1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở an lạc, xã thống nhất, huyện lạc thủy, tỉnh hòa bình (khóa luận kinh tế và quản trị kinh doanh)

82 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính trong thời điểm này nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh sản SKSS ở trẻ vị thành niên là rất cao đặc biệt là giai đoạn đầu của tuổi dậy thì - giai đoạn trẻ rất cần được sự giúp đỡ,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

- -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ AN LẠC, XÃ THỐNG NHẤT,

HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp

đỡ của các thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè, và người thân

Trước hết, em xin bày tỏ lòng chân thành biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo trung tâm CTXH và PTCĐ khoa Khoa kinh tế & QTKD đã cung cấp cho các em kiến thức trong 4 năm học qua để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS Phạm Thị Huế - cô giáo trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình làm đề tài

Con cảm ơn ba mẹ đã sinh thành và nuôi dưỡng con, là điểm tựa vững chắc cho con suốt năm tháng qua

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô và các em học sinh ở trường TH và THCS An Lạc, xã Thống Nhất – huyện Lạc Thủy – tỉnh Hòa Bình đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình điều tra thu thập số liệu thực tiễn

Cảm ơn các bạn trong lớp đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập cũng như chia sẻ tài liệu, đóng góp ý kiến giúp tôi làm tốt đề tài của mình

Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi sai sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để những công trình nghiên cứu tiếp theo được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Hòa Bình, tháng 5 năm 2020

Sinh viên thực hiện

Quách Khương Duy

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục tiêu nghiên cứu: 3

5 Nội dung nghiên cứu: 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 6

1.1 Cơ sở lý luận về giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh 6

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 6

1.1.2 Vai trò của giáo dục sức khỏe sinh sản đối với học sinh THCS 9

1.1.3 Nhiệm vụ của giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS 10

1.1.4 Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh ở trường THCS 11

1.1.5 Một số nguyên tắc về vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh 13

1.1.6 Hình thức, phương pháp, nội dung giáo dục SKSS cho học sinh 14

1.2 Một số lý thuyết chủ yếu ứng dụng trong nghiên cứu 18

1.2.1 Thuyết nhu cầu Maslow 18

1.2.2 Thuyết nhận thức- hành vi 22

1.3 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 23

1.3.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 23

Trang 4

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI TRƯỜNG TH VÀ THCS AN LẠC - XÃ

THỐNG NHẤT - HUYỆN LẠC THỦY -TỈNH HÒA BÌNH 28

2.1 Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu 28

2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28

2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 29

2.2 Thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất – huyện Lạc Thủy – tỉnh Hòa Bình 31

2.2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh THCS An Lạc về giáo dục sức khỏe sinh sản 31

2.2.2 Thực trạng thái độ đối với việc học tập kiến thức giáo dục sức khỏe sinh sản của học sinh THCS An Lạc 36

2.2.3 Thực trạng thời gian, hình thức, phương pháp giáo dục SKSS cho học sinh THCS An Lạc 37

2.2.4 Thực trạng quan điểm, thái độ của giáo viên trong trường về vấn đề giáo dục SKSS cho học sinh 40

2.2.5 Đánh giá thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS An Lạc 45 Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH THCS TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ THCS AN LẠC, XÃ THỐNG NHẤT – HUYỆN LẠC THỦY- TỈNH HÒA BÌNH 48

3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 48

3.1.1 Mong muốn của học sinh về nội dung giáo dục SKSS 48

3.1.2 Mong muốn của học sinh về hình thức giáo dục SKSS 50

3.1.3 Mong muốn của học sinh về đối tượng tham gia giáo dục SKSS 51

3.2 Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường TH và THCS An Lạc 53

3.2.1 Đổi mới chương trình giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản cho học sinh trường TH và THCS An Lạc 53

Trang 5

3.2.2 Giải pháp về tuyên truyền nâng cao về nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh

sản 55

3.3 Một số mô hình áp dụng 56

3.3.1 Xây dựng phòng công tác xã hội 56

3.3.2 Xây dựng kênh kết nối nhà trường – phụ huynh – học sinh – xã hội 60

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 62

1 KẾT LUẬN 62

2 KHUYẾN NGHỊ 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Báo cáo số học sinh trường TH và THCS An Lạc 30

năm học 2019 – 2020 30

Bảng 2.2 : Báo cáo số giáo viên trường TH và THCS An Lạc 31

năm học 2019 – 2020 31

Bảng 2.3 Khó khăn của học sinh khi trao đổi giáo dục SKSS với giáo viên 46

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Hiểu biết của học sinh về nhận thức giới tính 32

Biểu đồ 2.2 Nhận thức về nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản 33

Biểu đồ 2.3: Sự cần thiết của giáo dục SKSS 35

Biểu đồ 2.4 Thái độ đối với việc học tập kiến thức giáp dục sức khỏe sinh sản cho học sinh 36

Biểu đồ 2.5 thời gian giáo dục SKSS/Tuần 37

Biểu đồ 2.6 thời gian giáo dục SKSS/buổi 38

Biểu đồ 2.7 hình thức giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh 39

Biểu đồ 2.8 Quan điểm của giáo viên về hình thức giáo dục SKSS 40

Biểu đồ 2.9 Quan điểm của giáo viên về khối lớp được giáo dục SKSS 42

Biểu đồ 2.10 Quan điểm của giáo viên về trách nhiệm giáo dục SKSS cho học sinh 43

Biểu đồ 2.11 Đánh giá của giáo viên về nội dung chương trình 44

giáo dục SKSS 44

Biểu đồ 2.12 Khó khăn của học sinh khi trao đổi giáo dục SKSS với giáo viên 47 Biểu đồ 3.1 Mong muốn của học sinh về nội dung giáo dục SKSS 48

