1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại thông nhựa tại ban quản lý rừng phòng hộ nghi lộc, nghệ an (khóa luận quản lý tài nguyên rừng và môi trường)

65 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại thông nhựa tại ban quản lý rừng phòng hộ Nghi Lộc, Nghệ An
Tác giả Nguyễn Công Hiếu
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Thế Nhã
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 3,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Xuất phát từ thực tế trên và mong muốn đóng góp một chút công sức của bản thân để giải quyết được phần nào vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đề xuất

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG

-  -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ SÂU HẠI THÔNG NHỰA TẠI BAN QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG

HỘ NGHI LỘC, NGHỆ AN

NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG

MÃ NGÀNH: 7620211

Giáo viên hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thế Nhã

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Công Hiếu

Mã sinh viên : 1653020733

Khóa học : 2016 – 2020

Hà Nội, 2020

Trang 2

i

LỜI NÓI ĐẦU

Để đánh giá qua trình thực tập và rèn luyện tại trường Đại Học Lâm Nghiệp trong 4 năm qua, được sự đồng ý của nhà trường, Khoa Quản Lý Tài Nguyên Rừng và Môi Trường, Bộ môn Bảo vệ Thực vật rừng, tôi đã tiến hành làm khoá luận tốt nghiệp

“ Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại Thông nhựa tại Ban quản lý rừng phòng hộ Nghi Lộc, Nghệ An”

Thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế sản xuất Trong quá trình thực hiện đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo trường Đại Học Lâm Nghiệp

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy,

cô giáo trường Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam đã giảng dạy tôi trong suốt 4 năm qua Đặc biệt là thầy Nguyễn Thế Nhã đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài nghiên cứu tôt nghiệp này Và qua đây tôi cũng xin cảm ơn Ban quản lý rừng phòng hộ Nghi Lộc đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu làm đề tài

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do năng lực và thời gian nghiên cứu có hạn, nên đề tài không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót Tôi rất mong được sự góp ý của thầy, cô giáo trong khoa và Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật để đè tài hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà nội, ngày 7 tháng 5 năm 2020

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Công Hiếu

Trang 3

ii

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC HÌNH, ẢNH VÀ BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Ý nghĩa của đề tài 2

Chương ITỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về thành phần sâu hại thông 3

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu róm thông 3

1.1.3 Tình hình nghiên cứu về biện pháp phòng trừ nhóm sâu hại thông 5

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 6

1.2.1 Tình hình nghiên cứu thành phần sâu hại 6

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm sinh học sâu hại thông 7

1.2.3 Một số biện pháp phòng trừ sâu hại thông 8

1.3 Tình hình phát sinh sâu róm thông trên địa bàn tỉnh Nghệ An và biện pháp phòng trừ của tỉnh trong những năm gần đây 11

1.3.1 Tình hình phát sinh sâu hại thông trên địa bản tỉnh Nghệ An 11

1.3.2 Các biện pháp phòng trừ trong những năm gần đây 12

CHƯƠNG 2ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ-XÃ HỘI 14

1.1 Vị trí địa lý: 14

1.2 Đặc điểm tự nhiên 14

1.2.1 Địa hình địa thế 14

1.2.2 Khí hậu, thủy văn 15

1.2.3 Thổ nhưỡng 15

1.2.4 Đánh giá chung 16

2 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng 16

2.1 Hiện trạng về sử dụng đất đai 16

2.2 Trữ lượng các loại rừng 16

Trang 4

iii

2.3 Đặc điểm tài nguyên rừng 17

3 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội: 17

3.1 Dân tộc, dân số và lao động 17

3.2 Tình hình xã hội: 18

3.3 Văn hoá, Y tế, Giáo dục 18

3.4 Đặc điểm kinh tế: 18

3.5 Đánh giá chung về tình hình kinh tế xã hội: 19

3.5.1 Lĩnh vực kinh doanh khác 19

3.5.2 Thực hiện nhiện vụ phát triển kinh tế xã hội ở địa phương: 19

Chương 3MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 20

3.1.1 Mục tiêu chung 20

3.2.1 Mục tiêu cụ thể 20

3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 20

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu 20

3.3 Nội dung nghiên cứu 20

3.4 Phương pháp nghiên cứu 21

3.4.1 Công tác chuẩn bị 21

3.4.2 Kế thừa tài liệu 21

3.4.3 Phương pháp điều tra thành phần sâu hại 21

3.4.3.1 Phương pháp điều tra sơ bộ 21

3.4.3.2 Phương pháp điêu tra tỉ mỉ 21

3.4.4 Phương pháp xác định các loài sâu hại chủ yếu và đặc điểm hình thái, tập tính của chúng 26

3.4.5 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu hại 27

3.4.6 Phương pháp nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ 27

3.5 Phương pháp xử lý giám định mẫu sâu hại 27

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 28

CHƯƠNG IVKẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

4.1 Thành phần sâu hại thông tại Nghi Lộc, Nghệ An 29

4.2 Đánh giá rút ra loài chủ yếu 30

Trang 5

iv

4.3 Đặc sinh thái của các loài sâu hại chính 33

4.3.1 Biến động mật độ của các loài sâu hại chính theo thời gian 33

4.3.2 Ảnh hưởng của vị trí địa hinh đến mật độ sâu hại chính 34

4.3.3 Mối quan hệ giữa mật độ sâu hại chính với độ cao 36

4.3.4 Ảnh hưởng của thiên địch đến các loài sâu hại thông 37

4.3.5 Một số đặc điểm cơ bản của loài sâu hại chính 38

4.3.5.1 Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker.) 38

4.3.5.2 Mối đất lớn (Macrotermes annandalei Silvestri) 42

4.4 Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ 43

4.4.1 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh 43

4.4.2 Biện pháp vật lý cơ giới 44

4.4.3 Biện pháp sinh học 45

4.4.4 Sử dụng chế phẩm sinh học 45

4.5 Đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại Thông 46

4.5.1 Một số vấn dề chính 46

4.5.2 Biện pháp vật lý, cơ giới 47

4.5.3 Biện pháp kĩ thuật lâm sinh 48

4.5.4 Biện pháp kiểm dịch thực vật 48

4.5.5 Biện pháp sinh học 49

4.5.6 Biện pháp hóa học 50

4.5.7 Các biện pháp khác trong quản lý và bảo vệ rừng 51

KẾT QUẢ, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 52

1 Kết quả 52

2 Tồn tại 53

3 Kiến nghị 53

Một số hình ảnh thu được trong quá trình điều tra 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 6

v

DANH MỤC HÌNH, ẢNH VÀ BẢNG

Hình 1: Biểu đồ sự biên động của các loài sâu hại chính 33

Hình 2: Mật độ các loài sâu hại thông chính theo hướng dốc 35

Hình 3: Mật độ các loài sâu hại thông chính theo độ cao 36

Ảnh 1: Sâu trưởng thành sâu róm thông 38

Ảnh 2: trứng sâu róm thông 39

Ảnh 3: Ảnh sâu non sâu róm thông 40

Ảnh 4: Nhộng sâu róm thông 41

Ảnh 5: Ảnh mối 43

Bảng 1:Bảng điều tra đặc điểm OTC 22

Bảng 2: Danh mục các loài sâu hại thông nhựa 29

Bảng 3: Thống kê số họ và loài theo các bộ côn trùng 30

Bảng 4: Bảng số liệu các loại sâu hại qua từng đợt 32

Bảng 5: Biến động mật độ của loài Sâu hại thông 33

Bảng 6: Nhiệt độ, độ ẩm của khu vực nghiên cứu trong các đợt điều tra 34

Bảng 7: Mật độ các loài sâu hại chủ yếu theo hướng dốc 35

Bảng 8: Mật độ các loài sâu hại chủ yếu theo độ cao 36

Bảng 9: Biến động mật độ sâu hại thông sau khi áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh 44

Bảng 10: Biến động mật độ sâu hại thông trươc và sau khi sử dụng biện pháp vật lý cơ giới 44

Bảng 11: Biến động mật độ sâu hại thông trươc và sau khi sử dụng biện pháp sử dụng thuốc sinh học 45

Trang 7

ha (BNN và PTNN, 2019); trong đó diện tích trồng các loại thông là gần 1.000.000

ha Với đặc điểm sinh lý, sinh thái của cây thông, một loài cây chịu hạn có thể sống và phát triển trên những lập dị xấu, khô hạn Do đó, trong chương trình trồng rừng 327 và chương trình trồng rừng mới 5 triệu ha rừng, thông được chọn là cây trông chính quan trong cần được ưu tiên phát triển Trong ba loại thông đang được sửu dụng để khai thác nhựa ở nước ta thì thông nhựa là loài cây cho nhiều nhựa nhất (khoảng 5-6kg/cân/năm) Mặt khác với phương thức khai thác bằng cách đẽo máng, chu kỳ khai thác của loài thông này có hể kéo dài 40-50 năm Vì vậy, mục đích kinh doanh chính của các rừng trồng thông nhự hiện nay ở nước ta là khai thác nhựa

Thông là loài cây có giá trị kinh tế cao bao gồm một số loài thông chính như Thông mã vĩ, Thông nhựa, Thông ba lá Ngoài các sản phẩm của thông như gỗ, nhựa, nguyên liệu giấy, cây thông còn được sử dụng trong việc phủ xanh đất trống đồi trọc, có khả năng phòng hộ chống xói mòn, tạo không khí trong lành và lá loài cây có dáng đẹp được trồng rất nhiều ở các khu du lịch, nghỉ mát Chính vì vậy, diện tích rừng thông ngày càng được mở rộng và là một trong những cây trồng chính của ngành Lâm Nghiệp

Tuy nhiên, việc gây trồng và phát triển cây trông cũng gặp nhiều trở ngại, trong đó trở ngại lớn nhất là vấn đề sâu bệnh hại Nguy cơ sâu hại thông không chỉ xảy ra ở rừng trồng mà còn xuất hiện tại cả vườn ươm Riêng về sâu hại đã điều tra được 45 loài, trong đó gây hại nguy hiểm nhất là loài sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker), Sâu róm 4 túm lông (Dasychyra axutha) với tỉ

lệ hại ở các địa phương trên 50% (đặc biệt ở Nghệ An lên tới 73%) và mức độ hại đều ở mức tương đối nguy hiểm và nguy hiểm (Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam, 2013)

