm chất keo gắn kết tình cảm của nhân dânLào với Việt kiều cũng như với Việt Nam Chính phủ Lào Ítxalạ (Lào tự do) vừa được thành lập

cũng đã chủ trương: “Nhân dân Lào thân thiện với nhân dân Việt Nam và quyết tâm cùng nhân dân Việt Nam đánh đuổi bọn thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương” (3) Thủ tướng Khăm Mạo tuyên bố

Trang 9

với Việt kiều: “mong rằng ba nước Việt, Miên, Lào bắt tay nhau để kiến thiết quốc gia” (4) Chính

phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợ Lào – Việt (4) và Hiệp định về tổ chức Liên quân Lào - Việt (5), đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung củahai dân tộc Việt - Lào

Sau khi giành được chính quyền, nhân dân hai nước Việt Nam, Lào hơn lúc nào hết, chỉmong muốn được sống trong hòa bình, tiếp tục hợp tác, cùng nhau bảo vệ nền độc lập và xây dựnglại đất nước nhưng ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp được sự đồng lõa của quân Anh, nổsúng đánh chiếm thành phố Sài Gòn Tiếp đó, chúng mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ, NamTrung Bộ của Việt Nam, sang Campuchia, Hạ Lào, rồi toàn cõi Đông Dương

Trước nguy cơ tồn vong nền độc lập dân tộc của ba nước Việt Nam – Lào - Campuchia,

ngày 25-11-1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc để chỉ đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc của ba nước Đông Dương Chỉ thị chủ trương:

“Thống nhất mặt trận Việt- Miên- Lào chống Pháp xâm lược” và nêu rõ nhiệm vụ: “Tăng cường

công tác vũ trang tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân ở thôn quê, làm cho mặt trận khángPháp của Lào – Việt lan rộng và chiến tranh du kích nảy nở ở thôn quê, đặng bao vây lại quân Pháp

ở nơi sào huyệt của chúng và quét sạch chúng khỏi đất Lào” (6)

Đảng và Chính phủ Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi nhiệm vụ giúpcách mạng Lào như mình tự giúp mình để cùng phối hợp chiến đấu, đánh đuổi kẻ thù chung, giànhđộc lập tự do cho mỗi nước trên bán đảo Đông Dương Thấm nhuần quan điểm quốc tế cao cả củaĐảng Lao động Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam từ tiền tuyến đến hậuphương sẵn sàng chia sẻ những thuận lợi, cùng khắc phục khó khăn, cử nhiều người con yêu dấucủa mình sang phối hợp cùng bạn Lào đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát triển lực lượng khángchiến

Nhân dịp giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện hoà hợp dân tộc, thống nhấtquốc gia, thành lập Chính phủ Liên hiệp, ngày 10 tháng 1 năm 1958, Ban Chỉ đạo Đảng Nhân dânLào gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam

khẳng định: “Sở dĩ cách mạng Lào đạt được những thắng lợi to lớn đó là do tinh thần đoàn kết đấu tranh anh dũng kiên cường của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Lào, đồng thời cũng do sự đóng góp quan trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng theo dõi, giúp đỡ chúng tôi trong mỗi giai đoạn của cách mạng”.(7)

Những thắng lợi trên thể hiện nấc thang phát triển mới của lực lượng cách mạng Lào, đồngthời khẳng định sức mạnh to lớn của quan hệ đoàn kết chiến đấu giữa quân và dân hai nước ViệtNam – Lào, trong đó thể hiện tình cảm chân thành nhất mực, sắt son của Việt Nam đối với sựnghiệp cách mạng Lào, như đồng chí Cay xỏn Phômvihản phát biểu trong cuộc hội đàm giữa Đảng

Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt Nam (12-1968) đã nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của Việt Nam cho cách mạng Lào hết sức tận tình và vô tư Việt Nam đã giúp Lào cả vật chất và xương máu Xương máu của nhân dân Việt Nam đã nhuộm đỏ khắp nơi trên đất nước Lào vì nền độc lập của Lào… Sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Lào đã xây dựng nên mối quan hệ đặc biệt, thực tế đó cũng

là sự vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản”(8)