Biểu đồ 3.2 Mong muốn của học sinh về hình thức giáo dục SKSS 50

Biểu đồ 3.3 Mong muốn của học sinh về đối tượng tham gia giáo dục SKSS 52

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường là sự xuất hiện của nhiều loại văn hóa phẩm không lành mạnh có ảnh hưởng rất lớn đến trẻ ở lứa tuổi vị thành niên

Tuổi dậy thì là một giai đoạn phát triển quan trọng của một con người, nó xuất hiện với những biểu hiện thay đổi rất đặc trưng về mặt tâm sinh lý Đó là giai đoạn từ tuổi thơ đang dần trở thành người lớn với sự trưởng thành cả về thể chất và tâm hồn rất sâu sắc Trong thời kỳ này trẻ bắt đầu có những băn khoăn, suy nghĩ về sự biến đổi của cơ thể, những khác biệt giới tính giữa nam và nữ, và với những nhu cầu về tình bạn, tình yêu, tình dục… Tuổi dậy thì ở mỗi nền văn hóa có những đặc điểm riêng nhưng nói chung đều bộc lộ sự thay đổi về nhân cách và tâm lý, trẻ vị thành niên luôn muốn thử sức, luôn muốn tự khẳng định, thích mạo hiểm nhưng khi gặp khó khăn, đau buồn hay thất bại lại chưa đủ bản lĩnh để lí giải, chống chọi và vượt qua Chính trong thời điểm này nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh sản (SKSS) ở trẻ vị thành niên là rất cao đặc biệt là giai đoạn đầu của tuổi dậy thì - giai đoạn trẻ rất cần được sự giúp đỡ, giáo dục để hình thành nhân cách xã hội và phát triển định hướng giáo dục giới tính nhằm xây dựng mối quan hệ lành mạnh và có trách nhiệm với bạn bè, gia đình, biết tôn trọng bản thân và bạn khác giới

Nhà giáo dục học Makarenco đã từng khẳng định “GDSKSS chỉ là một khía cạnh của giáo dục toàn diện và không thể tách rời ra được, như một cánh tay dính liền với cơ thể Muốn cho cánh tay khỏe mạnh thì phải làm cho toàn bộ

cơ thể khỏe mạnh và ngược lại nếu có cơ thể khỏe mạnh về mọi mặt chỉ có cánh tay giáo dục SKSS là bị bỏ bê và nhức nhối thì người đó không thể thưởng thức

sự lành mạnh của phần cơ thể còn lại" Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc giáo dúc SKSS cho học sinh và không thể xem giáo dục SKSS như là một điều mới lạ trẻ phải học ở trường khi tới tuổi dậy thì Hiện nay, xã hội càng phát triển thì đời sống con người ngày càng được cải thiện hơn với mục tiêu hình

Trang 10

thành nên những thế hệ sau có sự phát triển về thể chất và tinh thần một cách toàn diện, nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước, cho sự phát triển bền vững của

xã hội

Một trong những mục tiêu phát triển toàn diện con người hướng vào thế

hệ trẻ là giáo dục SKSS cho học sinh THCS nhằm nâng cao hiểu biết cho học sinh về giới tính, định hướng các em trong mối quan hệ với bạn khác giới, với hôn nhân và gia đình Giới tính, tình dục, tình yêu là vấn đề muôn thuở của xã hội loài người như cơm ăn nước uống, một vấn đề tự nhiên cho sự phát triển của con người cho mọi quá trình sống khác như giao tiếp, lao động, nghỉ ngơi… Do vậy giáo dục SKSS có ý nghĩa xã hội quan trọng trên cả hai phương diện nâng cao chất lượng giống nòi và chất lượng cuộc sống

Tuổi vị thành niên nói chung, học sinh trung học cơ sở nói riêng rất cần

có nhận thức đúng đắn về giới tính, tình yêu, cần được trang bị kiến thức về SKSS Tuy nhiên một thực tế hiện nay cho thấy, ở các nước Á Đông, cụ thể là Việt nam quan niệm về giới tính, tình dục, tình yêu còn rất hạn chế, có đôi phần khắt khe Nên các bậc cha mẹ thường ít hoặc không đề cập đến những vấn đề nhạy cảm vì sợ làm hư con cái, là vẽ đường cho hươu chạy, với suy nghĩ đến khi nào lớn các em sẽ tự biết Hoặc nếu có đề cập đến thì cũng chung chung không

rõ ràng càng gây nhiều thắc mắc cho con cái những vấn đề về giới tính tình bạn, tình yêu Trong khi đó chương trình giáo dục SKSS ở nhà trường chỉ giải quyết được phần nào thắc mắc ở lứa tuổi này Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn

như vậy tôi chọn vấn đề “Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học

cơ sở An Lạc, xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình” làm đề tài

nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng giáo dục SKSS cho học sinh THCS An Lạc, xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình

Trang 11

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS An Lạc, Xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: Số liệu về đặc điểm đơn vị thực tập được thu thập

trong 3 năm học, từ năm học 2017- 2018 đến năm học 2019 – 2020 Số liệu phiếu khảo sát được thu thập trong khoảng thời gian từ ngày 20 tháng 4 năm

2020 đến ngày 30 tháng 4 năm 2020

- Phạm vi về không gian: Trường TH và THCS An Lạc, xã Thống Nhất -

huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình

- Phạm vi về nội dung: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là giáo dục sức khỏe

sinh sản cho học sinh trung học cơ sở tại trường tiểu học và THCS An Lạc, Xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình

4 Mục tiêu nghiên cứu:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở

- Tìm hiểu thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình

5 Nội dung nghiên cứu:

- Cơ sở lý luận chung về vấn đề giáo dục SKSS cho học sinh trung học cơ sở

- Thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình

- Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất -

Trang 12

huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

6.1.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát

Đây là phương pháp chủ yếu sử dụng trong đề tài để thu thập thông tin về

giáo dục SKSS cho học sinh THCS tại trường TH và THCS An Lạc, Xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình với khách thể nghiên cứu là học sinh THCS trường tại trường tiểu học và THCS An Lạc, Xã Thống Nhất - huyện Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình Bao Gồm:

- 120/180 chiếm 66,7%học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 trường TH và THCS An Lạc Trong đó:

Khảo sát bằng hình thức phát phiếu trên lớp

+ 1 lớp 9 tổng số 33 học sinh chiếm 27% tổng số phiếu khảo sát Khảo sát

Bằng hình thức phát phiếu điều tra tại nhà là

+ Lớp 8 với tổng số 35 học sinh chiếm 29,1 % tổng số phiếu khảo sát

+ Lớp 7 với tổng số 30 học sinh chiếm 25% tổng số phiếu khảo sát

+ Lớp 6 với tổng số 22 học sinh chiếm 18,3 % tổng số phiếu khảo sát

- 41/41 chiếm cán bộ, giáo viên, công nhân viên trường TH và THCS An Lạc Khảo sát bằng hình thức phát phiếu trực tiếp đến giáo viên tại trường

Thu thập những tài liệu, số liệu sẵn có tại cơ sở thực tập như: Báo cáo

tổng kết năm học, đặc điểm địa bàn nghiên cứu…

6.2 Phương pháp xử lý dữ liệu

6.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

Trang 13

Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết để xây dựng hệ thống khái niệm làm cơ sở lý luận cho đề tài; đưa ra những nhận định, phân tích vấn đề nghiên cứu

6.2.2.Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp này được sử dụng để xử lý số liệu thu được và đưa ra những kết quả chính xác, khách quan cho đề tài nghiên cứu: tỉ lệ %, giá trị trung bình, tốc độ phát triển…

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE

SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Cơ sở lý luận về giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1.1 Giới tính

Thuật ngữ “Giới tính” có nguồn gốc Latinh là Sectus (nghĩa là chia cắt) thể hiện chính xác ý định phân chia loài ra làm hai Khi nói đến giới tính là nói đến những khác biệt được xác định về sinh học giữa nam và nữ

“Giới tính là sự khác biệt giữa nam và nữ về phuơng diện sinh học, bao gồm sự khác nhau về giải phẫu (kích thước, hình dạng cơ thể…), đặc điểm sinh

lý (hoạt động hoóc mon, chức năng của các bộ phận…) Giới tính có các đặc trưng có bản sau đây:

- Tính bẩm sinh: về mặt sinh học, nam và nữ đã mang những đặc điểm khác nhau (bộ phận sinh dục, hoóc môn, nhiễm sắc thể) được xác định bởi tự nhiên

- Tính đồng nhất: nam giới hay nữ giới ở bất kỳ nơi nào, trong bất kỳ nền văn hóa nào đều có cấu tạo giống nhau về mặt sinh học (nữ có khả năng mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ, )

- Không biến đổi: Giới tính nói lên tính ổn định và tương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản Chức năng sinh sản của nam hay nữ là không thể thay đổi hay chuyển dịch cho nhau chẳng hạn như nam có tinh trùng và nữ có trứng

và dạ con, vẫn không hề biến đổi Tuy nhiên, hiện nay do sự trợ giúp của y học thì đã có sự can thiệp ở giới hạn nhất định trong những thay đổi về giải phẫu và nội tiết, còn chức năng sinh sản cơ bản của nam và nữ là không thay đổi

Với ý nghĩa đó, giới tính là một phạm trù cơ bản của đời sống xã hội Giới tính gần như là kiểu phân nhóm xã hội dễ nhận thấy nhất mà chúng ta có thể dùng để nhận dạng mình và người khác giới

Trang 15

Giới tính gắn liền với sự hình thành và phát triển của mỗi con người Ngay

từ lúc lên 3 lên 4, trẻ đã bước đầu ý thức được giới tính của mình, biết mình là trai hay gái Đây là kết quả của quá trình tự nhiên nhằm nhận thức thế giới xung quanh Sự nhận thức về giới tính ngày càng rõ nét hơn Cùng với sự thay đổi sâu sắc về giới tính thì kéo theo sự biến đổi to lớn về đời sống tâm lí của mỗi cá nhân Ở tuổi dậy thì giới tính có sự biến đổi rất rõ rệt, cơ thể đạt đến sự trưởng thành về sinh dục – tức là có khả năng sinh sản, và nếu không có sự nhận biết đầy đủ về đặc điểm giới tính cũng như sự phát triển của nó thì ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển nhân cách của con người Vì vậy, việc giáo dục giới tính đặc biệt là cho trẻ là một điều rất cần thiết trong sự hình thành và phát triển nhân cách của các em, để mang lại cho các em cuộc sống tốt đẹp

Chúng ta thấy rằng, hai khái niệm giới và giới tính có sự khác biệt về bản chất, mặc dù những quan niệm về giới được hình thành trên cơ sở giới tính cụ thể – là nam hay nữ Các đặc điểm giới tính là một phần quan trọng trong cấu thành nên các đặc điểm giới, nhưng nó không phải là thành phần quan trọng nhất hoặc duy nhất Trong nhiều bối cảnh văn hóa, một người được xếp loại là phụ

nữ hay đàn ông không chỉ dựa trên những đặc điểm về cơ thể, mà dựa trên cơ sở của những dữ kiện văn hóa Có thể thấy giới biến đổi nhiều, còn giới tính hầu như không thay đổi, và một điều sai lầm là lấy sự khác biệt giới tính là nguồn gốc duy nhất để giải thích cho sự khác biệt về giới và hợp lý hóa sự bất bình đẳng dựa trên một căn cứ duy nhất là yếu tố sinh học

1.1.1.2 Giáo dục

Tác giả Võ Thị Ngọc Lan và Nguyễn Văn Tuấn đưa ra định nghĩa giáo dục

là một quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho họ tham gia vào đời sống xã hội, lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người (Võ Thị Ngọc Lan, 2015)

Theo tác giả Phạm Viết Vượng (2012) khái niệm giáo dục được hiểu theo 2 nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Trang 16

