ĐẶT VẤN ĐỀ Cây thuốc là một nguồn tài nguyên thực vật được loài người sử dụng từ thời xa xưa, ngay từ thời nguyên thủy con người đã biết sử dụng cây cỏ để làm thuốc và làm rau ăn, cây th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG & MÔI TRƯỜNG
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG GÂY TRỒNG CÂY THUỐC TẠI BẢN NGƯỜI DÂN TỘC DAO TẠI THÔN HỢP SƠN, XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NGÀNH : QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ SỐ : 7620211
Giảng viên hướng dẫn : NGƯT.PGS.TS Trần Ngọc Hải
Họ và tên sinh : Lò Thị Diễm Quỳnh
Mã sinh viên : 1653020179
HÀ NỘI - 2020
Trang 2Để hiện thực hóa ý tưởng và hoàn thành được nghiên cứu là kết quả của
sự nỗ lực, cố gắng của bản thân và sự đóng góp hết sức quý báu của các Thầy giáo, Cô giáo, Ban lãnh đạo và người dân địa phương Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn Ths Nguyễn Đình Hải là người đã trực tiếp định hướng, giúp đỡ, khuyến khích chỉ dẫn cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp; toàn thể nhân dân, tập thể lãnh đạo UBND xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hoàn thành nghiên cứu này
Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô, các cơ quan chuyên môn, cùng toàn thể các bạn để đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Sinh viên thực hiện
Lò Thị Diễm Quỳnh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 7
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới 8
1.2 Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam 10
CHƯƠNG II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 18
2.1.1 Mục tiêu chung 18
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 18
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
2.3 Nội dung nghiên cứu 18
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4.1 Kế thừa số liệu 19
2.4.2 Chuẩn bị và điều tra sơ thám 19
2.4.3 Điều tra thành phần loài cây thuốc ở các hộ gia đình tại thôn Hợp Sơn 19
2.4.4 Tìm hiểu kỹ thuật gây trồng loài Tam thất gừng (Stahlianthus thorelii Gagnep) tại hộ gia đình 25
2.4.5 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 30
CHƯƠNG III ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 31
3.1 Điều kiện tự nhiên 31
3.1.2 Thổ nhưỡng 31
Trang 43.1.3 Khí hậu – thủy văn 31
3.1.4 Thảm thực vật 32
3.1.5 Hệ động vật 33
3.1.6 Hệ côn trùng 33
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
3.2.1 Về phân bố dân cư 34
3.2.2 Về thành phần dân tộc 34
3.2.3 Về phân cấp hộ theo khu vực 34
3.2.4 Về phân bố lao động 35
3.2.5 Về phân bố diện tích đất 35
3.2.6 Trang phục truyền thống và các lễ hội 35
3.3 Đánh giá chung tiềm năng của xã 35
3.3.1 Khó khăn 35
3.3.2 Thuận lợi 36
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Thành phần loài cây thuốc trồng tại các hộ gia đình thôn Hợp Sơn 37
4.2 Điều tra kỹ thuật gây trồng loài Tam thất gừng (Stahlianthus thorelii Gagnep) tại hộ gia đình 42
4.2.1 Đặc điểm sinh vật học của loài Tam thất gừng 42
4.2.2 Đặc điểm vật hậu 44
4.2.3 Kỹ thuật nhân giống vô tính cây Tam thất gừng (bằng củ và cắt đoạn củ) 45
4.3 Thu hái, sơ chế, thị trường tiêu thụ các loài thuốc nam tại thôn Hợp Sơn 51
4.3.1 Tình hình thu hái các loài thuốc nam tại thôn Hợp Sơn 51
4.3.2 Thị trường tiêu thụ các loài thuốc nam 52
4.3.3 Tình hình sơ chế, chế biến và bảo quản các loài cây thuốc 55
4.4 Đề xuất giải pháp phát triển bền vững các loài cây thuốc tại thôn Hợp Sơn 57
Trang 54.4.1 Đánh giá thực trạng các loài cây thuốc tại thôn Hợp Sơn 57 4.4.2 Đề xuất giải pháp phát triển bền vững cây thuốc nam cho thôn Hợp Sơn 58 KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bàng 2.1 Tổng hợp kết quả phỏng vấn 23 Bảng 2.2 Thống kê loài cây thuốc trồng trong vườn hộ gia đình tại thôn Hợp Sơn, xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 24 Bảng 2.3 Tổng hợp các kinh nghiệm gây trồng các loài cây thuốc 24 Mẫu biểu 2.3 Danh lục cây thuốc thôn Hợp Sơn, Ba Vì, Ba Vì, Hà Nội 24 Bảng 4.1 Số lượng họ, chi, loài cây thuốc được trồng tại các hộ gia đình thôn Hợp Sơn 37 Bảng 4.2 Tỷ lệ % 8 họ cây thuốc có số loài lớn nhất tại thôn Hợp Sơn 38 Bảng 4.3 Tổng hợp các dạng sống của các loài cây thuốc tại thôn Hợp Sơn39 Bảng 4.4 Nhóm công dụng các loài cây thuốc tại thôn Hợp Sơn 41 Bảng 4.5 Các loài cây thuốc quý hiếm trồng tại thôn Hợp Sơn 41 Bảng 4.6 Kênh thị trường tiêu thụ sản phẩm của các loài cây thuốc 54 Bảng 4.7 Tổng hợp thông tin về thu hái, sơ chế cây thuốc tại thôn Hợp Sơn 56 Bảng 4.8 Giá một số loài cây thuốc thương lái mua tại địa phương 57
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Hình thái, đặc điểm loài Tam thất gừng 43
Hình 4.2: Hình thái phiến lá Tam thất gừng 44
Hình 4.3: Hoa của loài Tam thất gừng 45
Hình 4.4 Giá bảo quản thuốc của người dân tại thôn Hợp Sơn 57
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây thuốc là một nguồn tài nguyên thực vật được loài người sử dụng từ thời xa xưa, ngay từ thời nguyên thủy con người đã biết sử dụng cây cỏ để làm thuốc và làm rau ăn, cây thuốc giữ vị trí cực kỳ quan trọng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, là khu vực có tính đa dạng rất cao đặc biệt là sự đa dạng về thành phần loài thuốc Thống kê hiện nay, nước ta có khoảng trên 4000 loài cây được sử dụng làm thuốc Tuy nhiên
sự phân bố, tình hình sinh trưởng và phát triển các loài cây thuốc ở mỗi khu vực là khác nhau và kinh nghiệm sử dụng chúng ở mỗi khu vực, mỗi cộng đồng dân tộc là khác nhau
Ngày này, cùng với sự phát triển kinh tế thị trường, nhu cầu đời sống nâng cao, việc khai thác cây thuốc đã trở thành hoạt động kinh tế của mỗi nhân loại nói chung và đồng bào dân tộc miền núi nói riêng Trong những năm qua, nhiều loại cây thuốc quý đã bị khai thác thường xuyên với khối lượng lớn, nhiều loài đã trở nên quý hiếm hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên
Thôn Hợp Sơn xã Ba Vì thuộc vùng đệm của VQG Ba Vì có cộng đồng người Dao sinh sống đời sống của người dân còn nhiều khó khăn do quỹ đất sản xuất hẹp và làm thế nào các gia đình người dân tộc Dao ở đây tồn tại và phát triển ổn định đời sống, phát huy được kiến thức, kinh nghiệm về nghề thuốc cổ truyền trong giai đoạn hiện nay? Để làm rõ vấn đề trên, tôi triển khai
đề tài nghiên cứu “ Thực trạng gây trồng cây thuốc tại bản người dân tộc