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Giúp bạn là mình tự giúp mình”, coi nhân

dân bạn như nhân dân mình, coi sự nghiệp cách mạng của bạn là trách nhiệm của mình, trong suốt

30 năm chiến tranh giải phóng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và đội ngũ chuyên giaViệt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào luôn kề vai sát cánh và cùng với bạn, vừa chiến đấu chốngđịch càn quét lấn chiếm, vừa tiến hành xây dựng và củng cố các đoàn thể, chính quyền khángchiến, xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng, tăng cường lực lượng vũ trang, phát triển chiến tranh

du kích trên khắp các khu vực Thượng, Trung và Hạ Lào Đồng thời, thực tiễn chiến đấu, công táctrên các chiến trường Lào cũng là cơ hội bồi dưỡng, rèn luyện rất bổ ích về các mặt quân sự, chínhtrị, nhất là nâng cao thêm tinh thần đoàn kết quốc tế cho cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và độingũ chuyên gia Việt Nam

Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang trang mới: từ liên minh chiến đấuchung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ quyền Cuộc cáchmạng khoa học công nghệ đang diễn ra như vũ bão, đẩy nhanh xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoátrên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Do đó, các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

Trang 10

và Lào đều có cơ hội và điều kiện thu hút vốn đầu tư, kinh nghiệm quản lý, sử dụng các thành tựukhoa học công nghệ của thế giới để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, xây dựng đất nước…

Năm 1976, ngay sau thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Lào và Việt Nam đãđạt được thỏa thuận quan trọng trong vòng hai tháng rút toàn bộ quân đội và chuyên gia Việt Nam

về nước và bắt đầu xúc tiến việc hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước Tuy nhiên, lợi dụng

cơ hội này, bọn phản động trong nước Lào, với sự hỗ trợ của các thế lực thù địch quốc tế, đã hoạtđộng nổi dậy ở nhiều nơi Do vận mệnh của hai nước liên đới lẫn nhau nên mối quan tâm hàng đầu

về an ninh chính trị của Lào cũng là mối quan tâm thường trực của Việt Nam Ngày 30 tháng 4

năm 1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyết Về tăng cường giúp

đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới, xác định: việc tăng cường đoàn kết, giúp

đỡ, hợp tác đối với Lào là một trong những nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân ViệtNam, cũng là vì lợi ích thiết thân của cách mạng Việt Nam

Đặc biệt, từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 7 năm 1977, Đoàn đại biểu cao cấp Đảng và Chínhphủ Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghịchính thức Lào Hai bên đã trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quantâm, cũng như các vấn đề nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ vànhân dân hai nước, trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn của hai dân tộctrong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Ngày 18 tháng 7 năm 1977,

hai nước chính thức ký kết các Hiệp ước: Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; và ra Tuyên bố chung tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước.

Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là Hiệp ước toàn diện, mang tính chiến lược lâu dài, tạo cơ sở chính trị và pháp

lý quan trọng để củng cố và tăng cường lâu dài tình đoàn kết, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam –Lào, Lào – Việt Nam Hiệp ước có giá trị trong 25 năm và sẽ được mặc nhiên gia hạn thêm từng 10năm nếu một trong hai bên không thông báo cho bên kia muốn hủy bỏ Hiệp ước ít nhất là một nămtrước khi hết hạn Hiệp ước nêu rõ: Hai bên cam kết ra sức bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặcbiệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, không ngừng tăng cường tình đoàn kết và tin cậy lẫn nhau,

sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt trên tinh thần của chủ nghĩa quốc tế vô sản và

theo nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ giữa hai nước Việc ký kết hiệp ước đó

còn có ý nghĩa quốc tế quan trọng, nêu cao tinh thần quốc tế trong sáng giữa hai nước đang cùnghướng tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội và phát huy ảnh hưởng tích cực trong khu vực

Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia là một biểu hiện tốt đẹp của việc giải quyết vấn đề

lợi ích dân tộc trên tinh thần kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩaquốc tế vô sản trong sáng, là mẫu mực về chính sách láng giềng hữu nghị của nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Từ khi hai nước tiến hành đổi mới vào năm 1986, lãnh đạo cấp cao hai Đảng hai Nhà nước càng tăng cường cũng cố quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam

Ngày 3-7-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ thị: “Trên cơ sở quántriệt đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, các Nghị quyết 10 và 11 của BộChính trị về tăng cường đoàn kết, hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia và nội dung thỏa thuậntrong các cuộc hội đàm lần này11, các bộ ban ngành và các tỉnh trực tiếp làm nhiệm vụ hợp tác vớibạn cần kiểm điểm, rút kinh nghiệm, kiên quyết xử lý và có biện pháp chấm dứt các hiện tượng tiêucực, các quan điểm, nhận thức và hành động sai trái gây phương hại cho quan hệ đặc biệt giữa ta vớiLào”12 Về phía Lào, Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào cũng khẳng định:

“Xuất phát từ truyền thống lịch sử và tình hình, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng ba nước, sựtăng cường liên minh hợp tác toàn diện giữa ba Đảng, ba nước Lào – Việt Nam – Campuchia mới

Trang 11

trở thành nhiệm vụ chiến lược số một, là nguyên tắc cách mạng bất di bất dịch của mỗi nước, là vấn

đề sống còn của mỗi nước”13 Đặc biệt, Chỉ thị của Ban Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào ghirõ: “hai bên nhất trí phải tăng cường giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ quan hệđoàn kết sống còn và lâu dài, quán triệt quan điểm, phương châm nguyên tắc của mối quan hệ tronggiai đoạn cách mạng mới, uốn nắn tư tưởng và tác phong làm việc mới, tránh những bảo thủ, chủquan, chống mọi hiện tượng lơ là mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm, chống tư tưởng dân tộc hẹphòi”14

Theo tinh thần đó, từ năm 1988, cuộc gặp hàng năm giữa hai Bộ Chính trị đã trở thành một

cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Đảng và hai Nhà nước Trong đó có sự kiện có ý nghĩa quantrọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữunghị chính thức nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản ViệtNam do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 -7-1989 Đây là chuyến thămLào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam từ sau Đại hội IV ĐảngNhân dân Cách mạng Lào Hai bên thống nhất với nhau nhiều vấn đề quan trọng trong việc đổi mớiphương thức hợp tác giữa hai nước và giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực Thành tựu nổi bật

nhất của quan hệ hợp tác chính trị Việt Nam – Lào trong giai đoạn này là hai nước vẫn kiên định giữ vững định hướng chính trị theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Tháng 10 năm 1991, đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạngLào và Đoàn đại biểu cấp cao Đảng Nhân dân Cách mạng Lào thăm chính thức Việt Nam Hai bênkhẳng định quyết tâm trước sau như một tăng cường, củng cố và nâng cao quan hệ đoàn kết đặcbiệt Lào – Việt Nam, Việt Nam – Lào, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, định kỳ trao đổi cấp Thứ trưởngNgoại giao giữa hai nước nhằm phối hợp chặt chẽ các hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốctế

Từ đó đến nay, trung bình mỗi năm, hai Đảng cử trên 30 đoàn từ cấp Trung ương đến cấptỉnh sang trao đổi với nhau những kinh nghiệm về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, về côngtác tư tưởng, lý luận, công tác dân vận Quan hệ giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể, địa phương,nhất là các tỉnh biên giới kết nghĩa đều có những trao đổi hợp tác và mối quan hệ đó ngày càng đivào chiều sâu với nội dung thiết thực và có hiệu quả Đặc biệt, hai bên phối hợp nghiên cứu, biên

soạn công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam từ 1930 – 2007 nhằm

tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam, đúckết những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệtViệt Nam – Lào, Lào – Việt Nam lên một tầm cao mới

