1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn

163 304 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty cổ phần tm – xd thái sơn
Tác giả Nguyễn Thị Linh
Người hướng dẫn Ts. Văn Bá Thanh
Trường học Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng
Chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với kiến thức đã được học ở trường và kiến thức thực tế có được trong thời gian thực tập, em lựa chọn đề tài: “ Tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ‟‟ ở C

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÕNG

-

ISO 9001 : 2008

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGÀNH: KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN

Sinh viên : Nguyễn Thị Linh

Giảng viên hướng dẫn: Ts Văn Bá Thanh

HẢI PHÕNG - 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÕNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY

NGÀNH: KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN

Sinh viên : Nguyễn Thị Linh

Giảng viên hướng dẫn: Ts Văn Bá Thanh

HẢI PHÕNG - 2011

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP HẢI PHÕNG

-

NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP

Sinh viên: Nguyễn Thị Linh

Lớp: QT 1105K

Mã số: 110326 Ngành: Kế toán - Kiểm toán Tên đề tài: Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tại Công ty Cổ phần TM – XD Thái Sơn

Trang 4

NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI

1 Nội dung các yêu cầu cần giải quyết trong nhiệm vụ đề tài tốt nghiệp ( về

lý luận, thực tiễn, các số liệu cần tính toán và các bản vẽ)

_ Trình bày các cơ sở lý luận về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần TM – XD Thái Sơn

_ Phân tích thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần TM – XD Thái Sơn

_ Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần TM – XD Thái Sơn

2 Các số liệu cần thiết để thiết kế, tính toán

_ Các văn bản của Nhà nước về chê độ kế toán liên quan đến công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

_ Quy chế, quy định về kế toán – tài chính tại Doanh nghiệp

_ Hệ thống sổ kế toán liên quan đến công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất

và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần TM – XD Thái Sơn

3 Địa điểm thực tập tốt nghiệp:

_ Công ty Cổ phần TM - XD Thái Sơn

_ Số 10 đường K9 – Phường Đông Hải 2 – Quận Hải An – Hải Phòng

Trang 5

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP Người hướng dẫn thứ nhất:

Hợ và tên: Văn Bá Thanh

Học hàm, học vị: Tiến sĩ

Cơ quan công tác: Trường Đại học Hà Hoa Tiên

Nội dung hướng dẫn: Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần TM – XD Thái Sơn

Người hướng dẫn thứ hai:

Họ và tên: ………

Học hàm, học vị:………

Cơ quan công tác: ………

Nội dung hướng dẫn: ………

Đề tài tốt nghiệp được giao ngày 11 tháng 4 năm 2011

Yêu cầu phải hoàn thành xong trước ngày 16 tháng 7 năm 2011

Hải phòng, ngày … tháng … năm 2011

Hiệu trưởng

Trang 6

PHẦN NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

4.Tinh thần thái độ của sinh viên trong quá trình làm đề tài tốt nghiệp:

_ Sinh viên Nguyễn Thị Linh trong quá trình thực hiện đề tài đã:

+ Tích cực chủ động trong quá trình thực hiện đề tài

+ Thực hiện tốt tiến độ nghiên cứu đề tài do nhà trường và giáo viên hướng dẫn đặt ra

+ Nghiêm túc và có năng lực trong việc nghiên cứu đề tài

5.Đánh giá chất lượng của khóa luận (so với nội dung yêu cầu đã đề ra trong nhiệm vụ Đ.T.T.N trên các mặt lý luận, thực tiễn, tính toán số liệu…):

_ Nội dung, kết cấu của đề tài hợp lý

_ Nêu được đầy đủ cơ bản hệ thống lý luận chi phí sản xuất và tính giá thành trong Doanh nghiệp

_ Đã chứng minh khá đầy đủ thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại đơn vị thực tập

_ Các giải pháp kiến nghị có sáng tạo , phù hợp có giá trị lý luận và thực tiễn

6.Cho điểm của cán bộ hướng dẫn (ghi bằng cả số và chữ):

Trang 7

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

PHIẾU NHẬN XÉT THỰC TẬP

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Linh Ngày sinh : 27/ 7/ 1989 Lớp QT1105K Ngành Kế toán – Kiểm toán Khóa 11 Thực tập tại: Công ty cổ phần TM – XD Thái Sơn

Từ ngày 22/02/2011 đến 03/04/ 2011

1.Về tinh thần thái độ, ý thức tổ chức kỷ luật:

Sinh viên Linh trong quá trình thực tập đã thực hiện tốt nội quy quy chế của DN, có thái độ nghiêm túc tinh thần học hỏi cao

2 Về những công việc đƣợc giao:

Đối với các công việc Doanh nghiệp giao trong quá trình thực tập, sinh viên Linh đã tiếp thu và thực hiện được các công việc đó

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 15

1.1 Sự cần thiết khách quan của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nbhiệp xây dựng 15

1.1.1.Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây dựng 15

1.1.2 Yêu cầu cơ bản trong việc quản lý, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng 17

1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán trong công tác quản lý, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 18

1.2 Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng 19

1.2.1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất 19

1.2.1.1 Chi phí sản xuất 19

1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng 22

1.2.2 Giá thành sản phẩm xây dựng và phân loại giá thành sản phẩm 26

1.2.2.1 Giá thành sản phẩm xây dựng 26

1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp 32

1.3 Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành ở doanh nghiệp xây lắp 33

1.3.1 Nguyên tắc kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp 33

1.3.2 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 34

1.3.2.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất 34

1.3.2.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất 35

1.3.3 Chứng từ và tài khoản sử dụng 36

1.3.4 Trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 38

1.3.4.1 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên 39

Trang 9

1.3.4.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ 40

1.3.5 Hệ thống sổ - Báo cáo chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 44

1.4 Tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm xây lắp 47

1.4.1 Đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành của sản phẩm xây lắp 47

1.4.1.1 Đối tượng tính giá thành và mối quan hệ gữa đối tượng tính giá thành và đối tượng tập hợp chi phí sản xuất 47

1.4.1.2 Kỳ tính giá thành 49

1.4.2 Công tác kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang 49

1.4.3 Các phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp 52

1.4.4 Tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong điều kiện máy vi tính 57

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM CÔNG TÁC XÂY LẮP Ở CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI XÂY DỰNG THÁI SƠN 59

2.1 Đặc điểm sản xuất kinh doanh và tổ chức bộ máy của công ty cổ phần TM-XD Thái Sơn 59

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Cổ phần TM-XD Thái Sơn 59

2.1.2 Chức năng nhiệm vụ chính của công ty 61

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần TM-XD Thái Sơn 62

2.1.4 Tổ chức hạch toán kế toán của công ty cổ phần TMXD Thái Sơn 64

2.1.4.1 Đặc điểm tổ chức kế toán tại công ty cổ phần TM-XD Thái Sơn 64

2.1.4.2 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán 66

2.1.4.2 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán 67

2.1.4.3 Tổ chức vận dụng các chính sách kế toán chung: 67

2.1.4.4 Hình thức ghi sổ kế toán tại công ty cổ phần TM-XD Thái Sơn 67

2.1.4.5 Một số chính sách kế toán tại công ty cổ phần TM-XD Thái Sơn đang áp dụng 70

2.1.4.5 Hệ thống báo cáo kế toán của Công ty 70

2.2.Cơ sở vật chất kỹ thuật 71

2.2.1.Nhà cöa vËt chÊt kÜ thuËt : 71

Trang 10

2.2.2 M¸y mãc thiÕt bÞ : 74

2.2.3.Tổ chức lao động tiền lương 75

2.2.3.1 Néi dung tiÒn l-¬ng vµ c¸c kho¶n trÝch theo l-¬ng trong doanh nghiÖp 75

2.2.3.2.C¸c h×nh thøc tiÒn l-¬ng 77

2.2.4.Quy trình sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần TM-XD Thái Sơn 79