Theo nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các đối tượng giáo dục nhằm hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách toàn diện (trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, thể chất, kĩ năng lao động…)

Theo nghĩa hẹp: Giáo dục được hiểu là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ ý thức, thái độ và hành vi ứng

xử với cộng đồng xã hội…

Đề tài sử dụng khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp của tác giả Phạm Viết Vượng để thực hiện nghiên cứu

1.1.1.3 Sức khỏe sinh sản

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: Sức khoẻ là một trạng thái

hoàn hảo cả về mặt thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật hoặc tàn phế Như vậy có thể thấy, khái niệm sức khoẻ là một khái niệm rộng

hơn nhiều so với những quan niệm đơn giản như: sức khoẻ là có một cơ thể cường tráng, sức khoẻ là không ốm đau, sức khoẻ là người lành lặn, không bị tàn phế…

Tương tự như vậy, sức khoẻ sinh sản là trạng thái khoẻ mạnh, hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không

có bệnh tật hay tổn thương ở bộ máy sinh sản

Sức khoẻ sinh sản bao gồm nhiều khía cạnh, trong đó có cả khía cạnh liên quan đến sức khoẻ tình dục Hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản của con người được hình thành, phát triển, và tồn tại trong suốt cuộc đời Sức khoẻ sinh sản có tầm quan trọng đặc biệt đối với cả nam giới và nữ giới Quá trình sinh sản và tình dục là một quá trình tương tác giữa hai cá thể, nó bao hàm sự tự nguyện, tinh thần trách nhiệm và sự bình đẳng

Trong xã hội ta còn tồn tại nhiều quan điểm sai, hoặc hiểu biết chưa đầy

đủ về khái niệm cũng như các lĩnh vực liên quan đến sức khoẻ sinh sản, đặc biệt

là quan niệm về vai trò của nam giới Trong những năm gần đây, vai trò của

Trang 17

nam giới trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản đã được đánh giá đúng mức hơn Trong một số chiến lược quốc gia như “Chiến lược truyền thông Dân số/ Sức khoẻ sinh sản/ Kế hoạch hoá gia đình giai đoạn 2006 – 2010” của Uỷ ban Dân

số, Gia đình và Trẻ em Việt nam, “Chiến lược Chăm sóc sức khoẻ sinh sản” của

Bộ Y tế… cũng đã nêu rõ nam giới là một thành phần quan trọng và có tác động lớn đến việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản

1.1.1.4 Giáo dục SKSS

Giáo dục SKSS là khái niệm kết hợp giữa khái niệm giáo dục và SKSS Giáo dục SKSS là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức thông qua nội dung, chương trình, phương pháp cụ thể của chủ thể (nhà trường, gia đình, tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể ) nhằm cung cấp kiến thức về giới, giới tính, cấu tạo, chức năng các cơ quan sinh sản, tình dục, tình yêu để hình thành ý thức, thái độ, hành vi đúng đắn, có trách nhiệm trong các mối quan hệ giữa bản thân và người khác giới, tạo sự hài hoà của toàn bộ hoạt động các cơ quan sinh sản nhằm mục tiêu sinh sản hay không sinh sản (tình dục) và thực hiện quyền sinh sản của mỗi người GDSKSS trong nhà trường là một bộ phận quan trọng của giáo dục nhân cách phát triển cân đối và toàn diện; nhằm trang bị cho thế hệ trẻ các kiến thức về giới, về hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản, về đời sống tình dục lành mạnh, an toàn giúp họ hình thành thái độ, hành vi đúng đắn trong các mối quan hệ khác giới, biết cách giải quyết các vấn đề liên quan đến tình bạn, tình yêu, hôn nhân, biết làm chủ quá trình sản xuất ra con người, biết chăm sóc SKSS, sức khoẻ tình dục, kiểm soát tốt hơn đời sống tình dục và sinh

sản

1.1.2 Vai trò của giáo dục sức khỏe sinh sản đối với học sinh THCS

Trong giai đoạn hiện nay giáo dục SKSS không được nói là quan trọng

mà là rất quan trọng Giáo dục SKSS như đã nói có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách của trẻ ở lứa tuổi đang lớn và liên quan đến hoạt động tình dục là một hoạt động có chức năng rất quan trọng trong việc duy trì thế hệ mai sau Và chúng ta hãy thử hình dung một thế hệ thiếu kiến thức về sức khoẻ

Trang 18

sinh sản, giới tính thì làm sao có thể tạo ra cho xã hội một thế hê phát triển toàn diện về thể trạng tâm lý và sinh lý? Đấy chỉ là một khía cạnh trong giáo dục SKSS nhưng khía cạnh ấy luôn được quan tâm trong bất kì thời đại nào Bên cạnh đó giáo dục SKSS góp phần điều chỉnh những sai lệch trong cách nghĩ về các khái niệm giới tính, tình dục, sức khoẻ sinh sản,…và điều này phải cần có thời gian dài

Giáo dục SKSS còn có chức năng phòng ngừa nếu như chúng ta thực hiện đúng, có hiệu quả với những phương pháp khoa học, tạo nên sự tham gia của chính đối tượng được giáo dục Nếu được quan tâm giáo dục đúng mức trong việc giáo dục SKSS thì sẽ giúp cho thế hệ trẻ phòng ngừa được các bệnh lây lan qua đường tình dục, góp phần định hướng cho họ vấn đề sinh đẻ được an toàn, đảm bảo con cái phát triển khoẻ mạnh

Góp phần vào việc thực hiện tốt hơn các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình của Đảng và Nhà Nước ta

1.1.3 Nhiệm vụ của giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS

Giáo dục SKSS trong trường học là một hình thức quan trọng và hiệu quả nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và hành vi cho học sinh Có một sự đồng thuận rộng rãi đối với giáo dục chính quy là nên bao gồm các hoạt động giáo dục SKSS