Ban quản lý rừng phòng hộ Nghi Lộc quản lý diện tích rừng và đất rừng là 5.000 ha trong đó rừng thông chiếm diện tích lớn chủ yếu là rừng trồng thông thuần loài vừa có rừng thông hôc giao với bạch bàn, rừng thông có độ tuổi khá đồng đều chủ yếu từ cấp tuổi III dến cấp tuổi VI Nhìn chung các loại Thông nhựa sinh trưởng và phát triển tốt Trong những năm qua Ban quản lý rừng phòng hộ Nghi Lộc và Hạt kiểm lâm nghi lộc đã và đang phải đối mặt với các loài sâu hại, đặc biệt là sâu róm thông lan tràn trên diện tích rộng gây ra những thiệt hại đáng

kể trong kinh doanh và quản lý rừng của địa phương

Trang 8

2

Xuất phát từ thực tế trên và mong muốn đóng góp một chút công sức của bản thân để giải quyết được phần nào vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại thông hại

Thông nhựa tại Ban quản lý rừng phòng hộ Nghi Lộc, Nghệ An”

2 Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Đề tài cung cấp thành phần các loài sâu hại thông nhựa, xác định được các loài sâu gây hại chính Đồng thời cung cấp một số dữ liệu khoa học về đặc điểm sinh học sinh thái của loài sâu gây hại chính và tiến hành một số biện phấp thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ đối tượng gây hại chính làm cơ sở khoa học quan trọng cho việc quản lý các loài sâu hại chính trên cây thông nhựa tại Nghi Lộc, Nghệ An

Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài cung cấp danh mục các loài sâu hại thông nhựa, xác định được các loài sâu hại chính trên cây thông nhựa tại Nghi Lộc, Nghệ an Đồng thời cung cấp những dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học sinh thái của loài sâu gây hại chính góp phần quan trong vào việc phòng trừ hiệu quả loài sâu hại này trên rừng thông nhựa tại Nghi Lộc, Nghệ An để nâng cao năng suất và quản lý rừng trồng bền vững

Trang 9

3

Chương I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về thành phần sâu hại thông

Theo kết quả nghiên cứu của Beaver và Laosumthorm (1974) ở vùng Bắc

Thái Lan đã xác định được 3 loài Ong ăn lá thông là loài Diprion, Neodiprion và

Gilpinia; Năm loài chủ yếu được định danh là Diprion hutacharenae , Neodiprion biremis, Gilpinia marshallf, G Leksawadii Và G Pailooni

Theo Zhang (1997), sâu róm thông Dendrohmus có 27 loài Trong đó vùng

Mông Cổ có loài D Suprans, D Spectabilis, D.Tabulaeformis, D.Suffuscus, D

Huashanensis Còn các loài phân bố ở vùng Đông Nam Á, Pakistan, Liên xô (cũ),

Nhật Bản và Triều Tiên Hầu hét các loài sâu róm thông có ở Trung Quốc Trong

đó, có 5 loài thường gây hại nguy hiểm và thường phát dịch là Sâu róm thông đuôi ngựa, sâu róm thông dầu, sâu róm thông đỏ, sâu róm thông Vân Nam và sâu róm thông kikucchi

Theo các nghiên cứu ở Trung Quốc, sâu róm 4 túm lông thuộc họ Ngài Độc (Lymantriidae),

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của sâu róm thông

Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) phân bố tương đối rộng từ

các tỉnh phía Nam Trung Quốc đến miền Trung nước ta, ngoài ra còn một số sâu róm thông thuộc giống Dendrolimus như các loài D Sibericus, D Pini, D spectabilis phân bố ở phía bắc Trung Quốc và một số nước khác như Nga, Pháp…

(Billling, 1991; Zhang et al., 2003)

Từ những năm 1530, dịch sâu róm thông được ghi nhận xuất hiện ở Triết Giang (Trung Quốc) và trân dịch kéo dài suốt 9 năm liền Đến năm 1599, dịch sâu róm thông tiếp tục xuất hiện và kéo dài tới 17 năm tại Giang Tô (Bassus, 1974; Chen, 1990) Các nhà nghiên cứu cho thấy mỗi năm khoảng 3 triệu Ha rừng thông

ở Trung Quốc bị sâu róm thông tấn công, thiệt hại ước tính mất đi khoảng 5 triệu

m3 gỗ Gần đây nhất là vào năm 1988, chỉ tính riêng huyện Đức Khánh thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, diện tích rừng thông bị hại lên tới 40.000 ha, sản lượng

nhựa giá 6.510 tấn (Lu et al., 1997)

Những nghiên cứu sâu róm thông được thực hiện chủ yếu là ở phía Nam Trung Quốc, nơi thường xuyên xảy ra dịch và gây tổn thất nặng nề Từ trước những năm 1970, rát nhiều công trình nghiên cứu về sâu róm thông đã được công

bố trên các tạp chí bao gồm các kết quả nghiên cứu về hình thái, đặc điểm sinh học và phương pháp dự tính dự báo, phòng trừ bằng biện pháp hóa học (Cai,

1995; Chen, 1990; Zhang et al., 200 Zhang et al., 2003; Zhao et al., 1993; Zhu,

1986)

Trang 10

4

Ở Trung Quốc, sâu róm thông có từ 1 đến 5 thế hệ trong năm phụ thuộc vào

vĩ độ (Chen, 1990; Zhang et al., 2003), ở vị trí 30 vĩ độ Bắc có 2-3 thế hệ (He, 1990; Li et al., 1993) Trong khi đó loài này ở đài loan có 3 thế hệ (Ying, 1986)

Theo nghiên cứu của Chen (1990), ở khu vực Trường Giang-Trung Quốc mỗi năm loài sâu róm thông có 2-3 thế hệ, còn ở các khu vực khác như Quảng Đông

và Quảng Tây thì có 3-4 thế hệ trong năm Ở các khu vực này sâu thường qua đông ở các giai đoạn sâu non, chúng có thể qua đông ở trên lá, trong vở cây hoặc lớp lá rụng trên mặt đất quanh gốc cây Trong khi đó ở những vùng có nhiệt độ

cao hơn thì mỗi năm sâu có nhiều thế hệ hơn (Bassus, 1974; Lu et al., 1997) Ở

vùng Hà Đông sâu non qua đông đên tháng 5 mới vào nhộng, ở hai vùng Hồ Nam

và Quảng Đông, sâu non qua đông vào tháng 12 Nghiên cứu của Li (1999) cho thấy nếu tổng tích ôn năm đạt khoảng 5.010-5.9000 C thì mỗi năm có 2-3 thế hệ, Nhưng nếu tổng tích ôn năm lên tới 7.6940 C thì mỗi năm có 3-4 thế hệ

Kết quả nghiên cứu của Zhang et al (2003) đã chỉ ra ràng ở các vùng Quảng

Tây-Trung Quốc, sâu róm thông có 3 thế hệ trong năm, thời gian hoàn thành vòng đời là 72-84 ngày, cụ thể như sau: Thế hệ 1: Trứng (8 ngày); sâu non (54 ngày); nhộng (13 ngày ); sâu trường thành (7-8 ngày) Thế hệ 2: Trứng (6 ngày); sâu non (46 ngày); nhộng (16 ngày); sâu trưởng thành (7-8 ngày) Thế hệ 3: Trứng (6 ngày); sâu non (54 ngày); nhộng (17 ngày); sâu trưởng thành (7-8 ngày)

Thời gian phát triển các giai đoạn khác nhau của sâu và thời gian qua đông

ở các vùng như Trường Giang và Hồ Nam dài hơn so với vùng Quảng Tây –Trung Quốc

Ở giai đoạn sâu non có sự thay đổi về kích thước, màu sắc, lượng thức ăn tiêu thụ và nơi qua đông phụ thuộc vào tuổi sâu Sâu non mới nở có tập tính ăn

vỏ trứng, sống thành đàn, đến tuổi 2-3 mới phân tán tìm nguồn thức ăn Sâu non tuổi 1-2 rất nhạy cảm với các tác động bên ngoài, khi có gió thổi qua chúng thường buông tơ để phát tán rộng ra xung quanh Sâu non tuổi 1-3 có tỉ lệ sống rất thấp, chỉ đạt 3-50% (Chen, 1990)

Thời gian vũ hóa của sâu trưởng thành diễn ra trong khoảng thời gian từ

7-8 giờ tối, sau khi vũ hóa sâu trưởng thành cái tiết ra pheromon để hấp dẫn sâu trường thành đực và tiến hành giao phối ngay, thời gian để giao phối kéo dài tới

16 giờ sau khi vũ hóa Mỗi sâu trưởng thành chỉ giao phối 1 lần và thời gian giao phối phải đạt trên 7 giờ mới đảm bảo trứng được thụ tinh, nếu chỉ giao phối dưới

6 giờ thì trứng không thể nở (trứng chưa được thụ tinh) (Kong et al., 2001) Sau

khi vũ hóa sâu trưởng thành không ăn bổ sung và có thể sông đến 15 ngày Sâu trưởng thành cái mỗi ngày đẻ trứng từ 1-3 lần vào khoảng thời gian từ 7-10 giờ tối Số lượng trứng đẻ đạt 300-400 trứng/con Số lượng trứng của mỗi sâu trưởng thành tỉ lệ thuận với trọng lượng của nhộng

Trang 11

và sự phát sinh sâu hại, mối quan hệ giữa thiên địch và phát sinh sâu hại, mối quan

hệ giữa khí hậu và phát sinh sâu hại

1.1.3 Tình hình nghiên cứu về biện pháp phòng trừ nhóm sâu hại thông

Trước đây ở Trung Quốc phòng trừ sâu róm thông bằng biện pháp sử dụng thuốc hóa học được coi là biện pháp phòng trừ chủ yếu Theo các tác giả Kong và đồng tác giả (2001), Lu và đồng tác giả (1997), thuốc trừ sâu róm thông chủ yếu

là loài thuốc Pyrethroid Tuy nhiên, từ những năm 1960 và đầu những năm 1970, phòng trừ sâu róm thông bằng biện pháp sinh học coi như là chiến lược quan trọng