2.2.4.1.Những thuận lợi 80

2.2.4.2 Những khó khăn: 80

2.5 Thực trạng kế toán chi phí sản xuất tại công ty cổ phần thương mại xây dựng Thái Sơn 80

2.5.1 Chứng từ, sổ sách và tài khoản sử dụng 82

2.5.1.1 Chứng từ sử dụng 82

2.5.1.2 Sổ sách sử dụng 82

2.5.1.3 Tài khoản sử dụng 82

2.5.2 HẠCH TOÁN CHI TIẾT TỪNG KHOẢN MỤC CHI PHÍ 83

2.5.2.1 Kế toán tập hợp chi phí NVL trực tiếp 83

2.5.2.2.Chi phí nhân công trực tiếp(TK 622) 95

2.5.2.3 Chi phí sử dụng máy thi công 105

2.5.2.4.Chi phí sản xuất chung(TK 627) 110

2.5.2.4.1.Kế toán tập hợp chi phí công nhân phân xưởng 110

2.5.2.4.2.Chi phí vật liệu 113

2.5.2.4.3.Chi phí công cụ dụng cụ 118

2.5.2.4.4.Chi phí khấu hao TSCĐ 121

2.5.2.4.5.Chi phí dịch vụ mua ngoài 127

2.5.2.4.6.Chi phí khác bằng tiền 131

2.6.Kế toán tập hợp chi phí sản xuất cuối kỳ 132

2.6.1 Đối tượng tính giá thành 134

2.6.2.Kỳ tính giá thành 134

2.6.3 Quy trình hạch toán 134

2.6.4 Phương pháp tính giá 134

2.7 Chụp các bước thực hiện 147

Trang 11

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ

TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH TẠI

CÔNG TY CỔ PHẦN TM-XD THÁI SƠN 148

3.1 NHẬN XÉT CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHÍ PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TM-

XD THÁI SƠN 148 3.1.1 Những nét nổi bật về công tác kế toán 148 3.1 2 Những ưu điểm trong công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần TM-XD Thái Sơn 149 3.1.3 Những hạn chế trong công tác kế toán tập hợp chi phí sx & tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần TM-XD Thái Sơn 152 3.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN TM-XD THÁI SƠN 154 3.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sx & tính giá thành sản phẩm 154 3.2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác tập hợp chi phí sx & tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần TM-XD Thái Sơn 155

KẾT LUẬN 160 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 12

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những chuyển bến to lớn, đó là sự chuyển đổi từ nền kinh tế hàng hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước Sự đổi mới sâu sắc của cơ chế quản

lý kinh tế đòi hỏi phải có sự đổi mới đồng bộ các công cụ quản lý mà trong đó hạch toán kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý tài chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý và điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế Với tư cách là công cụ quản lý tài chính ,kế toán là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế tài chính, đảm bảo hệ thống tài chính thông tin có ích cho các quyết định kinh tế Vì vậy kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động tài chính doanh nghiệp

Chuyển sang kinh doanh trong nền kinh tế thị trường và hạch toán kinh tế độc lập Mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp là thực hiện bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh với mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận Để đạt được mục đích này thì các doanh nghiệp phải áp dụng đồng thời nhiều biện pháp quản lý Đặc biệt trong công tác quản lý doanh nghiệp thì chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu hết sức quan trọng luôn được các doanh nghiệp quan tâm Vì chúng gắn liền với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chính vì vậy tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có tác dụng lớn trong công tác quản lý và là khâu quan trọng trong toàn bộ công tác kế toán của doanh nghiệp

Tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng có ý nghĩa to lớn đối với việc tăng cường tích lũy và góp phần cải thiện đời sống của người lao động

Tại các doanh nghiệp sản xuất các chi phí sản xuất kinh doanh là toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vật hóa chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong một kỳ nhất định Để quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cần tổ chức công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành thực tế của các loại sản phẩm sản xuất ra một cách chính xác, kịp thời đúng đối tượng, đúng

Trang 13

chế độ quy định và đúng phương pháp Mặt khác thông qua số liệu do bộ phận

kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành cung cấp Các nhà lãnh đạo quản lý doanh nghiệp biết được chi phí và giá thành thực tế của từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm và toàn bộ tình hình chi phí kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để phân tích đánh giá tình hình thực hiện định mức, dự toán, chi phí, tình hình sử dụng chi phí, lao động, vật tư, tiền vốn có hiệu quả tiết kiệm hay lãng phí Tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành sản phẩm Từ đó

đề ra các biện pháp hữu hiệu, kịp thời nhằm hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Đề ra các quyết định phù hợp cho sự phát triển sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp

Với kiến thức đã được học ở trường và kiến thức thực tế có được trong thời gian thực tập, em lựa chọn đề tài: “ Tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất

và tính giá thành sản phẩm ‟‟ ở Công ty cổ phần thương mại xây dựng Thái Sơn làm luận văn tốt nghiệp của mình

Nội dung đề tài gồm có:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở doanh nghiệp xây dựng

Chương 2: Tình hình thực tế về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công ty cổ phần thương mại xây dựng Thái Sơn

Chương3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Công ty cổ phần thương mại xây dựng Thái Sơn

Quá trình thực tập, tìm hiểu thực tế tại Công ty cổ phần thương mại xây dựng Thái Sơn, được sự chỉ đạo tận tình của Ban lãnh đạo cũng như toàn bộ nhân viên của phòng kế toán ở công ty Được sự hướng dẫn chu đáo của thầy cô giáo và với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, bằng những kiến thức thu được ở nhà trường Em xin được trình bày những hiểu biết củaỏ mình và một vài ý kiến nhỏ nhằm hoàn thiện một số vấn đề kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng ở Công ty cổ phần thương mại xây dựng Thái Sơn

Trang 14

Do trình độ còn hạn chế Thời gian thực tập có hạn, phần nữa do giá thành XDCB có đặc thù riêng Vì vậy việc quản lý kế toán sản phẩm XDCB cũng mang tính đặc thù riêng nên rất mong sự góp ý tận tình của thầy cô giáo, Ban lãnh đạo và các cán bộ phòng kế toán giúp em hoàn thành đề tài của mình một cách thiết thực

Để hoàn thành đề tài này em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn – Tiến sĩ VĂN BÁ THANH cùng các cô chú

ở phòng kế toán của Công ty cổ phần thương mại xây dựng Thái Sơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ

SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÁC

DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG

1.1 Sự cần thiết khách quan của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nbhiệp xây dựng

1.1.1.Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây dựng

Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất độc lập, mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân Nó làm tăng sức mạnh về kinh tế, quốc phòng của đất nước Cơ sở hạ tầng vững chắc là tiền đề cho một đất nước phát triển, nhất là nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh và nhanh hơn quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa Việc này đòi hỏi xây dựng cơ bản phải luôn tiến trước một bước so với các ngành khác Vì vậy, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và của quỹ tích lũy nói riêng cùng với vốn đầu tư, tài chính hỗ trợ của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản So với các ngành sản xuất khác, xây dựng

cơ bản có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc trưng, được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây dựng và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành

Sản phẩm xây dựng là những công trình sản xuất, dân dụng, có đủ điều kiện đưa vào sản xuất, sử dụng và phát huy tác dụng Nói một cách rõ hơn thì nó là sản phẩm của quy trình công nghệ xây dựng và được gắn liền trên một địa điểm nhất định (bao gồm đất đai, mặt nước, mặt biển và cả thềm lục địa) Những sản phẩm này thường có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian thi công kéo dài Trong điều kiện đó, không thể cho đến khi công trình đó hoàn thành mới hạch toán kết quả, bàn giao cho khách hàng và thanh toán mà phải được tiến hành theo một khoảng thời gian nhất định (tháng, quý, năm) Điều này đòi hỏi phải có giá trị dự toán cho từng đơn vị, khối lượng xây dựng để có thể hạch toán chi phí và tính toán kết quả lãi (lỗ) cho bất cứ khối lượng công tác xây

Trang 16

dựng nào được thực hiện trong kỳ Một yêu cầu đặt ra đó là cùng với việc hạch toán kết quả sản phẩm xây dựng phải luôn chú tâm đến hạ giá thành sản phẩm trên cơ sở hạ thấp chi phí sản xuất Việc này có thể thực hiện thông qua nhiều biện pháp như: đổi mới trang thiết bị máy móc, đầu tư quy trình công nghệ hiện đại thực hành tiết kiệm chi phí sản xuất trong quá trình thực hiện thi công các công trình

Đối với các sản phẩm xây dựng chủ yếu các doanh nghiệp xây dựng thực hiện thông qua hợp đồng đã ký với các đơn vị chủ đầu tư sau khi trúng thầu hoặc được chỉ định thầu Trong đó hai bên thống nhất với nhau về giá trị thanh toán của công trình, sản phẩm hoàn thành không nhập kho, mà tiêu thụ ngay theo giá

dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư từ trước Đây là nhân tố khiến chon tính chất hàng hóa đối với sản phẩm xây dựng không được thể hiện rõ rệt Quá trình hình thành bàn giao công trình, hạng mục công trình cho nhà đầu tư chính

là quá trình tiêu thụ sản phẩm Các sản phẩm xây dựng hầu hết được xác định giá bán (giá giao thầu) trước khi doanh nghiệp xây dựng bắt đầu tổ chức thi công (biết được giá bán khi chưa xác định được chi phí thực tế của công trình) Sản phẩm xây dựng thường cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, lao động, xe máy thi công được dịch chuyển theo địa điểm đặt công trình Mặt khác, quá trình thi công còn chịu tác động địa chất công trình và điều kiện thời tiết, khí hậu tại địa phương nơi có công trình thi công Cho nên công tác quản lý và sử dụng tài sản vật tư cho công trình rất phức tạp đòi hỏi phải có mức giá cho từng loại công tác lắp đặt, cho từng vùng lãnh thổ một cách thích hợp

