TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Một số nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về tre trúc đã có lịch sử lâu dài và đa dạng trên toàn thế giới, với những đóng góp quan trọng từ các nhà thực vật học trong việc bảo tồn và khai thác giá trị sử dụng của chúng Một trong những ấn phẩm đáng chú ý là nghiên cứu của Munro (1868), tiếp theo là nghiên cứu về loài tre trúc Ấn Độ của Gamble (1896), trong đó tác giả mô tả 151 loài tre trúc phân bố tại Ấn Độ và các nước lân cận như Pakistan, Sri Lanka, Myanmar, Malaysia và Indonesia Gamble chỉ ra rằng các loài tre trúc có thể chỉ thị đặc điểm và độ phì của đất, như loài Bambusa polymorphe thường xuất hiện ở những vùng đất ẩm và giàu dinh dưỡng, trong khi loài Bendrocalamus strictus lại phát triển trong điều kiện khô hạn, thuộc kiểu rừng thưa và rụng lá.
Trong tác phẩm “Bàn về công tác tái sinh tự nhiên và quy hoạch rừng tre trúc” của S.K Seth, tác giả chỉ ra rằng mỗi loài tre trúc đều có tính quần cư đặc trưng và khu vực sinh trưởng rõ ràng Điều này cho phép chúng trở thành chỉ thị hiệu quả cho các kiểu rừng tự nhiên, mà những kiểu rừng này lại liên quan chặt chẽ đến các đặc điểm, tính chất và độ phì nhiêu của đất.
Theo nghiên cứu của Y.S Ahmad và một số tác giả khác, các loài tre trúc thân mọc cụm ở Pakistan thường thích nghi tốt với đất feralit có thành phần cơ giới nặng, nơi có hạ sét chiếm ưu thế và yêu cầu đất phải thoát nước tốt.
Tại một số quốc gia Mỹ Latinh, người dân đã tích lũy kinh nghiệm trong việc lựa chọn địa điểm trồng chuối dựa vào sự phân bố của loài tre Guadua.
Trong tác phẩm “Rừng tre trúc” tập 1 do FAO xuất bản năm 1959, các tác giả I.T Haig, M.A Huberman và U Aung Din nhận định rằng sự phân bố tự nhiên của các loài tre trúc ở Myanma phản ánh rõ ràng điều kiện đất đai tại đây Cụ thể, loài Bambusa polymorphe chỉ thị cho đất tốt, ẩm ướt quanh năm và thoát nước tốt, trong khi loài Bambusa arundinaria cho thấy đất giàu khoáng chất và phù sa thung lũng Ngược lại, loài Dendrocalamus strictus chỉ ra điều kiện đất khô.
Trung Quốc, với diện tích rừng tre trúc đứng thứ hai thế giới chỉ sau Ấn Độ, sở hữu khoảng 500 loài thuộc 50 chi, là nơi có sự phong phú nhất về loài tre trúc Tác phẩm “Trúc loại kinh doanh” của Ôn Thái Huy, xuất bản năm 1959, đã trình bày các loài tre trúc quan trọng và phương thức kinh doanh của chúng Trong số đó, loài Mao Trúc chiếm tới 75% sản phẩm xuất khẩu măng tre của Trung Quốc sang Nhật Bản, đã được nghiên cứu kỹ lưỡng về quá trình sinh trưởng và dinh dưỡng bằng các phương pháp hiện đại Các kỹ thuật trồng rừng Mao Trúc cao sản do Lý Đại Nhật và Lâm Cường phát triển, được Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật tỉnh Phúc Kiến xuất bản vào tháng 5 năm 2000, có thể cung cấp các biện pháp kỹ thuật thâm canh hữu ích cho rừng tre trúc tại Việt Nam.
Gần đây, Trung Quốc đã chú trọng nghiên cứu kỹ thuật trồng tre trúc lấy măng cao sản, được giới thiệu trong tác phẩm “Kỹ thuật gây trồng tre trúc lấy măng cao sản” của Hà Quân Triều, Kim Ái Võ, Châu Ngạch, xuất bản tháng 3 năm 2002 Bên cạnh đó, cuốn “Kỹ thuật gây trồng trúc hướng măng và chế biến măng thực phẩm” của Vương Hiến Bồi, phát hành tháng 1 năm 2003, cũng đóng góp quan trọng vào lĩnh vực này.
Trồng rừng tre trúc lấy măng đang được triển khai tại một số địa phương ở Việt Nam nhằm nâng cao giá trị kinh tế của rừng tre trúc.