Tính hiệu quả của các chương trình giáo dục SKSS ở trường học bao gồm các nội dung như: tập trung vào việc giảm thiểu các hành vi rủi ro; dựa vào nền tảng lý thuyết để giải thích những lựa chọn tình dục và hành vi của con người; liên tục tăng cường thông báo về hành vi tình dục; cung cấp những thông tin chính xác về các rủi ro liên quan đến hoạt động tình dục, tránh thai, mang bầu, sinh đẻ hoặc các cách thức từ chối quan hệ tình dục

Không chỉ dừng lại ở đó, chương trình giáo dục SKSS ở trường còn cung cấp cho học sinh cách đối phó với bạn bè và các áp lực xã hội khác khi các em gặp rủi ro trong quan hệ tình dục; cung cấp các cơ hội để giao tiếp trực tiếp, các

kỹ năng thương lượng và đưa ra quyết định

Trang 19

Ở trường, giáo viên đã sử dụng đa dạng các phương pháp tiếp cận để dạy

và học gắn với liên hệ bản thân, sự tham gia của hoc sinh và giúp các em gắn kết thông tin với bản thân

Giáo viên cũng cần lưu ý, nên sử dụng các phương pháp tiếp cận dạy và học sao cho phù hợp với độ tuổi, kinh nghiệm và nền văn hóa của các em; sáng tạo ra các hình thức giáo dục SKSS mới có hiệu quả hơn

Giáo dục SKSS trong nhà trường khác ở gia đình, vì nó chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian Và nhà trường cũng không phải là nơi lúc nào cũng có các vấn đề liên quan đến giới tính, tình dục của học sinh

Trường học - dựa trên các chương trình giáo dục đặc trưng, có ưu thế trong việc cung cấp thông tin và cơ hội để phát triển các kỹ năng và chọn lọc thái độ rõ rệt theo phong cách trang trọng hơn thông qua các bài học trong chương trình giảng dạy

1.1.4 Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh ở trường THCS

Trung bình, các bé gái bắt đầu dậy thì vào khoảng 10 - 11 tuổi và kết thúc dậy thì vào khoảng 15-17 tuổi, các cậu bé bắt đầu khoảng 11-12 tuổi và kết thúc vào khoảng 16-17 tuổi Cột mốc chính của tuổi dậy thì đối với nữ là khởi phát kinh nguyệt, xảy ra trung bình ở độ tuổi 12 đến 13 Đối với nam giới, xuất tinh đầu tiên xảy ra trung bình ở tuổi 13

Trong giai đoạn này tính nết của trẻ cũng thay đổi đi đôi với sự phát triển của cơ thể (chiều cao tăng nhanh từ 8-15 cm/năm và kéo dài khoảng 2 năm) Lúc này trẻ luôn có ý muốn tách rời khỏi cha mẹ, có tính độc lập hơn trong những quyết định của mình Đây là lúc mà việc giáo dục sức khỏe sinh sản phải được bắt đầu Chúng cần hiểu rõ về cơ thể mình hơn, về những sự cố sẽ xảy ra khi có quan hệ tình dục sớm và nguy cơ nhiễm bệnh nguy hiểm

Thông thường người lớn chúng ta hay né tránh hoặc trả lời không rõ ràng

về những điều mà chúng tò mò muốn biết Ngay cả các giáo viên về giáo dục SKSS cũng tỏ ra không mấy nhiệt tình trong việc tìm hiểu và giải đáp các thắc

Trang 20

mắc từ học sinh của mình Người lớn phải nhìn nhận vấn đề này theo khía cạnh tâm lý và khoa học, giáo dục SKSS phải là bước tiếp nối của giáo dục gia đình trong suốt thời gian trẻ hình thành nhân cách Thái độ tích cực của chúng ta sẽ giúp trẻ tránh được sai lầm Hướng dẫn, giải thích, chứ không răn đe, kết tội hay lẩn tránh Một khi thắc mắc chưa được giải tỏa thì trẻ sẽ tự đi tìm nguồn thông tin khác (sách báo, tranh ảnh, bạn bè) Dần dần, trẻ không còn tin tưởng ở cha

mẹ nữa, trở nên khép kín và phạm sai lầm một cách đáng tiếc Người lớn nên ứng dụng thực tế để ứng xử và định hướng cho trẻ thay vì phải lệ thuộc vào phong tục tập quán truyền thống Tạo cho trẻ những thói quen lành mạnh, rút tỉa kiến thức từ gia đình mình để đủ tự tin vượt qua giai đoạn khó khăn ở tuổi dậy thì

Nhà trường là một thiết chế xã hội chuyên biệt thực hiện chức năng cơ bản

là tái sản xuất sức lao động, phát triển nhân cách con người mà thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau và có vượt lên phù hợp với xu thế của thời đại, nhằm duy trì và phát triển xã hội Mục tiêu giáo dục Nhà trường được thực hiện bởi đội ngũ các nhà giáo dục được đào tạo, bồi dưỡng tại các trường sư phạm có một chương trình, nội dung, phương pháp, có cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ

và thiết bị hiện đại nhằm phát triển toàn diện nhân cách, hướng tới sự thành đạt của người công dân Nhà trường là nhân tố chủ đạo trong việc GDSKSS cho HS vì: Nhà trường có chức năng thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo hình thành nhân cách HS đáp ứng yêu cầu xã hội Nhà trường có nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục được chọn lọc và tổ chức chặt chẽ Nội dung giáo dục SKSS được thực hiện thông qua nguyên tắc dạy tích hợp các bộ môn trong nhà trường nhằm nâng cao tính thực tiễn, tính hấp dẫn của các môn học

Nhà trường có lực lượng giáo dục mang tính chất chuyên nghiệp: Lực lượng chính trong giáo dục nhà trường là Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ đoàn thể có nhiệm vụ tổ chức, liên kết các thành viên trong và ngoài nhà trường để cùng tiến hành truyền thụ những kiến thức SKSS khó tích hợp trong các môn học Giáo viên chủ nhiệm lớp là người trực