Để tiến hành các công trình xây dựng cơ bản trên là do các doanh nghiệp trong ngành xây dựng cơ bản thực hiện Đây là những doanh nghiệp xây dựng

có tư cách pháp nhân riêng, có đầy đủ các điều kiện để thực hiện các công việc liên quan đến quá trình xây dựng và lắp đặt Các đơn vị này tuy khác nhau về quy mô sản xuất, về hình thức tổ chức quản lý nhưng đều là những tổ chức hạch toán kinh tế với chức năng nhận thầu xây dựng các công trình, các hạng mục công trình trong lĩnh vực xây dựng cơ bản

Trang 17

Từ những đặc điểm trên, yêu cầu công tác kế toán trong doanh nghiệp xây dựng có những nét đặc trưng riêng để phù hợp với ngành nghề, thực hiện đúng chức năng kế toán của mình Từ đó cung cấp số liệu chính xác, kịp thời, đánh giá đúng đắn tình hình thực hiện kế hoạch tổ chức sản xuất kinh doanh, tư vấn cho lãnh đạo doanh nghiệp trong việc tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất để hoàn thành mục tiêu kinh doanh đã đề ra

1.1.2 Yêu cầu cơ bản trong việc quản lý, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng

Chi phí sản xuất gắn liền với việc sử dụng những tài sản vật tư, lao động

trong các hoạt động chế tạo sản phẩm Quản lý chi phí sản xuất thực chất là quản lý việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác, chi phí sản xuất là yếu tố có tính chất quyết định tới giá thành sản phẩm và công tác hạ giá thành sản phẩm

Yêu cầu của công tác kế toán nói chung, quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nói riêng đòi hỏi doanh nghiệp xây dựng phải tổ chức công tác

kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm một cách đầy đủ, chính xác Công tác đầu tư và xây dựng cơ bản đảm bảo tạo ra những sản phẩm

và dịch vụ được xã hội chấp nhận về giá cả, chất lượng và đáp ứng được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ

Thực hiện dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

Huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước Khai thác tài nguyên, tiềm năng lao động, đất đai và những tiềm năng khác đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái

Xây dựng phải nằm trong quy hoạch tổng thể của nhà nước, được phê duyệt, thiết kế hợp lý, có tính mỹ quan, công nghệ tiên tiến xây dựng đúng tiến

độ, đảm bảo chất lượng với các chi phí hợp lý thực hiện bảo hành công trình

Kế toán chính xác chi phí sản xuất phát sinh đòi hỏi phải tổ chức việc ghi

Trang 18

chép, tính toán và phản ánh từng loại chi phí phát sinh theo từng địa điểm và từng đối tượng chịu chi phí

Muốn quản lý tốt giá thành sản phẩm cần phải tổ chức tính đúng, tính đủ giá thành các loại sản phẩm do doanh nghiệp xây dựng thực hiện được Muốn vậy phải xác định đúng đối tượng tính giá thành, vận dụng đúng phương pháp tính giá thành thích hợp và phải dựa trên cơ sở số liệu kỹ thuật tập hợp chi phí sản xuất một cách chính xác

Việc tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm phải dựa trên cơ sở hoạch toán chi phí sản xuất chính xác giúp cho việc phản ánh đúng đắn tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp, đúng kết quả kinh doanh góp phần quan trọng trong việc tăng cường và cải cách công tác quản lý kinh tế nói chung

Sản phẩm dở dang và thành phẩm cũng là một bộ phận của hàng tồn kho trong doanh nghiệp, cho nên việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cũng phải tiến hành theo đúng phương pháp kế toán hàng tồn kho nói chung mà doanh nghiệp đã lựa chọn (phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ)

Hiện nay trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, chư yếu áp dụng phương pháp đấu thầu, giao nhận thầu xây dựng Vì vậy, để trúng thầu và được nhận thầu thi công một công trình nào đó doanh nghiệp phải xây dựng một đơn giá đấu thầu hợp lý cho công trình đó trên cơ sở định mức đơn giá xây dựng cơ bản do Nhà Nước ban hành trên cơ sở giá thị trường và khả năng của bản thân doanh nghiệp Tất nhiên, phải đảm bảo tính sinh lời trong kinh doanh

1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán trong công tác quản lý, kế toán chi phí sản xuất

Trang 19

giá thành phải phù hợp với đặc điểm sản xuất và quy trình công nghệ và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp

- Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp chi phí sản xuất theo từng bộ phận sản xuất, từng phân xưởng, từng giai đoạn sản xuất các yếu tố chi phí, các khoản giá thành sản phẩm và công việc trong quá trình thi công công trình xây dựng

- Xác định giá trị sản phẩm xây dựng dở dang cuối kỳ và tính giá thành thực

tế khối lượng công tác xây dựng hay công việc đã hoàn thành trong kỳ để kiểm tra việc thực hiện dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nhằm xác định kết quả kinh doanh từng kỳ kế toán cho chính xác

- Kế toán tham gia vào việc xây dựng các chỉ tiêu hạch toán nội bộ và giao các chỉ tiêu đó cho các bộ phận sản xuất Mặt khác phân tích tình hình thực hiện

kế hoạch giá thành, phát hiện mọi khả năng tiềm tàng để phấn đấu hạ giá thành sản phẩm

- Hướng dẫn, kiểm tra các bộ phận có liên quan tính toán, phân loại các chi phí phát sinh phục vụ cho việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nhanh chóng, kịp thời và khoa học

- Lập báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng khi đến kỳ báo cáo hoặc kết thúc công trình xây dựng

1.2 Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng

1.2.1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất

1.2.1.1 Chi phí sản xuất

Sản xuất ra của cải vật chất là hoạt động cơ bản nhất của xã hội loài người,

là điều kiện tiên quyết mang tính tất yếu cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Trong đó nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh là việc thực hiện quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhằm mục đích kiếm lời và để thực hiện mục đích này, các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiepj xây dựng nói riêng phải tiến hành hạch toán chi phí sản xuất trong quá trình sản xuất, đây là điều kiện đầu tiên trong việc tạo ra sản phẩm cho nền kinh tế quốc dân

Theo quan niệm của các nhà kinh tế học thì chi phí sản xuất là „„các chi phí

Trang 20

tiêu hao khi sản xuất ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trong một kỳ kinh doanh nhất định” Họ cho rằng „„Chi phí sản xuất là nguồn phải hy sinh, bỏ ra để đạt được mục tiêu nào đó‟‟ Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp thì: “Chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản tiền phải chi ra để doanh nghiệp mua sắm các yếu tố cần thiết cho việc tạo ra sản phẩm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp”

Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, đối với các doanh nghiệp xây lắp thì các yếu tố cần thiết của chi phí sản xuất để tạo sản phẩm là các công trình, hạng mục công trình, lao vụ, dịch vụ nhất định có thể hiểu là: các yếu tố về tư liệu sản xuất, đối tượng lao động (biểu hiện cụ thể là các hao phí về lao động vật hóa) dưới tác động có mục đích của sức lao động (biểu hiện là hao phí về lao động sống) qua quá trình biến đổi sẽ trở thành các sản phẩm xây dựng

Như vậy, xét ở nhiều góc độ khác nhau thì chi phí sản xuất cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau Tuy nhiên, có thể hiểu chi phí sản xuất một cách chung nhất là: „„Chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống , lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong một thời kỳ nhất định nhằm sản xuất và tái sản xuất ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp Các chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để cấu thành nên giá thành sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu của xã hội và mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp”

Các chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra cấu thành nên giá trị của sản phẩm bao gồm ba bộ phận:

Trang 21

đến việc sử dụng lao động (Tiền lương, tiền công ), lao động vật hóa (Khấu hao tài sản cố định, chi phí, nguyên, nhiên, vật liệu ) mà còn bao gồm một số khoản thực chất là một phần giá trị mới sáng tạo ra (Các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN, các loại thuế không được hoàn trả như thuế GTGT không được khấu trừ, thues Tài nguyên )

- Trong điều kiện hiện nay, các chi phí của doanh nghiệp luôn được tính toán, đo lường bằng tiền và gắn với một thời gian nhất định (tháng, quý, năm )

- Xét ở bình diện doanh nghiệp và loại trừ các quy định của luật thuế thu nhập doanh nghiệp, chi phí sản xuất luôn có tính cá biệt, nó bao gồm tất cả các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tồn tại và tiến hành hoạt động sản xuất, không phân biệt là các chi phí cần thiết hay không cần thiết, các chi phí khách quan hay chủ quan