Ngoài Trung Quốc, Nhật Bản cũng sở hữu diện tích rừng tre trúc lớn với 237 loài khác nhau, chủ yếu là các loài tre mọc tản, dạng roi Nghiên cứu về dinh dưỡng và sinh trưởng của các loài tre trúc tại Nhật Bản đã được thực hiện sâu sắc, đặc biệt trong tác phẩm “Nghiên cứu sinh lý tre trúc” của Tiến sĩ Koichiro Ueda, giáo sư tại trường đại học Kyoto, xuất bản năm 1960 Tác phẩm này đã chỉ ra sự khác biệt trong đặc điểm đất trồng giữa hai loại trúc Phyllostachys reticulta.
Phyllostachys edulis ở các nơi đất sinh trưởng tốt và xấu như sau:
Đất trồng tre trúc phát triển tốt cần có độ xốp cao, độ ẩm vừa phải, khả năng giữ nước lớn và thoát nước hiệu quả Các chỉ số như hàm lượng hạt sét, hàm lượng mùn, hàm lượng nitơ tổng số, cùng với hàm lượng K2O và CaO hòa tan trong axit HCl nóng đều cao hơn đáng kể so với các khu vực đất trồng tre trúc kém phát triển.
Phân loại tre trúc là một vấn đề phức tạp và gặp nhiều khó khăn hơn so với việc phân loại các loài cây gỗ Rao và Biswas đã nghiên cứu vấn đề này từ năm 1995, cho thấy sự cần thiết phải có những phương pháp phân loại chính xác hơn.
1999 Rao và Li đã phân loại hệ thống các loài tre trúc phân bố trên thế giới, gồm
Trên thế giới, có tổng cộng 1250 loài tre trúc thuộc 75 chi, trong đó Châu Á là khu vực đặc biệt giàu có với khoảng 900 loài, thuộc 65 chi Trung Quốc dẫn đầu về số lượng loài tre trúc với 500 loài, thuộc 39 chi Tiếp theo là Indonesia với 135 loài thuộc 21 chi, và Ấn Độ đứng thứ ba với 130 loài thuộc 21 chi.
Theo nghiên cứu của Dransfield và Widjaja (1995), Đông Nam Á có khoảng 200 loài tre thuộc 20 chi khác nhau Trong đó, chi Bambusa chiếm ưu thế với khoảng 37 loài, tiếp theo là chi Schizostachyum với khoảng 30 loài và chi Dendrocalamus với khoảng 29 loài Bên cạnh đó, khu vực này còn có 8 chi tre trúc chỉ có từ 1 đến 2 loài.
Mạy hốc (Dendrocalamus semiscandens Hsueh et DZ Li) là loài cây được mô tả bởi Hsueh et DZ Li trong cuốn "Hệ thệ vật Trung Quốc" tập 9, trang 184 Cây có chiều cao từ 10-18 mét, đường kính từ 10-15 cm, với các đốt dài từ 29-25 (-60) cm và dày đặc khi còn nhỏ Đặc điểm nổi bật là lông tơ trắng bạc dài từ 0,5-1 cm, cùng với vòng lông tơ dày đặc màu trắng ở phần trong và bên dưới.
Cành cây phát triển từ 0,5 mét dưới nhánh chính, có thể chia thành nhiều nhánh phụ với độ dày tương đương, có vỏ sần sùi và lông nhỏ Lá có từ 6-12 chiếc, dài 25-35 cm, rộng 3-4,5 cm, với lông nhỏ màu trắng và có thể có lông ở mặt dưới Các nhánh hoa dài từ 2,8 - 4,5 cm, có hình dáng phẳng hoặc rãnh, được phủ bằng Polise màu nâu vàng, với đường kính cụm hoa từ 1,9-3,2 cm Hoa có 1-3 mảnh, dài 7 mm, rộng 4 mm, có 8 vân Quả có màu vàng, với đầu và mỏ có lông tơ ngắn màu trắng, ra hoa vào tháng 9 và phân bố tự nhiên ở độ cao 500-1000 mét so với mực nước biển Măng của loài này rất ngon và được ưa chuộng để phát triển tại Vân Nam, Trung Quốc.
Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam đã có lịch sử lâu dài, bắt đầu từ công trình của một người Pháp trong ấn phẩm thực vật chí Đông Dương năm 1923 Vào những năm 1960, Phạm Quang Độ đã thực hiện nghiên cứu về kỹ thuật trồng và khai thác tre trúc, mở ra nhiều hướng nghiên cứu khác như phân loại, kỹ thuật nhân giống và chăm sóc rừng tre Các nghiên cứu đáng chú ý bao gồm kinh nghiệm trồng luồng của Phạm Văn Tích và nghiên cứu đất trồng luồng của Nguyễn Ngọc Bình, cùng với việc phân loại tre trúc theo hình thái của Trần Đình Đại.
