1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tính chất vật lý và khả năng thấm nước của đất dưới tán rừng trồng keo lai (accacia hybrids) tại công ty lâm nghiệp hòa bình, huyện kỳ sơn, tỉnh hòa bình(khóa luận lâm học)

52 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự đồng ý của nhà trường và ban chủ nhiệm khoa Lâm học, Bộ môn Khoa học đất, giáo viên hướng dẫn, tôi đã tiến hành làm khóa luận: “Nghiên cứu tính chất vật lý và khả năng thấm nước

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA LÂM HỌC -o0o -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU TÍNH CHẤT VẬT LÝ VÀ KHẢ NĂNG THẤM NƯỚC CỦA ĐẤT DƯỚI TÁN RỪNG TRỒNG KEO LAI (ACACIA HYBRIDS) TẠI CÔNG TY LÂM NGHIỆP HÒA

BÌNH, HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

NGÀNH: LÂM SINH

MÃ NGÀNH: 7620205

Giáo viên hướng dẫn : Trần Thị Nhâm Sinh viên thực hiện : Tô Văn Dần Khóa học : 2016-2020

Hà Nội, 2020

Trang 2

i

LỜI CẢM ƠN

Thời gian học tập tại trường trường đã gần kết thúc, để hoàn thành trương trình học cũng như hoàn thành khóa luận nhằm củng cố kiến thức, đồng thời làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như bước đầu tiếp xúc với thực tiễn và công việc Được sự đồng ý của nhà trường và ban chủ nhiệm khoa Lâm học, Bộ môn Khoa học đất, giáo viên hướng dẫn, tôi đã tiến hành làm khóa luận:

“Nghiên cứu tính chất vật lý và khả năng thấm nước của đất dưới tán rừng trồng Keo lai (Acacia hybrids) tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình” được tiến hành Trong thời gian làm đề tài tôi đã nhận

được nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và gia đình giúp tôi hoàn thành được khóa luận

Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn cũng như lòng biết ơn sâu sắc tới cô Trần Thị Nhâm, giáo viên hướng dẫn đề tài cô đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình làm khóa luận Cũng như gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu trường Đại hoc Lâm Nghiệp, Khoa Lâm học cũng như Bộ môn Khoa học Đất đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành được khóa luận này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô bên Trung tâm Thực hành Thí nghiệm Khoa Lâm học đã quan tâm vào tạo điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất và thiết bị để tôi tiến hành các thí nghiệm phân tích các mẫu đất phục vụ việc làm khóa luận Sau cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến Công ty Lâm Nghiệp Hòa Bình, huyện

Kỳ sơn, tỉnh Hòa Bình đã tạo điều kiện tốt nhất trong quá trình thực tập cũng như

hỗ trợ và cung cấp thông tin để tôi hoàn thành được khóa luận

Mặc dù đã có sự cố gắng nhưng do kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn hạn chế và bước đầu làm nghiên cứu còn nhiều bỡ ngỡ nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót và tồn tại nhất định Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để khóa luận được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Sinh viên thực hiện

Tô Văn Dần

Trang 3

ii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

PHẦN 1TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

1.1 Trên thế giới 2

1.2 Ở Việt Nam 6

PHẦN 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

2.1 Mục tiêu 9

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

2.3 Nội dung nghiên cứu 9

2.4 Phương pháp nghiên cứu 9

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu ngoài hiện trường 9

2.4.2 Công tác nội nghiệp 11

2.4.3 Xử lý số liệu và phân tích kết quả 11

PHẦN 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 12

3.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực 12

3.1.1 Vị trí địa lý 12

3.1.2 Địa hình 12

3.1.3 Khí hậu 12

3.1.4 Thủy văn 13

3.1.5 Địa chất và thổ nhưỡng 13

3.2.Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội 13

3.2.1 Dân số 13

Trang 4

iii

3.2.2 Kinh tế, xã hội 14

PHẦN 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 16

4.1 Khái quát đặc điểm rừng trồng tại khu vực nghiên cứu 16

4.2 Hình thái phẫu diện đất tại khu vực nghiên cứu 17

4.2.1 Hình thái phẫu diện đất rừng trồng Keo lai 3 tuổi 18

4.2.2 Hình thái phẫu diện đất rừng trồng Keo lai 7 tuổi 19

4.3 Dung trọng, tỷ trọng, độ xốp và thành phần cơ giới của đất tại khu vực nghiên cứu 20

4.3.1 Dung trọng đất 20

4.3.2 Tỷ trọng đất 21

4.3.3 Độ xốp của đất 21

4.4 Khả năng thấm nước của đất tại khu vực nghiên cứu 22

4.4.1 Tốc độ thấm nước ban đầu 23

4.4.2 Tốc độ thấm nước ổn định 24

PHẦN 5KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 26

5.1 Kết luận : 26

5.2 Tồn tại 27

5.3 Kiến nghị 27 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích 11

Bảng 4.1 Đặc điểm rừng trồng Keo lai tại khu vực nghiên cứu 16

Bảng 4.2.Cây bụi thảm tươi và thảm khô thảm mục tại khu vực nghiên cứu 17

Bảng 4.3 Tỷ trọng, dung trọng, độ xốp của đất tại khu vực nghiên cứu 20

Bảng 4.4 Thành phần cơ giới của đất tại khu vực nghiên cứu 22

Trang 7

vi

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.4 Biểu đồ tốc độ thấm nước ban đầu của rừng Keo lai 3 tuổi và 7 tuổi 23 Hình 4.5 Biểu đồ tốc độ thấm nước ổn định của rừng Keo lai 3 tuổi và 7 tuổi 24