ở Trung Quốc (Hsaio, 1981; McFadden et al , 1982)

Nhiều công trình khoa học công bố các kết quả nghiên cứu về các biện pháp

sinh học phòng trừ sâu róm thông bằng Nấm bạch cương (Beauveria basiana) và Ong mắt đỏ ký sinh trứng Trichogramma dendrolimi; Sử dụng quản lý phòng trừ

tổng hợp trong phòng trừ sâu róm thông (Billing, 1991) Yoichi và đồng tác giả (2000) cho rằng loại ong mắt đỏ ký sinh sâu róm thông rất hiệu quả và có thể áp dụng trên quy mô lớn trong việc nhân nuôi ong này

Nghiên cứu của Ying (1986) cho kết quả khả quan về việc phòng trừ sâu

róm thông bằng biện pháp sinh học, tác giả đã sử dụng nấm Isaria farinosa và vi khuẩn Bacillus thuringensis để phun cho thế hệ thứ nhất (từ tháng 10 đến tháng 3

năm sau) trong điều kiện phù hợp vơi sự phát triển của nấm (ẩm và lạnh) ; Sử

dụng virus đa diện tế bào chất CPV (Cytoplasmic polyhedrosis Virus) và vi khuẩn

Bacillus thuringensis cho thế hệ thứ 2 (tháng 4,5) hoặc sâu non của thế hệ thứ 3

trong điều kiện phù hợp vơi sự phát triển của Virus (nóng và khô) Thiên địch là một trong những nhân tố quan trọng trong việc điều chỉnh số lượng quần thể loài nào đó Theo kết quả điều tra của Zhang và đồng tác giả (2003), có khoảng 250 loài thiên địch sâu róm thông, trong đó có 57 loài ong ký sinh, 11 loài ruồi ký sinh, 58 loài côn trùng bắt mồi, 87 loài chim, 18 loài nhện, 6 loài động vật ăn thị khác, 5 loài nấm gây bệnh, 5 loài vi khuẩn và 3 loài virus Tại vùng Triết Giang-Trung Quốc đã thu thập được 116 loài thiên địch, trong đó có 92 loài côn trùng,

22 loài nhện và 2 loài động vật bắt mồi Một số loài thiên địch đã được tìm hiểu

và sử dụng thành công như: Loài ong ký sinh trứng (Trichogramma dendrolimi

Matsumara), nấm (Beauveria basiana Blas) và vi

khuẩn Bacillus thuringiensis Berliner (Ying, 1986)

Trang 12

Nghiên cứu của Cates và Redak (1998) cho rằng loại thông nhựa thường

xanh (Pseudotsuga menziensii) thể hiện tính mẫn cảm và tính kháng sâu chồi

(Choristoneura occidentalis) rất rõ rệt giữa các cá thể Các cá thể có tính kháng

sâu cao có hàm lượng terpene cao hơn rất nhiều các cá thể mẫn cảm và đặc biệt

là tình trạng này được duy trì trong nhiều năm Thành phần của chất terpene này

là pertene đơn và được chiết xuất từ dung môi acetate

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình nghiên cứu thành phần sâu hại

Thông là cây có giá trị kinh tế cao, diện tích trồng thông đã và đang được

mở rộng Tuy nhiên, việc gây trông và phát triển cây thông cũng gặp nhiều khó khăn Một trong những vấn đề trở ngại là vấn đề sâu bênh hại cả rừng trồng và vườn ươm Riêng về sâu hại đã điều tra được 45 loài, trong đó loài gây hại nguy

hiểm nhất chính là loài sâu róm thông (Dendrolimus punctatus), sâu róm 4 túm lông (Dasychira axutha), Sâu đực nón thông (Rhyacionia cristata Wals and

Dyorictria rubella Hamps) và các loài côn trùng cánh cứng Ips calligraphus Germar, Ips sp., Dendroctonus sp

Theo số liệu báo cáo của Đào Xuân Trường (1992) dịch sâu róm thông thường xuyên xuất hiện và phát triển từ 8000 đến 15000 ha hàng năm, đặc biệt là các vùng có diện tích trồng thông lớn như Hương Khê-Hà Tĩnh; Hà Trung-Thanh Hóa, Sóc Sơn-Hà Nội; Hoàng Mai-Nghệ An Ngay từ những năm 1960 khi sâu róm thông bắt đầu bùng phát tại Cầu Cấm - Nghệ An, Tổng cục lâm nghiệp và chính phủ đã chỉ đạo tiến hành dập dịch với các loại thuốc hiện có như DDT và

666 Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên tiến hành phòng trừ chưa có những kết quả nghiên cứu về sâu róm thông này ở nước ta mà chủ yếu chỉ dựa vào thông tin của chúng qua các tài liệu tham khảo của Trung Quốc nên kết quả phòng trừ rất hạn chế Ngay sau đó những nghiên cứu về đặc điểm sinh học sâu róm thông, dự tính

dự báo khả năng phát dịch và biện pháp phòng trừ ở một số tỉnh ở miền Bắc nước

ta Những kết quả nghiên cứu được các tác giả công bố thông qua những bài báo tạp chí chuyên ngành và các báo cáo khoa học: Phạm Ngọc Anh (1962), Đặng Vũ Cần (1970), Xuân Hồng (1974), Trần Kiểm (1963), Nguyễn Huy Thiệu (1975) Những nghiên cứu này chỉ mang tính chất cục bộ, chỉ nằm trong từng phạm vi địa phương có dịch sâu và biện pháp phòng trừ hoàn toàn là các biện pháp hóa học với các thuốc DDT, Vofatox, 666

Trang 13

7

Trần Minh Đức (2007) đã đề cập tương đối dày đủ về loài ong ăn lá hiện có

ở những khu vực Trung Trung Bộ Những kết quả này bước đầu xác đinh tại khu vực nghiên cứu có 2 loài ong ăn lá thông thuộc 2 giống khác nhau Diprion và Gilpiana

Kết quả điều tra thành phần loài côn trùng bọ cánh cứng Coleoptera và cánh nửa cứng Hemiptera bằng bẫy Pheromon tại Đài Lài, kết quả thu được 15 loài thuộc 9 họ côn trùng cánh cứng và cánh nửa cứng cụ thể: Mọt đầu gai (Sinoxylon sp.), Mọt nâu lưng sọc (Cylindromicrus sp.), Mọt hồ lô (Xylosandrus sp.), Mọt cám (Coccotrypes sp.), Mọt đít vát (Amasa sp.), Mọt cánh bạc (Crestus sp.) (Pham Quang Thu và cộng sự 2010)

Năm 2007, sâu róm thông 4 túm lông đã bắt đầu xuất hiện vào tháng 7 và mật đọ sâu hại bắt đầu tăng dần vào tháng 9 và tháng 10 tại Sơn Động-Bắc Giang, Chi Lăng- Lạng Sơn, đặc biệt là ở Sơn Động – Bắc Giang loài sâu này đã ăn trụi

lá làm ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển và khả năng cho nhựa của cây thông Sâu 4 túm lông được xác định là loài Dasychira axutha, thuộc họ Limantriidae, Bộ cánh vẩy Lepidoptera (Lê Văn Bình và Phạm Quang Thu 2008) Theo kết quả nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu bảo vệ rừng, viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam, năm 2005 sâu róm thông 4 túm lông đã bắt đầu xuất hiện trở lại và gây thành dịch tại 1 số tỉnh như Lạng Sơn, Bắc Giang, Thanh Hóa Hiện nay loài sâu róm 4 túm lông đang gấy hại với tỉ lệ hại từ 25-60% ở Lạng Sơn, 20-35% ở Bắc Giang và đang lan rộng sang các tỉnh trồng thông đuôi ngựa

và thông nhựa ở Vĩnh Phúc, Nghệ An… Cây thông bị sâu róm ăn trụi sẽ sinh trưởng chậm, ảnh hưởng rất lớn đến năng suất nhựa, sức sống và sức đề kháng của cây bị suy yếu, tạo điều kiện cho nấm bênh xâm nhập gây hại cho cây Cây thông sẽ bị chết nếu bị ăn trụi lá nhiều lần (Lê Văn Bình và Phạm Quang Thu 2008)

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về đặc điểm sinh học sâu hại thông

Từ những năm 1940, sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) đã

xâm nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc, được ghi nhận xuất hiện ở Yên Dũng –Bắc Giang Sau đó dịch sâu róm thông đã bắt đầu xuất hiện ở một số địa phương: Năm 1958, sâu róm thông bắt đầu gây nên dịch, ăn trụi lá khoảng 160 ha tại Núi Neo-Thanh Hóa, đến năm 1960 dịch xảy ra ở khu vực Cầu Cấm – Nghệ An Do diện tích trồng thông lớn (khoảng 400.000 ha) trên phạm vi rộng nên dịch sâu róm thông vẫn thường xuất hiện và gây hại trên diện tích rộng Nghiên cứu biện pháp phòng trừ sâu róm thông, về dự tính, dự báo được thực hiện từ năm 1967 (Lê Nam Hùng, 1990) Theo số liệu báo cáo của Truong (1990), dịch sâu róm thông thường xuyên xuất hiện và phá hại từ 8.000 đến 15.000 ha hằng năm, đặc biệt là các vùng

có diện tích trồng thông lớn như Hương Khê- Hà Tĩnh; Hà Trung –Thanh Hóa; Sóc Sơn – Hà Nội; Hoàng Mai- Nghệ An…

Trang 14

hệ III có 6 tuổi nhưng đến thế hệ IV lại có 9 tuổi

Tại Quảng Ninh, vòng đời của sâu róm thông ở các lứa I, II và III là 102, 72

và 70-191 ngày (Nguyễn Như Bình, 1974) Trong khi đó vòng đời sâu róm thông tại Thanh Hóa ở các lứa I, II, III và IV lần lượt là 71-80, 61-70, 68-75 và 160-170 ngày (Đỗ Thanh Hải, 2001) Theo kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Hoa (2006), tại Nghệ An sâu trưởng thành của sâu róm thông có 5 đỉnh cao về số lượng: 15-25/3, 15-30/5, 15-30/7, 15-25/10 và 15-30/11; và sâu non cũng có 5 đỉnh cao là 30/3, 11/6, 12/8, 14/10 và 20/12 Như vậy, ở Nghệ An và Hà Tĩnh đều có 5 lứa sâu trong khi ở Thanh Hóa chỉ có 4 lứa