Từ năm 1967 đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về bệnh hại tre (Trần Văn Mão 1972) cũng như giá trị sử dụng và đặc điểm sinh vật học của một số loài tre trúc tại Việt Nam.
Công trình nghiên cứu đầu tiên về tre trúc ở Việt Nam được thực hiện bởi Le Comte và xuất bản năm 1923 trong bộ sách “Thực vật chí Đông Dương” Đến năm 1974, các nhà phân loại thực vật như Phan Kế Lộc và Vũ Văn Dũng tiếp tục nghiên cứu về các loài tre trúc ở miền Bắc Việt Nam Năm 1971, cuốn sách “Nhận biết, gây trồng bảo vệ và khai thác tre trúc” do Lê Nguyên chủ biên chỉ đề cập đến một số loài tre trúc chủ yếu ở miền Bắc.
Năm 1999, khi nước nhà đã thống nhất, Phạm Hoàng Hộ đã phân loại các loài tre trúc ở Việt Nam có tới 123 loài, thuộc 23 chi
Dự án “Đa dạng loài và bảo tồn ex-situ một số loài tre ở Việt Nam”, được tài trợ bởi Văn phòng khu vực châu Á – Thái Bình Dương thuộc Viện tài nguyên Di truyền thực vật Thế Giới (IPGRI), đã mời hai chuyên gia phân loại tre từ Trung Quốc, giáo sư LiDezhu và giáo sư Xia Nianshe, để hỗ trợ Việt Nam trong việc phân loại các chi và loài tre trúc Kết quả nghiên cứu này đã được tổng hợp và giới thiệu trong cuốn sách “Tre trúc Việt Nam”, với 206 trang, được xuất bản gần đây.
Bên cạnh đó cũng có một số công trình nghiên cứu nhỏ được thực hiện như:
- “Kết cấu về quần thể rừng trúc” tác giả Trần Đức Hậu, Tập san Lâm nghiệp số 11/1977
- “Đặc điểm rừng tre Mạy sang, phân bố tự nhiên ở vùng Tây Bắc” của Nguyên Văn Bơ – (Viện ĐTQHR – Bộ Lâm nghiệp), 1984
- Tác phẩm “Lồ ô” của Lâm Xuân Sanh và Châu Quang Hiền do nhà xuất bản Nông nghiệp xuất bản năm 1984
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu không chỉ về phân loại, phân bố và đặc điểm sinh trưởng của các loài tre trúc quan trọng ở Việt Nam, mà còn về kỹ thuật gây trồng, khai thác và chế biến những loài này.
Cuốn sách “Cây cỏ Việt Nam” của tác giả Phạm Hoàng Hộ, xuất bản năm 1999 bởi Nhà xuất bản Trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh, là một từ điển quý giá về các loài tre Tác phẩm này đã liệt kê và mô tả 18 chi và 126 loài tre, trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu về thực vật học tại Việt Nam.
Cuốn sách “Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam” do Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam biên soạn năm 2005, cung cấp thông tin chi tiết về phân họ tre (Bambusoideae), bao gồm phân bố, dạng sống, sinh thái và công dụng của 29 chi và 131 loài tre Đây là tài liệu hữu ích cho việc tra cứu và tham khảo.
Các nghiên cứu về tre trúc như “ Tài nguyên tre Việt Nam” của Nguyễn
Tử Ưởng năm 2001 đã tổng hợp thông tin về giá trị kinh tế, diện tích, kiểu sống, trữ lượng, phân bố và nguy cơ tuyệt chủng của loài Tre ở Việt Nam Nghiên cứu này mang lại cái nhìn tổng quan về tài nguyên Tre và các hoạt động nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng Tre trong nước.
Năm 2001, nghiên cứu của Lê Viết Lâm mang tên “Điều tra bổ sung thành phần loài, phân bố và một số đặc điểm sinh thái các loài Tre chủ yếu ở Việt Nam” đã đóng góp quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống phân loại Tre tại Việt Nam Nghiên cứu này bao gồm việc thu thập mẫu vật, xây dựng bộ sưu tập, giám định mẫu vật, kiểm tra và chỉnh lý tên khoa học, cùng với việc khảo sát phân bố và một số đặc điểm sinh thái của các loài Tre chính.
