TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tình hình nghiên cứu bệnh khô đỏ lá thông ngoài nước
Nghiên cứu về bệnh cây rừng đã bắt đầu từ 150 năm trước, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành Lâm Nghiệp Robert Hartig (1839-1901), một nhà khoa học người Đức, là người đầu tiên phát hiện ra quả thể và sợi nấm trong gỗ, qua đó góp phần công bố những phát hiện này ra toàn thế giới.
Năm 1974, nhà bệnh lý học Liên Xô Vanhin (1890-1951) đã có những cống hiến xuất sắc cho môn bệnh lý cây rừng, đặc biệt trong việc nghiên cứu bệnh mục gỗ và bệnh mục trên cây đứng Ông được coi là người sáng lập trường bệnh lý cây rừng ở Liên Xô.
Dothistroma septosporum, hay Mycosphaerella pini, là nấm gây bệnh khô đỏ lá Thông, chủ yếu ảnh hưởng đến cây trong họ lá kim, đặc biệt là cây thông Hơn 60 loài đã được ghi nhận là dễ bị nhiễm, trong đó thông (Pinus nigra) là loài dễ bị tổn thương nhất tại Vương quốc Anh Nấm này lần đầu tiên được phát hiện ở Anh trên cây thông.
1954 trong một vườn ươm ở Dorset
Vào những năm 50 của thế kỷ XX, các nhà khoa học như L Roger và John Boyce đã tập trung nghiên cứu về bệnh cây, xác định loài và nguyên nhân gây bệnh, cũng như các điều kiện phát sinh bệnh L Roger (1953) nghiên cứu bệnh hại cây ở các nước nhiệt đới, trong khi John Boyce (1951) mô tả nhiều bệnh hại cây rừng phổ biến G.H Haptinh, nhà khoa học người Mỹ, đã dành 30 năm (từ 1940 đến 1970) để điều tra chủng loại và mức độ bị hại liên quan đến sinh thái cây và bệnh hại.
Nhiều nhà khoa học Ấn Độ và Trung Quốc, như Spaulding (1961), Bavski (1964) và Peace (1962), đã công bố nhiều loại bệnh hại trên cây rừng, trong đó nổi bật là bệnh đốm lá gây hại cho cây Bạch đàn.
Vào tháng 5 năm 1990, các cuộc điều tra tại Khu rừng Miechów, cách Kraków 20 km về phía bắc, đã phát hiện D septospora [Mycosphaerella pini] lần đầu tiên trên cây Pinus nigra ở Ba Lan.
Tình hình bệnh hại trên thông tại nước ta hiện nay
Vào năm 1960, Hoàng Thị My đã tiến hành điều tra về bệnh cây rừng tại miền Nam Việt Nam và đề cập đến một số bệnh hại lá Đến năm 1971, GS.TS Trần Văn Mão công bố các loại bệnh trên cây như Trẩu, Sở, Quế, Hồi, mô tả chi tiết triệu chứng, nguyên nhân, điều kiện phát sinh và biện pháp phòng trừ Sau đó, các tác giả như Nguyễn Kim Oanh, Nguyễn Sĩ Giao, Lê Văn Liễu và Đỗ Quang Duy tiếp tục nghiên cứu các bệnh hại lá, bao gồm bệnh cháy lá Bạch đàn, bệnh khô rơm lá Thông và bệnh đốm đỏ lá Thông.
Theo số liệu kiểm kê rừng Việt Nam năm 2001 tính đến hết tháng 12 năm
Đến năm 1999, Việt Nam có 1.471.394 ha rừng trồng, trong đó cây thông chiếm 218.056 ha, đứng thứ ba sau bạch đàn và keo Cây thông, với giá trị kinh tế cao, cung cấp gỗ cho xây dựng, sản xuất giấy và nhựa thông, được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp như sơn, vecni và vật liệu cách điện Cây thông phát triển tốt trên đất trống và cằn cỗi, là một trong những loài cây chủ lực trong chương trình trồng 5 triệu ha rừng Tuy nhiên, việc trồng và phát triển cây thông gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là nguy cơ từ sâu bệnh Tại rừng trồng và vườn ươm, đã ghi nhận 45 loài sâu hại, trong đó có nhiều loài gây dịch như sâu ăn lá và sâu đục nõn, đặc biệt là sâu róm thông.