Dao tại thôn Hợp Sơn, xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội" Nghiên
cứu sẽ tập trung vào đánh giá thực trạng gây trồng các loài cây thuốc ở vườn
hộ, tình hình chế biến và kênh tiêu thụ các sản phẩm từ thảo dược tại địa phương, kỹ thuât trồng một số cây thuốc ở địa phương làm cơ sở để đề xuất nhằm phát triển nghề thuốc của cộng đồng người Dao ở vùng đệm VQG Ba
Vì
Trang 9CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới
Từ khi con người xuất hiện, đối tượng đầu tiên của họ là cây cỏ, con người đã sử dụng các cây cỏ để phục vụ cho cuộc sống của mình như làm thức ăn, nhà ở,… đặc biệt là làm thuốc chữa bệnh Vì vậy, họ đã có nhiều kinh nghiệm về cây cỏ làm thuốc Tuy nhiên sự hiểu biết về các cây thuốc và bài thuốc dân gian còn tùy thuộc vào mức độ phát triển của quốc gia đó
Lịch sử nền y học Trung Quốc, Ấn Độ đều ghi nhận về việc sử dụng các cây cỏ làm thuốc cách đây 3000 – 5000 năm [20] là những cái nôi của nền
y học nhân loại Từ thế kỷ 11, người Trung Quốc đã biết dùng nước chè để
rửa vết thương và tắm ghẻ, dùng rễ cây Cốt khí củ (Polygonum cuspidatum) dùng kết hợp với rễ và vỏ cây Táo tầu (Zizypus vulgaris) chữa vết thương mau lành, dùng các loại Nhân sâm (Chi Panax) để khôi phục ngũ quan, trấn
tĩnh tinh thần., để chế ngự cảm xúc, chặn đứng kích động, giảm trừ lo âu, sáng mắt, khai sáng trí tuệ, gia tăng sức thông thái được sử dụng từ lâu ở Trung Quốc[17][24]
Ở các nước Nga, Đức Trung Quốc đã dùng cây Mã đề sắc nước hoặc giã tươi đắp chữa trị vết thương, viêm tiết niệu, sỏi thân Đã từ lâu người Cu
Ba dùng bột papain lấy từ cây đu đủ để kích thích hạt ở các vết thương phát triển Y học Bungary đã coi hoa hồng là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta dùng hoa, lá, rễ làm tan huyết và chữa phù thũng Ngày nay, khoa học đã chứng minh được trong hoa hồng có chứa một lượng tanin, glucosit, tinh dầu đáng kể.[20] Tinh dầu này không chỉ để điều chế nước hoa mà còn được dùng chữa bệnh
Ở Bắc Mỹ từ những thế kỷ trước, thổ dân da đỏ đã biết dùng củ cây để chữa bệnh nhiễm khuẩn và thuốc chế từ cây có chữa trị vết thương mưng mủ
và vết rắn cắn Sau này Stoll và cộng sự đã tách được một glucosit còn gọi là Echiacoit, kiềm chế được tụ cầu gây hại
Trang 10Ở vùng Đông Nam Á, người Malaysia dùng cây húng chanh lấy lá sắc cho phụ nữ sau sinh uống hoặc giã nhỏ vắt lấy nước cho trẻ nhỏ uống trị sổ mũi, đau họng, ho gà,…Cây Hương nhu tia trị đau bụng, sốt rét, nước lá tươi trị long đờm hoặc lá giã lát đắp trị bệnh ngoài da, khớp
Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu và ghi nhận nhiều cây thuốc của y học cổ truyền đã kiểm chứng thành cuốn “Medicinal plans of East and Sontheast Asia, 1985” giới thiệu cây thuốc vùng Đông Nam Á Trong đó ghi nhận người Campuchia dùng củ khoai sáp chữa ghẻ, ngứa, người dân Lào ngâm vỏ cây Đại trộn với dầu dừa bôi ngoài da trị viêm khớp [25]
Từ những kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây và các sản phẩm chiết từ cây cỏ chữa trị và đúc rút những cuốn sách có giá trị Từ thời nhà Hán (168tr CN) của Trung Quốc trong cuốn “Thù hận bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa các bệnh từ các loài cây cỏ Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trần đã thống kê được 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục” [13]
Gần đây theo thống kê của Tổ chức Y học thế giới (WHO) thì đến năm
1985 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài đã biết) được
sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để làm thuốc Trong đó Ấn Độ
có khoảng 6.000 loài , Trung Quốc có 5.000 loài.[25] Cây thuốc là loại cây cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và thuốc hiện đại trong việc bảo vệ sức khỏe con người
Năm 1988, Hội thảo Quốc tế về bảo tồn cây thuốc đã được tổ chức tại Chiang Mai (Thái Lan) với sự tham gia của nhiều chuyên gia đến từ 16 quốc gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế giới Hội thảo đưa ra văn bản kết luận đánh giá cao tầm quan trọng của cây thuốc trong chăm sóc sức khỏe, giá trị kinh tế và tiềm năng của cây cỏ đối với việc tìm ra thuốc mới Đông thời báo động về mất tính đa dạng sinh vật cây cỏ và các nền văn hóa trên thế giới
đã ảnh hưởng đến việc tìm kiếm thuốc mới mang lại lợi ích toàn cầu Tuyên
Trang 11bố Chiang Mai cũng chỉ ra sự cấp thiết cần hợp tác ở mức độ toàn cầu để thiết lập các chương trình bảo tồn cây thuốc
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên cây thuốc đang bị đe dọa nghiêm trọng do thảm thực vật bị tàn phá, bị khai thác quá mức và bị sử dụng lãng phí Tri thức
sử dụng cây thuốc bị mai một do không được tư liệu hóa, thế hệ trẻ ở nhiều cộng đồng ít quan tâm đến học tập kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc của thế hệ trước Đặc biệt, ở các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới là nơi có mức
độ đa dạng sinh học cao của thế giới những lại bị tàn phá nhiều nhất Theo số liệu của tổ chức FAO của Liên hợp quốc, trong vòng 40 năm (1940 – 1980), diện tích của các loại rừng kể trên đã bị thu hẹp tới 44% ước tính khoảng 75.000 ha rừng bị phá hủy Ngày nay trong xu thế phát triển toàn cầu, các ngành công nghiệp được phát triển mạnh mẽ dãn tới môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng Đời sống kinh tế xã hội ngày càng cao do vậy việc sử dụng cây thuốc phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe ngày một nhiều Điều đó dẫn tới việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc không theo kịp so với nhu cầu phát triển, mà nó đã đem lại lợi nhuận cho ngành công nghiệp dược
vô cùng lớn
Tiềm năng chữa bệnh của nhiều loài thảo dược đang ngày càng được khám phá, vì thế vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn cây thuốc nói riêng đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia nhằm phục
vụ cho mục đích chăm ssoc và bảo vệ sức khỏe của con người
1.2 Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam
Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng
Trong số các loài thực vật hiện có ở Việt Nam (khoảng 12.000 loài) có rất nhiều loài đã và đang có triển vọng được sử dụng làm thuốc… nếu như tính đến năm 1952 nhà thực vật Pháp công bố trên toàn Đông Dương có 1.350 loài cây thuốc thuộc 160 họ thực vật khác nhau thì năm 1996, Võ Văn Chi đã công bố hệ thực vật làm thuốc có 3.200 loài Đến năm 2005 theo số liệu của
