1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người có công tại xã tân linh, đại từ, thái nguyên (khóa luận kinh tế và quản trị kinh doanh)

61 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu Cầu Chăm Sóc Sức Khỏe Cho Người Có Công Tại Xã Tân Linh, Đại Từ, Thái Nguyên
Tác giả Hoàng Tuấn Anh
Người hướng dẫn ThS. Bùi Thị Ngọc Thoa
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Công Tác Xã Hội
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI CÓ CÔNG (11)
    • 1.1. Khái niệm (11)
      • 1.1.1 Người có công (11)
      • 1.1.2 Chăm sóc sức khỏe (12)
      • 1.1.3. Nhân viên công tác xã hội (14)
    • 1.2. Các hoạt động cơ bản trong chăm sóc sức khỏe cho người có công (15)
      • 1.2.1 Hoạt động thể chất (15)
      • 1.2.2 Hoạt động tinh thần (16)
      • 1.2.3 Hoạt động xã hội (16)
    • 1.3. Lý thuyết áp dụng (17)
      • 1.3.1. Thuyết nhu cầu (17)
      • 1.3.2. Thuyết hệ thống (18)
      • 1.3.3. Thuyết vai trò (18)
    • 1.4 Cơ sở pháp lý trong chăm sóc sức khỏe cho người có công (19)
  • CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐÁP ỨNG NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CÓ CÔNG TẠI TÂN LINH, HUYỆN ĐẠI TỪ, (0)
    • 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (24)
      • 2.1.1 Vị trí địa lý (24)
      • 2.1.2 Đặc điểm kinh tế (24)
      • 2.1.3 Đặc điểm cơ sở hạ tầng (26)
    • 2.2 Thực trạng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người có tại xã Tân Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (27)
      • 2.2.1. Đặc điểm chung người có công với cách mạng tại xã Tân Linh (27)
      • 2.2.2. Thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe thể chất (35)
      • 2.2.3. Thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe tinh thần (46)
      • 2.2.4 Thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe xã hội (46)
      • 2.2.5 Đánh giá chung về nhu cầu chăm sóc sức khỏe NCC (47)
    • 2.3 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng (48)
      • 2.3.1 Nâng cao nhận thức, thái độ của người dân (48)
      • 2.3.2. Những nâng cao nguồn lực thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe cho người có công (49)
      • 2.3.3 Đẩy mạnh phong trào, xã phường làm tốt công tác chăm sóc đời sống (50)
      • 2.3.4 Giải pháp thực hiện công tác xã hội với người có công với cách mạng (53)
      • 2.3.5 Xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách (54)
      • 2.3.6 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động (55)
  • KẾT LUẬN (57)
    • COVID 19 năm 2020 (44)

Nội dung

SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI CÓ CÔNG

Khái niệm

Dân tộc ta đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập và tự do của tổ quốc, trong đó không ít người đã hy sinh xương máu, tài sản và cả mạng sống Những người anh hùng này luôn được nhân dân và Tổ quốc ghi nhớ và tri ân mãi mãi.

NCC là những người tự nguyện cống hiến cuộc đời cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, giới tính hay độ tuổi Họ đóng góp xuất sắc vì lợi ích của dân tộc.

Người có công với cách mạng được hiểu là những cá nhân không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, giới tính hay độ tuổi, đã có những đóng góp xuất sắc trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ Quốc, và được các cơ quan có thẩm quyền công nhận Theo pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH ngày 16/7/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, danh sách người có công với cách mạng được xác định rõ ràng.

- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945

- Bà mẹ Việt Nam anh hùng

- Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân

- Anh hùng lao động thời kỳ kháng chiến

- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh

- Người hoạt động cách mạng hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày

- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế

- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

- Người có công giúp đỡ cách mạng

Người có công là những cá nhân, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, giới tính hay độ tuổi, đã có những đóng góp xuất sắc trước cách mạng tháng 8 năm 1945 và trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc, được các cơ quan có thẩm quyền công nhận.

Sức khỏe không chỉ đơn thuần là việc không có bệnh tật, mà còn là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, theo Tổ chức Y tế Thế giới Điều này cho thấy sức khỏe bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, cần được chăm sóc toàn diện để đạt được sự cân bằng và hạnh phúc trong cuộc sống.

3 mặt: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, sức khỏe xã hội

Sức khỏe thể chất là trạng thái tổng quát của sự sảng khoái và thoải mái, cho thấy mức độ khỏe mạnh của một người Càng cảm thấy thoải mái và sảng khoái, chứng tỏ sức khỏe thể chất càng tốt Cơ sở của sự sảng khoái và thoải mái này chính là nền tảng cho sức khỏe thể chất.

Sức lực là khả năng hoạt động của cơ bắp, bao gồm sức đẩy, sức kéo và sức nâng cao, giúp thực hiện các công việc chân tay một cách dễ dàng, như mang vác và điều khiển máy móc.

+ Sự nhanh nhẹn: Khả năng phản ứng của chân tay nhanh nhạy, đi lại chạy nhảy làm các thao tác kỹ thuật một cách nhẹ nhàng

+ Sự dẻo dai: làm việc hoặc hoạt động tay chân liên tục mà không cảm thấy mệt mỏi

Sức khỏe tinh thần là sự thể hiện của sự hài lòng trong giao tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần, được biểu hiện qua cảm giác sảng khoái, dễ chịu và những cảm xúc vui tươi, thanh thản.