Dendrolimus punctatus Walker đã gây ra mức độ và quy mô phá hại nghiêm trọng đối với các loài thông, thu hút sự chú ý của các nhà quản lý, sản xuất và các nhà khoa học Họ đã nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh và đề xuất giải pháp quản lý dịch bệnh hiệu quả Một số bệnh điển hình ảnh hưởng đến sản xuất cây con tại vườn ươm và sinh trưởng rừng trồng bao gồm bệnh thối cổ rễ, bệnh rơm lá thông, bệnh vàng còi, bệnh tuyến trùng hại thông ba lá và bệnh khô xám lá thông Gần đây, một số rừng trồng thông, đặc biệt là thông nhựa và thông mã vĩ tại các vùng như Chương Mỹ, đã bị ảnh hưởng đáng kể.
Tại Hà Tây, Lương Sơn – Hoà Bình, Hà Trung – Thanh Hoá và Đô Lương – Nghệ An, triệu chứng lá thông bị khô màu nâu hơi đỏ đã xuất hiện Bệnh bắt đầu từ tầng dưới của tán lá vào đầu mùa mưa, lá bị nhiễm bệnh khô dần từ đầu vào giữa, sau đó toàn bộ lá bị khô Cuối mùa mưa, bệnh lan lên phía trên tán lá, và trong trường hợp nặng, toàn bộ lá sẽ bị khô Để tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp hạn chế ảnh hưởng của bệnh, phòng Nghiên cứu bảo vệ thực vật rừng thuộc Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã thu mẫu bệnh tại Chương Mỹ, Hà Tây nhằm xác định nguyên nhân và nghiên cứu quá trình phát sinh phát triển của bệnh để tìm kiếm giải pháp quản lý hiệu quả.
Từ tháng 5 năm 2010, một số rừng trồng thông thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hoá - Đakrông (Quảng Trị) đã xuất hiện bệnh hại tại các tiểu khu 692, 693, 675 và 675B, ảnh hưởng đến rừng trồng thông nhựa của dự án 661 và JBIC Diện tích thiệt hại lên tới 1.277,3 ha, với toàn bộ cây trong lâm phần đều bị nhiễm bệnh Bệnh xuất hiện chủ yếu trên lá thông già, với triệu chứng lá khô vàng từ gốc đến ngọn và hình thành đốm vàng nâu Theo cẩm nang ngành lâm nghiệp năm 2006, bệnh này được xác định là do loài nấm gây ra.
Dothistroma septospora Morelet gây ra Bệnh đƣợc phát hiện vào ngày
Bệnh lây lan nhanh chóng tại huyện Hướng Hoá do thời điểm cuối mùa khô, gió Tây Nam mạnh làm tăng tốc độ phát tán bào tử nấm Khu vực này có diện tích rừng thông trồng tập trung lớn và còn non (từ 4-9 tuổi), dẫn đến nguy cơ lây nhiễm cao.
Bệnh khô đỏ lá thông do nấm Dothistroma septospora Morelet gây hại chủ yếu trên cây thông mã vĩ và thông nhựa, được coi là một bệnh nguy hiểm toàn cầu Tại Việt Nam, bệnh này đã gây ra dịch cục bộ ở một số khu vực thuộc tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An.