Trang 12Viện Dược liệu, hệ thực vật Việt Nam có 3.948 loài thuộc 307 họ của 9 ngành của nhóm thực vật bậc cao, thực vật bậc thấp và nấm và theo số liệu mới nhất năm 2012, Võ Văn Chi đã công bố trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” với gần 4.700 loài làm thuốc Số lượng cây thuốc mà ta biết được đã tăng rất đáng kể
Qua các thời kỳ lịch sử phát triển của đất nước đều có các Lương y nổi tiếng được lưu truyền ngàn năm Ngay từ thời vua Hùng Vương dựng nước (2900 năm TCN) qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại
ký, Lĩnh nam chích quái liệt truyện, Long uy bí thư…) và qua các truyền thuyết, tổ tiên ta đã biết sử dụng cây cỏ làm gia vị kích thích làm ngon miệng
và thuốc chữa bệnh.[10][11][12] Theo Long úy chép lại, vào đầu thế kỷ II (TCN) có hàng trăm vị thuốc từ đất Giao chỉ như: Ý dĩ, Hoắc hương
(Pogosteo cablin (Blanco) Benth…),… được người Tàu đưa về nước để giới
thiệu sử dụng [13]
Đời nhà Trần (1225 - 1399), có sự kiện Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn xây dựng một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sỹ, tên núi đó gọi là “Sơn Dược” nay còn là di tích tại một quả đồi thuộc xã Hưng Đạo (Chí Linh - Hải Hưng) Chu Tiên biên soạn cuốn sách
“Bản thảo cương mục toàn y” đây là cuốn sách thuốc đầu tiên xuất bản năm
1429 [13]
Hai danh y nổi tiếng cùng thời đó là Phạm Công Bân (thế kỷ XII) và Tuệ Tĩnh - người thầy thuốc nổi tiếng tên thực là Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỷ XIV) Tuệ Tĩnh biên soạn bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật và 3932 phương thuốc để trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâm sàng Trong cuốn “Hồng Nghĩa Giác tư Ý thư” tóm tắt công dụng của 130 loài cây thuốc cũng 13 phương gia giảm và cách trị cho 37 chứng sốt Trong “Nam được thần hiệu” có ghi: Tô
mộc (Caesalpinia sappan) vị mặn, tính bình không độc, trừ huyết xấu, trị đau bụng, thương phong, sưng lở; Thanh hao (Artemisia apiacea) chữa chứng sốt
Trang 13lị [25] Sử quân tử (Quisqualis indica) có vị ngọt, tính ôn không độc và hai
kinh tỷ vả vị, chữa 5 chứng cảm trẻ em, tiểu tiện, sát khuẩn, chữa tả lị, còn làm thuốc mạnh tì vị, chữa hết thảy các chủng lở ngứa của trẻ em Sầu đâu
rừng (Brucea javanica) vị đắng , tính hàn, có độc, sát trùng, trị đau ruột non, nhiệt trong bàng quang, điên cuồng ghẻ lở Cây lá móng (Lawsonia inermis)
chữa hắc lào, lở loét ngoài da, tê mỏi, viêm đường hô hấp, gan… Bạc hà
(Mentha arvelisis) chữa sốt nhức đầu… [27] Tuệ Tĩnh được coi là danh y kỷ
tài trong lịch sử y học nước ta, là “Vị thánh thuốc nam” Ông chủ trương lấy
“Nam dược trị nam nhân” Trong bộ sách quý của ông về sau bị quân minh thu hết chỉ còn lại: “Nam được thần hiệu”, “Tuệ Tĩnh y thư”, “Thập tam phương gia giảm”, “Thương hàn tam thập thất trùng phát” [27][13]
Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, đến năm 1969 tải bản thành hai tập, giới thiệu trên 500 vị thuốc có nguồn gốc từ thảo mộc , động vật và khoáng vật Ông tiếp tục nghiên cứu và
bổ sung về cây thuốc liên tục trong các lần tái bản về sau Lần tái bản lần thứ
11 (2003) ông mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hóa học 792 loài cây thuốc, chia tất cả các cây thuốc theo nhóm bệnh khác nhau.[20] Đây là bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn
Thực hiện chủ trương phát triển của y học dân tộc nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu và ra đời nhiều tài liệu quý như “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” (1980) của Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây thuốc trong đó có 150 loài mới phát hiện [2] Cũng trong thời gian này Viện Dược liệu xuất bản cuốn “Dược điển Việt Nam” (2 tập), các nhà khoa học đã tổng hợp các công trình trong những năm vừa qua Viện Dược liệu cùng với hệ thống trạm nghiên cứu trong cả nước đã điều tra ở 2795 xã, thuộc 351 huyện, thị xã của 47 tỉnh thành trong cả nước đã có những đóng góp đáng kể trong công tác điều tra sau tầm nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong y học cổ truyền dân gian Kết quả nghiên cứu trên được đúc kết từ 1961 - 1972 trong “Danh mục cây thuốc miền Bắc Việt Nam”, “Danh
Trang 14lục cây thuốc Miền nam Việt Nam”, tập “Atlas cây thuốc” đã công bố về danh sách cây thuốc ở miền Bắc là 114 loài, miền Nam là 1119 loài Tổng hợp trong cả nước đến năm 1985 là 1863 loại và dưới loài, phân bố trong 1033 chi,
236 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành [3][4] và mỗi loài đều giới thiệu công dụng
và cách sử dụng Năm 1997 trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam” Võ Văn Chi giới thiệu 3200 cây thuốc, mỗi cây được mô tả về hình thái, các bộ phận sử dụng, cách bào chế, các bài thuốc đi kèm cùng với số lượng ảnh màu lớn 768 ảnh [7] Võ Văn Chi còn công bố danh sách cây thuốc và bài thuốc cho nhiều địa phương như “Hệ cây thuốc của tỉnh Lâm Đồng” (1982), “Danh lục cây thuốc vùng núi huyện Ninh Sơn và vùng biển huyện Tuy Phong, tỉnh Thuận Hải” (1984), “Hệ cây thuốc Tây Nguyên” [7] “Cây thuốc An giang” [6],
“Cây thuốc Đồng Tháp Mười” [8]
Vương Thừa Ân cho ra đời cuốn “Thuốc quý quanh ta” vào năm 1995.[1] Cho đến chương trình tạo nguồn dược liệu của Viện dược liệu KV02 cho ra quyển “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” [28] Tác giả Trần Đình Lý và cộng sự cho xuất bản cuốn “1900 loài cây có ích ở Việt Nam” [21]
Nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam đa dạng, phong phú và là nguyên liệu cho công nghiệp dược, công tác chiết xuất hoạt chất tự nhiên được đẩy manh Chỉ tính trong vòng hơn chục năm lại đây có 701 loài cây thuốc được điều tra tính kháng khuẩn và một số loài cây thuốc chính thức
được đưa vào sản xuất thuốc đại trà như: Thanh hao (Artemisia antua L), Vằng đắng (Coscinium fenestratum (Gaertn) Colebr), Sừng dê (Strophanthus
divergeis A.Graham ), Ba gạc (Ravolvia verticilata (Luor) Baill) [20] [26]
[29] [5]
Theo công bố của Trần Ngọc Ninh (1994), Lê Trần Đức (1995), các nhà khoa học Việt Nam bước đầu chiết được hợp chất Taxol từ các loài Thông
đỏ (Taxus spp.) có tác dụng chống ung thư
Tác giả Trần Ngọc Hải, trong báo cáo về nguồn tài nguyên cây thuốc Hội tahro lâm nghiệp các nước ASEAN (2001) đã giới thiệu về thành phần