Bảy nguồn lực thiết yếu để duy trì sức khỏe, tạo nền tảng cho chất lượng cuộc sống, giúp cá nhân tự tin và hiệu quả trong việc đối mặt với mọi thử thách và nguy cơ trong cuộc sống.

Sức khỏe tinh thần phản ánh lối sống văn minh và đạo đức, với nền tảng là sự cân bằng giữa lý trí và cảm xúc trong hoạt động tinh thần.

Sức khỏe xã hội là khả năng hòa nhập của cá nhân với cộng đồng, thể hiện qua sự thoải mái trong các mối quan hệ phức tạp giữa gia đình, nhà trường và xã hội Sức khỏe xã hội được củng cố khi cá nhân nhận được sự chấp nhận và tán thành từ xã hội, và càng hòa nhập với mọi người, càng được đồng cảm và yêu mến, thì sức khỏe xã hội càng được nâng cao.

Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội

Ba yếu tố sức khỏe - sinh học, tâm lý và xã hội - liên quan chặt chẽ với nhau, tạo nên sự thăng bằng hài hòa Sự cân bằng này là nền tảng quan trọng cho hạnh phúc con người.

Chăm sóc bảo vệ sức khỏe là trách nhiệm của mỗi cá nhân, bắt đầu từ việc đầu tư vào sức khỏe khi còn khỏe mạnh Đầu tư chăm sóc sức khỏe có ý nghĩa và hiệu quả nhất khi chưa có bệnh Chăm sóc sức khỏe bao gồm các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe con người, theo định nghĩa của WHO, nâng cao sức khỏe là hỗ trợ và quan trọng nhất là giúp người dân có khả năng kiểm soát và cải thiện sức khỏe của chính mình.

Chăm sóc sức khỏe là một vấn đề quan trọng, với nhiều ý kiến và yêu cầu từ cá nhân và cộng đồng Thông thường, việc chăm sóc sức khỏe được chia thành ba lĩnh vực chính, mỗi lĩnh vực đều đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe.

Chăm sóc sức khỏe thể chất là một yêu cầu quan trọng mà mỗi cá nhân cần thực hiện một cách chủ động Thay vì đợi đến khi bệnh tật xuất hiện, hãy thường xuyên khám sức khỏe tổng quát để duy trì sức khỏe tốt Ngoài ra, cần tránh hút thuốc lá và uống rượu bia quá mức, đồng thời chú ý đến việc quản lý cân nặng của cơ thể để có một lối sống lành mạnh.

Các hoạt động cơ bản trong chăm sóc sức khỏe cho người có công

Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách nhằm chăm sóc sức khỏe cho người có công, bao gồm trợ cấp hàng tháng, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí và tổ chức các hoạt động điều dưỡng chăm sóc sức khỏe.

Ngoài các chính sách của nhà nước, cộng đồng cũng tích cực tham gia chăm sóc sức khỏe cho người có công thông qua nhiều hoạt động như tổ chức khám chữa bệnh định kỳ, cấp phát thuốc miễn phí và tặng dụng cụ chỉnh hình.

Các địa phương thường xuyên tổ chức hoạt động chăm sóc sức khỏe tinh thần cho người có công, thể hiện tinh thần tương thân tương ái và đền ơn đáp nghĩa Hoạt động này bao gồm thăm hỏi, động viên và tặng quà cho người có công cùng gia đình, đặc biệt vào các dịp lễ như ngày thương binh liệt sỹ 27/7, Tết Nguyên Đán và Tết Độc Lập.

Sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước đang phát triển mạnh mẽ, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh và xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để đạt được điều này, cần chăm lo tốt hơn cho các gia đình chính sách và những người có công, đồng thời kết hợp ba nguồn lực: nhà nước, cộng đồng và cá nhân tự vươn lên.

Phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, phong trào “đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành trách nhiệm của toàn xã hội trong việc chăm sóc thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ Điều này không chỉ khơi dậy những giá trị tốt đẹp mà còn huy động sức mạnh cộng đồng để chăm sóc những người có công với đất nước.

Các hoạt động xây dựng nhà tình nghĩa và tặng sổ tiết kiệm thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với những thế hệ cha anh đã hy sinh xương máu vì dân tộc Những hoạt động mang tính nhân văn cao này góp phần nâng cao đời sống cho những người có công và thể hiện tinh thần đoàn kết trong cộng đồng.

Các thôn xóm xã phường đã thành lập câu lạc bộ cho người có công, tổ chức các hoạt động lành mạnh như đi bộ, tập dưỡng sinh, chơi cờ vua và ngâm thơ, nhằm nâng cao sức khỏe thể chất cho họ.

Lý thuyết áp dụng

Năm 1943, nhà tâm lý học Abraham Maslow đã phát triển lý thuyết nổi tiếng về "thang bậc nhu cầu" của con người, được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục Lý thuyết này cho rằng để các nhu cầu ở mức độ cao hơn được thỏa mãn, trước tiên, các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được đáp ứng.

Maslow phân loại nhu cầu con người thành 5 cấp bậc, được biểu diễn dưới dạng một hình kim tự tháp, trong đó các nhu cầu cơ bản hơn được xếp ở phía dưới.

- Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý"

(physiological) - thức ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi

Tầng thứ hai trong nhu cầu của con người là nhu cầu an toàn, bao gồm cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, công việc, gia đình, sức khỏe và tài sản Việc đảm bảo những yếu tố này rất quan trọng để tạo ra một môi trường sống ổn định và an toàn cho mỗi cá nhân.

Tầng thứ ba trong tháp nhu cầu của Maslow là nhu cầu về tình cảm và sự thuộc về, thể hiện mong muốn kết nối với một cộng đồng, có gia đình ấm áp và những người bạn thân thiết đáng tin cậy.

- Tầng thứ tƣ: Nhu cầu đƣợc quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, được tin tưởng

Tầng thứ năm trong thang nhu cầu của Maslow là nhu cầu tự thể hiện bản thân với cường độ cao, nơi con người khao khát sáng tạo và thể hiện khả năng của mình Họ mong muốn được công nhận và đánh giá cao về những thành tựu cá nhân, từ đó khẳng định giá trị bản thân và đạt được sự thành công trong cuộc sống.

Nhu cầu cơ bản của các thương binh, bệnh binh trong việc nhận hỗ trợ xã hội là rất chính đáng và cần được đáp ứng đầy đủ, đặc biệt là nhu cầu về ăn uống.

Bài viết này phân tích 12 nhu cầu cơ bản của con người, bao gồm dinh dưỡng, nơi ở, tiêu dùng, sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe, việc làm, ổn định cuộc sống, nhu cầu cảm xúc tâm lý và tham gia xã hội Tác giả áp dụng lý thuyết này để đánh giá các chế độ ưu đãi và hỗ trợ hiện có, nhằm xác định xem chúng có đáp ứng đủ nhu cầu của thương binh và bệnh binh hay không Đồng thời, tác giả cũng tìm hiểu những thiếu hụt cụ thể trong các nhu cầu này và đề xuất các phương pháp tác động hiệu quả hơn, cùng với các giải pháp nhằm thỏa mãn những nhu cầu còn thiếu hụt của đối tượng mà đề tài hướng tới.

Hệ thống được định nghĩa là một tập hợp các yếu tố hoặc đơn vị tương đồng về loại hình hoặc chức năng, có mối quan hệ chặt chẽ và tương tác với nhau, tạo thành một thể thống nhất.

Có 3 loại hệ thỏa mãn cuộc sống con người

- Hệ thống chính thức: tổ chức công đoàn, cộng đồng…

- Hệ thống phi chính thức: bạn bè, gia đình…

- Hệ thống xã hội: bệnh viện, nhà trường…

Lý thuyết hệ thống nhấn mạnh mối liên hệ giữa cá nhân và nhóm trong mạng xã hội, điều này rất quan trọng trong nghiên cứu về sự ảnh hưởng lẫn nhau Việc phát triển và tối ưu hóa tiềm năng của hệ thống sẽ mang lại lợi thế trong việc cung cấp hỗ trợ xã hội cho thương binh và bệnh binh.

Mỗi người đều có những vai trò riêng trong cuộc sống, và khi đảm nhiệm các vai trò này, họ thường có những kỳ vọng nhất định Trong cùng một môi trường văn hóa, mọi người chia sẻ những mong đợi chung đối với các vai trò, nhưng cũng có những quy ước riêng biệt Việc thể hiện vai trò của bản thân là điều quan trọng trong quá trình này.

Trong bài viết này, tác giả áp dụng thuyết vai trò trong công tác xã hội để phân tích các vai trò cần thiết trong việc can thiệp và hỗ trợ gia đình vượt qua khó khăn và khủng hoảng trong cuộc sống Qua đó, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giúp đỡ từng cá nhân giải quyết vấn đề một cách hiệu quả hơn Bên cạnh đó, thuyết vai trò cũng giúp xác định những người có uy tín, từ đó xây dựng các hoạt động công tác xã hội phù hợp cho thương, bệnh binh.

Cơ sở pháp lý trong chăm sóc sức khỏe cho người có công

Chính sách xã hội dành cho thương binh bệnh binh thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với những người đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ Quốc Các chính sách cụ thể bao gồm trợ cấp, bảo hiểm, điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe và ưu đãi kinh tế cho người có công, đặc biệt là thương bệnh binh Nghiên cứu này tập trung vào vấn đề chăm sóc sức khỏe của nhóm đối tượng này.

- Pháp lệnh số 26/2005/PL/UBTVQH11 ngày 29/6/2005 về ưu đãi người có công với cách mạng

Thông tư số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC quy định hướng dẫn về chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, cũng như cấp phát phương tiện trợ giúp và dụng cụ chỉnh hình cho những người có công với cách mạng và thân nhân của họ.

- Thông tư 36/2015/TT-BLĐTBXH ngày 28/9/2105 hướng dẫn hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện chế độ ƣu đãi

- Thông tư 101/2018/TT-BTC kinh phí thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và người trực tiếp tham gia kháng chiến

Nghị định số 106/2012/NĐ-CP, ban hành ngày 20 tháng 12 năm 2012, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, nhằm đảm bảo hiệu quả trong quản lý và thực hiện các chính sách liên quan đến lao động, thương binh và xã hội.