Hà Tĩnh Qua điều tra cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh lên đến 90 - 100%.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐIỀU KIỆN XINH TẾ XÃ HỘI
Vị trí địa lý
Nghĩa Phú là xã thuộc huyện Nghĩa Hƣng, tỉnh Nam Định, Việt Nam
Xã Nghĩa Phú nằm ở khu vực trung tâm của huyện Nghĩa Hƣng, thuộc tả ngạn sông Đáy
Phía bắc giáp xã Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Hƣng
Phía đông giáp xã Nghĩa Phong, huyện Nghĩa Hƣng
Phía nam, khu vực giáp với xã Nghĩa Tân và thị trấn Quỹ Nhất thuộc huyện Nghĩa Hưng Phía tây, khu vực tiếp giáp với các xã Ân Hòa, Kim Định và Hồi Ninh của huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, với ranh giới tự nhiên là sông Đáy.
Diện tích và dân số
Điều kiện tự nhiên
Xã Nghĩa Phú nằm cách thành phố Nam Định 45km và Hà Nội 135km, thuộc vùng đồng bằng với đất phù sa màu mỡ Khu vực này có hai con sông lớn là Ninh Cơ và Đáy chảy qua, đồng thời còn có bờ biển ở phía nam huyện.
Nghĩa Phú là một xã ven biển thuộc vùng Nam đồng bằng sông Hồng, với chiều dài bờ biển 9 km Phía tây giáp sông Đáy và phía đông là sông Ninh Cơ, nơi có các bãi cát, đụn cát và đầm nước mặn Khu vực này còn có các đầm nuôi trồng thủy sản và ruộng muối dọc sông Ninh Cơ Ngoài con đê chính, có khoảng 3.500 ha bãi ngập triều Cách bờ biển 5 km, có hai đảo cát nhỏ diện tích 25 ha, cùng với các đụn cát và đầm nước mặn phía nam Nghĩa Phú cũng là một trong những xã có rừng phòng hộ ven biển thuộc huyện Nghĩa Hưng, nằm trong khu vực được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng.
Là một xã thuần nhất đồng bằng ven biển, Nghĩa Phú thuận lợi phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng.
Về điều kiện kinh tế xã hội
Kinh tế Nghĩa Phú đang chuyển mình theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, với sự hình thành của khu công nghiệp Dệt may Rạng Đông quy mô 600 ha, tạo ra hơn 100,000 việc làm cho người lao động tại xã Nghĩa Phú và các xã lân cận.
Cơ cấu kinh tế xã Nghĩa Phú năm 2018 bao gồm nông-lâm-ngư nghiệp chiếm 28,1%, công nghiệp-xây dựng 37,1%, và dịch vụ 34,9% Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 556 tỷ đồng, trong khi thu nhập bình quân đầu người là 1.880 USD, tương đương hơn 43 triệu đồng, thấp hơn so với các xã trong huyện Nghĩa Hưng và khu vực lân cận.
Ngành nông nghiệp của xã bao gồm trồng lúa, khoai, lạc, đay, cói và chăn nuôi vịt, lợn Ngoài ra, đánh bắt và chế biến hải sản, sản xuất muối và đóng tàu cũng là những tiềm năng phát triển mới.
NỘI DUNG VÀ PH ƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Góp phần quản lý bệnh hại trên cây Thông
+ Xác định các loại bệnh hại trên cây Thông tại khu vực nghiên cứu
+ Đánh giá tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh trên cây Thông
+ Xác định vật gây bệnh và vị trí bị hại trên cây Thông
+ Ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến sự phát sinh, phát triển của bệnh
+ Đề xuất biện pháp phòng trừ
Đối tƣợng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu bệnh hại lá trên cây Thông mã vĩ (Pinus massoniana Lamb) tại xã Phú Nghĩa, huyện Nghĩa Hƣng, tỉnh Nam Định
Thời gian nghiên cứu
Khóa luận đƣợc điều tra, nghiên cứu từ ngày 12/01/2020 – 09/05/2020
Nội dung nghiên cứu
(1) Điều tra, đánh giá tỷ lệ và mức độ bị bệnh trên cây Thông mã vĩ
(2) Xác định nguyên nhân gây bệnh trên cây Thông mã vĩ tại khu vực nghiên cứu
(3) Ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến sự phát sinh, phát triển của bệnh hại
(4) Đề xuất biện pháp phòng trừ bệnh khô đỏ lá Thông mã vĩ tại khu vực nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nội dung cơ bản của khoá luận, căn cứ vào điều kiện thực tế của khu vực nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Tiến hành thu thập các tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu
- Chuẩn bị dụng cụ điều tra: thước dây, bản đồ, mẫu bảng biểu, …
Tiến hành thu thập và nghiên cứu tài liệu về bệnh hại cây Thông mã vĩ, bao gồm các công trình nghiên cứu và đề tài tốt nghiệp của sinh viên khóa trước.