Ngoài ra, tại lứa thứ 3 ở miền Bắc và lứa thứ 4 ở miền Trung của sâu róm thông có sự phân ly thế hệ rõ rệt Vào tháng 11, 12 một số sâu non lứa 3 ở miền Bắc và lứa 4 ở miền Trung tiếp tục phát triển để sang lứa 4,5 trong năm; số sâu non còn lại qua đông và kéo dài sang thế hệ sau Tại miền Bắc dịch thường xuyên xảy ra ở thế hệ 2 và 3 trong năm, miền Trung lại vào lứa 3 và 4 thậm chí có thể phát dịch ngay từ lứa 1

Sâu trưởng thành có tính xu quang mạnh, nên có thể dùng bẫy đèn để bắt trong kỳ nở rộ Sau khi vũ hóa 1-2 giờ sâu trưởng thành giao phối và đẻ trứng, thời gian hoạt động mạnh nhất từ 6-7 giờ tối cho đến 4-5 giờ sáng hôm sau Ngài sâu róm thông không cần ăn bổ sung

1.2.3 Một số biện pháp phòng trừ sâu hại thông

Trong những năm gần đây, trong lĩnh vực nông nghiệp, Viện nghiên cứu

khoa học Việt Nam đã sản xuất ong mắt đỏ (Trichogramma japonicum Ash) mỗi

năm có thể nuôi được 40 thế hệ, mỗi thế hệ cho ra hàng triệu con thả thí điểm ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Kết quả đối với sâu cắn hại lúa là 84,8%, sâu đục thân ngô lag 95%, sâu đo hại bắp cải là 20%, sâu đo xanh hại đay 80%, và năm 1993 ong mắt đỏ mới được thử nghiệm để phong trừ sâu róm thông ở Quảng Ninh

Trang 15

9

Từ những năm 1970, một số nghiên cứu về bước đầu về sử dụng ký sinh thiên địch để phòng trừ sâu róm thông cũng đã được tiến hành như: Nghiên cứu

sử dụng nấm bạch cương (Beauveria bassiana) để phòng trừ sâu róm thông (Đặng

Vũ Cẩn, 1970; Nguyễn Hiếu Liêm, 1979), nghiên cứu sử dụng ong mắt đỏ

(Trichogramma dendrolimi) ký sinh trứng để phòng trừ sâu róm thông (Phạm

Ngọc Anh et al., 1979), nghiên cứu sử dụng chế phẩm Boverin phòng trừ sâu róm thông (Trần Văn Mão, 1983) Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Bình Quyền (2004), nhặng (Tachinidae) là một trong những yếu tố quan trọng hạn chế số lượng sâu róm thông bằng biện pháp sinh học Đến nay ở Việt Nam đã phát hiện được 6

loài nhặng ký sinh Sâu róm thông: Exorista sorbillans Weid., E Japonica Town,

E Civilize round., Carcelia bombylans rasale Bar; Crossosmia Sabina Walk., Cr Scenery Mesnil Trong số này loài Carcelia bombylans Bar., Crossocosmia Sabine Walk Và Exorista civilis Rond Thường xuất hiện với số lượng lớn và ảnh

hưởng nhiều đến biến động của sâu róm thông Các loài nhặng này đều là côn trùng ký sinh đa thực, ngoài sâu róm thông chúng còn ký sinh ở nhiều loài côn trùng có hại khác như sâu xám, Sâu xanh và các côn trùng có lợi như Tằm

Năm 1968, Nguyễn Hiếu Liêm nghiên cứu về sâu róm thông ở lâm trường Yên Dũng và đưa ra một số biện pháp phòng trừ

Năm 1970 Đặng Vũ Cần đưa ra phương pháp dự báo sự phát dịch ủa sâu róm thông (Dendrolimus puncatus Walker)

Từ những năm 1970 những nghiên cứu về bước đầu sử dụng ký sinh thiên địch để phòng trừ sâu róm thông cũng đã được tiến hành như: Nghiên cứu sử dụng

Ong mắt đỏ (Trichogramma dendrolimi) ký sinh trứng để phòng trừ sâu róm thông

(Pham Ngọc Anh, 1997)

Kết quả nghiên cứu của những đề tài này còn bị hạn chế do điều kiện khách quan trong thời gian đó như thiếu thông tin, tài liệu về những tiến bộ kỹ thuật phân lập, nhân giống, bên cạnh đó những thiết bị nghiên cứu còn chưa hiện đại và đồng bộ đã làm ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu cũng như kết quả của đề tài Mặc dù vậy những kết quả nghiên cứu này là những xuất phát điểm để thời gian sau đó có một số đề tài theo hướng sử dụng biện pháp sinh học đã được tiến hành và đã có những kết quả nhất định như : Nhân giống và sản xuất chế phẩm Bevorin diệt trừ sâu róm thông đã được thử nghiệm thành công và sản xuất khối lượng lớn phục vụ cho việc phòng trừ sâu róm thông ở một số tỉnh miền trung như : Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình (Đỗ Thanh Hải, 2001)

Năm 1990, Lê Nam Hùng với báo cáo kết quả “Nghiên cứu biện pháp dự

tính, dự báo và phòng trừ tổng hợp sâu róm thông (Dendrolimus punctatus

Walker) ở miền Bắc Việt Nam” đã một bước cụ thể hóa nguyên lý phong trừ tổng hợp sâu hại này Tuy nhiên các phương pháp dự tính, dự báo được đề cập trong nghiên cứu phần lớn dựa vào một số đặc tính sinh vật

Trang 16

10

Trung tâm kỹ thuật bảo vệ rừng số 1 và 2 đã thực hiện nhiều biện pháp tổng hợp như sử dụng biện pháp thủ công bắt giết, bẫy đèn, bẫy pheromon; biện pháp sinh học như: dùng ong ký sinh, ruồi ký sinh, côn trùng ăn thịt như bọ xít, bọ ngựa, kiến; biện pháp hóa học như dùng trebon, decis…các biện pháp phòng trừ đều mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên dịch sâu róm thông vẫn đang xuất hiện và

có nguy cơ lây lan trên phạm vi rộng lớn do những bất cập trong quản lý, không tiến hành tốt công tác dự tính dự báo và sử dụng quá nhiều thuốc hóa học dẫn đến các loài thiên địch của sâu róm thông cũng bị ảnh hưởng

Năm 1996, trong luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ khoa học Lâm Nghiệp, Trần Minh Đức đã nghiên cứu khá đầy đủ và chi tiết về chủng loài phân bố và đặc điểm sinh học của sâu ăn lá thông tại khu vực Bình Trị Thiên-Quảng Nam, Đà Nẵng

Tá giả đã đề cấp đến việc ứng dụng một số loại thuốc hóa để phòng trừ loài sâu này

Năm 2009-2011,Nguyễn Thế Nhã đã xác định được 4 loài sâu ăn lá thông

đuôi ngựa (Pinus massoniana) tại khu vực nghiên cứu Đông Bắc Loài gây hại nhiều nhất là loài sâu 4 túm lông (Dasychira axutha) thuộc họ ngài độc Xác định

được đặc điểm cơ bản của sâu róm 4 túm lông như đặc điểm hình thái các pha trưởng thành, trứng, sâu non, nhộng, cũng như một số tập tính cơ bản như sinh sản, nơi cư trú, tập tính ăn hại, số tuổi sâu non… Ngoài ra, kết quả cũng đã xác định được loài thiên địch của chúng Kết quả nghiên cứu cũng đưa ra quy trình phòng trừ sâu róm 4 túm lông trên cây thông đuôi ngựa, trong đó các biện pháp phòng trừ được phối hợp với nhau theo nguyên tắc IPM

Ngoài ra, các nghiên cứu khác về sử dụng các chế phẩm sinh học trong phòng trừ sâu róm thông cũng đã được công bố Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn (2006) khuyến cáo có thể sử dụng các chế phẩm vi sinh diệt sâu róm

thông như : Nấm bạch cương (Beauveria bassiana), nấm lục cương (Metarhizum

anisopilae), vi khuẩn (Bacillus thuringiensis), vi rút nhân đa diện (NPV) đã được

Nguyễn Đậu Toàn (1994) nghiên cứu, thử nghiệm trong việc phòng trừ sâu róm thông tại Thanh Hóa và đạt hiệu quả tới 55,2-83,3% tùy thuộc vào điều kiện từng địa điểm và lứa sâu trong năm

Theo kết quả nghiên cứu thụ phấn có kiểm soát của Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng, Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam các năm 1999-2000 cho thông nhựa bằng hạt phấn thông caribe và thông đuôi ngựa có thể đạt tỉ lệ đậu quả cao, song số hạt chắc tạo được lại có tỉ lệ rất thấp Tuy vậy khi thụ phấn cho thông nhựa bằng các hạt phấn của cây khác cùng loài thì lại cho tỷ lệ số hạt chắc/ quả nhiều hơn rõ rệt, thậm chí còn cao hơn cả số hạt chắc/quả thông nhựa thụ phấn tự

do (Lê Đình Khải, 2006)

Những nghiên cứu phòng trừ sâu róm thông tuy đã đạt được kết quả và được áp dụng tốt tại các địa phương nơi tiến hành nghiên cứu nhưng việc đưa

Trang 17

số nguyên nhân của tình trạng trên

Những kết quả nghiên cứu chưa được đánh giá theo khảo nghiệm đầy đủ

- Những nghiên cứu sản xuất, sử dụng các chế phẩm sinh học, ký sinh và thiên địch khác phòng trừ sâu róm thông thường tiến hành riêng lẻ, chưa phối hợp với các biện pháp khác như chọn giống kháng để có hiệu quả cao hơn

- Khu hệ thiên địch chưa được nghiên cứu, bảo tồn và lợi dụng đúng giá trị thực

- Những biến động về thời tiết làm cho quy luật phát sinh phát triển của sâu róm thông thay đổi và diễn biến phức tạp

- Các tiến bộ khoa học kỹ thuật về quản lý dịch hai sâu róm thông trên thế giới chưa được nghiên cứu khảo nghiệm áp dụng tại Việt Nam