Nghị định số 31/2013/NĐ-CP, ban hành ngày 09 tháng 4 năm 2013, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, nhằm đảm bảo quyền lợi và hỗ trợ cho những người đã cống hiến cho đất nước.

- Nghị định 58/2019/NĐ-CP ngày 01/7/2019 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng

Căn cứ Nghị quyết số 70/2018/QH14 ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định mức trợ cấp và phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng Điều này được thực hiện theo Pháp lệnh ngày 16 tháng 7 năm 2012, sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công, dựa trên đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Quy định này nhằm thể hiện chính sách và chế độ ưu đãi đối với những người đã cống hiến cho cách mạng.

- Mức chuẩn để xác định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng và mức trợ cấp, phụ cấp

Mức chuẩn để xác định trợ cấp và phụ cấp ưu đãi cho người có công với cách mạng theo Nghị định này được quy định là 1.624.000 đồng.

+ Mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi ;đối với người có công với cách mạng bao gồm:

- Mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;

Mức trợ cấp thương tật cho thương binh và những người hưởng chính sách như thương binh được quy định tại Phụ lục II của Nghị định này.

- Mức trợ cấp thương tật đối với thương binh loại B theo quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này

Năm 1994, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành pháp lệnh nhằm thể chế hóa đường lối của Đảng, quy định về hiến pháp và pháp luật liên quan đến việc ưu đãi cho những người hoạt động cách mạng, liệt sĩ, gia đình liệt sĩ, thương binh và bệnh binh.

Để thực hiện mục tiêu truyền tải pháp lệnh vào đời sống xã hội, đã có 15 động kháng chiến và người có công giúp đỡ cách mạng Điều này đã dẫn đến sự ra đời của hàng loạt văn bản pháp luật ưu đãi xã hội, bao gồm Nghị định số 54/2006/NĐ-CP, Nghị định số 25/2006/NĐ-CP, Nghị định số 105/2008/NĐ-CP, Nghị định số 89/2008/NĐ-CP và Nghị định số 38/2009/NĐ-CP, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này.

Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 09 năm 2012, sửa đổi và bổ sung một số điều liên quan đến ưu đãi người có công với cách mạng, thể hiện tính nhân văn sâu sắc Văn bản này bao gồm 5 chương và 48 điều, cùng với Nghị định số 31/2013/NĐ-CP của chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều khoản ưu đãi Theo điều 53, pháp lệnh quy định chế độ chăm sóc sức khỏe cho những người có công.

- Người có công với cách mạng và thân nhân được nhà nước mua thẻ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật

- Người có công với cách mạng đang được nuôi dương tại cơ sở của nghành Lao động – Thương binh và Xã hội thì được hưởng chế độ điều trị

- Người có công với cách mạng sống ở gia đình và thân nhân đã được quy định tại pháp lệnh hưởng mức điều dưỡng như sau:

+ Điều dưỡng tập chung là 2.220.000 đồng/người/lần

+ Điều dưỡng tại nhà 1.110.000 đồng /người/lần

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Tài chính điều chỉnh mức chi tiêu và chế độ điều dưỡng cho người có công với cách mạng, dựa trên khả năng ngân sách nhà nước và yếu tố trượt giá.

Người có công với cách mạng cùng thân nhân sẽ được phục hồi chức năng lao động và nhận các phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình theo quy định của pháp lệnh.

Cũng trong nghị định này, theo điều 54: quy định chế độ ƣu đãi trong giáo dục quy định nhƣ sau:

Hỗ trợ học phí hàng năm cho người có công với cách mạng và con của họ được quy định trong pháp lệnh, áp dụng cho các cơ sở giáo dục, mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp với khóa học từ một năm trở lên, và cơ sở giáo dục đại học.

Trợ cấp hàng tháng được cấp cho người có công với cách mạng và con của họ theo quy định của pháp lệnh, áp dụng khi họ theo học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có khóa học từ một năm trở lên hoặc tại các cơ sở giáo dục đại học.

Không áp dụng chế độ này đối với trường hợp hưởng lương hoặc sinh hoạt phí khi đi học

Người có công với cách mạng và con của họ đang theo học tại các cơ sở giáo dục quốc dân sẽ được hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp lệnh về người có công.

TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐÁP ỨNG NHU CẦU CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CÓ CÔNG TẠI TÂN LINH, HUYỆN ĐẠI TỪ,

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Xã Tân Linh thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam, nằm ở phía đông huyện và cách thị trấn Hùng Sơn 7km Vị trí địa lý của xã Tân Linh mang lại tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch cho khu vực.

- Phía đông giáp huyện Phú Lương và xã Phục Linh

- Phía tây giáp xã Bản Ngoại và xã Phú Lạc

- Phía nam giáp thị trấn Hùng Sơn và xã Hà Thƣợng

- Phía bắc giáp huyện Phú Lương

Xã Tân Linh có diện tích 23,44 km² với dân số 3.270 người (năm 1999), mật độ dân số đạt 140 người/km² Địa hình chủ yếu là đồi, do đó người dân trong xã chủ yếu trồng chè, trong khi diện tích trồng lúa rất hạn chế.

Xã Tân Linh, được thành lập vào ngày 10 tháng 4 năm 1999 từ một phần diện tích và dân số của xã Phục Linh, hiện chia thành 14 xóm Với hệ thống Ủy Ban Nhân Dân Xã, trạm y tế và trường học được đặt tại trung tâm, Tân Linh tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của người dân và học sinh trong khu vực.