Tháng 6 năm 2011, Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã thăm hữu nghịchính thức CHDCND Lào, tiếp tục khẳng định mong muốn và quyết tâm của Đảng, Nhà nước vànhân dân Việt Nam trong việc gìn giữ, phát huy quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào như một tài sảnchung vô giá của hai dân tộc Cũng trong năm 2011, hai bên đã trao đổi nhiều đoàn lãnh đạo Quốchội và đại biểu Quốc hội của hai nước, phối hợp tổ chức thành công nhiều hoạt động giao lưu giữacác cơ quan của hai Quốc hội như: Hội thảo giao lưu giữa Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam -Lào tại Hội An (Việt Nam) vào tháng 6/2011; Hội thảo giữa ba Ủy ban Đối ngoại Quốc hội ViệtNam - Lào - Campuchia tại Chămpaxắc (Lào) vào tháng 7/2011; Hội thảo giao lưu giữa Văn phòngQuốc hội Việt Nam - Lào tại Savẳnnakhệt (Lào) vào tháng 7/2011; Hội thảo giữa hai Ủy ban Vănhóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của hai Quốc hội tháng 2/2011 tại Lào, qua đótăng cường hiểu biết, tin cậy và quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai Quốc hội nói riêng, hai Đảng,Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào nói chung

Tháng 8/2011,Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Chummaly xaynhasỏn dẫn đầu Ðoàn đạibiểu cấp cao Lào sang thăm Việt Nam tiếp tục góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ truyềnthống, hữu nghị vĩ đại, tình đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa hai Ðảng, hai Nhà nước

và nhân dân hai nước Lào - Việt Nam phát triển lên tầm cao mới, vì lợi ích của nhân dân hai nướcLào - Việt Nam, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới

13

Trang 12

Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào -Việt Nam quý báu và thiêng liêng đã được Chủtịch Hồ Chí Minh vĩ đại đúc kết trong 4 câu thơ bất hủ:

"

Thương nhau mấy núi cũng trèo, Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.

Việt - Lào, hai nước chúng ta,

Chủ tịch Kayxỏn Phômvihản cũng đã khẳng định: " Trong lịch sử cách mạng thế giới, đã

có nhiều tấm gương chói sáng về tinh thần quốc tế vô sản, nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ,

có được sự đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài và toàn diện như quan hệ Lào - Việt

núi, hơn sông"

CÂU 4: NHỮNG THÀNH TỰU CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM – LÀO, LÀO – VIỆT NAM?

Trả lời:

- Quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào-Việt Nam là quy luật giành thắng lợi, là nguồn sứcmạnh vô tận và quý giá nhất của cách mạng hai nước, là di sản văn hóa thiêng liêng của hai dântộc, nơi hội tụ biết bao giá trị cao đẹp và sâu sắc mà trí tuệ và tình cảm của nhân loại hằng ngưỡng

mộ, tôn vinh

- Hai dân tộc Việt Nam- Lào sát cánh bên nhau cùng tiến hành khởi nghĩa tháng Tám 1945,giành độc lập dân tộc

- Đánh giá xác đáng tình hình chính trị Đông Dương và chỉ rõ mâu thuẫn cần giải quyết

- Xác lập các luận điểm về vấn đề dân tộc ở Đông Dương

- Quyết định thực hiện một nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc

- Xúc tiến công tác xây dựng đảng và lực lượng cách mạng

- Chỉ đạo phương pháp đấu tranh giành chính quyền

* Việt Nam, Lào đoàn kết, liên minh chiến đấu chống thực dân, đế quốc xâm lược, hoàn thành

sự nghiệp giải phóng dân tộc

- Vượt qua thử thách, tạo dựng thực lực của liên minh chiến đấu chống thực dân Pháp

+ Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, chiến trường Đông Dương bị kẻ thù baovây, cô lập Nhưng quân dân hai nước vãn mở đường từ Việt Nam xuyên qua đất Lào tới nhiềunước tuyên truyền cho cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Đông Dương; thu hút sự ủng

hộ, chi viện của bạn bè quốc tế; chuyển về Lào và Việt Nam nhiều cán bộ, chiến sĩ Việt kiều, bổsung lực lượng kháng chiến

+ Xây dựng đội ngũ lãnh đạo chủ chốt đầu tiên của quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào-ViệtNam

Đội ngũ cán bộ chủ chốt đầu tiên của quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, Lào-Việt Nam vốn đãđược chuẩn bị từ trước tháng 8-1945; đến kháng chiến chống thực dân Pháp đã xây dựng được độingũ bao gồm các nhà lãnh đạo xuất sắc của cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào

Phía Việt Nam, đó là nhiều cán bộ cấp cao của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương Phía Lào, những nhà cách mạng tiêu biểu như đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chíXuphanuvông và nhiều đồng chí lãnh đạo khác giàu tài năng, đạo đức cách mạng

+ Gây dựng cơ sở chính trị và căn cứ địa, phát triển chiến tranh du kích và thắt chặt quan hệđoàn kết Việt- Lào

Tư tưởng chủ đạo của nhiệm vụ trên được nêu ra sớm tại Chỉ thị về kháng chiến kiến quốc

của TƯ Đảng Cộng sản Đông Dương, tháng 11 năm 1945

Từ cuối năm 1948, việc thành lập khu kháng chiến được bắt đầu tiến hành Các khu khángchiến Thượng Lào, Hạ Lào, Tây Bắc Lào lần lượt xuất hiện

Năm 1949, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ đạo thành lập Chính phủ Lào khángchiến và Mặt trận dân tộc thống nhất Lào (Neo Lào Ítxala); cử một đơn vị cán bộ, chiến sĩ sangThái Lan và Lào đón Hoàng thân Xuphanuvông và các nhà lãnh đạo cách mạng Lào tới Việt Bắc

để thực hiện chủ trương trên

Trang 13

Giữa tháng 8/1950, tại tỉnh Tuyên Quang (Việt Nam), Đại hội Quốc dân Lào quyết địnhnhững vấn đề quan trọng về cách mạng Lào, thành lập Chính phủ Lào kháng chiến và Neo LàoItsxala Sự kiện đó tạo ra bước phát triển mới về việc tăng cường cơ quan chỉ đạo kháng chiến và

mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết các tầng lớp nhân dân, các phần tử yêu nước và phát huy mạnh

mẽ hơn sức mạnh của cuộc chiến tranh cách mạng Lào góp phần tăng cường quan hệ đặc biệt Việt Nam

+ Xây dựng tại mỗi nước Việt, Campuchia, Lào một chính đảng độc lập và thành lập Mặttrận Liên minh Việt-Campuchia-Lào

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản, tháng 2/1951, đồng chí Hồ Chí Minh đề nghịthành lập ở mỗi nước Đông Dương một Đảng Cộng sản

Theo nghị quyết Đại hội II của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Cộng sản ở Việt Nam lấytên là Đảng Lao động Việt Nam; Ban vận động thành lập Đảng nhân dân Lào có sự hỗ trợ củaTrung ương Đảng Lao động Việt Nam, tiến hành các công tác chuẩn bị để thành lập Đảng Nhândân Lào

Nối tiếp Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương, cũng tại Việt Bắc, diễn ra hội nghị thànhlập Mặt trận Việt- Miên-Lào Nghị quyết Hội nghị biểu thị ý chí thống nhất của nhân dân ba nướcĐông Dương đoàn kết đánh đuổi thực dân Pháp và can thiệp Mĩ, làm cho ba nước Việt Nam,Campuchia, Lào hoàn toàn độc lập, nhân dân ba nước được tự do, sung sướng và tiến bộ

- Việt Nam, Lào đồng tâm, hiệp lực chiến đấu, lập nên nhiều chiến công

+ Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp:

Tháng 4/1953, Liên quân Lào- Việt mở chiến dịch Thượng Lào Trong vòng một tháng đãgiải phóng một vùng rộng lớn với trung tâm là Sầm Nưa tạo ra một địa bàn đứng chân vững chắccủa cách mạng Lào

Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, thắng lợi của các chiến dịch Trung Lào, Hạ Lào đãcủng cố và mở rộng căn cứ ở vùng trọng yếu này, buộc đối phương phải đưa quân tới đây để đốiphó với liên quân Lào-Việt

Tháng 1/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay đổi phương châm tác chiến tại chiến dịchĐiện Biên Phủ từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, bộ đội Việt Nam phốihợp với quân giải phóng Lào và được nhân dân Lào chi viện vật chất, tấn công khu vực sông Nậm

U, tiến sát kinh đô Luông Pha băng, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy tập đoàn cứ điểmĐiện Biên Phủ vào thế hoàn toàn cô lập