- Độ lớn của chi phí sản xuất là một đai lượng xác định và phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố:

Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất tiêu hao vào sản xuất trong một thời kỳ nhất định

Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và tiền lương của một đơn vị lao động đã hao phí

Để hiểu rõ hơn bản chất của chi phí, ta cần xét thêm mối quan hệ giữa chi phí và chi tiêu của doanh nghiệp

Chi tiêu trong kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm chi tiêu trong quá trình mua hàng, chi tiêu ttrong quá trình sản xuất kinh doanh Chi tiêu trong quá trình mua hàng (như nguyên, vật liệu, tài sản cố định ), còn chi tiêu trong quá trình sản xuất kinh doanh làm cho các khoản tiêu dùng trong sản xuất tăng lên (tiền công, tiền lương )

Chi phí trong kỳ sản xuất của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ phần tài sản hao mòn hoặc tiêu dùng hết cho sản xuất ở kỳ đó và số chi tiêu dùng cho quá trình sản xuất tính nhập hoặc phân bổ vào chi phí trong kỳ

Vậy, chi tiêu là cơ sở để phát sinh chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí, giữa chúng có sự khác nhau về giá trị và thời gian Sự phân biệt này có ý

Trang 22

nghĩa trong việc tìm hiểu bản chất cũng như nội dung, phạm vi và phương pháp hạch toán chi phí tại doanh nghiệp

Xét về bản chất của chi phí ở các doanh nghiệp xây dựng và các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác cơ bản là như nhau Chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp đều là sự dịch chuyển vốn của doanh nghiệp vào các đối tượng tính giá thành sản phẩm Vì vậy, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cố mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình hình thành nên sản phẩm Có chi phí rồi mới có giá thành, chi phí biểu hiện mặt hao phí, còn giá thành biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất Đây là hai mặt thống nhất trong một quá trình và chúng luôn gắn liền với nhau

Hiện nay, trong các doanh nghiệp xây dựng, các chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại có tính chất kinh tế, mục đích công dụng khác nhau, vị trí của chi phí trong việc tạo ra sản phẩm, địa điểm phát sinh chi phí và nơi gánh chịu chi phí sản xuất không giống nhau Cho nên, yêu cầu quản lý đối với từng loại chi phí khác nhau khồng thể dựa vào số liệu phản ánh tổng hợp số chi phí sản xuất mà còn phải căn cứ vào từng loại chi phí riêng biệt để phục vụ việc phân tích toàn

bộ các chi phí sản xuất hoặc từng loại yếu tố kinh tế ban đầu của chúng theo từng công trình, hạng mục công trình Để thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm công tác xây dựng thì việc phân loại chi phí có ý nghĩa quan trọng trong công tác chi phí sản xuất Giúp việc hạch toán chi phí sản xuất được kịp thời, đầy đủ và tính đúng giá thành sản phẩm xây dựng, là điều kiện kiểm tra, đánh giá và phân tích chi phí toàn doanh nghiệp

1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng

Tùy theo yêu cầu, đối tượng cung cấp thông tin, góc độ xem xét chi phí mà chi phí sản xuất được phân loại theo nhiều cách khác nhau

a Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục giá thành (theo mục đích, công dụng của chi phí)

Theo cách phân loại này, chi phí trong sản xuất được chia ra thành các khoản mục chi phí khác nhau Mỗi khoản mục chi phí bao gồm những chi phí có

Trang 23

cùng mục đích và công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế như thế nào Toàn bộ chi phí được chia thành bốn loại:

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là chi phí phải tính đến hiện trường xây dựng của các loại vật liệu chính, vật liệu phụ, vật liệu luân chuyển, bán thành phẩm cần thiết tạo nên sản phẩm xây dựng Chi phí nguyên vật liệu trong sản phẩm xây dựng không bao gồm các loại vật liệu, nguyên liệu sử dụng cho máy thi công, các loại vật liệu làm tạm như: lán trại che mưa, các chi phí vận chuyển trên đường ngoài định mức lao động, định mức sử dụng máy thi công, các loại vật liệu đã tính vào chi phí sản xuất chung

Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lương cơ bản, các khoản phụ cấp lương chính, lương phụ có tính chất ổn định của công nhân trực tiếp xây dựng (thuộc doanh nghiệp), số tiền lao động thuê ngoài trực tiếp xây dựng để hoàn thành sản phẩm xây dựng cơ bản Không bao gồm các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN trích trên lương cơ bản của công nhân xây dựng, tiền lương phải trả của cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, nhân viên quản lý đội công trình và tiền lương của công nhân điều khiển máy thi công Chi phí nhân công trực tiếp được tập hợp riêng theo từng đối tượng (công trình, hạng mục công trình)

Chi phí sử dụng máy thi công: Là toàn bộ chi phí trực tiếp phát sinh trong quá trình sử dụng máy thi công để thực hiện khối lượng công việc xây dựng bằng máy theo phương pháp thi công hỗn hợp Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm: chi phí nhân công (lương chính, lương phụ, phụ cấp phải trả cho nhân viên điều khiển xe máy thi công), chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền dùng cho xe máy thi công

Chi phí sản xuất chung: là những khoản chi phí trực tiếp khác phục vụ cho sản xuất của công trình xây dựng nhưng không được tính trực tiếp cho từng đối tượng cụ thể Chi phí sản xuất chung bao gồm tiền lương nhân viên quản lý đội, BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN trích theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên quản lý đội, nhân viên điều khiển máy thi công, khấu hao TSCĐ dùng chung cho quản lý đội (không phải là khấu hao TSCĐ của máy thi công sử dụng ở đội), chi phí hội họp, tiếp khách, điện thoại,

Trang 24

điện nước và các chi phí khác dùng ở đội

Cách phân loại chi phí theo tiêu thức này đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí xây lắp theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm xây lắp, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, kèm tài liệu tham khảo, lập định mức chi phí và kế hoạch giá thành sản phẩm xây lắp cho kỳ tiếp theo Đây là những khoản mục chi phí cấu thành nên giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành tại doanh nghiệp xây dựng hiện nay

b Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí

Những khoản mục chi phí sản xuất có chung tính chất kinh tế được xếp vào cùng một yếu tố chi phí, không kể tới việc chi phí đó phát sinh ở địa điểm nào

và dùng vào mục đích gì trong sản xuất kinh doanh Theo cách phân loại này, có

5 yếu tố chi phí như sau:

Chi phí nguyên vật liệu: là toàn bộ các chi phí về các loại nguyên vật liệ chính, vật liệu phụ, nhiên liệu phụ, phụ tùng thay thế, vật liệu thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp đã sử dụng cho hoạt động sản xuất trong kỳ

Chi phí nhân công: các chi phí về tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động, các khoản BHYT, BHXH, KPCĐ, BHTN tính trên lương phải trả của công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng

Chi phí khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ số tiền phải tính khấu hao, trích trước sửa chữa lớn trong tháng (trong kỳ) đối với các loại tài sản cố định sử dụng trong doanh nghiệp

Chi phí dịch vụ thuê ngoài: là toàn bộ số tiền phát sinh về các loại dịch

vụ mua ngoài hoặc thuê ngoài như tiền điện nước, điện thoại, bưu phí phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp chi ra trong kỳ (tiền lương công nhân sản xuất)

Chi phí khác bằng tiền: bao gồm số tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh ngoài bốn yếu tố chi phí đã nêu trên trong doanh nghiệp xây dựng như chi phí tiếp khách, hội họp, nghiên cứu khoa học

Trang 25

Theo cách phân loại này, giúp ta biết kết cấu, tỷ trọng từng loại chi phí

mà doanh nghiệp chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giúp công tác quản lý chi phí theo từng nội dung kinh tế, tập hợp và lập báo cáo sản xuất theo yếu tố chi phí Phương pháp phân loại này có ý nghĩa cho việc lập và giám sát dự toán chi phí Xây dựng và xét duyệt kế hoạch định mức vốn lưu động cần thiết, tính toán và xác định phần lao động quá khứ cần bù đắp và phần lao động sống tạo ra

Song, cách phân loại này mới chỉ nêu được các yếu tố chi phí đã sử dụng, chứ không xác định được cụ thể phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng, do vậy, các nhà quản lý doanh nghiệp còn phân loại chi phí theo đối tượng chịu chi phí

c Phân loại chi phí theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất cho đối tượng chịu chi phí:

Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất chia làm hai loại chi phí, đó là chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