Tân Linh là một xã nổi bật trong lĩnh vực phát triển kinh tế cây chè, với sản lượng chè khô đạt 160 nghìn tấn mỗi năm Tuy nhiên, địa hình đồi núi dốc và việc khó khăn trong việc chủ động nguồn nước tưới đã tạo ra nhiều thách thức cho sản xuất chè tại địa phương.

Tân Linh, mặc dù là một xã nông nghiệp, nhưng kinh tế nơi đây vẫn phát triển mạnh mẽ nhờ vào sự cần cù của người dân trong việc đầu tư trồng chè - cây trồng chủ lực Cây chè đã được đưa vào trồng từ trước năm 1965, khi một số hộ từ Thái Bình, Hà Nam Ninh lên khai hoang vùng đất mới Qua thời gian, diện tích chè đã tăng lên đáng kể, hiện nay toàn xã có hơn 629ha chè, trong đó 546ha chè kinh doanh, chiếm 90% hộ dân trồng chè Cây chè trở thành nguồn thu chính cho hơn 1.600 hộ dân, đạt 98% tổng số hộ trong xã Nhờ vào việc chuyển đổi giống mới và ứng dụng khoa học kỹ thuật, giá trị sản phẩm chè ngày càng tăng, giúp cải thiện đời sống người dân, với hơn 42% diện tích chè hiện nay là giống chè cành, mang lại thu nhập trung bình gần 300 triệu đồng/ha.

Xã Tân Linh đã tích cực phát triển diện tích chè và nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm trong những năm qua Đặc biệt, từ năm 2014, xã đã tập trung tuyên truyền và hỗ trợ người dân chuyển đổi từ chè giống cũ sang các giống mới Với sự hỗ trợ 100% giá giống từ Nhà nước, 566 hộ trồng chè tại 14 xóm đã thay thế 100ha chè trung du bằng các giống mới LDP1 và Kim Tuyên Hiện nay, diện tích chè giống mới trên toàn xã đã đạt hơn 240ha, chiếm 40% tổng diện tích chè.

Vào năm 2018, hợp tác xã nông nghiệp và dược liệu Tiền Nguyên tại xóm 7, xã Tân Linh đã sản xuất hơn 600 kg tinh bột các loại, cung cấp cho thị trường cả trong và ngoài tỉnh Đây là thành quả từ sự nỗ lực không ngừng nghỉ và tinh thần học hỏi của anh Hứa Văn Tiền, một hội viên nông dân tiêu biểu.

Mô hình trồng và sản xuất dược liệu tại xã Tân Linh của hợp tác xã gia đình anh Tiền đang phát triển mạnh mẽ với diện tích 6ha nghệ nếp, 1ha đinh lăng và trên 2 sào Ba kích Hợp tác xã cũng cung cấp cây giống cho người dân trong khu vực Cây nghệ, với khả năng chịu hạn và thích ứng tốt với nhiều loại đất, từ ruộng cạn đến đất đồi, mở ra cơ hội mở rộng diện tích trồng trọt Việc trồng nghệ không chỉ dễ dàng mà còn có mức đầu tư thấp và mang lại hiệu quả kinh tế cao, khẳng định mô hình của anh Hứa Văn Tiền là hướng đi mới trong phát triển kinh tế nông nghiệp tại Tân Linh.

Trong những năm gần đây, công ty TNHH khai thác chế biến Khoáng sản Núi Pháo đã góp phần phát triển mạnh mẽ xã Tân Linh, tạo việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương Là doanh nghiệp khai thác khoáng sản lớn nhất tỉnh Thái Nguyên với vốn đầu tư trên 500 triệu USD, công ty sở hữu mỏ đa kim Núi Pháo, nơi có trữ lượng Vonfram lớn nhất thế giới Kể từ khi đi vào hoạt động, công ty đã đóng góp hàng ngàn tỷ đồng vào ngân sách nhà nước (trong năm 2019, hơn 1.200 tỷ đồng) và hàng trăm tỷ cho các hoạt động trách nhiệm xã hội, phục hồi sinh kế và phát triển bền vững tại địa phương, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội tại Thái Nguyên.

2.1.3Đặc điểm cơ sở hạ tầng

Năm 2017, phong trào làm đường giao thông nông thôn tại xã Tân Linh theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” đã góp phần quan trọng vào việc cải thiện diện mạo địa phương, tạo ra mạng lưới giao thông liên hoàn giữa các xóm Tuyến đường liên xóm dài hơn 3,7 km, phục vụ cho 510 hộ dân sinh sống và sản xuất chè trên tổng diện tích hơn 130 ha, đóng vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của xã Tuy nhiên, đây cũng là tuyến đường gặp nhiều khó khăn nhất trong xã.

Tại xã Tân Linh, 21 đường dài đang được cải thiện nhờ sự hỗ trợ từ nguồn xã hội hóa của lễ hội trà Đại Từ năm Bính Thân 2016 với kinh phí khoảng 350 triệu đồng Mặc dù điều kiện kinh tế của các hộ dân còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở 2 xóm khó khăn, nhưng huyện đã cấp xi măng để xây dựng đường bê tông, tạo động lực lớn cho người dân Con đường đất nhỏ hẹp, lầy lội trước đây giờ đã được thay thế bằng bê tông, nhờ sự đồng lòng của bà con trong việc hiến đất và đóng góp công sức Phong trào làm đường giao thông nông thôn đang lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã, với nhiều xóm tích cực vận động hiến đất và tài sản, chỉ còn chờ nguồn vốn xi măng để triển khai thực hiện.