1.3 Tình hình phát sinh sâu róm thông trên địa bàn tỉnh Nghệ An và biện pháp phòng trừ của tỉnh trong những năm gần đây

1.3.1 Tình hình phát sinh sâu hại thông trên địa bản tỉnh Nghệ An

Trong những năm gần đây sâu róm thông trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã diễn biến khá phức tạp Hàng năm đã phá hoại hằng trăm ha gây thiệt hại lớn cho người trồng và các đơn vị lâm nghiệp

Năm 2015 dịch sâu róm thông xuất hiện sớm ở các vùng rừng thuộc xã Nghi Yên (Nghi Lộc) Bắt đầu từ các cánh rừng thuộc khoảnh 2, Tiểu khu 961, sau đó lan sang các cánh rừng thuộc vùng Vi Ba đồ ra quốc lộ 1 cũng như các cánh rừng

Rú Sắt, Khe Chanh, Rú Nho với mật đọ 150 con/cây Đên thời điểm này xã Nghi Yên có hơn 600 ha rừng trồng bị nhiễm, trong đó có 30 ha thuộc diện nhiễm rất nặng với mật độ trên 250 con/cây, 594 ha nhiễm nặng với mật độ trên 150 con/cây Ngoài xã Nghi yên, Nghi Tiến, dịch sâu róm thông đã lan rộng sang các xã Nghi Hưng (184 ha), Nghi Đồng (gần 200 ha), Nghi Quang (28 ha), Nghi Văn (114 ha)…

Năm 2016 do thời tiết âm u, liên tục có nhiều đợt gió màu đông bắc, độ ẩm cao kèm theo mưa phùn, 350 ha rừng thông của Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành đã bị sâu róm phát sinh gây hại

Tại một số địa phương khác dịch sâu róm thông đã xuất hiện ở nhiều cánh rừng thông thuộc các huyện như Nam Đàn, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu,

Trang 18

12

Hưng Nguyên… Dù mức độ nhẹ hơn các cánh rừng thông ở huyện Nghi Lộc nhưng dịch sâu róm thông bùng phát sẽ gây thiệt hại nặng, dẫn đến cháy tán lá nếu khống được phòng trừ kịp thời

Năm 2018, Sâu róm thông thế hệ III/2018 phát sinh vào cuối tháng 6 đầu tháng 7 trên các lâm phần rừng thông của tỉnh với mật độ phổ biến từ 3-30 con/cây, riêng tại vùng rừng rú Vẽ, xã Quỳnh Lộc, thị xã Hoàng Mai mật đọ 30-70 con/cây, khu vực động thờ xã Diễn Lợi huyện Diễn Châu mật đọ sâu lên đến 150-250 con/cây, khu cực La Nham thuộc khoảnh 2 – tiểu khu 959 xã Nghi Yên và đạp Nước xa Nghi Tiến, khu vực Nghi Tiến giáp ranh xã Nghi Yên thuộc khoảnh 1- tiểu khu 960 thuộc BQLRPH Nghi Lộc quản lý mật đọ sâu lên tới 300-500 con/cây gây trụi tán cục bộ trên diện tích khoảng 100/204,8 ha rừng thông trong thời kỳ nuôi dưỡng

Thiên địch ký sinh: vào cuối thế hệ III/2018 thiên địch ký sinh phát triển khá mạnh, chủ yếu là ong cự vàng ký sinh trên giai đoạn nhộng và công tác phòng trừ của rừng, tuy mật đọ có giảm nhưng khi chuyển sag sâu thế hệ IV/2018 mật

độ sâu tại các vùng rừng nêu trên vẫn duy trì ở mức độ cao và các vùng rừng lân cận mật độ gia tăng mạnh

1.3.2 Các biện pháp phòng trừ trong những năm gần đây

Trước diễn biến bất lợi của dịch bệnh, UBND tỉnh đã có nhiều công điện yêu cầu giám đốc các sở, thủ trưởng các đơn vị liên quan, Chủ tịch UBND các huyện, thành, thị có rừng thông và các sở, ngành liên quan tổ chức kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo công tác phòng trừ sâu hại thông ở các địa phương, thành lập các đoàn công tác xuống các địa phương có rừng thông có nguy cơ bị sâu róm thông gây hại nặng để kiểm tra, chỉ đạo hướng dẫn chủ rừng thực hiện nghiêm túc các biện pháp phong trừ; đồng thời theo dõi, đánh giá kết quả tỏ chức chỉ đạo phòng trừ của chủ rừng, lãnh đạo địa phương, các xã nơi rừng thông có nguy cơ cao bị sâu gây thiệt hại nặng để đôn đốc các chủ rừng trên địa bàn điều tra khoanh vùng diện tích nhiễm sâu và huy đọng các phương tiện, máy móc, vật tư để tổ chức phòng trừ kịp thời khi sâu phát sinh, không để sâu lan rộng, chủ động cân đối ngân sách địa phương để hỗ trợ các chủ rừng có nguy cơ bị sâu róm thông mua thuốc BitadinWP, Vi-BT, VBT và máy bơm, phòng trừ theo khuyến cáo của cơ quan bảo vệ thực vật và tổ chức phòng trừ hiệu quả, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương về nguy cơ

Trang 20

14

CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ-XÃ HỘI

1.1 Vị trí địa lý:

Nghi Lộc là một huyện đồng bằng ven biển giáp 5 huyện và 1 thị xã Phía Bắc giáp huyện Diễn Châu, Yên Thành; Phía nam giáp huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên; Phía Tây giáp huyện Đô lương và phía Đông giáp thị xã Cữa Lò

Toạ độ địa lý:

+ Từ 18 0 45’ đến 180 53’ Vĩ độ Bắc

+ Từ 105030’ đến 1050 49’ Kinh độ Đông

Trụ sở của Ban được đặt tại: Khối 2 – Thị trấn Quấn Hành – Nghi Lộc – Nghệ an

+ Cách đường quốc lộ Ia 1km về phía Tây; Cách trung tâm Thành phố Vinh

12 km về phía Nam; Cách Khu công nghiệp Nam Cấm 5 km về phía Bắc và cách Cảng biển Cữa Lò 9 km về phía Đông

Căn cứ theo QĐ 482/QĐ - UBND- NN ngày 02/02/2007 của UBND Tỉnh Nghệ an về việc phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng Tỉnh Nghệ an Diện tích rừng và đất lâm nghiệp thuộc Ban quản lý là 5.689,05 ha, thuộc địa bàn

17 xã 20 tiểu khu với sự quản lý của 3 đội sản xuất và 3 trạm QLBVR cụ thể:

+ Trạm QLBVR Nghi Công Nam: Tiểu khu 966, 967A, 967B, 968A, 968B + Trạm QLBVR Nghi Yên: Tiểu khu 961, 959, 960B, 960C

+ Trạm QLBVR Nghi Tiến: Tiểu khu 960, 960A, 960M, 960L, 960G + Đội Lâm nghiệp Nghi Văn: Tiểu khu 962

+ Đội Lâm nghiệp Nghi Lâm: Tiểu khu 965, 963B, 963A

+ Đội Lâm nghiệp Nghi Đồng: Tiểu khu 964B, 964A

1.2 Đặc điểm tự nhiên

1.2.1 Địa hình địa thế

Nhìn chung địa hình vùng đồi núi huyện Nghi Lộc tương đối phức tạp Vùng đồi núi tập trung phía Bắc, Tây Bắc có dãy Đại vạc – Thần Vũ chạy dài từ Tây sang Đông Vùng đồi núi phía Nam – Tây có dãy Đại Huệ – Thần Tuy Cả hai núi này tạo thành vòng cung ôm quanh vùng đồng bằng ven biển Do đặc điểm này mà địa hình huyện Nghi lộc thấp dần từ Tây xuống Đông và từ Bắc vào Nam Hướng phơi đại địa hình là Tây Nam - Đông Bắc, phía Bắc có một số ngọn núi cao như Đỉnh Thần Vũ cao 441m, Đỉnh Đại Vạc 319m; Phía Nam có đỉnh Đại Huệ cao 436m, do vậy địa hình có độ dốc bình quân từ 200 – 250 Cá biệt có những nơi dốc tới 350.

Trang 21

chính đó là gió mùa Đông bắc và gió Tây Nam có những đặc trưng sau:

- Về nhiệt độ: Từ tháng 2 đến tháng 4 nhiệt độ tăng dần, có mưa phùn và

có dông thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển Từ tháng 5 đến tháng 7 nhiệt độ tăng cao, có ngày lên đến 39 – 40 độ, độ ẩm không khí giảm, có nhiều đợt gió Tây Nam khô nóng kéo dài, rất dễ cháy rừng Từ tháng 11 đến tháng 01 năm sau nhiệt độ xuống thấp, có ngày xuống 6 – 8 độ, kéo theo mưa phùn gió Bắc

và sương muối, ảnh hưởng đến kết quả trồng rừng và khai thác nhựa thông Nhiệt

vụ sản xuất Nông Nghiệp cho 3 huyện Nam – Hưng – Nghi Trong vùng còn có nhiều hồ đập lớn, nhỏ có diện tích chứa nước: 53,9 x 106 m2, trữ lượng nước thiết

kế 20,898 x 106 m3 Các hồ đập này được bố trí ở các lưu vực giữa 2 dãy núi thuộc Đại Huệ – Thần Tuy và Đại Vạc – Thần Vũ, những năm gần đây các dãy núi đất trống thượng nguồn các đập này đã được phủ xanh nên cơ bản đã tạo được nguồn sinh thuỷ thường xuyên, nhưng vào mùa hè trữ lượng nước không đảm bảo đủ thiết kế

1.2.3 Thổ nhưỡng

Theo kết quả điều tra lập địa khu vực Ban QLRPH Nghi Lộc có các loại đất chính sau:

- Feralít mùn: phân bố ở độ cao từ 700 trở lên, chiếm 14,0% diện tích Công

ty, phần lớn các diện tích đều còn rừng che phủ Đặc trưng của loại đất này là quá trình tích luỹ mùn tăng, quá trình Feralit giảm