Chi phí trực tiếp: là những chi phí có liên quan trực tiếp đến việc sản xuất một loại sản phẩm, một công việc nhất định tại một địa điểm nhất định Bao gồm nguyên vật liệu xây dựng, tiền lương công nhân sản xuất, khấu hao máy móc thiết bị thi công được kết chuyển trực tiếp tự bản thân nó vào sản phẩm hoặc công việc xây lắp

Chi phí gián tiếp: là những chi phí có liên quan đến nhiều sản phẩm công việc, nhiều đối tượng khác nhau Nội dung chi phí gián tiếp cũng như cchi phí trực tiếp nhưng những chi phí này phát sinh ở bộ phận phân xưởng sản xuất, bộ phận quản lý đội của doanh nghiệp xây dựng Vì vậy kế toán tiến hành phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo những tiêu thức thích hợp

Cách phân loại này có ý nghĩa thuần túy đối với kỹ thuật hạch toán Do đó

có ý nghĩa trong việc xác định kế toán tập hợp chi phí phân bổ chi phí cho các đối tượng chịu chi phí tương đối hợp lý Từ đó giúp cho việc xác định chỉ tiêu giá thành được nhanh chóng, kịp thời, đồng thời giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có được thông tin chân thực về chi phí và kết quả lợi nhuận từng loại sản

Trang 26

phẩm, dịch vụ trong hoạt động của daonh nghiệp xây dựng

Ngoài ba cách phân loại nêu trên, chi phí sản xuất còn được phân loại theo nhiều cách khác nhau:

Nếu theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên báo cáo tài chính thì chi phí sản xuất được chia thành: chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ

Phân loại chi phí sản xuất theo đầu vào của quá trình sản xuất có chi phí ban đầu và chi phí luân chuyển nội bộ

Phân loại chi phí sản xuất trong mối quan hệ với khối lượng sản phẩm sản xuất, bao gồm: chi phí biến đổi, chi phí cố định và chi phí hỗn hợp Cách phân loại này có ý nghĩa trong mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng, lợi nhuận và các quyết định quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh, ngoài ra giúp các nhà quản trị xác định chính xác, đúng đắn phương hướng để nâng cao hiệu quả của chi phí trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp

1.2.2 Giá thành sản phẩm xây dựng và phân loại giá thành sản phẩm

1.2.2.1 Giá thành sản phẩm xây dựng

Để thi công, xây dựng được một công trình, hạng mục công trình hay hoàn thành một lao vụ, dịch vụ nhất định thì các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xây dựng nói riêng phải đầu tư vốn của mình phục vụ cho quá trình sản xuất Vốn đầu tư ở đây bao gồm cả vật tư, lao dộng và giá trị khác được biểu hiện bằng tiền.quá trình sử dụng vốn phục vụ cho sản xuất và vốn được luân chuyển từ việc hình thành nên yếu tố ban đầu (nguyên vật liệu, tài sản

cố định ) cho đến khi những giá trị này kết tinh vào sản phẩm xây dựng, hình thành nên giá trị của sản phẩm (sản phẩm xây dựng như là: cầu đường, nhà, sân bay, bến cảng ) vốn đầu tư phục vụ cho công tác xây dựng đó chính là chi phí sản xuất mà các doanh nghiệp xây dựng phải bỏ ra để thi công, xây dựng hình thành nên các sản phẩm xây dựng

Tuy nhiên, trong hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp xây dựng, chi phí sản xuất mới chỉ là một mặt thể hiện sự hao phí của quá trình sản xuất Để đánh giá chất lượng và hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh thì chi phí sản xuất cần phải được xem xét trong mối quan hệ với kết quả của quá trình sản xuất

Trang 27

đó chính là giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ gắn bó, chặt chẽ với nhau, đó chính là hai mặt của một quá trình Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình, chi phí sản xuất mà các doanh nghiệp xây dựng bỏ ra sẽ cấu thành nên giá thành công tác xây dựng của sản phẩm xây dựng hoàn thành

Giá thành sản phẩm xây dựng là toàn bộ các chi phí tính bằng tiền (bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung) tính cho từng công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây dựng hoàn thành đến giai đoạn quy ước hoàn thành (đạt điểm dừng kỹ thuật hợp lý), đã nghiệm thu, bàn giao và được chấp nhận thanh toán Sản phẩm xây dựng có thể là khối lượng công việc hoặc giai đoạn công việc có thiết kế kỹ thuật, có giá trị dự toán riêng, các công trình hay hạng mục công trình hoàn thành đều là đối tượng tính giá thành sản phẩm xây dựng Giá thành sản phẩm xây dựng vừa mang tính chủ quan vừa mang khách quan trong một chừng mực nào đó Do vậy, để có thể quản lý một cách có hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp ta cần xem xét và hiểu rõ bản chất của giá thành Sự dịch chuyển và kết tinh giá trị tư liệu sản xuất và sức lao động trong sản phẩm là một yếu tố mang tính khách quan của giá thành Mặt khác, giá thành là đại lượng được tính toán dựa trên cơ sở chi phí sản xuất bỏ ra trong kỳ

Ở phương diện này, giá thành thể hiện tính chủ quan là chỉ tiêu có sự dao động

ổn định Tính chủ quan của giá thành thể hiện cụ thể ở hai khía cạnh sau:

Thứ nhất, giá thành là biểu hiện bằng tiền của các tư liệu sản xuất và sức lao

động đã hao phí đê sản xuất ra một khối lượng sản phẩm, một công trình hay hạng mục công trình Việc áp dụng các biện pháp đánh giá khác nahu cũng sẽ làm cho giá thành mang tính chủ quan không giống nhau

Thứ hai, giá thành được tính trên cơ sở các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

kế toán, cho nên những chuẩn mực khác nhau về chi phí và giá thành sẽ tạo ra tính chủ quan Trong chế độ kế toán trước đây ở nước ta, giá thành sản phẩm xây dựng ngoài các chi phí về nguyên vật liệu, nhân công sản xuất chung còn bao gồm cả chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí giao hàng

Trang 28

Trong chế độ kế toán Anh – Mỹ, chi phí tài chính, chi phí bảo hiểm, chi phí quản lý doanh nghiệp không được tính vào giá thành sản phẩm mà chỉ được sử dụng để xác định kết quả hoạt động sản xuất cuối kỳ

Hiện nay, theo chế độ kế toán mới ban hành, giá thành của sản phẩm sản xuất chủ yếu được hình thành từ bốn khoản mục chi phí trực tiếp bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung

Khác với các doanh nghiệp công nghiệp khác, việc xác định giá thành cho một loại sản phẩm được sản xuất ra trong kỳ và giá thành đơn vị của sản phẩm

đó là có thể thực hiện được Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp xây dựng, do xuất phát từ đặc thù của ngành, giá thành san phẩm xây dựng mang tính cá biệt Mỗi công trình, hạng mục công trình hoặc khối lượng xây dựng sau khi đã hoàn thành đều có một giá riêng gọi là giá nhận thầu Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để hoàn thành một khối lượng công tác xây dựng nói trên đều được bù đắp bằng chính số tiền thu về khi quyết toán công trình xây dựng là giá nhận thầu ban đầu Điều này có ý nghĩa, giá bán của sản phẩm xây dựng chính là giá nhận thầu ban đầu Việc bù đắp các chi phí đơn vị, các doanh nghiệp xây dựng chỉ có thể đảm bảo được trong quá trình tái sản xuất giản đơn Đây chính

là nguyên nhân chủ yếu lý giải tại sao tính chất hàng hóa của sản phẩm xây dựng lại không thể hiện rõ Mục đích sản xuất và nguyên tắc kinh doanh trong cơ chế thị trường để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải hạch toán, trang trải và bù đắp được chi phí bỏ ra nhưng lại phải tối đa hóa được lợi nhuận Do

đó, giá nhận thầu sản phẩm xây dựng của doanh nghiệp xây dựng biểu hiện giá trị của công trình, hạng mục công trình, phải dựa trên cơ sở giá thành dự toán để xác định Mặt khác, giá thành sản phẩm xây dựng có hai chức năng chủ yếu là: chức năng thước đo bù đắp chi phí, chức năng lập giá

Như vậy, đối với các doanh nghiệp xây dựng, khi được nhận thầu (hoặc được chỉ định thầu) một công tác xây dựng nhất định thì giá bán (giá nhận thầu)

đã có ngay trước khi thi công Giá bán có trước khi xác định được giá thực tế của sản phẩm xây dựng nên giá thành thực tế của công trình khi quyết toán sẽ

Trang 29

quyết định tới lỗ, lãi của hoạt động xây lắp Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp phải chủ động trong việc bố trí tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất để vừa hoàn thành công trình có chất lượng vừa đảm bảo yếu tố lợi nhuận cho doanh nghiệp