Trang 15cây thuốc ở Việt Nam và danh sách các loài cây thuốc quý hiếm có trong Sách
Đổ thực vật Việt Nam, đưa ra đề nghị các nước trong khu vực cần phối hợp nghiên cứu, bảo tồn nguồn tài nguyên quý giá này và kỹ thuật trồng một số loài cây thuốc nam dưới tán rừng, các hộ vườn nhà,… [14][15][16]
Hiện nay , ở nước ta cây cỏ dùng làm thuốc đã vượt quá 4.000 loài, khoảng 1.200 chi và trên 300 họ, trong đó phần lớn là thực vật có hoa với hơn 2.500 loài thuộc 1.050 chi [7] Mới đây nhất bộ “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” (2003) gồm 2 tập, của tập thể tác giả Viện Dược liệu đã giới thiệu 920 loài cây thuốc, 80 loài động vật làm thuốc và giới thiệu gần 1.000 bài thuốc chữa các bệnh thường gặp [4] Chính vì lợi ích đem lại như vậy nên cây thuốc bị khai thác quá mức Thật khó thống kê một cách đầy đủ khối lượng dược liệu tự nhiên được khai thác bởi lẽ hàng năm ngoài cơ sở sản xuất thuốc của nhà nước còn có các cơ sở sản xuất tư nhân
Như vậy không chỉ Việt Nam ta đã nhận thấy được tầm quan trọng của cây thuốc mà cả thế giới đều quan tâm, tìm hiểu vì vậy cần kế hoạch khai thác
sử dụng lâu dài và hợp lý
Tóm lại kinh nghiệm dùng các loài cây cỏ để chữa bệnh của đồng bào
ta là phong phú, đa dạng Đây là kết quả của một quá trình lâu dài từ thế kỷ này sang thế kỷ khác của cả dân tộc, thậm chí họ phải đổ cả máu để đúc kết thành những kinh nghiệm truyền thống Việc ứng dụng những kinh nghiệm dân gian và nghiên cứu Dân tộc thực vật học ở Việt Nam nói chung và đối với các đồng bào dân tộc Dao tại thôn Yên Sơn nói riêng là rất cần thiết để góp phần phát triển nền kinh tế của đồng bào dân tộc Để phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp cũng như góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn những kinh nghiệm phong phú và quý báu của đồng bào dân tộc, nhiệm vụ tiếp theo của chúng ta là kiểm kê, bổ sung và hệ thống hóa các cây thuốc của đồng bào dân tộc sử dụng một cách khoa học giúp cho việc lựa chọn nghiên cứu và phát triển chúng trong tương lai
Trang 161.3 Tình hình nghiên cứu cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao
Dân tộc Dao ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc Có lẽ, sự di cư của họ vào đất nước ta bắt đầu từ thế kỷ XIII cho đến những năm 40 của thế
kỷ XX Họ phân bố rải rác ở khắp nơi những chủ yếu là tại các vùng núi cao Người Dao còn có các tên gọi khác là Mán, Đông, Trại,… và một số dân tộc thiểu số trong 54 dân tộc Việt Nam Theo tổng điều tra dân số năm 2009, ở Việt Nam có 751.067 người Dao phân bố ở 61 tỉnh thành trong cả nước
Không biết từ bao đời nay, dù mùa đông hay mùa hè, theo truyền thống những thế hệ con cháu của đồng bào dân tộc Dao đều sử dụng những loài cây
cỏ khác nhau để đun nước tắm chữa bệnh, mỗi nhà đều tự nấu cho mình một nồi nước tắm mỗi ngày Thuốc tắm đã trở thành phương tiện chăm sóc sức khỏe không thể thay thế được những khi gia đình có người ốm đau, mệt mỏi Khi người mẹ sinh con, người chồng lại lên rừng hái lá thuốc nấu nước tắm cho vợ Người Dao cho rằng, sau khi sinh 3 ngày, chỉ cần phụ nữ Dao tắm lá thuốc mỗi ngày một lần trong ngày thì sẽ khỏe mạnh trở lại và phòng được các chứng bệnh yếu mỏi khi về già Bất kỳ khi nào làm việc nhiều, thấy cơ thể mệt mỏi, khi thời tiết thay đổi, nhức đầu, khàn cổ, đi đường xa, đau chân, đau tay,… đều tắm lá thuốc Đó là truyền thống từ rất lâu đời của dân tộc Dao Các cây thuốc tắm đã đi vào tiềm thức của người dân tộc Dao từ người già đến con trẻ Thuốc tắm giống như cái nhà, cả hai nhà đều không thể thiếu được trong cuộc sống người Dao Vì vậy mà có những người phụ nữ đã hơn
80 tuổi vẫn có thể đeo gủi lên núi hái lá thuốc Thuốc tắm là văn hóa dân tộc
và cũng là bản sắc riêng của mỗi gia đình, dòng họ trong cộng đồng dân tộc người Dao Bài thuốc tắm được sử dụng nhiều loài thảo dược
Thường một lần tắm ít cũng phải hơn 10 loại, còn nhiều phải hơn 120 loại thảo dược Tùy từng loại thảo dược mà cách chế biến khác nhau Có loại được phơi hoặc sao khô, có loại phải để tươi nguyên Những bài thuốc tắm của người dân tộc Dao, nhất là dân tộc Dao đỏ tại Sapa, đã được du khách trong và ngoài nước biết đến như một đặc sản dan tộc Chính vì vậy, để bảo
Trang 17tồn những bài thuốc quý này, đã có những tổ chức và cá nhân tham gia nhằm bảo tồn nguồn gen quý và những bài thuốc quý Được sự quan tâm của quỹ Môi trường toàn cầu (UNDP), UBND huyện Sa Pa cũng đang triển khai dự án “Khai thác, sử dụng tri thức truyền thống trong bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần phát triển du lịch Sa Pa”, trong đó chú trọng bảo tồn nguồn gen quý của các loài thảo dược, hướng dẫn kỹ thuật để bà con trông cây ngay trong vườn nhà
Trong những năm qua, Bộ Y tế đã cùng Viện Dược liệu kết hợp thực hiện các công trình nghiên cứu, điều tra, nhằm đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của các cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống trên khắp đất nước Trong đó, có các nghiên cứu về cây thuốc của dân tộc Dao như:
“Điều tra các nhóm cây có ích trong cộng đồng dân tộc Mường và Dao Tiền tại xã Chiềng Yên (Mộc Châu – Sơn La)” của các nhóm tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Thủy, Phạm Văn Thính, Trương Anh Thư, Bùi Văn Thanh, Hà Tuấn Anh (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) Kết quả thu được: cộng đồng người Mường đã khai thác và sử dụng 12 nhóm cây tài nguyên, nhóm cây thuốc là 198 loài Người Dao đã khai thác và sử dụng 12 nhóm cây tài nguyên, nhóm cây thuốc là 165 loài Kết quả “Nghiên cứu bảo tồn cây thuốc và y học dân tộc Dao, khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì” (Do bộ môn Thực vật rừng, Trường Đại học Dược, Hà Nội đảm nhiệm), thống kê được 501 loài cây, thuộc 307 chi, 114 họ thực vật được cộng đồng người Dao,
Ba Vì dùng làm thuốc, trong đó có 50 loài thường xuyên được sử dụng và có
4 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (Lá khôi, Củ dòm, Hoàng đằng, Gió đất),
“Nghiên cứu bảo tồn cây thuốc và y học dân tộc Dao và H’mông, huyện Sapa, Lào Cai” (Phòng Thực vật và dân tộc học, Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Trạm nghiên cứu cây thuốc Sapa, Viện Dược liệu chủ trì) Kết quả thu được: 451 loài thuộc 108 họ được cộng đồng dùng làm thuốc, trong đó có nhiều loài ghi trong sách của Đỗ Tất Lợi và Võ Văn Chi, nhiều loài thuộc loại quý hiếm, đặc hữu của nước ta, nhiều loài đã bị khai thác cạn kiệt, có nguy cơ tuyệt chủng “Điều tra, đánh giá về tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử
Trang 18dụng các loài thực vật làm thuốc của một số dân tộc (Dao, Tày, Hoa) tại Yên
Tử - Quảng Ninh” của Nguyễn Thị Phương Thảo và cộng sự (2001), kết qảu thu được 326 loài thực vật làm thuốc Nghiên cứu “Cây thuốc truyền thống của người Dao, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai” của tác giả Lứu Đàm Cư (2002), kết quả xác định được 312 loài cây thuốc
Bài báo “Kiểm kê cây thuốc của người Dao ở Vườn quốc gia Ba Vì” (2001) Trần Văn Ơn và đồng tác giả [23] thực hiện đã xác định được 476 loài cây thuốc được người Dao trong khu vực sử dụng làm thuốc, trong đó có 435 loài đã xác định tên khoa học thuộc 109 họ Như vậy, số lượng cây thuốc người Dao sử dụng ngày càng tăng lên trong quá trình điều tra
Trong Luận án tiến sĩ Dược học “Góp phần nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Vườn Quốc gia Ba Vì” (2001) Trần Văn Ơn [22] đã điều tra, thống kê, xác định được 503 loài cây thuốc thuộc 118 họ, trong đó có 428 loài đã xác định tên khoa học, 57 loài cây thuốc được bổ sung vào Danh mục cây thuốc của Việt Nam Các nghiên cứu trong các năm cho thấy, tài nguyên thuốc trong VQGBV không ngừng tăng về số lượng loài, chứng tỏ nguồn tài nguyên cây thuốc trong VQGBV rất phong phú và đa dạng về thành phần loài
Trong Khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc dạng sắc uống của người dân tại thôn Yên Sơn, xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” (2015) của tác giả Đỗ Thị Mai Hương [19] đã điều tra, thống kê xác định được 116 loài cây thuốc dạng sắc thuốc 52 họ Có 36 loài cây thuốc dạng sắc uống được người dân gây trồng nhiều trong vườn thuốc tại nhà thuộc thôn Yên Sơn gồn với thôn Hợp Sơn của xã Ba Vì
Như vậy các công trình nghiên cứu nhằm bảo tồn nguồn cây thuốc, bảo tồn và phát triển những tri thức dân gian của người dân tộc Dao đã đóng góp vào công tác bảo tồn nguồn dược liệu nước nhà, bảo tồn những bài thuốc hay
Tại thôn Hợp Sơn, xã Ba Vì hiện chưa có nghiên cứu nào đi sâu về thành phần, kinh nghiệm gây trồng các loài cây thuốc nam Vì vậy, cần thêm nhiều nghiên cứu ở đây
Trang 19CHƯƠNG II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Cung cấp cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc và nghề thuốc nam cho cộng đồng người Dao động ở vùng đệm VQG Ba Vì
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các loài thực vật được sử dụng làm thuốc tại bản người dân tộc Dao thôn Hợp Sơn, xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
- Phạm vi không gian: Được thực hiện tại thôn Hợp Sơn, xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian: Bắt đầu từ ngày 13 tháng 01 năm 2020 đến 31 tháng 05 năm 2020
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Thành phần các loài cây thuốc trồng ở các hộ gia đình tại thôn
- Tình hình sơ chế, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm thảo dược ở thôn
- Tìm hiểu kỹ thuật gây trồng loài Tam thất gừng (Stahlianthus thorelii
Gagnep) tại hộ gia đình
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc
Trang 202.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Kế thừa số liệu
Kế thừa những tư liệu về điều kiện tự nhiên: địa hình, khí hậu, thủy văn, đất đai, tài nguyên rừng; điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội: dân số, lao động, thành phần dân tộc
Kế thừa báo cáo về thực trạng tài nguyên rừng và công tác quản lý bảo vệ rừng của Ban quản lý rừng và cảnh quan môi trường xã Ba Vì, Ba Vì, Hà Nội trong các năm qua
2.4.2 Chuẩn bị và điều tra sơ thám
- Chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ (giấy quyết định làm khóa luận tốt nghiệp, giấy giới thiệu)
- Liên hệ trực tiếp với cán bộ cấp xã bảo cáo xin phép để được đến khu vực xã đi thực địa và xin số liệu về khu vực nghiên cứu
- Chuẩn bị phương tiện, câu hỏi phỏng vấn (mẫu biểu 2.1), biểu ghi chép điều tra tuyến (mẫu biểu 2.2), máy GPS, máy chụp ảnh, dao, thước 30cm,
đồ đựng mẫu vật, bản đồ hiện trạng rừng của khu vực nghiên cứu
- Khảo sát, làm quen với người dân trong khu vực để tìm hiểu về khả năng và tình hình sử dụng cây thuốc của người dân tại xã
- Tiến hành phỏng vấn người dân và cán bộ xã để tìm hiểu khu vực có nhiều cây thuốc và nhờ người dân được phỏng vấn dẫn đi nhận mặt cây, để thu mẫu và chụp ảnh
2.4.3 Điều tra thành phần loài cây thuốc ở các hộ gia đình tại thôn Hợp Sơn
2.4.3.1 Ngoại nghiệp
Phỏng vấn người dân, các hộ gia đình đại diện tại thôn Hợp Sơn (dự kiến là 10 hộ bằng các câu hỏi kết hợp với nhận mặt cây thuốc) Ghi đầy đủ các thông tin theo mẫu biểu 2.1, ghi đầy đủ tất cả các cây thuốc mà người dân được phỏng vấn liệt kê, đặc điểm của loài, dạng sống, bộ phận sử dụng làm thuốc và nhờ người dân bản đi khu vực có cây thuốc mà người dân liệt kê (tại
Trang 21vườn và khu vực xung quanh nhà), tiến hành nhận một cây và xác định tên loài, những loại nào chưa xác định được tên loài thì ghi tên địa phương, tiến hành thu mẫu và chụp ảnh về để giám định lại tên loài
- Tiến hành điều tra thực địa theo các tuyến đã được lập, bắt gặp loài cây thuốc nào đều thu mẫu và chụp ảnh lại (kể cả những loài nghi ngờ là có tác dụng làm thuốc cũng thu mẫu và chụp ảnh về giám định và tìm hiểu công dụng của loài đó)
- Tiến hành chụp ảnh và ghi lại những bất lợi tác động, ảnh hưởng xấu đến tài nguyên cây thuốc Tất cả các kết quả điều tra được ghi theo mẫu biểu 2.1
- Tiến hành phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình có tham gia vào việc khai thác, sử dụng và trồng cây thuốc thông qua câu hỏi định hướng
Mẫu biểu 2.1: Biểu điều tra phỏng vấn: khai thác, chế biến sử dụng cây thuốc
A ĐỐI TƯỢNG PHÒNG VẤN
Đối tượng phỏng vấn: Chủ hộ trồng, hộ chế biến, quản lý thôn, hội phụ
nữ, hợp tác xã, kiểm lâm địa bàn
BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN
Họ và tên:……….Tuổi:………
Giới tính:……… Dân tộc:………
Trình độ văn hoá:………Địa chỉ:………
Ngày điều tra:………
NỘI DUNG PHỎNG VẤN
* Thành phần cây thuốc ở hộ gia đình
1 Anh ( chị ) cho biết đã sử dụng loại cây cỏ nào làm thuốc tại địa phương?
2 Nơi phân bố của loài cây thuốc này?
3 Theo anh chị lấy bộ phận nào để làm thuốc? Chữa bệnh gì?
4 Đối tượng sử dụng cây thuốc là ai? Kết quả của người sử dụng như thế nào?