Trang 21

tiếp thực hiện việc phối hợp giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội Môi trường giáo dục trong Nhà trường có tính chất sư phạm, có tác động tích cực trong quá trình giáo dục SKSS cho HS

1.1.5 Một số nguyên tắc về vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh

Một trong những nhiệm vụ của giáo dục SKSS là tạo điều kiện cho sự phát triển hoàn thiện nhân cách của học sinh, mở rộng những hiểu biết tình dục, góp phần vào việc hình thành, củng cố hôn nhân và gia đình trong cuộc đời mỗi con người Trên cơ sở phân tích khoa học các nhiệm vụ của giáo dục SKSS, các nhà khoa học đã xác định những nguyên tắc giáo dục SKSS như sau:

Nguyên tắc về sự tin cậy trong giáo dục SKSS: Sự tin cậy là điều kiện cơ

bản để giáo dục SKSS đạt hiệu quả Nguyên tắc này đòi hỏi nhà giáo dục phải tạo được sự tôn trọng lẫn nhau, cộng tác cùng nhau, nhanh chóng tạo nên sự tiếp xúc tốt, bền vững giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, tránh các biện pháp

“cấm đoán” một cách thô bạo hay chế giễu khiến đối tượng giáo dục khó chấp nhận

Nguyên tắc chuẩn bị tích cực cho sự phát triển của đối tượng giáo dục:

Những tác động giáo dục phải là những tác động định hướng cho quá trình phát triển của đối tượng giáo dục Để làm tốt vấn đề này, nhà giáo dục phải biết được tất cả những gì đang diễn ra trong tâm hồn của đối tượng giáo dục bằng những biện pháp tế nhị, kín đáo để góp phần tích cực vào việc hình thành tính cách, hành vi đối xử tốt cho trẻ, ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực của những nguồn tin sai lệch từ ngoài dội vào

Nguyên tắc tôn trọng sự thật và trong sáng trong giáo dục SKSS: Giáo dục

SKSS cho học sinh mang đậm tính khách quan có nghĩa là mọi vấn đề trình bày với trẻ phải trong sáng, giản dị, dễ hiểu Tránh lời nói mập mờ cũng như trình bày sự thật một cách trần truồng, thô bạo, tục tĩu, kích thích trí tò mò của trẻ Nói chung, tuỳ theo trình độ phát triển của tâm lý lứa tuổi, tuỳ theo tính chất đạo đức của vấn đề mà có những giải thích cần thiết mở rộng phạm vi ảnh hưởng tích cực đối với trẻ

Trang 22

Nguyên tắc thức tỉnh trách nhiệm cá nhân trong giáo dục SKSS: Khi con

người đã trưởng thành về mặt sinh học, khi người đàn ông hay người đàn bà đã thức dậy trong thể xác thì cũng là lúc xã hội đòi hỏi họ phải chịu trách nhiệm về những hành vi cá nhân mình trong mối quan hệ với người khác giới Đó là trách nhiệm đối với sức khoẻ của mình, đối với bạn tình, đối với tương lai của con cái

Đó là trách nhiệm của công dân đối với Tổ quốc, của con người đối với cộng đồng xã hội loài người Nguyên tắc này cần thiết phải thực hiện để góp phần thực hiện mục tiêu cụ thể của giáo dục dân số đã đề ra đối với mỗi con người trong xã hội

Nguyên tắc của tính liên tục và sự ôn lại: Nội dung giáo dục cần được tiến

hành một cách liên tục, có hệ thống và không ngừng nâng cao phù hợp với mức

độ sinh lý của lứa tuổi, đáp ứng những thắc mắc nảy sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức mới Kiến thức cũ không phải để cho đối tượng giáo dục nhớ lại, nhắc lại làm nền tảng cho sự tiếp thu kiến thức mới mà tự rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết trong đời sống Nguyên tắc này thực hiện theo kiểu vòng tròn đồng tâm, khối kiến thức ngày càng rộng và sâu hơn

Nguyên tắc thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục: SKSS là tổng

hợp của nhiều kiến thức: chính trị - xã hội, sinh lý tình dục, tâm lý học, giáo dục học, vệ sinh y học, pháp luật Do đó, khi trình bày kiến thức phải kết hợp nhiều khía cạnh của vấn đề, rút ra những kết luận thực tiễn, những bài học bổ ích cho

thế hệ trẻ

1.1.6 Hình thức, phương pháp, nội dung giáo dục SKSS cho học sinh

1.1.6.1 Hình thức giáo dục SKSS cho học sinh

Việc giáo dục SKSS trong học đường thông qua các hình thức sau: tích hợp những nội dung giáo dục SKSS qua một số môn học như Sinh học, giáo dục công dân, kỹ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động tập thể, phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục SKSS