4.5.1.2 Điều tra sơ bộ Điều tra sơ bộ hay còn gọi là điều tra phát hiện, nhằm mục đích nắm một cách khái quát về tình hình bệnh hại của khu vực nghiên cứu làm cơ sở cho điều tra tỷ mỉ
Trong nghiên cứu về rừng Thông mã vĩ tại xã Nghĩa Phú, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, tôi đã áp dụng phương pháp quan sát trên tuyến điều tra Tuyến điều tra được thiết lập qua nhiều dạng địa hình của khu vực Mỗi 100m, một điểm điều tra được xác định; nếu điểm này nằm trên đường mòn, ranh giới lô hoặc khoảng trống, tôi sẽ chuyển sang bên phải hoặc trái vuông góc với tuyến, cách tuyến 20m để chọn điểm điều tra mới Tại mỗi điểm điều tra, diện tích rừng được quan sát trong bán kính 10m nhằm đánh giá tình hình bệnh hại.
4.5.1.3 Điều tra tỷ mỉ Điều tra tỷ mỉ nhằm đánh giá chính xácvề tình hình phân bố và mức độ bị hại, đồng thời nghiên cứu mối quan hệ giữa vật gây bệnh và các nhân tố sinh tháiảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển của bệnh Điều tra tỷ mỉ dựa trên cơ sở của kết quả điều tra sơ bộ Căn cứ vào điều kiện thực tế của khu vực nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp điều tra trực tiếp trên các ô tiêu chuẩn điển hình
Dựa trên diện tích và mật độ cây trồng hiện tại, tôi đã thiết lập các ô tiêu chuẩn nhằm đảm bảo tính điển hình và đại diện cho khu vực điều tra.
Lập 6 ô tiêu chuẩn ở 3 dạng địa hình: chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi Ô tiêu chuẩn có dạng hình chữ nhật có kích thước 25m x 40m, chiều dài song song với đường đồng mức, diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 1000 m 2 , số cây trong mỗi ô tiêu chuẩn trên 100 cây
Trong mỗi ô tiêu chuẩn, các yếu tố như địa hình, hướng phơi, thực bì và mật độ cây trồng cần phải đồng nhất Sau khi thiết lập ô tiêu chuẩn, tôi tiến hành mô tả các đặc điểm của nó và ghi lại kết quả điều tra vào mẫu bảng 01.
Mẫu bảng 01 Đặc điểm các ô tiêu chuẩn Địa điểm:
Ngày điều tra: Người điều tra:
TT Số hiệu ÔTC Đặc điểm ÔTC O1 O2 O3 O4 O5 O6
5 Độ cao so với mặt nước biển(m)
Phương pháp điều tra tỷ lệ bệnh hại là quá trình xác định tỷ lệ phần trăm số đơn vị có bệnh trong tổng số đơn vị trong ô tiêu chuẩn Để tính toán chỉ tiêu này, cần đếm toàn bộ số cây trong ô tiêu chuẩn, sau đó xác định số cây bị bệnh và tính tỷ lệ bệnh hại (P%) Kết quả điều tra sẽ được ghi lại theo mẫu bảng 02.