- Đất Feralít bị rửa trôi, bào mòn với cường độ mạnh trơ sỏi đá Thành phần

cơ giới trung bình, tầng đất mỏng, tỉ lệ đá lẫn cao

Trang 22

16

- Đất Feralít đỏ vàng hình thành từ đá mẹ phiến thạch sét và đá sa thạch, độ dày tầng đất từ 0,5 – 1,5 m Có độ dốc bình quân 25 – 35 0 , tỉ lệ đá nổi 20 – 25% và tỷ lệ đá lẫn 25 – 30%

- Đất bồi tụ ở chân đồi và các khe thung lũng hẹp

- Đất cát ven biển

- Đất mùn ngập mặn

1.2.4 Đánh giá chung

Với hệ thống giao thông (đường bộ, đường thuỷ) và khí hậu thuỷ văn như trên

là điều kiện thuận lợi để phát triển vốn rừng thông qua trồng rừng, nuôi dưỡng, chăm sóc rừng bên cạnh đó địa hình phức tạp và giao thông đi lại từ trung tâm các Đội sản xuất, Trạm QLBVR đến các lâm phần rừng còn nhiều khó khăn đã gây ra nhiều bất lợi cho việc tổ chức sản xuất

2 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng

2.1 Hiện trạng về sử dụng đất đai

Theo Quyết định 482/QĐ.UBND.NN ngày 02/02/2007 của UBND Tỉnh Nghệ an về việc phê duyệt kết quả rà soát 3 loại rừng Ban QLRPH Nghi Lộc quản lý với tổng diện tích 5.692,9981 ha Trong đó:

+ Diện tích đất có rừng: 5.511,35 ha chiếm 96,81% Trong đó:

* Diện tích đất có rừng phòng hộ 5.023,25ha, chiếm 91,14% (Rừng tự nhiên: 74 ha; Rừng trồng: 4.949,25ha)

* Diện tích đất có rừng sản xuất: 488,05 ha

+ Diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng: 177,7 ha chiếm 0,03 % Trong đó:

* Đất phòng hộ: 163,6 ha, chủ yếu là diện tích đất trống cây bụi, đất đồi núi chưa sử dụng, đây là đối tượng trồng rừng phòng hộ của Ban trong những năm tới

* Đất sản xuất: 14,1 ha Diện tích đất này không thể sử dụng trồng rừng vì diện tích đất này chủ yếu là núi đá

+ Diện tích đất khác: 3,9981 ha

2.2 Trữ lượng các loại rừng

Như trên đã nêu, do đặc điểm tài nguyên rừng của Ban QLRPH Nghi Lộc chủ yếu

là Thông nhựa thuần loại và nó được phân bố chủ yếu trên diện tích rừng phòng hộ Vì vậy, để vừa đảm bảo được chức năng phòng hộ vừa tạo việc làm và tăng thêm thu nhập cho CBCNV, hộ dân tham gia làm nghề rừng Ban quản lý đã tận dụng khai thác nhựa thông theo đúng quy trình, quy phạm của Bộ NN &PTNT

Trang 23

17

Bên cạnh đó hàng năm khai thác gỗ rừng trồng từ diện tích rừng sản xuất và diện tích rừng trồng cây phụ trợ Trữ lượng gỗ khai thác từ rừng trồng cây phụ trợ bình quân chỉ đạt 7,0 m3 / ha, rừng sản xuất đạt 70,0 m3/ ha

2.3 Đặc điểm tài nguyên rừng

Nhìn chung thành phần thực vật rừng trên địa bàn Ban QLRPH Nghi Lộc tương đối đơn giản chủ yếu là cây Thông nhựa thuần loại tập trung ở diện tích rừng phòng hộ; Keo lá tràm , Keo Tai tượng , Bạch đàn ở diện tích rừng sản xuất, diện tích trồng rừng phòng hộ môi trường

Để đảm bảo nhiệm vụ chính của Ban là bảo vệ rừng, phát triển vốn rừng, nên rừng đưa vào khai thác giai đoạn 2011 – 2045 chủ yếu là rừng sản xuất thành phần thực vật gồm các loài chủ yếu: Keo lá Tràm, Keo tai tượng Bên cạnh đó tận dụng khai thác nhựa Thông theo phương thức khai thác dưỡng; Sản xuất và cung ứng giống cây lâm nghiệp phục vụ trồng rừng tỉnh Nghệ An (Keo lá tràm, Keo tai tượng) Một

số chỉ tiêu lâm học của đối tượng rừng đưa vào khai thác như sau:

- Về sản lượng khai thác nhựa bình quân: 2.400kg/1.000 cây/ năm

- Về trữ lượng gỗ khai thác bình quân:

+ Đối với rừng sản xuất, rừng trồng phòng hộ môi trường: 70m3/ ha

+ Đối với cây phụ trợ (trồng hỗ giao với cây Thông nhựa): 7m3 / ha

- Nhìn chung đất đai, khí hậu phù hợp cho các loài cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt Trong những năm qua được sự đầu tư của chương trình dự án 661, PAM, 147, tài nguyên rừng của Ban không ngừng được nâng lên cả về diện tích

và chất lượng

3 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội:

3.1 Dân tộc, dân số và lao động

Huyện Nghi Lộc hiện nay có 30 xã, thị Tổng dân số 220 vạn, tổng số hộ 17.059 hộ Đối với những xã có đất lâm nghiệp, dân số chiếm 2/3 dân số cả huyện,

số lao động hơn 85 vạn người Việc làm thường xuyên không đủ, chủ yếu là lao động nông nghiệp nên tập trung vào những thời gian mùa, còn thời gian nông nhàn không có việc làm, nên phải đi làm ăn ở những tỉnh khác Người dân chủ yếu là dân tộc Kinh, ngoài ra có một số rất ít người ở dân tộc khác đến sinh sống trong địa bàn Đối với các xã có rừng, dân cư phân bố ở trung tâm và ven rừng, ngoài ra có ở các cụm làng dân cư Lâm nghiệp, hộ nhận khoán đất lâm nghiệp dãn dân vào sinh sống xen trong rừng Đời sống của người dân của yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp , thu nhập thấp còn gặp nhiều khó khăn, ngoài thu nhập từ nông nghiệp thì người dân tập trung khai thác lợi thế từ đất lâm nghiệp; Trồng rừng, xây dựng kinh tế vườn rừng,

Trang 24

18

vườn đồi Nên kinh tế lâm nghiệp đã góp phần quan trọng vào tạo việc làm và thu nhập cho người lao động

3.2 Tình hình xã hội:

Nghi Lộc là một huyện có nhiều thuận lợi và lợi thế để phát triển kinh tế

Có thuận lợi về giao thông, trong vùng có đường Quốc lộ IA, tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy qua có cảng biển Cửa lò, các hệ thống đường liên Tỉnh, liên Huyện thuận lợi cho giao thông đi lại Hệ thống bệnh viện y tế, trường học phát triển, chất lượng giáo dục đảm bảo tốt hơn Vì vậy trình độ dân trí của người dân ngày được nâng cao Tình hình trật tự an ninh, quốc phòng được đảm bảo

3.3 Văn hoá, Y tế, Giáo dục

- Thông tin, văn hoá: Tại thị trấn có 1 trạm thu phát truyền hình thị trấn, ở các Đội sản xuất và Trạm QLBVR hầu hết các xã đều có các bưu điện văn hoá xã, cơ bản đáp ứng nhu cầu thông tin, văn hoá, xã hội cho nhân dân trong vùng

- Ytế: Trên địa bàn có trung tâm y tế và các xã đều có trạm xá, đã đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh, hạn chế được các loại dịch bệnh

- Giáo dục: Trong những năm qua tình hình giáo dục trên địa bàn ngày càng được nâng cao cả về chất lượng lẫn số lượng Tuy nhiên một số con em của cán

bộ công nhân hiện đang sống ở các Đội sản xuất do giao thông chưa phát triển nên vào mùa mưa học sinh đến trường gặp rất nhiều khó khăn

3.4 Đặc điểm kinh tế:

Nghi Lộc là một huyện đồng bằng ven biển nên thu nhập chính của người dân vẫn là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Trong những năm gần đây giá trị của các sản phẩm từ rừng ngày càng có giá trị Nên người dân ở các khu vực gần rừng cũng quan tâm đến rừng hơn

Hàng năm, Ban đã thu hút và tạo công ăn việc làm cho 300 lao động là hộ dân tham gia nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Ban, ngoài ra còn giải quyết việc làm cho 600 lao động tham gia nhận khoán thực hiện các Dự án đầu tư cho quản

lý BVR và phát phát triển vốn rừng trên địa bàn Huyện Nghi Lộc Thu nhập bình quân của CBCNV trong Ban từ 2.000.000 – 2.500.000 đồng/ người/ tháng Lao động là hộ dân tham gia SXKD có thu nhập bình quân từ 800.000 - 1.200.000 đồng/ người/ tháng, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân, giảm được tỷ lệ hộ đói nghèo trên địa bàn

Trang 25

19

3.5 Đánh giá chung về tình hình kinh tế xã hội:

Trong những năm qua công tác sản xuất lâm nghiệp đã thực hiện tương đối tốt và có hiệu quả cao Các cơ chế hưởng lợi từ rừng được thực hiện theo chính sách chung của Nhà nước ban hành Công tác giao khoán đất, khoán rừng cơ bản

đã được hoàn thành và đi vào ổn định, những khu vực dễ bị tác động, gần khu dân

cư, đường giao thông được giao khoán cho các hộ gia đình còn lại giao cho các trạm quản lý bảo vệ rừng, đội sản xuất đảm nhiệm

Đã chuyển đổi nhanh chóng lâm nghiệp truyền thống sang lâm nghiệp xã hội, lấy xây dựng và phát triển vốn rừng là nhiệm vụ trọng tâm, khai thác lợi dụng là thứ yếu Thu hút và tạo công ăn việc làm cho hàng trăm hộ dân trên địa bàn thông qua các công việc khai thác nhựa thông, bảo vệ, chăm sóc và trồng rừng

Bên cạnh đó do thời tiết ngày càng khắc nghiệt nên hoạt động sản xuất nông nghiệp không có thu nhập Mặt khác, do các sản phẩm từ rừng ngày càng có giá trị cao nên người dân tăng cường vào rừng để tăng thêm thu nhập Vì vậy, gây sức ép cho công tác quản lý bảo vệ rừng; Công tác quản lý quy trình, quy phạm