Ngày 13/3/1954, quân và dân Việt Nam mở cuộc quyết chiến chiến lược ở Điện Biên Phủ.Quân dân Lào đã anh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chiến lược cuả địch chi viện cho ĐiệnBiên Phủ từ phía Lào; góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, đưa tới sựkiện kí kết Hiệp định Giơnevơ

+ Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ :

21 năm chống Mĩ là chặng đường kế tục, phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam- Lào, trong

đó, nổi bật lên những hoạt động tiêu biểu:

Sự phối hợp giữa lãnh đạo, quân dân hai nước Việt Nam, Lào phá vỡ mưu đồ tiêu diệt lực lượng vũ trang Pathet Lào và hãm hại bộ phận đầu não cơ quan lãnh đạo cách mạng Lào do đế quốc Mĩ và bè lũ tay sai tiến hành.

Do sự hợp lực giữa hai phía Lào, Việt Nam, Tiểu đoàn 2 Pathet Lào đã mưu lược, anh dũngchiến đấu thoát ra khỏi vòng vây của địch tại Xiêng Khoảng vào tháng 5 năm 1959, sau 15 ngày trở

về căn cứ an toàn

Sau một thời gian chuẩn bị rất công phu của các đồng chí lãnh đạo Lào bị giam và nhiều lựclượng cách mạng bên ngoài trại giam, cuối cùng, đêm ngày 32 rạng ngày 24/5/1960, với sự phốihợp chặt chẽ giữa nhiều lực lượng phía Lào và phía Việt Nam, các đồng chí lãnh đạo Lào và cán bộ

bị bắt vượt khỏi trại giam Phôn Khênh tại Viêng Chăn

Sự hợp lực giữa lãnh đạo Đảng Nhân dân Lào và Đảng Lao động Việt Nam để xác định phương pháp đấu tranh vũ trang là chủ yếu, kết hợp với đấu tranh chính trị chống chiến lược

“Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ ở Lào.

Từ đầu năm 1958, xu thế phát triển của tình hình Lào ngày càng hiện rõ sự can thiệp, xâmnhập của Mĩ mạnh mẽ và toàn diện tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng Lao động Việt Nam, ngày

Trang 14

3/6/1959, bàn về vấn đề Lào, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên phương pháp đấu tranh của cáchmạng Lào là phải dùng du kích, phải trường kì gian khổ, phải chú ý dân vận, địch vận

Đến tháng 7/1959, hai Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào nhấttrí quyết định phát động cuộc đấu tranh vũ trang trong mùa mưa năm 1959 lấy trọng tâm là chiếntranh du kích, phát động phong trào quần chúng nổi dậy, giành chính quyền tại thôn xã

Trung tuần tháng 7/1959, bộ đội Lào mở 3 hướng tấn công Hướng chính từ Đông NamSầm Nưa tới Đông Nam Xiêng Khoảng Hướng thứ hai hoạt động chủ yếu tại vùng Mường Xonbắc Sầm Nưa đến Phong Xalì, Luông Phabang đến Xiêng Ngân Hướng thứ ba có nhiệm vụ phốihợp tại địa bàn từ Bắc đường số 8 đến đường 12 Khăm Muộn

Tuyến đường chiến lược Trường Sơn là một công trình vĩ đại , biểu tượng cao đẹp của quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam

Năm 1959, đáp ứng nhu cầu chi viện sức người, sức của cho các chiến trường miền NamViệt Nam, Lào và Campuchia, việc mở đường chiến lược Trường Sơn càng trở nên cấp thiết Theo

đề nghị của Việt Nam, tại cuộc hội đàm cấp cao giữa lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam và ĐảngNhân dân Lào cuối năm 1960, phía Lào hoàn toàn ủng hộ chủ trương mở đường Tây Trường Sơn

và phát biểu: “Vận mệnh của hai nước chúng ta gắn bó mật thiết với nhau Nhân dân Lào sẽ làmhết sức mình để góp phần vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam anh em”