Nhiều nghiên cứu kế thừa kết hợp điều tra và kiểm nghiệm thực địa đã đóng góp giá trị lớn trong lĩnh vực phân loại và nhận biết thực vật Đáng chú ý là công trình của Trần Đình Đại (1967) về tre trúc theo hình thái và nghiên cứu của Hồ Viết Sắc (1970) về các loài tre bản xứ ở Việt Nam Ngoài ra, Lê Nguyên và cộng sự (1971) đã nghiên cứu đặc điểm nhận biết, gây trồng, bảo vệ và khai thác tre trúc, cùng với những đóng góp của Nguyễn Tử Ưởng trong lĩnh vực này.
Tài nguyên tre Việt Nam đã được nghiên cứu từ năm 1996, với công trình gần đây nhất là "Tre trúc Việt Nam" của Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005), trong đó mô tả chi tiết về hình thái, sinh thái và sự phân bố của tre trúc trong nước.
Có 194 loài thuộc 24 chi tre trúc, nhưng tác giả đã tổng hợp được 216 loài từ 25 chi dựa trên các tài liệu khác nhau Bài viết đề cập đến phân loại, cấu trúc và phân bố của rừng tre trúc tại Việt Nam do Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn thực hiện.
Năm 2007, tác giả đã xuất bản công trình "Các loại rừng tre trúc ở Việt Nam", tổng hợp các đặc điểm phân bố, sinh trưởng và kỹ thuật trồng cũng như kinh doanh rừng tre trúc quan trọng tại Việt Nam Cuốn sách này cung cấp cái nhìn tổng quan về tài nguyên tre ở Việt Nam và thế giới, cùng với các đặc điểm hình thái và phương thức phát triển Trên toàn cầu, có khoảng 1250 loài tre thuộc 75 chi, trong khi Việt Nam có 61 loài thuộc 31 chi, chủ yếu phân bố ở miền Bắc "Sách đỏ Việt Nam" cũng được xuất bản năm 2007, nêu rõ những loài cây quý hiếm và bị đe dọa, trong đó có hai loại tre hiếm: Trúc vuông và Trúc đen, với mô tả chi tiết về đặc điểm nhận dạng, sinh học, sinh thái, phân bố, giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ.
Nghiên cứu về phân loại tre trúc đã đạt được nhiều thành tựu, với nhiều ấn phẩm giá trị trong lĩnh vực này Tuy nhiên, vẫn còn một số loài chưa được mô tả đầy đủ, mặc dù đã có tên trong danh mục Cần chú trọng hơn đến việc điều tra và khảo sát các loài mới trên toàn quốc Đối với các loài đã được phân loại, việc xây dựng mẫu vật là rất quan trọng để hỗ trợ nghiên cứu, phân loại và sản xuất.
Nghiên cứu về kỹ thuật lâm sinh trong lĩnh vực tre trúc đã được thực hiện từ năm 1963, với khoảng 52 công trình nghiên cứu Các nghiên cứu này tập trung vào nhân giống, khảo nghiệm, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và khai thác các loại tre trúc Cuốn sách "Trồng và khai thác tre nửa trúc" của Phạm Quang Độ được xem là một trong những tài liệu đầu tiên về chủ đề này, cung cấp cái nhìn tổng quát về đời sống và phương thức gây trồng tre nứa Năm 2005, nhóm nghiên cứu từ trường Đại học Lâm nghiệp đã thực hiện đề tài nhằm đánh giá thực trạng tài nguyên tre trúc tại Hòa Bình, đề xuất giải pháp quản lý dựa trên cộng đồng người Thái Họ đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu như đánh giá nhanh nông thôn và điều tra chuyên ngành để thu thập thông tin và triển khai thử nghiệm về nhân giống và bảo vệ tài nguyên tre.
Sử dụng phương pháp điều tra chuyên ngành để xác định loài, đánh giá tình hình sinh trưởng, phân bố, sâu bệnh hại của các loài
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Góp phần bảo tồn tài nguyên thực vật rừng tại khu vực nghiên cứu
Xác định được đặc điểm sinh vật học của loài Mạy hốc tại khu vực nghiên cứu
Xác định giá trị sử dụng và công dụng của loài Mạy hốc trong khu vực nghiên cứu là rất quan trọng Đồng thời, cần đề xuất các giải pháp hiệu quả để quản lý và bảo tồn loài Mạy hốc, đảm bảo sự phát triển bền vững của loài này trong môi trường sống tự nhiên.
Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
Loài Mạy hốc (Dendrocalamus semiscandens Hsueh et D Z Li) có phân bố tự nhiên tại bản Phìn Hồ - xã Phìn Hồ - huyện Nậm Pồ - tỉnh Điện Biên
2.2.2 Thời gian và địa điêm nghiên cứu
Khu vực nghiên cứu tại bản Phìn Hồ - xã Phìn Hồ - huyện Nậm Pồ - Tỉnh Điện Biên.