Mẫu bảng 02 : Điều tra tỷ lệ bị bệnh ở rừng trồng (P%)
Số thứ tự ô tiêu chuẩn là ………, tọa lạc tại địa điểm ……… vào ngày điều tra ……… do người điều tra ……… thực hiện Ô tiêu chuẩn có đặc điểm ……… với độ dốc ……… và hướng dốc ………, nằm ở độ cao ……… mét Loài cây trồng chủ yếu là thông mã vĩ, tuổi cây là ………, với chiều cao trung bình của cây đạt ……… mét Tình hình thực bì trong ô tiêu chuẩn là ……… và loại đất là ………, tổng số cây trong ô tiêu chuẩn (N) là ……….
Để đánh giá mức độ hại của bệnh, tôi không khảo sát toàn bộ cây trong ô tiêu chuẩn mà chỉ chọn một số cây cụ thể để điều tra, được gọi là cây tiêu chuẩn.
Cây tiêu chuẩn được chọn theo phương pháp 5 điểm, với mỗi điểm trong ô tiêu chuẩn có 6 cây, đảm bảo tổng cộng 30 cây trong ô tiêu chuẩn.
* Phương pháp điều tra mức độ bị hại (R%)
Việc xác định mức độ hại trên mỗi cây tiêu chuẩn được thực hiện theo phương pháp phân cấp mức độ hại của diện tích tán, dựa trên các tiêu chí phân cấp cụ thể.
Cấp 0: Cây không bị bệnh
Cấp I (hại nhẹ): nhỏ hơn 25% tán cây bị bệnh
Cấp II (hại vừa): 26 – 50% tán cây bị bệnh
Cấp III (hại nặng): 51 – 75% tán cây bị bệnh
Cấp IV (rất nặng): >75% tán cây bị bệnh
Để đảm bảo kết quả điều tra chính xác và hiệu quả, tôi thực hiện phân cấp bệnh dựa trên mức độ hại của cụm lá Trên mỗi cây, tôi điều tra 6 cành tại các vị trí khác nhau trong tán cây, bao gồm 2 cành dưới tán, 2 cành giữa tán và 2 cành trên ngọn tán theo hướng Đông - Tây và Nam - Bắc Mỗi cành được khảo sát 6 cụm lá, phân bổ đều ở 3 vị trí: 2 cụm ở gốc cành, 2 cụm ở giữa cành và 2 cụm ở đầu cành Các cụm lá sẽ được phân cấp theo mức độ hại.
Cấp 0: Cụm lá không bị bệnh
Cấp I (hại nhẹ): 75% lá bị bệnh
Kết quả ghi vào mẫu bảng 03
Mẫu bảng 03 Điều tra mức độ bị hại ở rừng trồng (R%)
Số hiệu ÔTC: Ngày điều tra: Người điều tra:
STT cành điều tra Tên bệnh
Số cụm lá bị hại theo các cấp R%
Phương pháp điều tra mối quan hệ giữa sinh trưởng của cây với bệnh cho thấy đường kính ngang ngực (D1.3) và chiều cao vút ngọn (Hvn) là những đại lượng quan trọng phản ánh sức sinh trưởng của cây, đồng thời ảnh hưởng đến hình dạng của thân cây Hình dạng này còn chịu tác động từ các yếu tố như loài cây, mật độ và điều kiện lập địa Nghiên cứu chỉ ra rằng mật độ, độ dày tầng đất và mức độ bệnh hại có xu hướng giảm khi độ cao và độ dốc tăng Tại các khu vực nghiên cứu khác nhau, tốc độ sinh trưởng cũng khác biệt Vì vậy, tôi đã tiến hành điều tra 30 cây ở mỗi cấp bệnh trong khu vực nghiên cứu để đo đường kính ngang ngực (D1.3) và chiều cao vút ngọn.
(Hvn) bằng thước kẹp kính và sào có khắc thước mét Kết quả được ghi vào mẫu bảng 04.