5 Tình hình khai thác và chế biến cây thuốc ra sao?
Trang 226 Hiện nay anh chị đã gây trồng loại thuốc nào và trồng như thế nào, sự phát triển của loài đó?
7 , Địa phương đã trao đổi, mua bán và sử dụng cây thuốc như thế nào?
8 Cách thức lưu truyền kinh nghiệm sử dụng cây thuốc:
Tên loài địa phương………
Số hiệu mẫu ……… Số hiệu ảnh………
Mẫu biểu 2.2: Biểu khảo sát điểm tại các vườn hộ
Hộ gia đình
Thôn, xóm
Ngày điều tra
Người điều tra
Trang 23lòai nào thường để sử dụng trong gia đình?
2 Hình thức bán thông qua đầu mối hay tự bán lẻ? Giá cả của mỗi loài
- Tiêu vực: Thu gom với số lượng lướn bán sang Trung Quốc
4 Buôn bán mạnh có kích thích gây trồng trong địa phương không?
Cơ chế, chính sách của địa phương với loài cây thuốc: Quỹ khuyến nông khuyến lâm, cơ chế cây trồng địa phương, dự án về cây thuốc tại địa phương
* Chê biến và bảo quản:
1 Sau khi cây thuốc được thu hái về ông (bà) có chế biến như thế nào?
2 Cây thuốc đó dùng tươi hay khô?
3 Sau khi chế biến ông (bà) bảo quản cây thuốc đó như thế nào?
* Kinh nghiệm chữa bệnh bằng cây thuốc:
1 Đối với các loài cây thuốc được sử dụng tai địa phương thì thường chữa được những bệnh phổ biến nào?
2 Thành phần bài thuốc gồm những vị nào? Khối lượng mỗi vị?
3 Cách sử dụng như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất?
4 Những lưu ý gì trong quá trình dùng thuốc?
* Kinh nghiệm gây trồng các loài cây thuốc:
1 Ông (bà) lấy giống những loài cây thuốc này ở đâu?
2 Thời điểm nào lấy giống gây trồng đạt hiệu quả cao nhất?
3 Tiêu chuẩn chọn giống để có được những giống cây tốt nhất?
4 Cách thức gây trồng loài đó như thế nào?
5 Chế độ chăm sóc loài cây gây trồng như thế nào?
Thông tin cơ bản về việc gây trồng các loài cây thuốc: Các hoạt động
Trang 24gây trồng cũng mang tính mùa vụ nên đây sẽ là công cụ quan trọng nhằm xác định kinh nghiệm của người dân trong việc lựa chọn thời vụ gây trồng các loài cây thuốc đó Cụ thể là thông qua thảo luận với người dân chúng ta tìm ra những kiến thức, kinh nghiệm của họ về các yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động gây trồng theo mùa vụ
2.4.3.2 Nội nghiệp
Phương pháp xác định tên loài: Giám định toàn bộ mẫu và ảnh đã thu được khi điều tra thực địa và phỏng vấn Mẫu được xác định chủ yếu dựa vào đặc điểm hình thái so sánh theo khóa định loại của Phạm Hoàng Hộ và tham khảo một số tài liệu: Cây cỏ Việt Nam ( Phạm Hoàng Hộ 1999 - 2003); Thực vật chí Việt Nam (Flora of Vietnam), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Từ điển cây thuốc Việt Nam, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập 1,2,3), trang web: IPNJ, Theplantlist, CFH, Plantphoto
Phương pháp xây dựng danh lục: Lập danh lục cây thuốc tại khu vực nghiên cứu, dựa trên các kết quả giám định các mẫu vật thu được của các đợt điều tra trên tuyến và phỏng vấn người dân Xây dựng danh lục các taxon được sắp xếp theo cách sắp xếp của R.K.Brummitt (1992)
Bàng 2.1 Tổng hợp kết quả phỏng vấn STT Tên loài Tên địa
phương
Công dụng
Nơi mọc
Bộ phận dùng
Ra hoa, quả
Ghi chú
Trang 25Bảng 2.2 Thống kê loài cây thuốc trồng trong vườn hộ gia đình
tại thôn Hợp Sơn, xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
TT Tên
phổ
thông
Tên địa phương Dạng sống
Hvn Tần
số bắt gặp
Số hiệu mẫu
Số hiệu ảnh
Sinh cảnh nơi trồng
Công dụng
BPSD
Bảng 2.3 Tổng hợp các kinh nghiệm gây trồng các loài cây thuốc
STT Tên cây Đất trồng Mùa trồng
Cách trồng, chăm sóc
Tên khoa học
sống
Môi trường sống
Bộ phận
sử dụng
Cách dùng
Công dụng
Phương pháp đánh giá:
Đánh giá mức độ đa dạng về thành phần loài, phân bố, dạng sống và bộ phận sử dụng làm thuốc của các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu dựa trên Danh lục cây thuốc đã điều tra được và tài liệu
Trang 262.4.4 Tìm hiểu kỹ thuật gây trồng loài Tam thất gừng (Stahlianthus thorelii Gagnep) tại hộ gia đình
* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của nghiên cứu như sau:
- Sử dụng công cụ phỏng vấn trong bộ công cụ của PRA (Đánh giá nông thôn có người dân tham gia) Đối tượng phỏng vấn:
+ Các hộ trồng cây Tam thất gừng trên địa bàn xã (vì số hộ trồng chưa nhiều nên tiến hành phỏng vấn hết những hộ trồng loài cây này)
+ Phỏng vấn người dân và các cán bộ liên quan (Cán bộ Kiểm lâm, phòng NN và PTNT, cán bộ xã, nhân dân địa phương, người thu mua,…) Xác định đối tượng và đưa ra câu hỏi phỏng vấn Điều tra tình hình gây trồng, sinh trưởng của loài Tam thất gừng tại địa phương
- Áp dụng điều tra theo phương pháp phỏng vấn hộ nông dân theo nội dung câu hỏi đã chuẩn bị trước và phỏng vấn linh hoạt theo các nội dung khác
để thu thập thông tin Lập câu hỏi phỏng vắn với nội dung phỏng vấn:
+ Tìm hiểu các thông tin về lao động, vốn, kỹ thuật và việc sử dụng các yếu tố trên vào quá trình gây trồng cây Tam thất gừng cũng như tình hình trồng và sinh trưởng của loài Tam thất gừng này
+ Tình hình khai thác và sử dụng loại Tam thất gừng tại địa phương + Mức độ được trang bị kiến thức của người dần về kỹ thuật trồng, tạo giống, chăm sóc, chế biến, bảo quản sản phẩm của lời tại khu vực nghiên cứu
+ Thị trường tiêu thụ các sản phẩm của loài tại khu vực
+ Tìm hiểu tình hình sản xuất , buôn bán và tiêu thụ sản phẩm cây Tam thất gừng của hộ dân về số lượng , chất lượng , giá bán , hình thức tiêu thụ của hộ Những giải pháp mà hộ thực hiện để phát triển sản xuất
+ Những mong muốn, đề xuất của hộ, những kinh nghiệm chia sẻ… Thảo luận về hướng giải pháp bảo tồn và phát triển loài Tam thất tại địa phương Bảng câu hỏi phỏng vấn được tiến hành lập, ghi tại mẫu biểu 2.4
Trang 27Mẫu biểu 2.4: Mẫu biểu câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình
chồi non của
loài này vào dịp
nào trong năm?