Xuất phát từ thực tế trên, trong những năm gần đây, được sự cho phép của Nhà nước, nhiều doanh nghiệp xây lắp đã chủ động xây dựng và xác định đơn giá thực tế của sản phẩm xây lắp bằng cách tổ chức thi công tạo ra sản phẩm xây lắp trước, xác định được trị giá của công trình từ đó xây dựng giá bán phù hợp phục vụ cho nhu cầu thị trường Đây là một cách làm mang tính chủ động đối với doanh nghiệp xây lắp trong điều kiện hiện nay

1.2.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp

Phân loại giá thành sản phẩm là yêu cầu phục vụ cho việc quản lý của doanh nghiệp, từ đó giúp doanh nghiệp phân tích được sự biến động của giá thành và chiều hướng tác động của chúng để có biện pháp điều chỉnh cho thích hợp Các cách phân loại giá thành chủ yếu:

- Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán chi phí

- Phân loại giá thành theo thời điểm và cơ sở số liệu tính giá thành

Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp xây lắp đều phân loại giá thành sản phẩm xây lắp theo thời điểm và cơ sở số liệu tính giá thành Căn cứ vào tiêu thức phân loại này, giá thành sản phẩm xây lắp bao gồm 3 loại:

a.Giá thành dự toán công tác xây lắp(Zdt):

Giá thành dự toán là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình, hạng mục công trình Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá của Nhà nước

Giá thành dự Giá thành dự Thu nhập Thuế giá trị toán công trình, = toán công trình, - chịu thuế - gia tăng

hạng mục công hạng mục công tính trước đầu ra

trình trình, sau thuế

Trong điều kiện hiện nay, các đơn vị thường tham gia đấu thầu để thi công xây lắp một công trình Do vậy, trong giá thành dự toán còn có hai loại giá thành

Trang 30

là:

- Giá thành đấu thầu công tác xây lắp: được hình thành từ cơ chế quản lý bằng đấu thầu trong XDCB Đây cũng là loại giá thành dự toán do chủ đầu tư đưa ra

để các tổ chức xây lắp căn cứ vào đó mà tính toán ra giá thành dự thầu

- Giá thành hợp đồng công tác xây lắp: là loại giá thành dự toán ghi trong hợp đồng được ký kết giữa chủ đầu tư và đơn vị xây lắp sau khi thỏa thuận giao nhận thầu và cũng chính là giá thắng thầu của đơn vị xây lắp

b Giá thành kế hoạch:

Giá thành kế hoạch là giá thành được tính toán từ những điều kiện thực tế của doanh nghiệp xây lắp về biện pháp thi công, các định mức đơn giá áp dụng trong nội bộ doanh nghiệp cho thích ứng với tình hình thực tế của doanh nghiệp

Nó là cơ sở, đồng thời là mục tiêu để phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm Giá thành kế hoạch còn phản ánh trình độ quản lý giá thành của doanh nghiệp

Công thức xác định giá thành kế hoạch:

Gía thành kế hoạch Giá thành dự toán của Mức hạ giá thành

của công trình, hạng = công trình, hạng mục - kế hoạch

mục công trình công trình

c.Giá thành thực tế:

Là giá thành biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí thực tế phát sinh để

hoàn thành khối lượng xây lắp mà doanh nghiệp đã nhận thầu Giá thành này bao gồm các chi phí định mức, vượt định mức và không định mức giá thành của doanh nghiệp Muốn đánh giá chính xác chênh lệch sản xuất thi công của tổ chức công tác xây lắp chúng ta phải so sánh các loại giá thành trên với nhau nhưng xét trong điều kiện đảm bảo tính thống nhất về thời điểm và cách tính toán trong quá trình so sánh và sự so sánh này phải được thực hiện trên cùng một đối tượng xây lắp Giữa ba loại giá thành xây lắp này thường có mối quan

hệ mật thiết về mặt lượng:

Giá thành đấu thầu ≥ Giá thành kế hoạch ≥ Giá thành thực tế

Cũng xuất phát từ đặc điểm sản phẩm xây lắp, để đáp ứng cao hơn công tác

Trang 31

quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp, giá thành sản phẩm xây lắp còn được theo dõi trên hai chỉ tiêu: giá thành sản phẩm xây lắp hoàn chỉnh và giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước

Giá thành sản phẩm xây lắp hoàn chỉnh là giá thành của những công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành đảm bảo chất lượng và kỹ thuật, đúng thiết

kế, đúng hợp đồng bàn giao và được bên chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán Chỉ tiêu này cho phép ta đánh giá một cách chính xác và toà n diện hiệu quả sản xuất, thi công trọn vẹn một công trình, hạng mục công trình

Do đó để đáp ứng yêu cầu quản lý và đảm bảo cho việc chỉ đạo sản xuất kịp thời phải xác định giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước Khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước là khối lượng xây lắp hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và phải thỏa mãn đồng thời ba điều kiện sau:

- Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo về chất lượng, kỹ thuật

- Khối lượng này phải xác định được một cách cụ thể và được bên chủ đầu

tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán

- Phải đạt đến một điểm dừng kỹ thuật hợp lý

Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước phản ánh kịp thời chi phí sản xuất cho đối tượng xây dựng trong quá trình thi công, từ đó giúp doanh nghiệp phân tích kịp thời các chi phí đã chi ra cho từng đối tượng để có biện pháp quản lý thích hợp và cụ thể

* Căn cứ vào phạm vi tính toán thì giá thanhfn được chia thành hai loại:

- Giá thành đấu thầu: là loại giá thành do chủ đầu tư đưa ra để doanh nghiệp xây lắp căn cứ vào đó tính toán giá thành của mình Trường hợp giá thành của doanh nghiệp xây dựng thấp hơn giá đấu thầu thì sẽ tăng giá đấu thầu công tác xây lắp công trình, hạng mục công trình

- Giá thành hợp đồng: Là loại giá thành đấu thầu xây lắp ghi trong hợp đồng được ký kết giữa chủ đầu tư và doanh nghiệp xây lắp sau khi thỏa thuận giao nhận thầu Nguyên tắc giá thành hợp đồng nhỏ hơn giá thành đấu thầu công tác xây lắp

Như vậy, dù theo cách phân loại nào thì để đáp ứng yêu cầu của các nhà quản

Trang 32

lý, hạch toán, lập kế hoạch giá thành và xây dựng giải pháp để hạ giá thành sản phẩm kịp thời, chính xác toàn diện có hiệu quả và hợp lý giá thành xây lắp của doanh nghiệp đòi hỏi phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các loại giá thành Dĩ nhiên, lựa chọn loại giá thành nào là thiết yếu điều đó còn tùy thuộc vào đối tượng cung cấp thông tin, yêu cầu của đối tượng sử dụng thông tin và nhà quản trị của mỗi doanh nghiệp cụ thể

1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện khác nhau của quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm Một bên là yếu tố chi phí “ đầu vào” và một bên là kết quả sản xuất ở “ đầu ra” Vì vậy, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối liên hệ mật thiết với nhau

Về bản chất chúng giống nhau, đều bao gồm hao phí lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất

Về mặt lượng, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp chỉ thống nhất khi đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành là đồng nhất; cùng là một công trình, hạng mục công trình được hoàn thành trong kỳ tính giá thành, hoặc giá trị khối lượng xây lắp dở dang đầu kỳ bằng giá trị xây dựng dở dang cuối kỳ

Tuy nhiên giữa chúng lại có những đặc điểm khác nhau về phạm vi và hình thái biểu hiện:

Chi phí sản xuất được tính trong phạm vi giới hạn của từng kỳ nhất định (tháng, quý, năm) và chi phí sản xuất trong kỳ kế toán thường có liên quan đến hai bộ phận là: sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ và sản phẩm dở dang cuối kỳ Giá thành sản phẩm lại chỉ được tính cho công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây lắp hoàn thành trong kỳ và chỉ tiêu này thường bao gồm hai bộ phận chi phí: Chi phí sản xuất kỳ trước chuyển sang kỳ này để tính và một phần chi phí phát sinh trong kỳ này (sau khi đã trừ đi giá thành sản phẩm xây lắp dơ dang cuối kỳ) Sự khác nhau đó được thể hiện thông

qua sơ đồ sau:

Trang 33

Ta có: AC= AB+ BC- BD

Hay:

Tổng giá thành Chi phí sản Chi phí Chi phí sản

sản phẩm = xuất dở dang + phát sinh - xuất dở dang

xây lắp đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp có mối quan hệ mật thiết với nhau Tài liệu kế toán tập hợp chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành sản phẩm Nếu coi giá thành sản phẩm là công việc chủ yếu trong công tác kế toánchi phí sản xuất thhif chi phí sản xuất có tác dụng quyết định đến tính chính xác của giá thành sản phẩm xây lắp