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tính thấm của đất là một trong những quá trình thủy văn quan trọng của cân bằng nước Đây là quá trình nước di chuyển vào trong đất hoặc mẫu chất Đặc điểm của quá trình nước di chuyển và thấm trong đất là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát sinh dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm Khi tốc độ thấm nhanh, khả năng thấm của đất lớn thì sự phát sinh dòng chảy mặt hầu như không có; kết quả là không xảy ra quá trình xói mòn đất hoặc xói mòn với cường độ rất yếu Như vậy, nếu không điều tiết được lượng dòng chảy mặt – tài nguyên nước thì tài nguyên đất – thổ nhưỡng phải đối mặt với nguy cơ xói mòn, trượt lở lớn Cho nên, để quản lý tốt song song 2 nguồn tài nguyên đất – nước, việc duy trì tốc độ thấm của đất đóng vai trò vô cùng quan trọng

Đặc tính thấm của đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: đặc điểm của mưa, địa hình khu vực, lớp phủ thực vật, tính chất của đất Các chỉ số phản ánh đặc điểm của mưa như lượng mưa, cường độ mưa, tần suất mưa – Đây

là những chỉ số con người không thể điều tiết kiểm soát được như những yếu tố của địa hình nghiên cứu Do vậy, để điều tiết, kiểm soát tính thấm của đất phụ thuộc vào lớp phủ thực vật và tính chất của đất Tính thấm của đất chịu ảnh hưởng lớn bởi các tính chất vật lý của đất như dung trọng, tỷ trọng, độ xốp và thành phần cơ giới Thông thường, đất có độ xốp cao, thành phần cơ giới là đất cát thì tốc độ thấm rất cao và ngược lại Kết quả là mỗi loại đất khác nhau mang trong mình những tính chất vật lý khác nhau nên tính thấm của chúng là không

giống nhau.Cho nên, đề tài “Nghiên cứu tính chất vật lí và khả năng thấm

nước của đất dưới tán rừng trồng Keo Lai (Acacia hybrids) tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình.” được thực hiện nhằm cung

cấp thêm những thông tin khoa học về tính thấm của đất và các nhân tố nội tại của đất ảnh hưởng đến khả năng thấm nước của đất tại khu vực nghiên cứu

Trang 9

PHẦN 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

Chakraborty.RN và Chakraborty.D 1989 đã nghiên cứu về sự thay đổi tính chất đất dưới tán rừng Keo lá tràm ở các tuổi 2, 3, 4 Tác giả cho thấy rừng trồng Keo lá tràm cải thiện đáng kể một số tính chất độ phì đất như độ chua của đất biến đổi từ 5,9 - 7,6, khả năng giữ nước của đất tăng từ 22,9 - 32,7%, chất hữu cơ tăng từ 0,81 - 2,70%, đạm tăng từ 0,364 - 0,504% và đặc biệt màu sắc đất biến đổi một cách rõ rệt từ màu nâu vàng sang màu nâu []

Năm 1993, Ohta đã nghiên cứu về sự thay đổi tính chất đất do việc trồng rừng Keo lá tràm ở vùng Pantabagan, Philippines Tác giả đã xem xét sự biến đổi tính chất đất dưới rừng Keo lá tràm 5 năm tuổi và rừng Thông ba lá 8 tuổi trồng trên đất thoái hoá nghèo kiệt Kết quả của tác giả cho thấy trồng rừng đã làm thay đổi dung trọng và độ xốp của đất ở tầng 0 - 5 cm theo hướng tích cực Tuy nhiên, lượng Cao ở tầng đất mặt dưới 2 loại rừng lại thấp hơn so với đối chứng (đất trống) []

Ohta (1993) nghiên cứu về sự thay đổi tính chất đất do việc trồng rừng Keo lá tràm ở vùng Pantabagan, Philippin Tác giả đã xem xét sự biến đổi tính chất đất dưới rừng Keo lá tràm 5 năm tuổi và rừng Thông ba lá 8 tuổi trồng trên đất thoái hoá nghèo kiệt Kết quả của tác giả cho thấy trồng rừng đã làm thay đổi dung trọng và độ xốp của đất ở tầng 0 - 5 cm theo hướng tích cực Tuy nhiên, lượng Ca2+ ở tầng đất mặt dưới 2 loại rừng lại thấp hơn so với đối chứng (đất trống)

Theo Smith.C.T (1994) thì việc trồng rừng có thể đem lại những ảnh hưởng tích cực khi mà độ phì của đất được cải thiện Ngược lại, nó có thể ảnh hưởng tiêu cực nếu nó làm mất cân bằng hay cạn kiệt nguồn dinh dưỡng trong đất Nhìn chung, việc trồng rừng cải thiện các tính chất vật lý đất Tuy nhiên, việc sử dụng cơ giới hóa trong xử lý thực bì, khai thác, trồng rừng là nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm sức sản xuất của đất

Trang 10

Nghiên cứu tính thấm trong các loại đất có chứa nhiều nguyên tố Natri, Hisskinh (1990), cho rằng có thể do sự trao đổi Bazơ đã làm thay đổi khả năng thấm nước và sự có mặt trong đất các loại muối dễ tan với một số lượng lớn đã làm cho đất có tính thấm bị ảnh hưởng Hisskinh còn cho rằng giữa sự trao đổi Bazơ và sự thay đổi khả năng thấm của nước có quan hệ với nhau Ghidroits (1924) đã tiến hành nghiên cứu có hệ thống về mặt này Ông cho răng tính thẩm của nước bị giảm nhiều do Natri đã thay thế các Bazơ trao đổi vốn có trong đất (chủ yếu Ca ) []

Khả năng thấm nước của đất là một trong những vấn đề trọng tâm trong Lâm học và trong cải tạo đất Mức độ tiếp nhận, điều hòa nguồn nước mưa, nước trời, sự hình thành dòng chảy trên mặt đất hoặc bên trong phẫu diện đất, cường

độ xói mòn do nước gây ra,v.v đều phụ thuộc vào khả năng thấm nước của đất Khả năng thấm nước của đất là khả năng thu nhận nước từ bề mặt của nó, dẫn nước từ tầng này đến tầng khác khi chúng chưa bão hòa nước và cuối cùng thấm lọc qua bề dày nhất định của tầng đất làm cho tầng đó trở thành bão hòa nước