Công cuộc mở đường diễn ra với sự phối hợp lực lượng Lào, Việt Nam cùng tiến hành Đường Trường Sơn vừa là tuyến đường chuyển vận người và của từ hậu phương lớn miềnBắc Việt Nam chi viện cho chiến trường ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia; cũng là nơi thiết lậpcăn cứ hậu cần khổng lồ, dự trữ và cung cấp vũ khí, hàng quân dụng, dân dụng cho tiền tuyến Nơi đây biến thành chiến trường phản công quyết liệt của bộ đội Việt Nam và bộ đội Làotrong cùng một liên minh giáng trả các mũi tấn công của đối phương, ghi lại bao chiến công hiểnhách Tất cả đã tạo dựng nên một biểu tượng cao đẹp của quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào,Lào-Việt Nam

Thắng lợi vĩ đại của hai dân tộc Việt Nam, Lào diễn ra năm 1975, kết thúc 30 năm chiếntranh cách mạng, lập hai kì tích chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược; đánh dấu sựtan rã của chủ nghĩa thực dân cũ và sự thất bại của chủ nghĩa thực dân mới, dù đế quốc Pháp, Mĩ đã

cố gắng hết sức nhưng không thể nào cứu vãn nổi

CÂU 5: NHỮNG KỈ NIỆM SÂU SẮC VỀ TÌNH ĐOÀN KẾT, HỮU NGHỊ GIỮA HAI DÂN TỘC VIỆT – LÀO TRONG SỰ NGHIỆP ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC TRƯỚC ĐÂY CŨNG NHƯ TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC ?

Trả lời:

Tháng 9-1959, theo yêu cầu của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Trung ương ĐảngLao động Việt Nam quyết định thành lập đoàn 959 chuyên gia giúp Lào ở mặt trận Hạ Lào Cũngtrong thời gian này, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập đoàn 559 với nhiệm vụ mở đường, vậnchuyển vật chất, đưa đón cán bộ, bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam, đồng thời vận chuyển vào bảođảm hậu cần cho đoàn 959 chuyên gia ở Lào và vận chuyển vật chất giúp bạn Lào

Khi phát hiện ra tuyến đường vận tải chiến lược quan trọng này, đế quốc Mỹ và chínhquyền Sài Gòn đã kết hợp các lực lượng không quân, bộ binh với phương tiện chiến tranh hiện đạiliên tục đánh phá Các đơn vị vận tải bị kẹt lại, không qua được đường 9 Trước tình hình đó, trên

cơ sở quan hệ truyền thống vốn có giữa hai dân tộc, yêu cầu khách quan cần gấp rút chi viện chochiến trường miền Nam, Lào và Campuchia, hai Đảng, hai Chính phủ thống nhất mở thêm đườngphía Tây Trường Sơn chạy trên đất Lào Từ tháng 4-1961, dưới sự giúp đỡ của các đơn vị tìnhnguyện Việt Nam, lực lượng cách mạng Lào đã mở nhiều đợt hoạt động quân sự ở miền Trung và

Hạ Lào, giải phóng một vùng rộng lớn từ Căm Cớt, Lắc Xao đến Mường Phìn, Sê Pôn, Bản Đông,nối đường 12 với đường 9, nhanh chóng tạo thành một hành lang dài và rộng theo chiều Đông -Tây Toàn bộ 6 mường của Lào ở Bắc và Nam đường số 9 được giải phóng

Nhờ có con đường chiến lược Hồ Chí Minh, tính chung trong vòng 16 năm (1959-1975),tuyến giao thông vận tải quân sự Trường Sơn đã vận chuyển được 1.349.000 tấn hàng hóa, vũ khí,trong đó giao cho các chiến trường và cách mạng Lào, Campuchia hơn 583.000 tấn, 515 triệu m3

xăng dầu Riêng 4 tháng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, tuyến vận tải

Trang 15

559 qua đường Hồ Chí Minh đã chuyển vào miền Nam Việt Nam hơn 110.000 cán bộ, chiến sĩ,230.000 tấn vật chất các loại, đưa sang Lào (1973-1975) trên 108.000 tấn hàng.