3.5.2 Thực hiện nhiện vụ phát triển kinh tế xã hội ở địa phương:

Hàng năm ngoài việc quản lý, giữ vững và phát triển vốn rừng, nâng cao giá trị trên 1 ha đất rừng, thì Ban còn tạo việc làm cho khoảng 600 hộ dân lao động trên địa bàn, góp phần xoá đói , giảm nghèo nâng cao thu nhập cho người dân; Bên cạnh đó hàng năm Ban còn trích khoảng 50 triệu nộp cho ngân sách Nhà nước; Xây dựng các công trình phúc lợi cho công cộng như Đập tràn Nghi Đồng, làm các tuyến đường nội vùng; Xây dựng quỹ khuyến học, quỹ phúc lợi Công tác chăm lo bảo vệ sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh, đảm bảo an toàn trong lao động sản xuất Hoàn thành chỉ tiêu đóng góp các loại quỹ xã hội, quỹ vì người nghèo và một số loại quỹ khác

Trang 26

20

Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1 Mục tiêu chung

Cung cấp cơ sở khoa học nhằm quản lý các loài sâu hại, bảo đảm sinh trưởng phát triển tốt cho loài Thông nhựa, góp phần nâng cao năng suất và quản lý rừng trồng Thông nhựa bền vững, phát huy tốt và hiệu quả trong bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế địa phương

3.2.1 Mục tiêu cụ thể

- Xác định được các thành phần sâu hại Thông nhựa

- Xác định được đặc điểm sinh vật học của các loài sâu hại thông nhựa chính

- Đề xuất được các biện pháp quản lý sâu hại Thông nhựa

3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài sâu hại thông nhựa và một số biện pháp phòng trừ

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 2 năm 2020 đến tháng 5 năm 2020

Địa điểm: Một số khu vực trông Thông nhựa tại Ban quản lý rừng phòng hộ Nghi Lộc, Nghệ An

3.3 Nội dung nghiên cứu

1) Xác định thành phần loài sâu hại Thông nhựa và loài gây hại chính

- Xác định thành phần sâu hại Thông nhựa tại khu vực nghiên cứu

- Xác định mật độ và tỉ lệ sâu hại, từ đó xác định được loài sâu gây hại chính trên cây Thông nhựa tại khu vực nghiên cứu

2) Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu hại Thông nhựa chính

- Nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số loài sâu hại thông nhựa chính

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái loài sâu hại thông nhựa chính 3) Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ sâu hại Thông nhựa chính

- Biện pháp kỹ thuật lâm sinh

- Biện pháp vật lý cơ giới

- Biện pháp sinh học

- Biện pháp hóa học

4) Đề xuất biện pháp phòng chống sâu hại Thông nhựa chính tại khu vực nghiên cứu

Trang 27

3.4.2 Kế thừa tài liệu

Để thu thập được các thông tin cần thiết, ngoài việc điều tra trực tiếp trên thực địa, việc kế thừa các tài liệu, báo cáo, nghiên cứu… tại địa bàn nghiên cứu

là hết sức cần thiết Số liệu kế thừa sẽ cung cấp thêm thông tin cho đề tài về diện tích trồng, giống cây, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cảu khu vực nghiên cứu

3.4.3 Phương pháp điều tra thành phần sâu hại

Mục đích là xác định chính xác các chỉ tiêu về thành phần, mật độ sâu hại (con/cây), tỉ lệ gây hại và mức độ gây hại của sâu để lập ra danh mục các loài sâu hại thông qua quá trình nghiên cứu trực tiếp về tình hình sâu hại kế thừa tài liệu,

từ đó tìm ra các loài sâu hại chính

3.4.3.1 Phương pháp điều tra sơ bộ

Kết hợp phương pháp kế thừa, thu thập các tài liệu có liên quan

3.4.3.2 Phương pháp điêu tra tỉ mỉ

Được tiến hành theo phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn Ô tiêu chuẩn được lập đảm bảo các chỉ tiêu sau:

Ô tiêu chuẩn là diện tích rừng được chọn ra, trong đó mang đầy đủ các đặc điểm đại diện về đất đai, địa hình, thực bì, hướng phơi đại diện cho lâm phần điều tra

Nếu rừng trồng tương đối đồng đều về địa hình, tuổi cây, thảm thực bì tần dưới thì số lượng ô ít, còn nếu địa hình phức tạp, tuổi cây khác nhau, thực bì không đồng nhất thì cần lập nhiều ô hơn Số lượng ô tiêu chuẩn cần bố trị phụ thuộc vào diện tích của lâm phần và độ chính xác yêu cầu Nhìn chung cứ 10-15 ha đặt một ô tiêu chuẩn để điều tra Diện tích ô tiêu chuẩn có thể nằm trong khoảng 500-2500 m2 tùy theo mật độ trồng, số cây trong ô tiêu chuẩn phải > 100 cây

Hình dạng ô tiêu chuẩn tùy theo địa hình mà có thể là hình vuông, hình chữ nhật hay hình tròn

Vị trí ô tiêu chuẩn phải đảm bảo tính đại diện cho khu vực nghiên cứu, do

đó khi bố trí phải chú ý về đặc điểm địa hình như độ cao, hướng phơi, các đặc điểm về lâm phần như loài cây, tuổi cây, mật độ trồng, độ tàn che, thực bì tầng dưới, tình hình đất đai

Trang 28

22

Ban quản lý rừng phòng hộ nghị lộc có diện tích rừng là 4.917,1 ha trong

đó diện tích trồng thông nhựa lớn Diện tích rừng chủ yếu là thông nhựa thuần loài và chủ yếu nằm trong độ tuổi từ cấp tuổi III đến cấp tuổi VI rừng phát triển tốt, địa hình tương đối phức tạp

Vì vậy vừa để đảm bảo có kết quả đại diện vừa tiết kiệm được tời gian nhân lực và chi phí, tôi đã tiến hành lập 9 OTC với diện tích là 1000 m2 Khu vực điều tra tương đối bằng phẳng nên tôi tiến hành lập OTC hình chữ nhật có kích thước 40m x 25m Sau khi đã xác định được góc vuông ta căng dây đo 1 cạnh có chiều rộng là 25m và ciều dài là 40m, tại mỗi góc ta đều phải xác định các góc vuông theo nguyên tắc ở trên

 Đặc diểm OTC

Để xác định đặc điểm trong OTC kết cần hợp giữa điều tra trực tiếp với kế thừa tài liệu, để có Hvn và D1.3 bình quân, trên mỗ OTC tiến hành điều tra 10 cây bằng phương pháp ngẫu nhiên Dụng cu đo chiều cao của cây là súng bắn độ cao, cong đường kính D1.3 được đo bằng thước đo vanh Hướng phơi và độ dốc thì dùng địa bàn để xác định

Đặc điểm các OTC được thể hiện ở bảng sau

Bảng 1:Bảng điều tra đặc điểm OTC

Đặc điểm

1 Tuổi cây IV-V IV-V IV-V IV-V IV-V IV-V IV-V IV-V IV-V

2 Tên giống Thông

nhựa

Thông nhựa

Thông nhựa

Thông nhựa

Thông nhựa

Thông nhựa

Thông nhựa

Thông nhựa

Thông nhựa

Feralit mùn

Feralit mùn

Feralit mùn

Feralit mùn

Feralit mùn

Feralit mùn

Feralit mùn

7 Thực bì Mua

Mua, rành rành

Mua

Mua, rành rành

Tây bắc Nam Đông bắc nam Tây

Tây bắc Đông Bắc

Trang 29

23

Một số hình ảnh của các OTC

Trang 30

24

 Phương pháp điều tra thành phần sâu hại

(1) Điều tra thành phần, số lượng sâu hại lá Thông

Trên các cành điều tra tiền hành quan sát, đếm số lượng cá thể của các loài sâu hại theo từng giai đoạn phát triển của nó, kết quả thu được ghi vào mẫu biểu sau:

Mẫu biểu 01: Mẫu điều tra thành phần sâu hại thông

Số hiệu OTC: ……… Loài cây: ………

Người điều tra: ……… Ngày điều tra: ………

Tên loài sâu Trứng Non Sâu Nhộng Sâu TT

Tổng

số cành

Ghi chú

1

Trang 31

25

Đánh giá mức độ của sâu hại lá dựa vào: cách phân cấp mức độ bị hại theo tiêu chuẩn sau:

Cấp 0: Là những lá không bị hại

Cấp I: Là những lá bị hại dưới 25% tổng diện tích lá

Cấp II: Là những lá bị hại từ 25-50% tổng diện tích lá

Cấp III: Là những lá bị hại từ 51-75% tổng diện tích lá

Cấp IV: Là những lá bị hại trên 75% tổng diện tích lá

Kết quả thu được ghi vào mẫu biểu sau:

Mẫu biểu 02: Đánh giá mức độ hại lá của sâu ăn lá

Số hiệu OTC: ……… Loài cây: ………

Người điều tra: …… Ngày điều tra: …………

Số lá bị hại ở các cây Chỉ số

hại R%

Ghi chú

1

(2) Điều tra sâu hại thân cành

Trên 5 cành điều tra sâu hại lá, dựa vào dấu vết hoặc triều chứng để tính tổng số cành hoặc tổng số ngon trong cành điều tra, với sâu hại thân thí đếm tổng

số cây bị hại so với tổng số cây điều tra Dùng dao cắt tất cả các cành hoặc ngọn

bị hại chẻ ra để bắt các loài sâu hại hoặc xác định mức độ bị hại Kết quả thu được ghi vào mẫu biểu 03

Mẫu biểu 03: Điều tra số lượng, thành phần sâu hại thân cành

Số hiệu OTC: ……… Loài cây: …………

Người điều tra: ……… Ngày điều tra: …………

Ghi chú

1

2

Trang 32

26

(3) Phương pháp điều tra sâu dưới đất

Phương pháp xác định ô dạng bản: Trong một ô tiêu chuẩn thì chúng ta điều tra 5 ô dạng bản, 4 ô đặt ở 4 góc và 1 ô đặt ở vị trí giữa của ô tiêu chuẩn với diện tích 1m2 (1x1m) Các ô dạng bản được đặt ở dưới gốc cây thông Các ô dạng bản của đợt điều tra tiếp theo tiến dần theo đường chéo của ô tiêu chuẩn, ô dang bản