Nước thấm vào trong đất là một trong những vấn đề được nghiên cứu rất rộng rãi của lĩnh vực thủy văn học, từ lý luận sinh ra dòng chảy mặt tiếp giáp mà xét, nước thấm vào trong đất là đại biểu cho năng lực của tầng điều tiết quan trọng nhất trong tuần hoàn thủy văn của nước, sau khi nước mưa đã đi qua tầng tiếp giáp giữa không khí và lọt qua lớp phủ thực vật tiếp xúc với đất

Năm 1865, Darrey nghiên cứu về tính thấm của đất đã đưa ra phương trình sau đây:

Q= K.S.T.ℎ

1Trong công thức này: Q là lượng nước thấm (cm3), K là hệ số thấm (cm2),

T là thời gian thấm (phút), h là độ chênh lệch áp lực cột nước ở đầu trên và đầu dưới của cột thấm, 1 là chiều dài đoạn đường thấm (cm)

Hệ số thấm được tính theo công thức: Kt= 𝑄

𝑆.𝑇.1Định luật Darcy đồng thời còn được biểu thị bằng phương trình tốc độ thấm:

V=KI

Trang 11

Ở đây, V là tốc độ thấm (mm giây, cm/phút hoặc m/ngày đêm), I =ℎ1

Darcy cho rằng hệ số thấm phụ thuộc vào tính chất đất đồng thời phụ thuộc vào tính chất của chất lỏng (nước) - tức là độ nhớt của chúng mà độ nhớt trước hết lại phụ thuộc vào nhiệt độ và mức độ khoáng hóa Khi nhiệt độ giảm thì độ nhớt sẽ tăng dẫn đến làm giảm tốc độ thấm và ngược lại

Sau này, người ta nhận thấy rằng khi xác định khả năng thấm của đất trong những điều kiện nhiệt độ thay đổi thì không thể so sánh được Do vậy người ta quy về điều kiện tiêu chuẩn ở 10°C bằng cách khi tính hệ số thấm người

ta sử dụng hệ số điều chỉnh nhiệt độ” của Hazen: 0,7 + 0,03 [16]

Hệ số thấm theo nhiệt độ điều chỉnh được tính theo công thức:

K10 = 𝐾𝑡0,7+0,03𝑡

K10 là hệ số thấm ở điều kiện 10°C, Kt là hệ số thấm ở điều kiện nhiệt độ tại thời điểm xác định, t là nhiệt độ nước sử dụng khi xác định

Đã có nhiều mô hình nghiên cứu nước thấm vào trong đất dựa trên việc đơn giản hóa quá trình vật lý và các mô hình kinh nghiệm như mô hình Philip và cải biến của nó là mô hình Smith-Pilange, mô hình Green-Ampt, mô hình Horton, Mặc dù những mô hình này đã tạo được sự thành công khá lớn trong

mô phỏng vận động của nước trong đất nông nghiệp và thủy văn lưu vực đất nông nghiệp (Skaggs and Khalee,1982), nhưng khi ứng dụng cho lưu vực rừng thì lại gây ra những thách thức nghiêm trọng Khi nước thấm vào trong đất và vận động của nước trong đất đứng về mặt bản chất vật lý học mà nói, chúng chịu

sự khống chế của trọng lực do lực hấp dẫn địa cầu sinh ra và lực mao quản do sự tiếp xúc giữa nước và hạt đất sinh ra (Bayer,1937), nhưng do sự biến đổi của kết cấu đất và của thành phần cơ giới đất, trong việc ứng dụng định luật Darcy cho

sự vận động của nước trong đất rừng để nghiên cứu định lượng và dự báo, sẽ dẫn đến những sai lệch tương đối lớn so với tình hình thực tế, vì rằng phạm vi sử dụng của định luật Darrey là dùng cho vận động của dòng chảy trong một tầng đất Vận động của dòng chảy ưu tiên của nước trong đất là vận động của dòng chảy rối loạn, mô tả nó về mặt lý luận có thể sử dụng phương trình Darcy - Weisbach để mô tả những nghiên cứu trước kia về dòng chảy ưu tiên chủ yếu là

Trang 12

sử dụng dòng chảy theo đường ống, dòng chảy theo đường ống là vận động của dòng chảy rối loạn của chất lỏng đi trong con đường vận động thông qua các lỗ hổng lớn hơn mao quản của cơ chất (Atkinson, 1978); nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy rõ, dù rằng trong đất cát (cơ chất) thuần nhất nhưng do sự không ổn định của mức độ đỉnh cao ẩm ướt, nên vẫn có thể dẫn đến vận động dòng chảy của nước trong đất theo chủ quan (Stagnitti and Parlange, 1995) Từ góc độ ảnh hưởng của rừng đối với tuần hoàn thủy văn mà xét, do trong hoàn cảnh của rừng có sự phân giải liên tục của thảm mục, hoạt động của rễ cây, hoạt động phong phú của động vật dẫn đến vận động của dòng chảy theo đường ống trong các lỗ hổng tương đối lớn, có một ý nghĩa vô cùng quan trọng về ảnh hưởng của rừng đối với sự hình thành dòng chảy lưu vực rừng và lượng nước sản sinh ra của lưu vực (Jones, 1997)

Dunne, 1978 đất rừng có hiệu suất thấm nước lớn hơn so với các loại hình

sử dụng đất đai khác, hiệu suất ổn định của nước thấm xuống trong đất rừng tốt

có thể lên tới 80 cm/h trở lên[]

Vai trò của rừng trong quá trình hình thành dòng chảy do nước mưa được thể hiện ở sự giữ nước của tán rừng Nghiên cứu của Fransơ 1963 về phân bố lượng nước rơi trong rừng thường xanh ở Brazilcho thấy rằng phần nước mưa lọt tán rừng chiếm 33% tổng lượng mưa Lượng nước giữ lại ở tán rừng (21%) bị mất đi do quá trình bốc hơi vật lý Phần lớn nước mưa tới được bề mặt đất là theo con đường chảy men thân cây(46%) Như vậy, lượng nước trực tiếp xuống đất rừng sau một trận mưa là rất lớn, như trong ví dụ nêu trên (Fransơ, 1963) có tới gần 80% lượng nước mưa tới được mặt đất Tuy vậy, nếu so với đất trống không có lớp thảm thực vật che phủ, vai trò ngăn nước mưa của tán rừng là rất đáng kể Quan trọng không kém, tán rừng còn làm giảm cường độ mưa (tốc độ nước đưa đến bề mặt đất), tạo điều kiện cho nước có thể thấm vào đất Nếu đất rừng có khả năng thấm nước cao thì sẽ giảm được lượng nước chảy bề mặt, giảm xói mòn