1.3 Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành ở doanh nghiệp xây lắp

1.3.1 Nguyên tắc kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp bao gồm:

Hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp và các hoạt động sản xuất kinh doanh phụ trợ khác Việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành công tác xây lắp, các hoạt động sản xuất phụ trợ khác một cách chính xác và kịp thời giúp doanh nghiệp nắm bắt đƣợc tình hình tiết kiệm hay lãng phí vật tƣ, tiền vốn Từ

Chi phí sxdd đk Chi phí sx phát sinh trong kỳ

Trang 34

đó có các biện pháp ngăn ngừa hay động viên khuyến khíchnhằm đảm bảo cho công trình hoàn thành với chất lượng cao, đúng tiến độ thi công, nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm công tác xây lắp Mặt khác, việc tổ chức đúng đắn công tác hoạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có tác dụng củng cố và phát triển hạch toán kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp

Để đảm bảo tính thống nhất, các doanh nghiệp xây lắp phải thực hiện theo những quy định chung của chế độ tài chính kế toán hiện hành Theo chế độ về hạch toán hiện nay, việc xác định giá thành sản phẩm công tác xây lắp chỉ hạch toán những khoản chi phí cơ bản trực tiếp (bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung)

Chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng (nếu có) không được hạch toán để tính vào giá thành công tác xây lắp mà được hạch toán riêng trên các TK 642- “Chi phí quản lý doanh nghiệp”; TK 641-“ Chi phí bán hàng” Cuối kỳ, kết chuyển sang TK 911 để xác định kết quả kinh doanh

Những khoản chi phí khác như: chi phí đầu tư, chi phí hoạt động tài chính, chi phí hoạt động bất thường và các khoản chi phí có nguồn bù đắp riêng có tính chất phân phối lại không hạch toán vào chi phí, từ đó các khoản chi phí này không được hạch toán vào giá thành

Đây là nguyên tắc hạch toán chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm Việc thực hiện đúng nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc tính đúng, tính

đủ hợp lý các chi phí vào giá thành cũng như đảm bảo tính nhất quán trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đối với doanh nghiệp xây lắp nói riêng và các doanh nghiệp khác nói chung

1.3.2 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp

1.3.2.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi (giới hạn) mà các chi phí sản

xuất phát sinh được tập hợp theo phạm vi, giới hạn đó nhằm đáp ứng yêu cầu

Trang 35

kiểm tra, giám sát chi phí và yêu cầu tính giá thành

Việc lựa chọn, xác định đối tượng tập hợp chi phí cho từng doanh nghiệp là khác nhau Điều đó phụ thuộc vào đặc điểm tình hình tổ chức kinh doanh, yêu cầu và trình độ quản lý cũng như quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm xây lắp Do là khâu đầu tiên trong công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất nên khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, trước hết phải căn cứ vào mục đích

sử dụng của chi phí, sau đó căn cứ vào địa điểm phát sinh chi phí của doanh nghiệp xây lắp Các chi phí sản xuất phục vụ cho hoạt động sản xuất xây lắp cần được tập hợp cho từng công trình Nếu là loại hình sản xuất đơn chiếc thì đối tượng tập hợp chi phí có thể là từng công trình, hạng mục công trình Nếu là loại hình sản xuất hàng loạt thì đối tượng tập hợp chi phí có thể là từng đơn đặt hàng hoặc từng loại

- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là các phân xưởng, tổ, đội thi công, công trường sản xuất

- Căn cứ vào yêu cầu giá thành, yêu cầu quản lý, khả năng và trình độ quản lý của doanh nghiệp mà việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sẽ được chi tiết và

cụ thể cao hơn

Mặc dù có nhiều cách xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, nhưng yêu cầu của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là xây dựng đối tượng tập hợp chi phí phải hợp lý, phù hợp với đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Đây là công việc quan trọng trong việc tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất, từ việc hạch toán ban đầu đến tổ chức tập hợp số liệu, hạch toán trên tài khoản và các sổ kế toán liên quan

1.3.2.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất

Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là một phương pháp hoặc hệ thống các phương pháp sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố, khoản mục trong phạm vi giới hạn đối tượng kế toán chi phí đã xác định như: công trình, hạng mục công trình hay đơn đặt hàng Trong các doanh nghiệp xây lắp, kế toán thường sử dụng phương pháp hạch toán trực tiếp để tập hợp chi phí

Trang 36

sản xuất cho các đối tượng tính giá thành liên quan

Phương pháptập hợp trực tiếp là phương pháp đối với những chi phí cơ bản

có quan hệ trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt thì tập hợp trực tiếp cho đối tượng chịu chi phí đó Phương pháp này đòi hỏi ngay từ khâu hạch toán phải tổ chức công tác ghi chép ban đầu theo đúng đối tượng chịu chi phí, từ đó tập hợp số liệu từ các chứng từ kế toán trực tiếp theo các đối tượng riêng biệt trên các sổ, thẻ chi tiết chi phí sản xuất với từng đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp Phương pháp tập hợp trực tiếp chi phí sản xuất áp dụng cho những chi phí sản xuất cơ bản hoặc cho những doanh nghiệp có đối tượng tính giá thành đơn nhất là công trình, hạng mục công trình

Bên cạnh phương pháp tập hợp trực tiếp còn có phương pháp tập hợp chi phí gián tiếp (đối với chi phí sản xuất chung) phương pháp này trong các doanh nghiệp xây lắp thường ít áp dụng

Theo phương pháp gián tiếp, trước hết tập hợp các chi phí sản xuất phát sinh sau đó mới tiến hành phân bổ cho từng đối tượng cụ thể Tiêu chuẩn phân bổ đảm bảo được mối quan hệ tương quan giữa chi phí phân bổ và đối tượng chịu chi phí Thời điểm tính toán phân bổ có thể một lần vào cuối kỳ kế toán hoặc nhiều lần trong kỳ, tùy theo yêu cầu quản lý và khả năng thực tế của doanh nghiệp

1.3.3 Chứng từ và tài khoản sử dụng

Các chứng từ gốc liên quan đến chi phí phát sinh trong kỳ hạch toán của doanh nghiệp là những chứng từ phản ánh các yếu tố chi phí Bao gồm: Chứng

từ vật tư (phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, biên bản kiểm kê vật tư ) ; Chứng từ

về tiền lương (bảng chấm công, bảng thanh toán lương, phiếu xác nhận khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành, hợp đồng giao khoán, bảng thanh toán BHXH ); Chứng từ liên quan đến TSCĐ (biên bản giao nhận TSCĐ, biên bản thanh lý TSCĐ, biên bản kiểm kê TSCĐ ); Về vốn bằng tiền (phiếu chi, phiếu thu, giấy đề nghị thanh toán tạm ứng ) Ngoài ra, tại các doanh nghiệp xây lắp còn có các chứng từ theo dõi tình hình sử dụng máy thi công (biên bản bàn giao máy thi công, phiếu theo dõi số ca máy làm việc )

Trang 37

Doanh nghiệp xây lắp có đối tượng tập hợp chi phí là từng công trình, hạng mục công trình nên kế toán trưởng tổ chức việc tập hợp chứng từ kế toán theo dõi từng đối tượng tập hợp chi phí đối với chi phí trực tiếp, tập hợp chứng từ theo khoản mục đối với các chi phí gián tiếp

Mặt khác, tùy thuộc doanh nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ trong chế độ kế toán để tổ chức hệ thống tài khoản tập hợp chi phí cho hợp lý Trên thực tế, đối với doanh nghiệp xây lắp thì phương pháp kê khai thường xuyên là được áp dụng phổ biến, nhất là trong điều kiện yêu cầu quản lý trong nền kinh tế thị trường hiện nay

Theo phương pháp kê khai thường xuyên, hệ thống tài khoản sử dụng để tập hợp chi phí bao gồm hai tài khoản sau:

TK621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” dùng để tập hợp chi phí nguyên vật liệu, dùng cho hoạt động sản xuất phát sinh tại doanh nghiệp bao gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là một bộ phận quan trọng tham gia cấu thành thực thể sản phẩm xây lắp, giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng xây lắp thi công

TK622 “Chi phí nhân công trực tiếp” dùng để tập hợp chi phí nhân công phát sinh như: Tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, nhân công phục vụ xây lắp, nhân công thu dọn hiện trường xây lắp không phân biệt là trong danh sách hay được thuê ngoài

TK623 “Chi phí sử dụng máy thi công” tập hợp toàn bộ chi phí về vật liệu, nhân công, và các chi phí khác có liên quan trong quá trình sử dụng máy thi công Tài khoản 623 có các tài khoản cấp 2 như sau:

TK6231 “Chi phí nhân công sử dụng máy”

TK6232 “Chi phí vật liệu”