Ông bà có nghe nói về việc trồng loài Tam thất gừng tại địa phương chưa? Như thế nào?
Vì sao
Theo gia đình thì loài cây Tam thất gừng được trồng tại xã/huyện mình lâu chưa? Năm bao nhiều?
Thưa ông/bà trong thôn mình có tất cả bao nhiêu hộ gia đình có trồng các loài cây thuốc này?
Gia đình có tham gia trồng loài cây Tam thất gừng không? Với số lượng có nhiều không, bao nhiêu ha?
Ông/bà thường trồng loài Tam thất này vào tháng mấy trong năm? Tại sao
Mùa ra hoa, quả chín vào tháng nào?
Theo đánh giá của ông bà thì loài Tam thất gừng được gây trồng trong vườn của gia đình
Trang 28có sinh trưởng tốt không? Khả năng sống và tăng trưởng thế nào?
Ông/bà thường lấy giống ở đâu? Nguồn giống
có đủ không? Giá thành như thế nào?
Trong quá trình trồng ông/bà có gặp những khó khăn gì không?
Những năm gần đây thì việc trồng loài này tăng hay giảm?
Hình thái củ của chúng như thế nào?
Với việc trồng Tam thất gừng từ năm đó thì đã cho thu hoạch chưa? Loài sản phẩm thu hoạch
là gì? (củ, hoa,…) Cách khai thác, bộ phận khai thác và mùa vụ khai thác như thế nào? Mùa khai thác củ để bán, dùng vào dịp nào, tháng nào trong năm? Gia đình khai thác loài Tam thất gừng ở dạng nào? Còn tươi hay đã qua chế biến?
Cách sơ chế, bảo quản sản phẩm ra sao?
Trang 29Trong việc khai thác, sơ chế có gặp khó khăn
gì không? Nguyên nhân là gì?
Ông/bà có thể cho biết về hình thức trồng? Bộ phận trồng?
Theo ông/bà thì loài này trồng có phù hợp với khí hậu, đất đai tại địa phương không?
Thưa ông/bà thì loài này được trồng bao lâu thì được thu hoạch?
Thưa ông/bà thường thu hái bộ phận nào của cây thuốc? Kỹ thuật như thế nào cho đúng?
Trước đây củ thường to hay dài từng nào?
Sau khi thu hoạch ông/bà đã chế biến, bảo quản cây, sản phẩm của loài như thế nào?
Trang 30Mẫu biểu 2.5: Thống kê diện tích trồng Tam thất gừng trong thôn Tổng số hộ trong
thôn
Số hộ tham gia trồng
% hộ trồng Diện tích
Trang 31Mẫu biểu 2.6: Diễn biến diện tích trồng loài Tam thất gừng qua các năm
Tổng
Thông tin cơ bản về việc gây trồng loài Tam thất gừng: các hoạt động gây trồng cũng mang tính chất mùa vụ nên phỏng vấn sẽ là công cụ quan trọng nhằm xác định kinh nghiệm của người dân trong việc lựa chọn thời vụ gây trồng loài Cụ thể là thông qua thảo luận với người dân chúng ta tìm ra những kiến thức, kinh nghiệm của người dân về các yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động gây trồng theo mùa vụ
2.4.5 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp bảo tồn cây thuốc tại khu vực nghiên cứu dựa trên các kết quả thu được từ nghiên cứu và tuân thủ theo quy định của pháp luật, các quy trình quy phạm của nhà nước của ngành và tham khảo các tài liệu về bảo tồn tài nguyên thực vật và cây thuốc
Dựa vào những khó khăn và thuận lợi, cơ hội và thách thức tại khu vực nghiên cứu
Dựa vào tình hình khai thác chế biến, phương thức gây trồng, sử dụng
và buôn bán cây thuốc
Dựa vào những tác động bất lợi, ảnh hưởng đến tài nguyên cây thuốc theo kết quả điều tra theo các tuyến
Trang 32CHƯƠNG III ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
- Phía Tây giáp xã Minh Quang
- Phía Nam giáp xã Nam Thượng
Xã có diện tích tự nhiên là 2538,01 ha; có đường Quốc lộ 8 chạy qua thông với Quốc lộ 32 và Quốc lộ 21A nên rất thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa với các vùng lân cận
Xã Ba Vì có địa hình đồng nhất, độ dốc lớn, độ cao trung bình so với mực nước biển là 75m Vùng núi gồm các dãy núi liên tiếp nổi lên giữa vùng đồng bằng, có 4 đỉnh cao nhất là: đỉnh Vua cao 1296m, đỉnh Tản Viên cao 1227m, đỉnh Ngọc Hoa cao 1131m, đỉnh Viên Nam cao 1031m
3.1.2 Thổ nhưỡng
Nền chính của Ba Vì là các loại đá phiên thạch sét và sa thạch, đá hỗn hợp, đá Pocphirit, sa thạch xen những vỉa quắcrit, phù sa cổ ở một số khu vực đồi núi thấp Với các loại đất chính sau: Đất Feralit vàng đến vàng đỏ tầng đất
từ mỏng đến trung bình
3.1.3 Khí hậu – thủy văn
Đặc điểm chung của khí hậu Ba Vì được quyết định bởi các yếu tố: vĩ
độ, cơ thể gió mùa, địa hình Khu vực Ba Vì nằm ở khoảng vĩ tuyến 21 độ Bắc chịu tác động của cơ chế gió mùa Tác động phối hợp của vĩ độ và gió
Trang 33mùa tạo nên loại khí hậu nhiệt đới ẩm với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến năm sau
- Chỉ độ nhiệt: Nhiệt độ bình quân trong khu vực là 23,4 độ C, ở độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm là 20,6 độC; Từ độ cao 1000m trở lên nhiệt độ chỉ còn 16 độ C Lượng mưa trung bình năm 2.587,2mm
Số ngày mưa trong năm là 205 ngày
- Chế độ gió: chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính:
Gió mùa đông bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Gió đông nam thổi từ tháng 4 đến tháng 8 có kèm theo mưa lớn
Ngoài ra đầu mùa hạ có gió tây khô nóng Như vậy ta có thể thấy vùng núi Ba Vì có khí hậu nhiệt đới mang tính chất nhiệt đới ẩm có 1 mùa đông lạnh Tuy nhiên do ảnh hưởng của tiểu khi hậu vùng núi Ba Vì nên chúng có
sự pha trộn lẫn nhau tạo nên 1 khí hậu mang tính chất phức tạp
3.1.4 Thảm thực vật
Thành phần các loại cây: Theo tài liệu “Thực vật chí Đông Dương” của nhà thực vật Lecomte người Pháp (1886 - 1891) và sau năm 1954 Ba Vì có khoảng 1450 loài thực vật bậc cao có mạch Theo danh mục thực vật đã được thu thập mẫu, hệ thực vật khu vực Ba Vì có khoảng 812 loài thực vật bậc cao thuộc 472 chi, 99 họ Qua điều tra nghiên cứu ở đai cao (800m trở lên) của Vườn quốc gia Ba Vì đã phát hiện và giám định được tên cho: 483 loài thuộc