Năm 1937 Vuoski đã xây dựng công thức tính lượng nước thấm xuống :

W = P0 – (E0 + T + S)

Trang 13

W là lượng nước thấm xuống, P0 là lượng mưa trung bình năm tại khu vực nghiên cứu, E0 là lượng bốc hơi lấy từ trạm khí tượng, T là lượng bôc thoát hơi nước của thực vật, S là dòng chảy mặt đất

Một trong các cơ chế phát sinh dòng chảy mặt là do lượng nước rơi xuống

bề mặt đất vượt quá khả năng thấm nước của đất – được biết đến như cơ chế hình thành dòng chảy do “ vượt khả năng thấm”, hay “dòng chảy Horton” (Smith

và Goodrich, 2005) Như vậy, tính thấm nước của đất là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phân bố lượng nước rơi xuống mặt đất thành dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm, có liên quan đến sự vận chuyển vật chất, như là vật chất xói mòn, carbon hòa tan và các chất tan khác Tại một lưu vực canh tác nông nghiệp

ở Trung Quốc, Tang và cs 2008 ước tính 67% N và 83% P mất đi là do dòng chảy mặt Có thể thấy rằng nếu tính thấm của đất được cải thiện sẽ làm giảm đáng kể sự mất đi các chất dinh dưỡng của đất bởi vì so với dòng chảy mặt (chảy nhanh), nước chảy qua tầng đất diễn ra chậm hơn rất nhiều, hay thời gian lưu trú trong đất lâu hơn

1.2 Ở Việt Nam

Nghiên cứu đất rừng mang những đặc trưng rõ nét mà các nhà nghiên cứu đều quan tâm chú ý đó là mối quan hệ hữu cơ giữa đất và thảm thực vật rừng, tức ảnh hưởng của đất tới rừng và ngược lại ảnh hưởng của rừng tới đất Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới khí hậu nóng ẩm, bởi vậy sự phân bố của thực

vật vô cùng phong phú

Độ phì của đất đóng vai trò cực kỳ quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của các thảm thực vật rừng và cây trồng Ngược lại các thảm thực vật rừng khác nhau cũng có ảnh hưởng đến độ phì đất rất khác nhau

Vì vậy, duy trì và làm tăng độ phì đất là yếu tố then chốt để làm bền vững tài nguyên đất Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình (1970) về sự thay đổi các tính chất và độ phì đất qua các quá trình diễn thế thoái hóa và phục hồi của các thảm thực vật rừng ở miền Bắc Việt Nam cho thấy độ phì đất biến động rất lớn ứng với mỗi loại thảm thực vật Thảm thực vật đóng vai trò quan trọng nhất trong việc duy trì độ phì của đất [1]

Trang 14

Bùi Xuân Dũng 2016, tính thấm của đất là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ảnh khả năng giữ nước, hạn chế dòng chảy mặt và tiêu giảm sự hình thành đỉnh lũ Nhằm đánh giá đặc điểm thấm nước của đất, chúng tôi đã sử dụng ống vòng khuyên (loại đơn) thí nghiệm trên 7 loại hình sử dụng đất, gồm rừng trồng hôn loài (Thông - Keo, Bạch Đàn - Keo), rừng trồng thuần loài (Keo tai tượng, Keo lá tràm, Thông), trảng cỏ - cây bụi và đất không có thảm thực vật che phủ với 49 lần đo (7 lần/loại hình) vào nhiều thời điểm khác nhau Nghiên cứu

đã thu được những kết quả chính như sau:

1) Đặc điểm thấm nước của đất tại núi Luốt tuân theo quy luật đạt giá trị cao nhất ở thời gian đầu và suy giảm dần theo thời gian Tốc độ thấm ban đầu và

ổn định đều đạt giá trị cao nhất ở đất rừng keo lá tràm (tương ứng là 24,8 và 9,7

mm phút') và thấp nhất ở đất trống (8,9 và 1,1 mm phút) Thời gian đạt tốc độ thâm ổn định của rừng thường nhanh hơn đất trảng cỏ - cây bụi và nơi trong

2) Tốc độ thấm ban đầu (mm/ phút') của các loại hình sử dụng đất có xu hướng phụ thuộc vào độ ẩm của lớp đất mặt với mức độ quan hệ trung bình (I = 0,4) Tuy nhiên tốc độ thấm ban đầu lại không có quan hệ rõ ràng với dung trọng

và độ xốp Trái lại, tốc độ thấm ổn định (mm/ phút ) không phụ thuộc rõ ràng vào độ ẩm đất bề mặt, nhưng phụ thuộc vào dung trọng và độ xốp.[2]

Ngô Đình Quế (1985, 1987) nghiên cứu đặc điểm đất trồng rừng thông nhựa và ảnh hưởng của rừng thông đến độ phì đất cho thấy sau 8-10 năm trồng rừng thông nhựa bước đầu cho thấy tính chất hóa học đất có thay đổi nhưng không đều, khả năng tích lũy mùn của rừng thấp, độ chua của đất tăng đặc biệt

độ chua thủy phân Tương tự như vậy, một số tính chất vật lý của đất cũng có sự thay đổi, mặc dù không đáng kể Cụ thể là độ xốp đất ở độ sâu 0 - 20 cm dưới tán rừng thông tăng lên từ 2 – 4%, hàm lượng sét tầng mặt giảm trong khi tầng dưới lại tăng từ 5 - 10% so với nơi tràng cỏ hoặc sim, mua, cây bụi.[3]