Ngày nay, với yêu cầu của xã hội đối với công tác giáo dục thế hệ trẻ ngày

Trang 23

càng cao thì công tác “xã hội hóa giáo dục” càng có vai trò quan trọng và cần thiết Muốn thực hiện công tác phối hợp hiệu quả, Nhà trường phải chủ động cụ thể hoá quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về giáo dục, đào tạo, mục tiêu, nội dung chương trình, kế hoạch giáo dục, nhằm thống nhất định hướng tư tưởng và hành động trong quá trình giáo dục đảm bảo các nội dung như sau: Nhà trường chủ động, tích cực phổ biến các tri thức văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật, nội dung, phương pháp đổi mới đến đối tượng chủ thể giáo dục sức khỏe sinh sản Nhà trường chủ động phát động và tổ chức thực hiện các phong trào thi đua mang tính chất rộng rãi và có giá trị tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành nhân cách của HS Đa dạng hoá các hoạt động mang tính xã hội hấp dẫn giúp các em có điều kiện trưởng thành trong thực tiễn, tiếp thu kiến thức dần dần Các hình thức thường được sử dụng như: toạ đàm trao đổi kiến thức và kinh nghiệm, nói chuyên đề, câu lạc bộ, giải đáp, tư vấn về chủ đề SKSS Có lịch giao ban phản ánh tình hình, đánh giá tiến độ, chất lượng công việc, hiệu quả và sự ảnh hưởng của chương trình giáo dục đến đối tượng giáo dục Kịp thời thay đổi hoạt động chương trình giáo dục khi thấy không hiệu quả hoặc tình hình thực tế diễn ra không như dự kiến Tóm lại: Nhà trường phải luôn luôn năng động sáng tạo, chủ động tạo nên những mối quan hệ gắn bó giữa nhà trường - gia đình - xã hội một cách chặt chẽ, thường xuyên Có như vậy mới nâng cao hiệu quả giáo dục SKSS theo mục tiêu đào tạo có tác dụng sâu sắc đến hình thành nhân cách của học sinh

1.1.6.2 Phương pháp giáo dục SKSS cho học sinh

Để hoạt động giáo dục SKSS trong nhà trường đạt hiệu quả thì phải có các phương pháp giáo dục thông qua các hoạt động trong chương trình chính khóa

và ngoại khóa

Ngoài việc giáo dục tích hợp trong các môn học chính khóa, cần đặc biệt coi trọng các hình thức hoạt động ngoại khóa như: tổ chức các hoạt động văn nghệ, chiếu phim, giao lưu; các cuộc thi tìm hiểu dưới dạng bài viết hoặc sân khấu hóa, vẽ tranh, áp phích, sáng tác, biểu diễn tiểu phẩm với đề tài về giáo dục

Trang 24

SKSS Tổ chức quán triệt trực tiếp, tuyên truyền trực quan hoặc thông qua các

ấn phẩm, phương tiện thông tin

Tổ chức cho học sinh tham gia sinh hoạt câu lạc bộ về sức khỏe sinh sản của nhà trường, tổ chức tuyên truyền thông qua hoạt động của Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh Lồng ghép việc giáo dục, tuyên truyền trong các cuộc vận động, phong trào thi đua của Bộ giáo dục và đào tạo và của địa phương

SKSS là một bộ phận của nhân cách, nên về cơ bản người ta vẫn sử dụng các nhóm phương pháp giáo dục nhân cách trong quá trình GDSKSS Nhóm phương pháp hình thành ý thức cá nhân: Diễn giảng, trò chuyện, tranh luận, nêu gương, thuyết phục Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động để tích luỹ kinh nghiệm ứng xử xã hội: Phương pháp tạo tình huống giáo dục, phương pháp rèn luyện theo chế độ sinh hoạt, phương pháp tập luyện đạt đến thói quen, phương pháp sinh hoạt tập thể, tạo dư luận xã hội

Nhóm phương pháp kích thích hành vi qua khen thưởng và trách phạt Tuy nhiên, giáo dục SKSS cũng có những đặc trưng riêng của nó, đó là tính thực tiễn của đời thường Trong giáo dục SKSS không cần đến lý luận cao siêu mà thường là những vấn đề cụ thể trong cuộc sống hàng ngày, rất tế nhị và “thầm kín” Do đó, để đạt mục tiêu giáo dục thì đòi hỏi phải có thủ pháp riêng Đó là:

Phương pháp trò chuyện: Đây là hình thức thường được sử dụng nhiều

nhất trong giáo dục, dễ tạo ra sự thân mật, cởi mở và chân tình khi nói chuyện giữa nhà giáo dục và đối tượng được giáo dục Tuy nhiên, khi trò chuyện với đối tượng giáo dục, nhà giáo dục phải trả lời các câu hỏi theo đúng sự thật khoa học, đúng lúc, đúng chỗ, thường thông tin và hình thức thông tin phải ở mức trẻ hiểu được và có lợi cho trẻ, đồng thời câu trả lời phải dí dỏm, kích thích được trẻ muốn tâm sự với bạn

Diễn giải kết hợp với hỏi đáp và tranh ảnh minh hoạ: GDSKSS là một bộ

môn có tính tổng hợp cao Đòi hỏi nhà giáo dục phải có trình độ kiến thức sâu rộng và khả năng vận dụng một cách nhuần nhuyễn, liên tưởng giúp đưa các em

Trang 25

vào những tình huống thực tế Nhà giáo dục gợi mở, huy động kiến thức, những suy nghĩ, những gợi nhớ quan sát để xây dựng và tổng hợp kiến thức, biến nó thành vốn sống của mình để có thể ứng xử phù hợp trong quan hệ giới tính

Thảo luận: Giáo dục SKSS là một trong những vấn đề được xem là “thầm

kín”, học sinh rất ngại nói ra những suy nghĩ của mình Do đó, để có thể giải đáp những thắc mắc của học sinh, người giáo dục có thể sử dụng hình thức ghi chép câu hỏi ra giấy mà không cần ghi tên người hỏi nhằm giúp học sinh dễ bộc lộ những băn khoăn, ngại ngùng khi hỏi Sau đó, người giáo dục có thể nêu câu hỏi để thảo luận chung Thảo luận có thể thực hiện theo nhóm nhỏ, theo tổ học tập sau đó cử đại diện

để có thể phát biểu chung dưới sự điều khiển của người giáo dục

Hội thảo khoa học theo chủ đề: Mục đích của hình thức này là giúp học sinh

làm quen với việc tìm hiểu một vấn đề và phát huy tính chủ động sáng tạo Cần phải học cùng trẻ, trao đổi, chia sẻ, tâm sự với trẻ, uốn nắn những lệch lạc trong suy nghĩ, hiểu biết của trẻ Cung cấp những sách có giá trị định hướng cho thanh niên theo xu thế lành mạnh của tiến bộ xã hội Ngoài ra có thể chiếu phim có chọn lọc phục vụ việc giáo dục cho các em, giúp các em mở rộng thêm vốn sống