Gần đây, xã đã tích cực phát triển thành xã nông thôn mới với những con đường khang trang, sạch đẹp nối liền các xóm và xã Hoạt động phong trào được đẩy mạnh, trong đó phong trào "5 không, 3 sạch" do hội phụ nữ xã thực hiện đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ người dân.

Xã Tân Linh đã trải qua nhiều bước phát triển mới, đời sống người dân ngày càng được cải thiện rõ rệt Sự phát triển này không chỉ nâng cao chất lượng sống mà còn góp phần chăm sóc sức khỏe cho những người có công với cách mạng tại địa phương.

Thực trạng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người có tại xã Tân Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

2.2.1 Đặc điểm chung người có công với cách mạng tại xã Tân Linh

Theo nghiên cứu khảo sát tại xã Tân Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, độ tuổi chủ yếu của người có công nằm trong khoảng từ 60 đến 80 tuổi, như được thể hiện trong bảng thống kê.

Bảng 2.1 Cơ cấu độ tuổi của người có công với cách mạng năm 2019

STT Độ tuổi Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Nguồn: UBND xã Tân Linh

Bảng số liệu trên đã cho thấy, trong tổng số 46 NCC với CM thì độ tuổi từ

Đối tượng từ 70 đến 80 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 37%, cho thấy đây là độ tuổi phổ biến của người có công Những người trong độ tuổi 60 đến 70 chiếm 27% (13/49 người), trong khi đó, tỷ lệ người trên 80 tuổi là 20%, và 16% còn lại thuộc độ tuổi dưới 60.

Người có công đa số là những ngườiđã có tuổi khá cao, nhóm tuổi từ 70 -

Nhóm người từ độ tuổi 80 là nhóm đông nhất so với các nhóm khác, chủ yếu là những thế hệ trước tham gia vào các hoạt động cộng đồng Hầu hết trong số họ đều đã cao tuổi, điều này dẫn đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe thường xuyên cho những người có công tại địa phương.

Vì đặc thù sức khỏe và thể chất khác nhau, tỷ lệ nam giới có công cao hơn nữ giới, điều này được thể hiện rõ trong bảng số liệu dưới đây.

Bảng 2.2 Cơ cấu giới tính của người có công năm 2019

STT Giới tính Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

Nguồn: UBND xã Tân Linh

Tại NCC xã Tân Linh, sự phân chia giới tính rõ rệt với 13/49 người là nữ, chiếm 27%, trong khi nam giới chiếm 73% Tỷ lệ nam giới vượt trội hơn nữ giới là điều dễ hiểu, bởi trong thời kỳ kháng chiến, phần lớn nam giới tham gia trực tiếp chiến đấu, trong khi nữ giới chủ yếu đảm nhận vai trò hỗ trợ, làm hậu phương và tăng gia sản xuất tại nhà và địa phương.

Sức khỏe và thể lực của nam giới thường bền bỉ và dẻo dai hơn nữ giới, nhưng điều đó không có nghĩa là phụ nữ không có khả năng chiến đấu bảo vệ tổ quốc Họ âm thầm tiếp tế lương thực cho tiền tuyến, mang lại niềm tin và sức mạnh, trở thành hậu phương vững chắc Mặc dù số lượng nữ giới tham gia chiến đấu ít hơn nam giới, nhưng họ vẫn luôn là những người mạnh mẽ, vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ trên chiến trường, vừa giữ vững vai trò của người phụ nữ trong xã hội.

* Về trình độ học vấn:

Người có công là những cá nhân lớn lên trong thời kỳ chiến tranh, nhưng vẫn giữ vững tinh thần hiếu học và đam mê nghiên cứu để đóng góp cho quê hương, đất nước Trình độ học vấn của những người này được thể hiện rõ qua các số liệu thống kê.

Bảng 2.3 Cơ cấu trình độ học vấn của NCC năm 2019

STT Trìnhđộ học vấn Số lượng (người) Tỷ lệ (%)

6 Cao đẳng, đại học, trên đại học 0 0

Nguồn: UBND xã Tân Linh

Chăm sóc sức khỏe cá nhân phụ thuộc vào mức độ hiểu biết và nhận thức của mỗi người, với sự khác biệt về kiến thức do trình độ học vấn Theo khảo sát, tỷ lệ người có công với trình độ học vấn thấp khá cao: 20,4% không đi học, 51% chỉ đạt trình độ tiểu học, 16,3% trung học cơ sở, 8,2% trung học phổ thông, 4,1% trung học chuyên nghiệp, và không có ai đạt trình độ cao đẳng hoặc đại học.

Người có công với CMM suốt đời cầm súng chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, sinh ra và lớn lên trong thời chiến với điều kiện khó khăn, không được học hành đầy đủ do gia đình không đủ khả năng tài chính Họ sẵn sàng hy sinh bản thân vì sự nghiệp bảo vệ đất nước.