Trần Kông Tấu, Ngô Văn Phụ và Hoàng Văn Huây (1986) đã dẫn quan điểm của Bayer (1937): Khả năng thấm nước của đất là khả năng thu nhận nước

từ bề mặt của nó, dẫn nước từ tầng này đến tầng khác khi chúng chưa bão hòa nước và cuối cùng thấm lọc qua một bề dày nhất định của tầng đất làm cho tầng

đó trở thành bão hòa nước Nước thấm vào đất theo những lỗ hổng trong đất,

Trang 15

đồng thời bị kéo về các phía do ảnh hưởng của năng lượng bề mặt của đất và do ảnh hưởng của hiện tượng mao quản Có hai quá trình thấm xảy ra là quá trình thấm ướt và quá trình thấm lọc Cường độ và đặc tính thấm nước của đất phụ thuộc vào thành phần cơ giới và thành phần hóa học, phụ thuộc vào cấu trúc, độ chặt, độ xốp, độ ẩm của đất []

Đất có cấu trúc, có nhiều đoàn lạp bền trong nước sẽ có tính thẩm tốt và chất lượng hơn Điều này thấy rất rõ ở những khu vực đất Bazan ở bắc Tây Nguyên cũng như nam Tây Nguyên, mặc dù sau những trận mưa lớn và kéo dài nhưng rất ít quan sát thấy phát sinh dòng chảy trên mặt đất mà chủ yếu được thấm xuống phía dưới theo phẫu diện đất

Khi xác định và nghiên cứu tính thấm của đất thấy rằng độ thấm của đất thay đổi một cách nhịp điệu và thường giảm theo thời gian; độ thấm của đất tự thay đổi rất nhanh, phụ thuộc vào trạng thái gồ ghề hay bằng phẳng của bề mặt thẩm hoặc trong đất có những hang hổng, những đường đi của giun đất và của động vật đất, những khe nứt nẻ,…

Nguyễn Minh Thanh, Dương Thanh Hải (2013), nghiên cứu một số tính chất lý hóa học cơ bản dưới 7 trạng thái thảm thực vật tại xã Vầy Nưa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình cho thấy: Các trạng thái thảm thực vật ảnh hưởng rất rõ đến tính chất lý hoá học của đất, nhất là độ pH, hàm lượng chất hữu cơ trong đất [4]

Nguyễn Minh Thanh, Lê Văn Cường (2017) trong nghiên cứu về tác động của một số trạng thái rừng trồng đến tính chất lí hóa học đất tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã cho thấy sau 5 năm đã có những tác động làm thay đổi tính chất của đất dưới tán rừng theo chiều hướng tang lên tùy theo từng trạng thái Rừng Keo tai tượng độ xốp thay đổi từ dạng đất chặt sang đất xốp trung bình, hàm lượng chất hữu cơ tổng số tang 1,04%, đạm dễ tiêu tăng 0,18 mg/100 g đất,

Ka li và lân dễ tiêu cũng tang từ 1,48 – 2,21 mg/100 g đất Trong khi rừng Thông nhựa đất vẫn ở dạng đất chặt, nhưng các chất dinh dưỡng cũng tăng nhưng thấp hơn: OM % tăng 0,43% (1,6 – 1,17%)….[5]

Trang 16

PHẦN 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

2.1 Mục tiêu

Xác định được tính chất vật lí và khả năng thấm nước của đất dưới tán

rừng Keo lai(Acacia hybrids)tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình, huyện Kỳ Sơn,

tỉnh Hòa Bình

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đất dưới tán rừng trồng Keo lai 3 tuổi và 7 tuổi tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Đặc điểm rừng trồng cây Keo lai 3 tuổi và 7 tuổi tại khu vực nghiên cứu

- Đặc điểm hình thái phẫu diện đất dưới rừng trồng Keo lai tuổi 3 và tuổi

7 tại khu vực nghiên cứu

- Tính chất vật lý và khả năng thấm nước của đất dưới rừng trồng Keo lai

3 tuổi và 7 tuổi tại khu vực nghiên cứu

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu ngoài hiện trường

2.4.1.1 Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu

- Thu thập, kế thừa có chọn lọc các tài liệu có liên quan đến khu vực đã được nghiên cứu và xác định trước đó

- Lịch sử rừng trồng và lịch sử canh tác đối với đất khu vực đó

2.4.1.2 Phương pháp điều tra hiện trường

Điều tra sơ thám toàn bộ khu vực nghiên cứu để nắm được một cách tổng quát tình hình chung của đối tượng nghiên cứu về địa hình, địa vật, đặc điểm tài nguyên rừng để chọn các vị trí lập OTC và có những định hướng cho công tác điều tra tỉ mỉ

Lập OTC có diện tích 1000m2 (25 x 40m) tại rừng trồng Keo lai tuổi 3 và tuổi 7

+ Phương pháp lập ô tiêu chuẩn: Sử dụng bản đồ, thước dây, địa bàn cầm tay để xác định vị trí ô tiêu chuẩn Ô tiêu chuẩn hình chữ nhật được lập theo định

Trang 17

lý pitago, chiều dài 25m song song với đường đồng mức, chiều còn lại vuông góc đường đồng mức

* Điều tra sinh trưởng của rừng trồng Keo lai:

+ Điều tra sinh trưởng của rừng 3 tuổi về các chỉ tiêu: mật độ, chiều cao vút ngọn, các biện pháp kỹ thuật chăm sóc

+ Điều tra sinh trưởng của rừng 7 tuổi về các chỉ tiêu: mật độ, chiều cao dưới cành, chiều cao vút ngọn, độ tàn che

* Điều tra cây bụi thảm tươi và thảm khô thảm mục:

+ Sử dụng ô dạng bản điều tra cây bụi, thảm tươi (2m x 5m), mỗi OTC lập

5 ô dạng bản Trong ô dạng bản xác định: Tên loài cây chủ yếu, chiều cao trung bình độ che phủ bình quân, tình hình sinh trưởng