Mẫu bảng04 Mối quan hệ giữa sinh trưởng của cây với bệnh hại
Ngày điều tra: Người điều tra:
STT cây điều tra Cấp bệnh D1.3 (cm)
Nghiên cứu ảnh hưởng của địa hình đến bệnh hại Ô tiêu chuẩn được thực hiện trên ba dạng địa hình: chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi Dựa trên ba dạng địa hình này, tôi tiến hành so sánh mức độ hại của bệnh bằng cách đánh giá mức độ bị bệnh ở từng dạng địa hình Kết quả nghiên cứu được ghi lại trong mẫu bảng 05.
Mẫu bảng 05 Mức độ bị bệnh ở các dạng địa hình khác nhau
Hướng phơi Vị trí ÔTC Độ cao (m) R%
* Phương pháp thu mẫu để xác định vật gây bệnh
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đánh giá tỷ lện bị bệnh (P%) và mức độ bị hại (R%) của bệnh khô lá đỏ thông tại xã Nghĩa Phú huyện Nghĩa Hƣng tỉnh Nam Định
Bảng 5.1 Tỷ lệ bị bệnh khô đỏ lá thông ÔTC
Tổng số cây trông ô tiêu chuẩn
Tổng số cây bị bệnh khô đỏ lá thông
Tỉ lệ cây bị bệnh (P%)
Mức độ phân bố của bệnh
Qua bảng 5.1 ta thấy tỷ lệ bị bệnh khô đỏ lá thông là 90,55% bệnh phân bố đều trên các ô tiêu chuẩn
Tỷ lệ bệnh khô đỏ lá Thông trong khu vực nghiên cứu phản ánh tình hình phân bố, nhưng không cho biết mức độ nghiêm trọng của bệnh Mức độ gây hại của bệnh có sự biến động theo không gian và thời gian, phụ thuộc vào từng khu vực nghiên cứu và các yếu tố ngoại cảnh Mối quan hệ này liên quan chặt chẽ đến loài cây chủ, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa và các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của bệnh.
Biết đƣợc tình hình phân bố và mức độ gây hại của bệnh khô đỏ lá thông sẽ là cơ sở cho công tác dự báo bệnh cây
Kết quả điều tra mức độ gây hại của bệnh khô lá thông đƣợc đánh giá qua chỉ số R % trên 6 ÔTC và tổng hợp kết quả theo bảng 5.2
Bảng 5.2 Mức độ gây hại của bệnh khô lá đỏ thông
Qua bảng 5.2 ta thấy mức độ gây hại của bệnh khô đỏ lá thông trên 6 ô tiêu chuẩn (R%) là 32,21% ở mức hại vừa
Hình 5.1 Mức độ gây hại của bệnh khô lá đỏ thông trên các ô tiêu chuẩn
Kết quả điều tra cho thấy bệnh khô đỏ lá Thông tại khu vực nghiên cứu có tỷ lệ nhiễm bệnh lên đến 90,55% và phân bố đều Mức độ bị bệnh đạt 32,21%, cho thấy mức độ thiệt hại ở mức vừa Nguyên nhân của tình trạng này cần được tìm hiểu thêm.
+ Khu vực điều tra là rừng trồng thuần loài nên vật gây bệnh rất dễ lây lan, xâm nhiễm
Bào tử gây bệnh có kích thước nhỏ, và với cây Thông 20 tuổi có tán cây giao nhau, khi có gió, bào tử dễ dàng được phát tán rộng rãi Điều này dẫn đến sự phân bố đều của nấm gây bệnh trong các khu vực nghiên cứu.
Các yếu tố ngoại cảnh như địa hình, hướng phơi và mật độ trồng cây đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự lây lan và xâm nhiễm của các vật gây bệnh trong toàn bộ khu vực nghiên cứu.