ở giữ ô tiêu chuẩn thì tiến dần sang hai bên song song với các cạnh của ô tiêu chuẩn và khoảng cách giữa các ô là 1m

Dùng thước gỗ để xác định ô dạng bản, 4 góc đóng 4 cọc tre Sau khi xác định được vị trí ô dạng bản xong, tiến hành như sau:

Trước hết dùng tay bới lớp cỏ, thảm mục trên bề mặt, vừa bới vừa nhổ hết

cỏ của lớp mặt để tìm kiếm các loại côn trùng, sau đó dùng cuốc, cuốc từng lớp đất, mỗi lớp đất cuốc 10cm, đất được đưa về mỗi phía Chú ý đất các lớp được đưa sang các phía khác nhau để tránh nhầm lẫn giữa các lớp Cuốc đến đâu dùng tay bóp đất để tìm kiếm côn trùng tới đó, cứ cuốc như vậy cho tới khi đến lớp đất không có sâu thì dừng lại Kết quả thu được ghi vào mẫu biểu 04:

Mẫu biểu 04: Điều tra sâu hại dưới đất

Số hiệu OTC: ……… Loài cây: ………

Người điều tra: ………… Ngày điều tra: …………

sâu(cm)

Loài sâu

động vật khác

Ghi chú Trứng Sâu

Dựa vào căn cứ:

- Số lần xuất hiện của loài sâu

- Đặc điểm sinh học của các loài sâu

- Mật độ quần thể, tỉ lệ cây hay tỉ lệ ô dạng bản có sâu

- Mức độ gây hại của sâu (R%)

Kết quả: Sau khi xác định được loài chủ yếu, kế thừa tài liệu tham khảo để xác định được đặc điểm hình thái tập tính

Ngày đăng: 02/06/2021, 22:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (2006), Kỹ thuật phòng chống sâu róm thông, Dự án “ Trông rừng Lạng Sơn và Bắc Giang- Biện pháp đào tạo”, Dự án hợp tác tài chính Việt Nam- CHLB Đức, 12 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kỹ thuật phòng chống sâu róm thông, "Dự án “ Trông rừng Lạng Sơn và Bắc Giang- Biện pháp đào tạo
Tác giả: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Năm: 2006
3. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông thôn (2104), Quyết định số 3322/QĐ-BNN-TCLN caut Bộ trưởng Bộ NN & PTNT ngày 28/7/2014 về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông thôn (2104
4. Lê Văn Bình và Phạm Quang Thu (2008) “ Sâu róm 4 túm lông hại thông mã vĩ ở tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn”, Tạp chí NN&PTNT-Bộ NN & PTNT , số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) “ Sâu róm 4 túm lông hại thông mã vĩ ở tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn”
5. Đặng Vũ Cần (1970), “ Phương pháp dự báo sự phát dịch cảu sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker)”, Tập san lâm Nghiệp số 6 trang 23-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Phương pháp dự báo sự phát dịch cảu sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker)”
Tác giả: Đặng Vũ Cần
Năm: 1970
6. Nguyễn Văn Đĩnh (2002) , “ Nghiên cứu đặc tính sinh học cơ bản sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) và sử dụng một số chế phẩm sinh học trong phòng trừ chúng tại Thanh Hóa”, Báo cáo hội nghị côn trùng học taong quốc (lần thứ 4) , NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, trang 159-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nghiên cứu đặc tính sinh học cơ bản sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) và sử dụng một số chế phẩm sinh học trong phòng trừ chúng tại Thanh Hóa”
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
7. Bùi Đình Đức (2011), “ Nghiên cứu đề xuất biện pháp vật lý cơ giới phòng trừ sâu róm 4 túm lông (Dasychira axutha Collennette) hại thông tại Lợi Bắc huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn”, Luận văn Thạc sĩ khoa học Lâm Nghiệp, Đại học Lâm Nghiệp, 72 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “ Nghiên cứu đề xuất biện pháp vật lý cơ giới phòng trừ sâu róm 4 túm lông (Dasychira axutha Collennette) hại thông tại Lợi Bắc huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn”
Tác giả: Bùi Đình Đức
Năm: 2011
8. Đõ Thanh Hải (2001), Nghiên cứu sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) và khả năng phòng trừu bằng chế phẩm Beauveria tại Thanh Hóa, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nông Nghiệp, Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, 78 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) và khả năng phòng trừu bằng chế phẩm Beauveria tại Thanh Hóa
Tác giả: Đõ Thanh Hải
Năm: 2001
9. Phùng thị Hoa (2006), Nghiên cứu sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) và biện pháp phong trừ tại Nghệ An, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nông Nghiệp, Viện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam, 79 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghiên cứu sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) và biện pháp phong trừ tại Nghệ An
Tác giả: Phùng thị Hoa
Năm: 2006
10. Xuân Hồng (1974), “ Bảo về ong và ruồi có ích trong khi sử dụng thuốc hóa học phòng trừ sâu róm thông”, Tập san Lâm Nghiệp, Bộ Lâm Nghiệp, số 5 , trang 19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Bảo về ong và ruồi có ích trong khi sử dụng thuốc hóa học phòng trừ sâu róm thông”
Tác giả: Xuân Hồng
Năm: 1974
11. Lê Nam Hùng (1990), Báo cáo tổng kết đề tài “ Nghiên cứu biện pháp dự tính dự báo và phòng trừu tổng hợp loài sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) ở miêng Bắc Việt Nam”, Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam, 113 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Nghiên cứu biện pháp dự tính dự báo và phòng trừu tổng hợp loài sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) ở miêng Bắc Việt Nam”
Tác giả: Lê Nam Hùng
Năm: 1990
13. Lê Nam Hùng, Nguyên Văn Độ, Phan Văn Ninh và Cù Thị Cư (1990), “Nghiên cứu biện pháp dưu tinh dự báo và phòng trừ tổng hợp loài sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) ở miền Bắc Việt Nam”, Kết quả nghiên cứu khoa học (1986-1992), Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam, Nhà xuât bản Nông Nghiệp, Hà Nội, trang 13-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu biện pháp dưu tinh dự báo và phòng trừ tổng hợp loài sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) ở miền Bắc Việt Nam”
Tác giả: Lê Nam Hùng, Nguyên Văn Độ, Phan Văn Ninh và Cù Thị Cư
Năm: 1990
14. Nguyễn Hiếu Liêm (1968), “ Sâu róm thông ở Nông trường Yên Dũng và biện pháp phòng trừ”, Tạp chí Lâm Nghiệp số 9 , trang 14-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Sâu róm thông ở Nông trường Yên Dũng và biện pháp phòng trừ”
Tác giả: Nguyễn Hiếu Liêm
Năm: 1968
15. Trần Văn Mão (1983), “Sử dụng chế phẩm Boverin trong phòng trừ sâu róm thông ở Việt Nam”, Tạp chí Lâm Nghiệp số 8, trang 24-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sử dụng chế phẩm Boverin trong phòng trừ sâu róm thông ở Việt Nam”
Tác giả: Trần Văn Mão
Năm: 1983
16. Phạm Bình Quyền (2004), “Một vài khái cạnh về sự phát dịch của sâu róm thông và vai trò của các loài nhặng ký sinh đối với chúng”, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 2, trang 46-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Một vài khái cạnh về sự phát dịch của sâu róm thông và vai trò của các loài nhặng ký sinh đối với chúng”
Tác giả: Phạm Bình Quyền
Năm: 2004
17. Nguyễn Duy Thiệu (1975), “Dự tính dự báo sự phát dịch của sâu róm thông theo thế hệ ở những rừng thông từ 10 đến 20 năm”, Tập san Lâm Nghiệp, số 12, trang 16-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Dự tính dự báo sự phát dịch của sâu róm thông theo thế hệ ở những rừng thông từ 10 đến 20 năm”
Tác giả: Nguyễn Duy Thiệu
Năm: 1975
18. Phạm Thị Thùy (1996), “Khảo nghiệm chế phẩm nấm Beauveria bassiana Vuill để phong trừ sâu róm thông ở lâm trường Hà Trung- Thanh Hóa”, Tạp chí Nông Nghiệp-Công Nghệ-Thức Phẩm, trang 501-502 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Khảo nghiệm chế phẩm nấm Beauveria bassiana Vuill để phong trừ sâu róm thông ở lâm trường Hà Trung- Thanh Hóa”
Tác giả: Phạm Thị Thùy
Năm: 1996
19. Nguyễn Đậu Toàn (1994), “Một số kết quả nghiên cứu vsanr xuất và ứng dụng NPV (vi rút nhân đa diện) để phòng trừu đối tượng sâu hại (Dendrolimus punctatus Walker) trên rừng thông Thanh Hóa”, Báo cáo khoa học năm 1994, Việm Bảo Vệ Thực Vật Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số kết quả nghiên cứu vsanr xuất và ứng dụng NPV (vi rút nhân đa diện) để phòng trừu đối tượng sâu hại (Dendrolimus punctatus Walker) trên rừng thông Thanh Hóa”
Tác giả: Nguyễn Đậu Toàn
Năm: 1994
20. Đào Xuân Trường (1976), “Một số vân đề cần chú ý qua đợt chỉ đạo phòng trừ sâu róm thông tại Bố Trạch, Bình Trị Thiên”, Tập san Lâm Nghiệp, số 11, trang 22-24.Ngoài Nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vân đề cần chú ý qua đợt chỉ đạo phòng trừ sâu róm thông tại Bố Trạch, Bình Trị Thiên”
Tác giả: Đào Xuân Trường
Năm: 1976
2. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông thôn (2010), Quyết định số 3377/QĐ-BNN-TCLN ngày16/12/2010 về việc công nhận Giống cây trồng Lâm Nghiệp mới Khác
12. Lê Nam Hùng và Nguyễn Văn Độ (1990), Nghiên cứu phòng trừu sâu róm thông dựa trên nguyên tắc phòng trừ tổng hợp mới được tiến hành Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w