Sau khi chiến tranh kết thúc, nhiều người cao tuổi không muốn tiếp tục học tập mà tập trung vào việc xây dựng kinh tế gia đình ổn định hơn Học vấn thấp gây khó khăn cho những người cần tuyển dụng lao động tại các cơ quan, tổ chức, đồng thời cũng là thách thức cho các nhà làm chính sách Điều này đòi hỏi cần có biện pháp thực hiện phù hợp để thu thập thông tin chính xác, tránh hiểu nhầm và thắc mắc.

Có những tấm gương sáng, những người khuyết tật như cụt tay, cụt chân hay mù mắt vẫn sống và làm việc như bao người khác Họ vui vẻ giao tiếp với hàng xóm và được mọi người yêu mến, kính trọng, trở thành nguồn cảm hứng cho cộng đồng.

Việc làm là nhu cầu thiết yếu của mọi người, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho cuộc sống cá nhân và gia đình Đối với những người có nhu cầu cao, việc tìm kiếm việc làm càng trở nên khó khăn hơn, cần chú ý đến khả năng lao động, tình trạng sức khỏe và thương tật của họ Khảo sát cho thấy vấn đề việc làm của nhóm người này tại địa phương vẫn chưa được giải quyết triệt để.

Bảng 2.4: Thực trạng việc làm của người có công

STT Thực trạng việc làm Số lượng(người) Tỷ lệ(%)

Nguồn: Số liệu điều tra

Theo kết quả khảo sát, trong số 49 người có công, có 20 người (chiếm 41%) không có việc làm ổn định, 18 người (chiếm 37%) có việc làm ổn định, và 11 người (chiếm 22%) không có việc làm.

Trong nhóm 18 NCC, hầu hết đều có sức khỏe tốt và nằm trong độ tuổi từ 40 đến 60, cho thấy họ vẫn có khả năng tiếp thu kinh nghiệm và tìm kiếm việc làm Công việc chủ yếu của họ liên quan đến kinh doanh sản xuất, với một số NCC làm việc tại cơ quan nhà nước Nhiều NCC có ý chí vươn lên đã tự vay vốn để mở rộng chăn nuôi sản xuất, tạo ra công việc ổn định, thu nhập cao cho gia đình và cơ hội việc làm cho cộng đồng xung quanh.

Trong số 49 người được khảo sát, 20 người (chiếm 41%) cho biết họ đang làm công việc không ổn định Công việc không ổn định thường là những công việc mùa vụ, diễn ra trong thời gian ngắn với thu nhập bấp bênh, như nông nghiệp, trồng trọt theo mùa, hay bán hàng rong Những công việc này không mang lại mức lương cố định, chỉ cung cấp thu nhập tạm thời, thường không đủ để trang trải chi phí sinh hoạt cho bản thân và gia đình của họ.

Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng

Để nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho người có công với cách mạng tại xã Tân Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, cần thực hiện các giải pháp như nâng cao nhận thức và thái độ của người dân, đồng thời tăng cường nguồn lực cho công tác chăm sóc sức khỏe.

2.3.1 Nâng cao nhận thức, thái độ của người dân

Công tác tuyên truyền cần được thực hiện một cách chủ động, tập trung vào người dân, thương binh, bệnh binh và gia đình chính sách thông qua các hoạt động thiết thực và dễ hiểu Đặc biệt, việc chỉ dựa vào trợ cấp của nhà nước mà không khai thác nguồn lực mạnh mẽ từ cộng đồng sẽ không đủ để chăm sóc tốt cho những người có công.

Cần tuyên truyền rõ ràng các chủ trương và chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước dành cho người có công với cách mạng, giúp họ hiểu được quyền lợi và trách nhiệm khi hưởng các ưu đãi trợ cấp Điều này đặc biệt quan trọng đối với thương binh và bệnh binh, nhằm đảm bảo họ nhận được sự hỗ trợ cần thiết.

Chương trình 43 đãi trợ cấp nhằm tuyên dương những tấm gương thương, bệnh binh và gia đình họ vượt qua khó khăn để làm giàu chính đáng Động viên tinh thần vươn lên trong cuộc sống và khuyến khích thương, bệnh binh nỗ lực trong lao động sản xuất.

Trong công tác tuyên truyền, việc công khai mức đóng góp của cá nhân, tổ chức doanh nghiệp và người dân trên địa bàn xã là rất quan trọng.

2.3.2 Những nâng cao nguồn lực thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe cho người có công

Chính sách ưu đãi cho thương bệnh binh bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, phản ánh nhu cầu đa dạng của các gia đình chính sách Không một đoàn thể hay ngành nào có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu này, nhưng mỗi tổ chức đều có những lợi thế riêng để hỗ trợ chăm sóc thương bệnh binh Việc tăng cường các hoạt động chăm sóc tại các ban ngành và đoàn thể địa phương sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho thương bệnh binh và gia đình họ.

Các ngành, cấp, đoàn thể và thành viên tham gia tích cực vào việc chăm sóc sức khỏe người có công (NCC) thông qua các kế hoạch cụ thể Ví dụ, việc thường xuyên thăm hỏi và nâng mức trợ cấp hàng tháng cho những trường hợp được phụng dưỡng, đỡ đầu thương bệnh binh giúp họ giảm bớt khó khăn, thiếu thốn và có cuộc sống ổn định hơn.