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái vật hậu
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài
- Tìm hiểu giá trị sử dụng của loài Mạy hốc
- Tìm hiểu tình hình quản lý loài Mạy hốc, đề xuất giải pháp bảo tồn loài
Phương pháp nghiên cứu
Để thu thập kết quả chính xác cho khóa luận, chúng tôi đã chọn phương pháp điều tra trực tuyến để nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Mạy hốc Bên cạnh đó, việc phỏng vấn người dân và cán bộ quản lý tại khu vực nghiên cứu giúp tìm hiểu về tên gọi địa phương cũng như các giá trị sử dụng và khai thác của loài Mạy hốc trong khu vực này.
Thu thập tài liệu liên quan đến điều tra nghiên cứu thực vật và lựa chọn có chọn lọc các tài liệu về loài Mạy hốc là rất quan trọng để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của nghiên cứu.
* Chuẩn bị dụng cụ và biểu điều tra
Dụng cụ gồm có: máy định vị toàn cầu GPS Gamin hoặc dùng ứng dụng
Ứng dụng "Where’s my Droid" trên điện thoại giúp ghi chép thông tin điều tra với các biểu mẫu như: biểu điều tra đặc điểm hình thái, biểu điều tra tuyến, biểu điều tra tầng cây cao, biểu điều tra tầng cây bụi thảm tươi, biểu điều tra tầng cây tái sinh, và bảng câu hỏi phỏng vấn.
Thước dây, địa bàn, nhãn, dây buộc, máy ảnh, bút ghi Các dụng cụ khác có liên quan
Để tiến hành nghiên cứu hiệu quả, cần thu thập các tài liệu quan trọng như bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng, thông tin về khí tượng thủy văn, điều kiện tự nhiên và sinh kế của cư dân trong khu vực nghiên cứu Ngoài ra, tài liệu nghiên cứu về loài Mạy hốc cùng với giá trị sử dụng của loài này trong khu vực cũng rất cần thiết.
2.4.3 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
2.4.3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái vật hậu của loài Mạy hốc a Đặc điểm hình thái Để nghiên cứu đặc điểm hình thái, vật hậu của loài Mạy hốc, sử dụng phương pháp quan sát kết hợp với đo đếm, mô tả ở thực địa, thu thập số liệu cho một số nội dung sau: Hvn, Doo(cm), D1.3(cm), kích thước thân, rễ, măng, lá,
Để nghiên cứu đặc điểm về lá, chúng tôi đã thực hiện điều tra các chỉ số D00(cm), D1.3(cm) và Hvn(m) trên mỗi ô tiêu chuẩn Từ đó, chúng tôi chọn ra 10 cành đại diện, bao gồm 2 cành ở ngọn, 4 cành ở giữa tán và 4 cành ở dưới tán, theo hướng Đông, Tây, Nam và Bắc Trên mỗi cành, chúng tôi ngẫu nhiên chọn 4 lá đã thành thục, không bị sâu bệnh, không dị dạng và không bị tổn thương cơ giới để đo đếm các chỉ tiêu như hình dạng lá, chiều dài, chiều rộng, chiều dài cuống lá, số lượng gân lá và màu sắc lá.
+ Đặc điểm về thân: Từ kết quả quan sát, thu thập mẫu Ta chọn ra 5 cây để mô tả về thân
+ Đặc điểm về măng: Tìm hiểu về cách mọc, hình thái, màu sắc,
Tiến hành lập 4 tuyến điều tra hiện trạng, các tuyến được chọn phải đi qua các dạng sinh cảnh có loài phân bố
Trong các tuyến điều tra, thu thập mẫu, tình hình sinh trưởng của loài Kết quả mô tả được ghi ở mẫu biểu 01
Biểu 01: Phiếu mô tả đặc điểm vật hậu của loài
Tên loài: Ngày điều tra:
Vị trí: Trạng thái rừng: Địa điểm: Độ dốc: Độ cao:
- Măng (từng quá trình mọc)
- Mo nang: Non, Già, rụng
Biểu 01b: BIỂU ĐO ĐẾM SINH TRƯỞNG VỀ CÂY MẠY HỐC Địa điểm: Bản Phìn Hồ - Xã Phìn Hồ - Huyện Nậm Pồ - tỉnh Điện Biên
Tuổi 1 Tuổi >2 Thời gian khai thác măng
Trên tuyến chọn 3 bụi, trong 1 bụi chọn 1 cây > 1 tuổi, chọn 1 cây