Nguyên nhân gây bệnh khô đỏ lá thông
Bệnh xuất hiện ở tầng dưới của tán lá, khiến các lá bị nhiễm khô dần từ đầu đến giữa, sau đó toàn bộ lá sẽ khô từ ngọn vào trong với màu nâu hơi đỏ Trong điều kiện ẩm ướt, nấm bệnh phát triển và lan dần lên phía trên tán lá, dẫn đến tình trạng toàn bộ lá bị khô trong trường hợp nặng Quan sát cây bệnh, lá khô rụng xuống đất cũng thể hiện các triệu chứng tương tự Mẫu thu về cho thấy lá khô chiếm 1/3 cụm lá.
Bệnh khô đỏ lá thông do nấm gây ra, với cơ quan sinh sản nằm dưới lớp biểu bì của lá bệnh Một phần của nấm lộ ra ngoài, trong khi phần còn lại nằm sâu trong mô lá Bào vô tính có màu nâu đen, hình trứng dài và không có vách ngăn ngang, nhưng trước khi nảy mầm, thường hình thành một vách ngắn ngang giả Bào tử vô tính có hình dạng cụt ở một đầu.
Bệnh khô đỏ, được xác định do loài nấm Dothistroma septospora Morelet gây ra, thuộc họ Mycosphaerellaceae trong bộ nấm Capnodiales, lớp Dothideomycetes và ngành nấm Ascomycota, đã được mô tả qua triệu chứng và đặc điểm bào tử, phù hợp với phân loại của Ainsworth (1973).
Hình 5.2 Triệu chứng bệnh khô đỏ lá Thông
Hình 5.3 Rừng Thông mã vĩ tại khu vực điều tra
5.2.2 Hình thái cấu tạo của nấm gây bệnh khô đỏ lá thông
Nấm Dothistroma septospora Morelet sống dưới lớp biểu bì của lá cây bị bệnh, với một phần nổi lên và một phần nằm sâu trong mô lá Thể quả của nấm có đường kính khoảng 250 µm Tế bào sinh bào tử có chiều dài từ 15 đến 20 µm, trong khi bào tử khi chín có màu nâu đen, hình trứng dài, với kích thước từ 35 - 40 µm chiều dài và 10 - 16 µm chiều rộng Mặc dù không có vách ngăn ngang, bào tử thường hình thành một vách ngăn ngang giả trước khi nảy mầm.
Bào tử nấm D septospora là nguyên nhân gây bệnh khô đỏ lá thông mã vĩ Nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố sinh thái có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ gây bệnh tại rừng trồng thông ở Nghĩa Phú, Nghĩa Hưng, Nam Định.
Bệnh thường xuất hiện trong các rừng trồng có mật độ cao và tán lá dày, dẫn đến việc ánh sáng ở tầng dưới bị hạn chế và điều kiện thông thoáng kém Theo Dr T.A Cutinho, bệnh này có thể xảy ra sau một thời gian dài hạn hán hoặc sau khi rừng bị tàn phá bởi các trận mưa đá Do đó, các yếu tố sinh thái đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến mức độ bệnh của cây.
Bảng 5.3: Đặc điểm các ô tiêu chuẩn tại khu vực điều tra
Số hiệu OTC Đặc điểm
2 Địa điểm ô Nghĩa Phú Nghĩa
3 Hướng phơi Tây bắc Tây bắc
Tây bắc Đông nam Đông nam Đông nam
5 Độ cao so với mặt nước biển
7 Loài cây Thông Thông Thông Thông Thông Thông
(tuổi) 20 năm 20 năm 20 năm 20 năm 20 năm 20 năm
10 loại thực vật bao gồm cỏ, cây bụi và dây leo, mang lại sự đa dạng cho cảnh quan và hệ sinh thái Những loại thực vật này không chỉ tạo nên vẻ đẹp tự nhiên mà còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và cung cấp nơi cư trú cho động vật Việc sử dụng cỏ, cây bụi và dây leo trong thiết kế cảnh quan có thể giúp cải thiện chất lượng không khí và tăng cường sự bền vững cho khu vực.