Để đảm bảo mọi nguồn lực của cộng đồng được huy động hiệu quả, các ngành đoàn thể địa phương cần xây dựng kế hoạch cụ thể nhằm chăm sóc sức khỏe cho người có công.

Các ngành đoàn thể cần căn cứ vào kế hoạch chung để kiểm tra việc thực hiện các chính sách thuộc trách nhiệm của mình, từ đó đề ra các biện pháp khắc phục kịp thời.

44 thời, phát huy hiệu quả Động viên các thành viên là gia đình chính sách thương bệnh binh tự nỗ nực vươn lên trong cuộc sống

Cần tăng cường sự tham gia của các tổ chức bên ngoài cùng với sự hỗ trợ từ Nhà nước trong việc chăm sóc và trợ giúp thương binh, bệnh binh, đặc biệt là về mặt vật chất Công tác xã hội cần được đẩy mạnh để kết nối thương binh, bệnh binh và gia đình họ với các nguồn vốn, từ đó hỗ trợ xây dựng nhà ở và phát triển kinh tế.

2.3.3Đẩy mạnh phong trào, xã phường làm tốt công tác chăm sóc đời sống Để công tác chăm sóc thương binh bệnh binh đạt hiệu quả cao hơn, trước hết các phong trào “ đền ơn đáp nghĩa” xây dựng chương trình tình nghĩa không những cần tăng về số lƣợng mà còn phải đảm bảo về chất lƣợng, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, có khả năng huy động cao nguồn lực trong nhân dân Các quỹ cũng cần đƣợc quản lý sử dụng một cách hiệu quả hơn, thu hút sự đóng góp của nhiều tầng lớp nhân dân, đơn vị cơ quan tổ chức chính trị xã hội

Xã địa phương cần tăng cường phong trào chăm sóc đời sống thương bệnh binh để phát huy tính tự lực của các gia đình chính sách Cần thành lập ban chỉ đạo nhằm nâng cao công tác chăm sóc thương binh liệt sĩ và khuyến khích toàn dân tham gia Việc đẩy mạnh phong trào này sẽ góp phần xây dựng huyện thực hiện tốt công tác chăm sóc thương bệnh binh.

Ban chỉ đạo xã cần căn cứ vào tình hình địa phương để xây dựng kế hoạch phối hợp hoạt động và xác định trách nhiệm của các ngành đoàn thể trong việc chăm sóc sức khỏe cho thương binh, liệt sĩ và thương bệnh binh Đặc biệt, cần chú trọng đến các quy định về đóng góp quỹ, hình thức đóng góp, và ưu tiên cho doanh nghiệp có sự tham gia tích cực hơn vào quỹ Đền ơn đáp nghĩa.

Các ngành đoàn thể xã cần dựa vào kế hoạch chung của ban chỉ đạo xã để kiểm tra việc thực hiện các chính sách mà mình chịu trách nhiệm, từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục và phát huy hiệu quả.

Các thành viên ban chỉ đạo theo sự phân công sẽ kiểm tra việc thực hiện, triển khai kế hoạch của các ngành đoàn thể địa phương

Xã cần tổ chức kiểm tra để đánh giá kết quả chăm sóc thương bệnh binh và gia đình chính sách từ các ban ngành, đoàn thể, tổ chức doanh nghiệp và cá nhân Đồng thời, xã cần tạo điều kiện và động viên đối tượng chính sách phát huy truyền thống và khả năng của mình, khắc phục khó khăn, tự lực vươn lên trong cuộc sống, làm giàu bằng năng lực cá nhân và gia đình Các tổ chức và xóm cần thường xuyên tổ chức họp mặt, trao đổi kinh nghiệm làm ăn, đồng thời biểu dương và khen thưởng những gia đình chính sách tiêu biểu.

Ngày đăng: 02/06/2021, 21:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo Thái Nguyên, Đại Từ quan tâm chăm sóc người có công 11/2/2020 Khác
2. Báo Thái Nguyên tháng 3/2019, Chăm sóc người có công là niềm hạnh phúc Khác
3. Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội (2014), Báo cáo số liệu thống kê về người có công Khác
4. Đinh Thị Hằng Nga (2015), Công tác chăm sóc sức khỏe đối với người có công và vai trò của nhân viên công tác xã hội Khác
5. Vũ Thị Lan Nhi (2017), hoạt động Công Tác Xã Hội trong chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Khác
6. Lê Thị Thanh Phúc (2017), thực thi chính sách đối với người có công trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng Khác
7.Tạp chí Lao động& xã hội, Thái Nguyên thiết thực tri ân người có công với cách mạng Khác
8. Nguyễn Thị Thanh (2018), thực hiện chính sách người có công với cách mạng từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng Khác
9. Thanh tra Việt Nam, Thái Nguyên thực hiện tốt chính sách người có công tháng 7/2019 Khác
10.Đỗ Huyền Trang (2017), Hoạt động chăm sóc sức khỏe người có công với cách mạng tại phường Tiền An, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Khác
11. Trung tâm Điều dưỡng Người có công Thái Nguyên,Tô thắm thêm đạo lý 'Đền ơn đáp nghĩa' Khác
12. Trung tâm Nuôi dưỡng và Điều dưỡng người có công Hà Nội (2013), Báo cáo tổng kết 20 năm công tác điều dưỡng của trung tâm Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w