TK6233 “Chi phí dụng cụ sản xuất”

TK6234 “Chi phí khấu hao máy thi công”

TK6237 “Chi phí dịch vụ mua ngoài”

TK6238 “zchi phí khác bằng tiền”

Trang 38

TK627 “Chi phí sản xuất chung” là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức, phục vụ và quản lý thi công của các đội thi công xây lắp và ở các công trình xây dựng Chi phí sản xuất chung là khoản mục chi phí tổng hợp bao gồm nhiều nội dung chi phí khác nhau và điều đó có mối quan hệ với các đối tượng xây lắp Tài khoản này có các TK cấp 2 như sau:

TK 6271 “Chi phí nhân viên phân xưởng” trong đó kể cả các khoản BHXH, BHYT,KPCĐ,BHTN trích 22% trên lương công nhân trực tiếp sản xuất, nhân viên quản lý đội và nhân viên sử dụng cho máy thi công

TK6272 “Chi phí vật liệu”

TK6273 “Chi phí dụng cụ sản xuất”

TK6274 “Chi phí khấu hao TSCĐ”

TK6277 “Chi phí dịch vụ mua ngoài”

TK6278 “Chi phí khác bằng tiền”

TK154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” được sử dụng để tập hợp các chi phí phát sinh trong kỳ phục vụ cho việc tính giá thành công trình, hạng mục công trình hay những lao vụ, dịch vụ khác trong doanh nghiệp xây lắp Tài khoản này được mở cho từng công trình, hạng mục công trình xây lắp, các giai đoạn công việc của từng hạng mục công trình hoặc nhóm hạng mục công trình Tài khoản 154 có 4 TK cấp 2:

TK1541 “Xây lắp”

TK1542 “Sản phẩm khác”

TK1543 “Dịch vụ”

TK1544 “Chi phí bảo hành xây lắp”

Đối với phương pháp kiểm kê định kỳ, ngoài các TK621, TK622, TK623, TK627 như phương pháp kê khai thường xuyên doanh nghiệp còn sử dụng các TK154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ” để phản ánh giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ của doanh nghiệp xây lắp

TK631 “Giá thành sản xuất” dùng để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong kỳ kế toán

1.3.4 Trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp

Trang 39

Trình tự kế toán chi phí sản xuất là thứ tự các bước công việc cần tiến hành

nhằm tập hợp chi phí sản xuất phục vụ việc tính giá thành sản phẩm xây lắp được kịp thời, đáp ứng với tính chất và đặc điểm của ngành sản xuất xây lắp Trong doanh nghiệp xây lắp có thể tiến hành khái quát chung quá trình tập hợp chi phí sản xuất theo các bước sau:

Bước 1: Tập hợp các chi phí có liên quan trực tiếp cho từng công trình,

hạng mục công trình

Bước 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của các ngành sản xuất kinh doanh có

liên quan trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình trên cơ sở khối lượng lao vụ phục vụ và giá thành đơn vị lao vụ

Bước 3: Tập hợp phân bổ chi phí sản xuất cho các công trình có liên quan Bước 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

Các chi phí sản xuất có liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất hay công trình, hạng mục công trình đã hạch toán riêng theo các khoản mục chi phí cấu tạo nên giá thành sản phẩm cần được tổng hợp lại theo đối tượng tập hợp chi phí để từ đó kết hợp với tình hình, kết quả sản xuất sản phẩm ở các bộ phận, phân xưởng, đội và tính giá thành thực tế của những công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành trong kỳ

Theo quyết định số 1864/1988/QĐ-BTC ngày 16/12/1988 của Bộ Tài Chính, doanh nghiệp xây lắp căn cứ vào điều kiện cụ thể hệ thống có thể lựa chọn một trong hai phương pháp hạch toán hàng tồn kho đang áp dụng trong doanh nghiệp

đó là: Phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kỳ

1.3.4.1 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên

Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh thường xuyên, liên tục có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho vật tư, hàng hóa trên sổ kế toán Doanh nghiệp xây lắp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên là những doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn, tiến hành nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, nhằm tăng khả năng cạnh tranh của mình, nắm bắt thông tình hình hoạt động sản

Trang 40

xuất kinh doanh một cách thường xuyên liên tục, không chỉ những doanh nghiệp

có quy mô lớn mới áp dụng phương pháp này như một biện pháp để theo kịp diễn biến của thị trường

Chi phí sản xuất sau khi tập hợp riêng từng khoản mục chi phí bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung cần được kết chuyển, phân bổ để tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp và chi tiết theo từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trên cơ sở các bảng tính toán phân bổ các chi phí tương ứng Để tập hợp chi phí sản xuất, kế toán sử dụng TK154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” nhằm phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ toàn doanh nghiệp Do đó trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh

nghiệp xây lắp được khái quát bằng ( sơ đồ 1)

Ghi chú: Các khoản trích theo lương bao gồm: BHXH, BHYT, KPCĐ của

công nhân trực tiếp sản xuất và nhân viên sử dụng máy thi công không hạch toán vào các TK622 “Chi phí nhân công trực tiếp” và TK 623 “Chi phí sử dụng máy thi công” mà hạch toán vào TK627 “Chi phí sản xuất chung”

1.3.4.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ

Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp hạch toán căn cứ vào kết

quả kiểm kê thực tế để phản ánh giá trị hàng tồn kho, từ đó tính giá trị của hàng hóa, vật tư đã xuất trong kỳ, các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến hàng tồn kho không ghi số liên tục Doanh nghiệp xây lắp áp dụng phương pháp kiểm kê định

kỳ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, chỉ tiến hành một hoạt động sản xuất kinh doanh, các nghiệp vụ không mang tính thường xuyên liên tục

Giữa phương pháp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kỳ có những sự khác biệt cơ bản sau:

- Tài khoản dùng để tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ là TK631 “Giá thành sản xuất” còn TK154 “Chi phí sản xuất dở dang” chỉ dùng để phản ánh giá trị sản phẩm làm dở đầu kỳ và cuối kỳ, căn cứ vào kết quả kiểm kê đánh giá sản phẩm làm dở

Ngày đăng: 11/12/2013, 22:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2: Kế toán chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp  (phương pháp kiểm kê định kỳ) - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
Sơ đồ 2 Kế toán chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp (phương pháp kiểm kê định kỳ) (Trang 43)
Bảng tổng hợp  chi phí sản xuất  trong kỳ theo  đối tƣợng tập  hợp chi phí. - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
Bảng t ổng hợp chi phí sản xuất trong kỳ theo đối tƣợng tập hợp chi phí (Trang 46)
Hình thức tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần TM-XD Thái Sơn  theo mô hình trực tuyến trức năng: Hội đồng quản trị đƣa ra quyết định mọi hoạt  động của công ty thông qua Giám đốc hay các phòng ban chức năng - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
Hình th ức tổ chức bộ máy quản lý của công ty cổ phần TM-XD Thái Sơn theo mô hình trực tuyến trức năng: Hội đồng quản trị đƣa ra quyết định mọi hoạt động của công ty thông qua Giám đốc hay các phòng ban chức năng (Trang 62)
Sơ đồ 1.9:Hình thức Nhật ký chung - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
Sơ đồ 1.9 Hình thức Nhật ký chung (Trang 68)
Bảng TH X-N-T - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
ng TH X-N-T (Trang 84)
BẢNG PHÂN BỔ HỆ SỐ CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
BẢNG PHÂN BỔ HỆ SỐ CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP (Trang 95)
Bảng chấm công  Bảng XĐ khối - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
Bảng ch ấm công Bảng XĐ khối (Trang 96)
BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG BỘ PHẬN VẬN HÀNH TRẠM - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
BẢNG THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG BỘ PHẬN VẬN HÀNH TRẠM (Trang 99)
BẢNG HỆ SỐ PHÂN BỔ CHI PHÍ NCTT - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
BẢNG HỆ SỐ PHÂN BỔ CHI PHÍ NCTT (Trang 101)
BẢNG TỔNG HỢP CHI PHÍ SỬ DỤNG MÁY THI CÔNG  Qúy IV/ 2010 - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
y IV/ 2010 (Trang 109)
Bảng phân bổ chi phí  SXC - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
Bảng ph ân bổ chi phí SXC (Trang 110)
BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
BẢNG THANH TOÁN LƯƠNG (Trang 112)
BẢNG KÊ XUẤT NGUYÊN VẬT LIỆU SỬ DỤNG  Tháng 12 năm 2010 - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
h áng 12 năm 2010 (Trang 116)
BẢNG TÍNH KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
BẢNG TÍNH KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH (Trang 124)
Hình thức thanh toán:................................................................. - Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần thương mại xây dựng thái sơn
Hình th ức thanh toán: (Trang 129)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w