323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch trong đó: Ngành thông đất: 2 họ, 2 chi 4loài Ngành Dương xỉ: 15 họ, 23 chi, 31 loài Ngành hạt trần: 5 họ, 5 chi,
5 loài Ngành hạt kín: 114 họ, 293 chi, 377 loài Các loài cây phân bố không đều trong các họ Một số họ chỉ có một chỉ có một loại như: Họ Tuế (Thiên
Trang 34Tuế); Họ Bách (Loại Bách Xanh), Họ Phỉ (Phi Ba mũi); Họ Mộc hương (Hoa tiên); Họ Sơn liễu (Sơn liễu); Họ Ngũ Mạc (Ngũ MạcCác họ có nhiều chi loài là: Họ Re 11 chi, 29 Joải; Họ Cà Phê 14 chi, 26 loài Họ Dê 3 chi, 19 loài; Họ
Ba mảnh vỏ 13 chi, 17 loài; Họ Dâu tằm 3 chi, 15 loài Các chỉ có nhiều loại là: Ficus (10 loài), Lithocarpus (8loài), Castanopsis (71 loài), Ardisia (6loài), Eleocarpus (5loài)
3.1.5 Hệ động vật
Có 45 loài thú, 139 loài chim, 30 loài bò sát, 24 loài lưỡng cư Các loài
quý hiếm như: Cầy vằn bắc (Chrotogale owstoni), Cầy gấm (Prionodon
Parlicolor); Cu li lớn (Nycticebus coucorg); Gấu ngựa (Seleractor thibetanus);
Beo lứa (Felis tearinski); Chồn bạc má (Meloge Personata); Cầy mực (Arrictis biturog), Sơn dương (Capticonis sumatrensis); Gà lôi trắng (Lophura
nycthemara); Dù di phương đông (Ket coloniexis); Tác kè (Gekko gekko); Ô
rô vẩy (Acanthosaira lepidogasta); Rồng đất (Thygratis coein), Kỳ đồ họa (Varanas satrator), Rắn hổ mang (Maja maja); Rắn lục núi (Triteresurus
Felde), Bướm rồng đuôi trắng (Lamproperu Caritas Fabric), Bướm phượng
Helen (Troides helena Linnaeus), Bướm đuôi kiến (Graphium antiphates
Cramer)
Trang 353.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.1 Về phân bố dân cư
Tên xã Số hộ
Số nhân khẩu
Số nhân khẩu Tb/hộ (người)
Tỉ lệ tăng dân số
Mật độ dân
số (người/km2)
Trang 363.2.4 Về phân bố lao động
Đơn vị: người
Lao động trong khu vực nông nghiệp
Lao động trong khu vực khác
Đất lâm nghiệp
Đất thủy sản Đất khác
Thôn Hợp
Sơn
3.2.6 Trang phục truyền thống và các lễ hội
Truyền thống của người Dao ít được sử dụng trong đời sống hàng ngày Các trang phục truyền thống chỉ được mặc vào các dịp lễ hội, ma chay, cưới xin, theo tín ngưỡng truyền thống của người Dao rất tốn kém tiền của Việc này đã tác động mạnh mẽ đến việc khai thác cây thuốc diễn ra để tăng thu nhập hộ gia đình và sử dụng nguồn thu nhập đó vào các phong tục tín ngưỡng của cộng đồng trong khi cuộc sống thường ngày còn nhiều khó khăn, thiếu thốn
3.3 Đánh giá chung tiềm năng của xã
3.3.1 Khó khăn
- Khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì chủ yếu là người dân tộc thiểu số sinh sống Trong đó người Dao có tỉ lệ khá cao; chiếm 77,3% dân số trong vùng sản xuất nông nghiệp, nên gặp nhiều khó khăn
Trang 37- Cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi, nhà văn hóa, chợ đều thiếu
Hệ thống truyền thông công cộng, các phương tiện nghe nhìn còn thiếu
- Do cơ sở vật chất kĩ thuật còn nghèo nàn, đội ngũ cán bộ quản lí chuyên môn còn yếu và thiếu nên gây những trở lực không nhỏ cho quá trình hội nhập và phát triển
3.3.2 Thuận lợi
- Công tác tuyên truyền giáo dục của đội ngũ cán bộ cơ sở tốt nên người dân trong khu vực đã có ý thức bảo vệ rừng, môi trường sinh thái Đến nay hầu như không còn hiện tượng đốt nương làm rẫy Tài nguyên rừng đang được duy trì, phát triển tốt
- Lực lượng lao động trên địa bàn dồi dào, có thể tham gia nhận khoán, bảo vệ, khoanh nuôi, trồng rừng
Trang 38CHƯƠNG IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thành phần loài cây thuốc trồng tại các hộ gia đình thôn Hợp Sơn
Bảng 4.1 Số lượng họ, chi, loài cây thuốc được trồng
tại các hộ gia đình thôn Hợp Sơn
Trang 39Bảng 4.2 Tỷ lệ % 8 họ cây thuốc có số loài lớn nhất tại thôn Hợp Sơn
STT Tên họ Việt
Việc phân tích tính đa dạng của các loài cây thuốc định hướng cho ta thấy nguồn nguyên liệu dễ dàng khai thác và sử dụng Từ kết quả điều tra về dạng sống của thực vật làm thuốc dạng sắc uống tại khu vực nghiên cứu và căn cứ vào sự phân chia dạng sống trong “Tên cây rừng Việt Nam năm 2000”, chia các loài thực vật làm thuốc điều tra được thành 7 dạng sống Như vậy các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu rất đa dạng về dạng sống Kết quả được thể hiện tại bảng 4.3
Trang 40Bảng 4.3 Tổng hợp các dạng sống của các loài cây thuốc tại thôn Hợp Sơn
cỏ, cây kí sinh Trong đó cây thuốc có dạng sống chiếm phần lớn là cây bụi và
cỏ, lần lượt chiếm 30,16% và 29,37% Thông thường những cây cỏ hầu hết sinh trưởng và phát triển đã 1 năm hoặc vài năm như vậysẽ rất thuận tiện cho người dân nếu gây trồng để phục vụ cho đáp ứng nhu cầu nguyên liệu làm thuốc Dạng sống dây leo và gỗ cũng chiếm tỷ lệ đáng kể lần lượt là 23,81%
và 12,70% Ít nhất là dạng kí sinh chỉ có một loài chiếm 0,86%
Qua bảng 4.4 ta thấy các bộ phận được sử dụng dùng làm thuốc của từng loài cây khác nhau tùy thuộc vào mục đích sử dụng và chữa bệnh mà người dân có thể lấy lá, thân, rễ, củ thậm chí có loài lấy cả cây để sắc uống Các bộ phận được sử dụng nhiều nhất là thân, cành, lá; có những loài còn được sử dụng cả cây Điều này cũng chính là nguyên nhân ảnh hướng đến tài nguyên cây thuốc ở Ba Vì nói riêng và cây thuốc ở những tỉnh khác nói chung
Ý thức của người dân chưa cao cộng thêm sức ép của nhu cầu thị trường đã làm cho họ khai thác cây thuốc không bền vững, chỉ quan tâm đến bộ phận