+ Điều tra thảm khô thảm mục: trong mỗi ô tiêu chuẩn lập 5 ô dạng bản (1m x 1m) trong mỗi ô dạng bản tiến hành cân xác định trọng lượng vật rơi rụng sau đó tính trung bình trọng lượng của 5 ô

* Điều tra lấy mẫu đất:

Tại mỗi trạng thái rừng, đào và mô tả phẫu diện Các đặc điểm mô tả theo bảng mô tả phẫu diện của bộ môn Khoa học đất, Trường Đại học Lâm nghiệp

- Lấy mẫu phân tích: Tại mỗi ô nghiên cứu lấy mẫu đất để phân tích các chỉ tiêu lí học của đất ở độ sâu 0 – 20cm và 20 – 40cm để nghiên cứu

- Lấy mẫu dung trọng: Mẫu dung trọng được lấy bằng ống dung trọng ở 2 trạng thái rừng khác nhau ở mỗi trạng thái rừng lấy 10 mẫu đơn lẻ 5 mẫu đơn lẻ được lấy ở độ sâu 0 – 20cm, 5 mẫu đơn lẻ còn lại được lấy ở độ sâu 20 – 40cm tổng là 20 mẫu từ 2 trạng thái rừng

- Lấy mẫu thành phần cơ giới : Mẫu đơn lẻ được lấy với lượng bằng nhau,

ở cùng một cấp độ sâu và mỗi mẫu đất tổng hợp có khối lượng là 1kg Tầng mặt lấy ở 4 hướng : Đông, Tây, Nam , Bắc cách phẫn diện chính từ 8 – 10m Sau đó trộn lại để lấy mẫu, mẫu có khối lượng là 1kg

- Các mẫu đất phân tích được cho vào túi nilon riêng biệt có ghi kí hiệu mẫu để phân biệt rõ

- Xác định tính thấm của đất: Sử dụng ống vòng khuyên đơn: Tại mỗi OTC điều tra chọn một vị trí đại diện, tiến hành đặt ống vòng khuyên có đường

Trang 18

kính phía trong ống là 20cm, chiều cao ống là 25cm Ống được khắc vạch phía trong Đóng ống sâu xuống đất 5cm, thêm nước vào ống Theo dõi lượng nước tiêu hao, bấm và ghi lại mỗi lần nước mất đi 1cm trên vạch ống Với mỗi trạng thái rừng, tiến hành theo dõi 3 ngày liên tục vào thời điểm là buổi sáng 1 lần và buổi chiều 1 lần Vậy, tổng số lần theo dõi là 6 lần

2.4.2 Công tác nội nghiệp

2.4.2.1 Xử lý mẫu đất

- Xử lý mẫu: Các mẫu đất sau khi đem về được phơi khô trong điều kiện

tự nhiên, nhặt bỏ rễ cây, đá lẫn, kết von Sau đó, tiến hành giã nhỏ và rây qua rây có đường kính 1 mm

2.4.2.2 Phân tích đất tại phòng thí nghiệm bằng phương pháp truyền thống

* Phân tích mẫu: Sau khi mẫu đất được xử lý xong, tiến hành phân tích để xác định:

Bảng 2.1 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích

2.4.3 Xử lý số liệu và phân tích kết quả

Sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu và tổng hợp số liệu

Trang 19

PHẦN 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên của khu vực

3.1.1 Vị trí địa lý

Kỳ Sơn là một huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Hòa Bình với diện tích

là 210,76 km2, nằm ở vị trí 22°07’ – 26°00’ vĩ bắc, 105°48’– 106°25’ kinh đông Vị trí tiếp giáp như sau:

- Phía Đông, Đông Nam giáp huyện Kim Bôi, Lương Sơn

- Phía Tây và phía Nam giáp thành phố Hòa Bình

- Phía Bắc và Đông Bắc, Tây Bắc Kỳ Sơn giáp các huyện của tỉnh Phú Thọ, huyện Ba Vì và huyện Thạch Thất của thành phố Hà Nội

3.1.3 Khí hậu

Kỳ Sơn có khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông lạnh, khô và ít mưa, mùa

hè nóng và mưa nhiều với lượng mưa trung bình từ 1800 – 2200mm/ năm

- Tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 với 1700mm/ năm, tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 2 với lượng mưa 200mm/ năm

- Nhiệt độ trung bình năm 24° C nhiệt độ cao nhất là 39°C vào tháng 7, nhiệt độ thấp nhất là 5°C vào tháng 12 và tháng 1 năm sau

- Chế độ gió: Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của 3 loại gió chính như sau:

+ Gió Đông Nam xuất hiện vào mùa hè, đặc điểm gió này mang theo hơi

ẩm với cường độ mạnh

+ Gió Đông Bắc xuất hiện vào mùa đông, mỗi đợt kéo dài từ (3-5) ngày mang theo mưa phùn và giá rét

Trang 20

+ Gió Lào (Tây Nam) xuất hiện không thường xuyên thổi thành từng đợt mỗi đợt (3-5) ngày, mỗi năm có từ (2-3) đợt vào các tháng 5, 6, 7 có ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người và cây trồng

3.1.4 Thủy văn

Có nguồn tài nguyên nước dồi dào với 20 km sông Đà chảy qua thị trấn

Kỳ Sơn và các xã Dân Hạ, Hợp Thành, Hợp Thịnh, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

Trên địa bàn huyện còn có nhiều con suối lớn nhỏ có khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.Trước kia, do quá trình điều tiết dòng chảy, sông Đà thường gây ra lũ lụt làm hai bên bờ bị xói lở mạnh Đập nhà máy thủy điện Hòa Bình hoàn thành đã chủ động được trong việc điều tiết dòng chảy, hạn chế được lũ lụt và hạn hán