Qua điều tra sơ bộ, mật độ cây trong các ô tiêu chuẩn còn thấp, dẫn đến thời gian trồng cho đến khi cây có sinh trưởng ổn định kéo dài Rừng trồng chủ yếu là loài thuần và đồng tuổi, bên cạnh đó có một số cây thân thảo và thực bì với độ che phủ thấp Vị trí trồng nằm ở sườn đất thấp và bằng phẳng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây, với hướng phơi chủ yếu là đông nam và tây bắc Do đặc điểm trồng thuần loài và đồng tuổi, tình trạng sâu bệnh hại trên cây cũng diễn ra ở mức độ nhất định.
Thông nơi đay diễn ra khá phức tạp cần có biện pháp theo quản lý, khống chế bệnh hại
5.3.1 Ảnh hưởng của địa hình đến mức độ bị bệnh
Kết quả điều tra sơ bộ và điều tra tỷ mỉ tại các ô tiêu chuẩn cho thấy địa hình có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ gây bệnh khô đỏ lá thông trong khu vực nghiên cứu, như thể hiện trong bảng 5.4.
Bảng 5.4: Ảnh hưởng của địa hình đến mức độ bị bệnh otc Độ cao tương đối Vị trí Hướng phơi Độ dốc R%
Hình 5.5 Ảnh hưởng của địa hình đến mức độ bị bệnh khô đỏ lá Thông
Theo bảng 5.4 và hình 5.2, có thể nhận thấy rằng khi độ cao tăng, mức độ bị hại của bệnh giảm rõ rệt, với Rchân đạt 3,45%.
Rsườn0,9%, mức độ bị bệnh đều ở mức hại vừa
Bệnh khô đỏ lá thường giảm nhẹ khi độ cao tăng lên, với triệu chứng nặng hơn ở sườn phía đông so với phía tây Vị trí chân đồi có nhiệt độ và độ ẩm cao, tạo điều kiện thuận lợi cho bào tử nấm phát triển Khi lên cao, cây nhận được nhiều ánh sáng và độ ẩm giảm, từ đó hạn chế sự phát triển của nấm gây bệnh.
5.3.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm tới mức độ bị bệnh khô đỏ lá thông
Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của vết bệnh, đặc biệt là ở các loài nấm Hầu hết các loài nấm có khả năng tồn tại trong một dải nhiệt độ khá rộng.
Nấm phát triển tốt nhất ở nhiệt độ từ 20-30°C, với ngưỡng tối thiểu là 7-10°C và tối đa là 30-35°C Một số loài nấm có khả năng chịu được nhiệt độ cao hơn, theo nghiên cứu trong Khoa học bệnh cây.
Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong quá trình gây bệnh của nấm, với nhiệt độ cao tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhiễm vào cây chủ Mỗi loại nấm có nhu cầu nhiệt độ khác nhau ở các giai đoạn phát triển Đối với bệnh khô đỏ lá thông, nhiệt độ lý tưởng là 24 - 28°C, giúp tỷ lệ nảy mầm đạt 95% Khi nhiệt độ giảm xuống 16°C và độ ẩm cao, nấm bệnh bắt đầu phát triển, đặc biệt nếu trước đó nhiệt độ trên 20°C và có mưa nhiều, bệnh sẽ trở nên nghiêm trọng hơn Dưới 11°C, bệnh ngừng phát triển Độ ẩm cũng là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm và phát triển của nấm, với hầu hết các bào tử chỉ nảy mầm khi có độ ẩm 80% trở lên.
Sự khác biệt về độ cao và hướng phơi ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm, với sườn Tây Bắc có nhiều giờ chiếu sáng hơn, dẫn đến nhiệt độ cao và độ ẩm thấp Ngược lại, sườn Đông Nam lại có nhiệt độ thấp hơn và độ ẩm cao hơn.
5.3.3 Ảnh hưởng của cây chủ đến mức độ bị bệnh khô đỏ lá thông