Trung tuần tháng 8/1945, thời cơ giành độc lập cho Đông Dương đã đến, lãnh tụ Hồ Chí Minh vàBan Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định Tổng khởi nghĩa và tiến hànhHội nghị toàn Đảng tại Tân Trào (Tuyên Quang vào ngày 14 và 15/8/1045) Vào thời điểm này, Bác Hồ gặp các đồng chí đại biểu Xứ ủy Lào, Người dặn: Thời cơ rấtthuận lợi cho nhân dân Đông Dương, ở đâu có điều kiện, phải giành được chính quyền khi Đồngminh vào Nhân dân hai nước Việt, Lào chớp thời cơ, tiến hành khởi nghĩa thành công tháng8/1945 Đó là kỳ tích đầu tiên của hai nước Việt Nam- Lào, của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào,Lào - Việt Nam, đặt nền tảng vững chắc cho mối quan hệ phát triển rực rỡ trong giai đoạn sau Hai dân tộc Việt Nam, Lào vừa giành được quyền độc lập, đã phải đối phó ngay với thực dân Phápquay trở lại xâm lược Bên cạnh mở rộng mặt trận ngoại giao, liên minh với các dân tộc bị áp bức

và vô sản thế giới, đặc biệt với các nước lân cận để củng cố công cuộc cách mạng của mình, việcxây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt đầu tiên cho nhiệm vụ tăng cường quan hệ Việt Nam -Lào, Lào - Việt Nam trở nên cấp bách Việt Nam tận tình giúp Lào đào tạo cán bộ, truyền bá kinhnghiệm vận động quần chúng, giúp đỡ bạn xây dựng cơ sở chính trị, lực lượng vũ trang tuyêntruyền, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành các khu kháng chiến, từng bước đưa phong trào cách

Cuối tháng 4 đến giữa tháng 5/1953, liên quân chiến đấu Việt Nam - Lào mở chiến dịchThượng Lào giành thắng lợi lớn, giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng vàPhôngxalỳ, mở rộng căn cứ địa cách mạng Lào Đối với Việt Nam, chiến dịch Thượng Lào đã gópphần phân tán lực lượng địch, phá tan âm mưu củng cố vùng Tây Bắc và bình định vùng đồng bằng

Tiếp đó, từ tháng 12/1953 đến tháng 5/1954, liên quân chiến đấu Việt Nam- Lào mở chiến dịchTrung- Hạ Lào Thắng lợi của chiến dịch buộc Nava phải tiếp tục phân tán khối cơ động chiến lượccủa chúng, góp phần làm giảm khối chủ lực của địch trên chiến trường chính Bắc bộ, nhất là đối

Khi quân và dân ta tiến hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, quân và dân Lào đãanh dũng chiến đấu, chặt đứt con đường chi viện chiến lược của địch cho Điện Biên Phủ, góp phần

cô lập địch ở đây, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân Việt Nam giành thế chủ động tiến công

21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một chặng đường kế tục, phát triển quan hệ đặcbiệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, đã trở thành giá trị thiêng liêng của hai dân tộc Hoạt độngphối hợp đấu tranh của các cơ quan lãnh đạo cùng quân và dân Việt Nam, Lào đều xuất phát từ tìnhcảm sâu đậm, trách nhiệm cao cả của hai phía Việt Nam, Lào dành cho nhau, tạo nên những nguồnlực mới, những nấc thang phát triển mới của nội lực từng dân tộc, của quan hệ đặc biệt Việt Nam -Lào, Lào - Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung và mở đường đi tới toàn thắng Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Lào luôn hết lòng giúp đỡ, ủng hộ nhân dân Việt Nam.Đáp lại, Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Việt Nam cũng dốc hết sức vì sự nghiệp cách mạngLào Trên tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam

đã có mặt ở hầu hết mọi nơi trên chiến trường Lào, chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh, cùng nhândân và quân đội Lào đấu tranh, đánh địch đến thắng lợi hoàn toàn Sau khi hai dân tộc kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, vào ngày 18/7/1977,Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa dân chủnhân dân Lào đã được ký hết, là sự kiện mở đầu cho quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giaiđoạn cách mạng mới Đây là văn kiện mang tính chính trị, pháp lý cơ bản, bền vững lâu dài trên

Ngày đăng: 03/06/2021, 09:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w