3.1.5 Địa chất và thổ nhưỡng

- Về địa chất: Do đặc điểm địa hình và khí hậu nên đất đai Hoà Bình chia thành hai khu vực rõ rệt: Vùng núi cao trung bình, gồm đất feralít vàng đỏ có hàm lượng mùn 6 - 7%; do độ ẩm cao, nhiệt độ thấp, vùng này rất thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp Địa chất và địa hình của khu vực phù hợp với trồng các loài cây lâm nghiệp như Keo, Bồ đề, Thông, Bạch đàn Vùng đồi và núi thấp, gồm đất feralít vàng đỏ và vùng cỏ thứ sinh.trong đó đất bạc màu chiếm 45 - 80% Vùng ven sông Đà và các suối khác hàng năm được bồi một lớp phù sa khá dày nên rất thuận lợi cho việc trồng lúa, trồng màu

- Thổ nhưỡng: Khu vực nghiên cứu có 3 nhóm đất chính sau

+ Nhóm đất Feralít phát triển trên đá trầm tích và đá biến chất có kết cấu hạt thô trên các loại đá mẹ chủ yếu: Sa thạch, Poocfirít, Spilit…

+ Nhóm đất phát triển trên đá trầm tích và đá biến chất kết cấu hạt mịn trên các loại đá mẹ: Phiến thạch sét, Diệp thạch…

+ Nhóm đất Feralít phát triển trên đá vôi và đá biến chất của đá vôi

3.2.Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội

3.2.1 Dân số

Huyện Kỳ Sơn có 31.542 người và có 149,0 người/ km2 Trên địa bàn tỉnh

có 6 dân tộc sinh sống , đông nhất là dân tộc Mường, kinh, thái, dao, tày, mông,

Trang 21

hoa sống rải rác ở các địa phương Đời sống kinh tế của người dân trong vùng chủ yếu dựa vào các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và chăn nuôi, một số ít

hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh dịch vụ thương mại

3.2.2 Kinh tế, xã hội

* Nông nghiệp:

Phương thức canh tác, sản xuất: đây là huyện miền núi có dân tộc Mường chiếm đa số Người Mường xét về phương diện văn hóa - xã hội là dân tộc gần gũi với người Kinh nhất Lúa nước là cây lương thực chủ yếu Trước đây, người Mường trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ và gạo nếp là lương thực ăn hàng ngày Người Kinh, sống ở khắp nơi trong tỉnh nhiều người Kinh từ khắp các tỉnh thành đến làm việc và sinh sống ở Hòa Bình Người Dao sống thành cộng đồng, làm nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, hệ thống sông ngòi và nguồn nước phong phú Sông Đà, sông Bôi và hệ thống Sông Bùi, cùng nhiều nhánh sông nhỏ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Với tổng diện tích nước mặt được sử dụng nuôi trồng thủy sản hàng năm mang lại nguồn thu đáng kể cho người dân

* Lâm nghiệp:

Là huyện vùng cao, Kỳ Sơn có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế rừng.Toàn huyện có 59 nghìn ha rừng, chiếm 28% diện tích tự nhiên với nhiều loại động-thực vật phong phú và quý hiếm Riêng về thực vật đã phát hiện được

12 họ gồm gần 150 loại cây có giá trị kinh tế cao Trong đó có nhiều loại gỗ quý như: đinh, lim, sến, táu, mật gội, nếp, lát mọc xen kẽ hoặc thành những quần thể diện tích rộng, trữ lượng gỗ lớn Ngoài ra, rừng còn cho nhiều loại nứa, mét, song, giang, đặc biệt là cây quế và cánh kiến Bên cạnh đó, các loại dược liệu quý mọc tự nhiên như: ngũ gia bì, sa nhân, đẳng sâm, thiên niên kiện, cùng một số cây đặc sản mọc tự nhiên ở Na Ngoi, Mường Típ, Tây Sơn, đã tạo nên giá trị to lớn của các loại lâm sản phi gỗ

Trang 22

* Cơ sở hạ tầng:

- Hệ thống điện lưới: Từ việc xây dựng thành công nông thôn mới đã cải

thiện điều kiện sống, sản xuất, đi lại, học tập, sinh hoạt của người dân nông thôn thuận lợi hơn, hiệu quả hơn Môi trường nông thôn được cải thiện đáng kể: Các nhu cầu về điện, nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân được đáp ứng tốt hơn, nhận thức của người dân được nâng cao, ý thức bảo vệ rừng ngày một tốt hơn Người dân chủ động tham gia vào các hoạt động sản xuất, ít phụ thuộc vào thiên nhiên do đó cũng giảm sức ép cho rừng, tình trạng chặt phá rừng, đốt

nương làm rãy cũng giảm thiểu đáng kể

- Giao thông:Trong những năm qua, huyện Kỳ Sơn đã nỗ lực huy động

mọi nguồn lực để củng cố mạng lưới giao thông trên địa bàn Thực hiện chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng với ngân sách của tỉnh, huyện, mỗi lao động trong huyện đã tự nguyện đóng góp 10 ngày công để gia cố và làm mới lại nhiều tuyến đường tới các xã, cụm và thôn bản Nhờ đó, trong những năm qua, 9 tuyến đường quan trọng đã được khai thông Năm 2003, 18/21 xã có

đường ôtô vào đến trung tâm xã

- Y tế : Trong những năm qua, Trung tâm Y tế huyện Kỳ Sơn đã từng

bước củng cố, hoàn thiện mạng lưới cơ sở vật chất, nâng cao chuyên môn nghiệp

vụ cán bộ và đội ngũ cán bộ y tế xã, phường để đáp ứng tốt nhất nhu cầu khám,

chữa bệnh cho nhân dân hiện nay đã đủ tiêu chuẩn tiêm phòng

Trang 23

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Khái quát đặc điểm rừng trồng tại khu vực nghiên cứu

Thực vật đóng vai trò quan trọng trong cải thiện tính chất của đất đặc biệt

là tính chất vật lý của đất như tăng độ thông thoáng khí cho đất, tăng khả năng thấm, giảm dòng chảy mặt, Qua đó bảo vệ được lớp đất mặt, giàu dinh dưỡng – nơi cung cấp dinh dưỡng cho thực vật sinh trưởng và phát triển

Qua quá trình điều tra, đề tài thu được số liệu khái quát đặc điểm rừng trồng Keo lai tại khu vực nghiên cứu như sau:

Bảng 4.1 Đặc điểm rừng trồng Keo lai tại khu vực nghiên cứu

(cây/ha)

Hvn (m)

Độ tàn che (%)

* Tầng cây cao:

- Mật độ: Có sự chênh lệch lớn giữa 2 trạng thái rừng; Rừng trồng Keo lai

3 tuổi mật độ là 1220 cây/ và Keo lai 7 tuổi là 440 cây/ha Nguyên nhân là do tuổi 7 đã tiến hành khai thác chọn từ khi rừng đạt tuổi 5, 6

- Các chỉ tiêu chiều cao vút ngọn và ĐTC của rừng trồng Keo lai cũng có kết quả tương tự: Chiều cao vút ngọn đạt 6,30m ở tuổi 3 và 10,74m ở tuổi 7; Đặc biệt có sự khác biệt lớn về độ tàn che của rừng; với tuổi 3 độ tàn che của rừng là 0,2 và đạt 0,7 ở rừng Keo lai 7 tuổi

* Cây bụi thảm tươi (CBTT) và thảm khô thảm mục (TKTM):

Cây bụi thảm tươi và lớp thảm khô, thảm mục có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ lớp đất mặt dưới động năng của hạt mưa, giảm thiểu xói mòn bề mặt đất, tham gia vào quá trình hình thành tiểu khí hậu, tiểu tuần hoàn nước, ; đồng thời

là nguồn trả lại chất hữu cơ quan trọng nhất của đất nhờ quá trình phân giải bởi hệ

vi sinh vật trong đất Kết quả xác định một số chỉ tiêu của CBTT và TKTM thu được tại bảng 4.2

Trang 24

Bảng 4.2.Cây bụi thảm tươi và thảm khô thảm mục tại khu vực nghiên cứu

Cây bụi thảm

thảm mục (kg/ha) Htb

(m)

ĐCP (%)

3 Cỏ voi, dương xỉ, chó đẻ, cỏ tranh, bọt

7 Cỏ tranh, dương xỉ, mạ xưa lá sẻ, cây

Như vậy, thành phần loài cây bụi dưới tán rừng trồng Keo lai tại khu vực gồm các loài chủ yếu như Cỏ tranh, dương xỉ, mạ xưa lá sẻ, đều sinh trưởng tốt với chiều cao trung bình từ 0,3 – 0,5m Độ che phủ của lớp CBTT có sự khác biệt ở rừng trồng tuổi 3 dao động từ 30 – 40% và tuổi 7 là 60 – 70%

Thảm khô thảm mục (vật rơi rụng) là nguồn dinh dưỡng mà cây trả lại cho đất và cũng là chất dinh dưỡng của cây sau này làm tăng hàm lượng mùn cho đất, giữ ẩm cho đất, tăng độ xốp đất,… Ở rừng Keo lai 3 tuổi là 12.600.000kg/ha và đạt 21.200.000kg/ha ở tuổi 7 tăng lên 8.600.000kg/ha

Từ số liệu thảm khô thảm mục và cây bụi thảm tươi cho thấy ở tuổi 3 cây bụi thảm tươi và thảm khô thảm mục còn thấp do chưa phát dọn thực bì, không

có vật rơi rụng của tầng cây cao, ở tuổi 7 thì cây rừng đã phát triển cành lá rụng nhiều, cây bụi thảm tươi trả lại cho đất nhiều chất hữu cơ, độ dày thảm khô thảm mục lớn

4.2 Hình thái phẫu diện đất tại khu vực nghiên cứu

Hình thái phẫu diện đất là một bức tranh phản ánh quá trình hình thành và phát triển của đất Đất luôn biến đổi dưới sự tác động của 6 yếu tố (Đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình, thời gian và con người) Thông qua phẫu diện đất ta có thể suy đoán được sự tác động của các yếu tố hình thành đất mạnh hay yếu, yếu

tố nào chủ đạo Đề tài tiến hành điều tra, mô tả phẫu diện đất dưới 2 trạng thái rừng trồng Keo lai tại khu vực như sau:

Trang 25

4.2.1 Hình thái phẫu diện đất rừng trồng Keo lai 3 tuổi

Số hiệu phẫu diện: HL01 Sơ đồ phẫu diện đất

- Địa điểm điều tra: Kỳ sơn, Hòa

+ Độ cao tuyệt đối: 120m

+ Độ cao tương đối: 25m

- Tầng B: từ 28 - 87cm có màu vàng: đất hơi ẩm, rễ cây rất ít, hạt viên lớn, đất hơi chặt, thịt nhẹ, có phân mối, tỷ lệ đá lẫn trung bình, có hang mối, chuyển lớp về màu sắc

- Tầng BC: từ 87 - 120cm có màu vàng nhạt: đất hơi ẩm, không có rễ cây, hạt lớn, đất chặt, thịt nhẹ, tỷ lệ đá lẫn rất nhiều, chuyển lớp về màu sắc

* Tên đất: Đất Feralit màu nâu vàng phát triển trên đá vôi thành phần cơ giới thịt nhẹ, tầng dày

Trang 26

4.2.2 Hình thái phẫu diện đất rừng trồng Keo lai 7 tuổi

Số hiệu phẫu diện: HL02 Sơ đồ phẫu diện đất

- Địa điểm điều tra: Kỳ sơn,

- Tầng B1: từ 17 - 37cm có nâu vàng: đất hơi ẩm, rễ cây không có, hạt viên lớn, đất chặt, thịt trung bình, tỷ lệ đá lẫn trung bình, chuyển lớp về màu sắc

- Tầng B2: từ 37 - 51cm có màu vàng nâu: đất khô, không có rễ cây, hạt lớn, đất chặt, thịt trung bình, tỷ lệ đá lẫn nhiều, chuyển lớp về màu sắc

- Tầng BC: từ 51 - 63cm có màu vàng nhạt , tỷ lệ đá lẫn rất nhiều

* Tên đất: Đất Feralit màu nâu vàng phát triển trên đá vôi thành phần cơ giới thịt trung bình, tầng mỏng

Ngày đăng: 02/06/2021, 22:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w