1.1.6.3 Nội dung giáo dục SKSS cho học sinh

Quyền sinh sản: Quyền quyết định số con, số lần, khoảng cách sinh HS có

quyền được biết đầy đủ thông tin về SKSS, sức khỏe tình dục một cách thường xuyên, liên tục dưới mọi hình thức, trước khi trở thành người lớn; được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc SKSS thuận tiện, phù hợp

Phòng tránh thai, phá thai an toàn: Phá thai là chấm dứt thai nghén ngoài ý

muốn, không phải là biện pháp tránh thai Phá thai có thể mang đến nhiều biến chứng như đau, choáng, thủng tử cung, nhiễm khuẩn, có thể bị vô sinh sau này hoặc thậm chí có thể chết, nhất là phá thai ở những nơi không có đủ điều kiện

Phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, các bệnh lây truyền

qua đường tình dục và HIV/AIDS Các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể gây nhiều biến chứng như tắc vòi trứng, tắc ống dẫn tinh dẫn đến vô sinh gây sẩy thai, chết lưu có thể lây truyền cho con, thậm trí gây tử vong

Trang 26

Bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS: Là tăng cường sự tham gia, hỗ trợ,

chia sẻ trách nhiệm của nam giới trong mọi lĩnh vực của SKSS

Về thái độ và hành vi: Thông qua giáo dục của Nhà trường, hình thành ở

HS thái độ đúng đắn về học tập, nâng cao ý thức trách nhiệm trong CSSKSS cho bản thân, các thành viên trong gia đình và bạn khác giới Cụ thể:

Thông qua hiểu về quá trình mang thai, sinh đẻ, chăm sóc trẻ làm cho HS biết quý trọng ông bà, cha mẹ, tôn trọng giá trị đạo đức, tinh thần và chăm sóc bản thân cũng như các thành viên khác Nam giới sẽ chia sẻ trách nhiệm với phụ

nữ về SKSS và sức khoẻ tình dục Góp phần làm giảm gánh nặng cho phụ nữ do phải phá thai, phải đẻ nhiều hay không được chăm sóc chu đáo trong thời kỳ mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng trẻ nhỏ Mọi thành viên trong gia đình có trách nhiệm chăm sóc bà mẹ khi mang thai, khi đẻ, sau đẻ, chăm sóc trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ tốt nhất

HS biết cách chia sẻ để được sự giúp đỡ, an ủi khi gặp khó khăn liên quan đến vấn đề giới tính, tình bạn, tình yêu Qua đó, HS có được nhận thức đúng về quyền sinh sản đi đối với nghĩa vụ, trách nhiệm trong gia đình, cộng đồng và xã hội một cách tốt nhất

Biết cách phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, các bệnh lây qua đường tình dục và HIV/AIDS HS có các thông tin đầy đủ về các biện pháp tránh thai, hiểu về các Biện pháp tránh thai (BPTT), lựa chọn và sử dụng đúng các biện pháp tránh thai phù hợp để phòng tránh thai Trong trường hợp bắt buộc phải phá thai cần phá thai sớm tại cơ sở y tế có đủ điều kiện phá thai

HS biết cách xây dựng tình yêu lành mạnh, tình dục an toàn, có kỹ năng sống, biết từ chối những hành vi không lành mạnh như sinh hoạt tình dục trước hôn nhân, sinh hoạt tình dục mà không sử dụng BPTT…

1.2 Một số lý thuyết chủ yếu ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Thuyết nhu cầu Maslow

Abraham Maslow sinh ngày 1-4-1908, mất năm 8-5-1970 Ông là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Ông là người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về

Trang 27

Tháp nhu cầu và ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong Tâm lý học Maslow bắt đầu sự nghiệp giảng dạy tại Brooklyn College Trong suốt thời gian này ông đã gặp gỡ nhiều nhà tâm lý học hàng đầu Châu Âu như Alfred Adler và Erich Fromm Năm 1951, Maslow trở thành trưởng khoa Tâm lý học tại Brandeis University, nơi mà ông bắt đầu với công tác nghiên cứu học thuyết của mình Ông đã gặp Kurt Goldstein, người đã giới thiệu ông ta về ý tưởng của

sự tự nhận thức về nhu cầu Ông về hưu tại California Chết vì đau tim năm

1979, thọ 62, sau nhiều năm sức khoẻ kém

Maslow nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao

Trang 28

Bậc 1 Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của

con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục

Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Đặc biệt là với trẻ em vì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản này Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa

Bậc 2 Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: An ninh và an toàn có nghĩa là

một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý,

an toàn nhân sự,…Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người

Để sinh tồn con người tất yếu phải xây dựng trên cơ sở nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn nếu không được đảm bảo thì công việc của mọi người sẽ không tiến hành bình thường được và các nhu cầu khác sẽ không thực hiện được Do

đó chúng ta có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc

bị mọi người căm ghét vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác

Bậc 3 nhu cầu xã hội: Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần

nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận

Trang 29

luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại

Bậc 4 nhu cầu được tôn trọng: Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại:

Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập,

tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng

mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người

Bậc 5 nhu cầu thể hiện bản thân: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất

trong cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó

Đối với thuyết nhu cầu của Maslow có thể ứng dụng vào trong nghiên cứu vì xã hội ngày càng phát triển vì vậy các nhu cầu cơ bản của con người cũng sẽ thay đổi theo Với đề tài này tôi có thể dựa vào thuyết nhu cầu của Maslow để xác định xem sử dụng rượu có phải là một nhu cầu cơ bản của người dân tại địa bàn hay không, nếu thiếu đi việc sử dụng rượu họ có thế tiến đến các nhu cầu cao hơn hay không Thậm chí việc sử dụng rượu của họ rất có thể không chỉ dừng lại

ở mức nhu cầu cơ bản mà còn ở các bậc cao hơn như là các nhu cầu về xã hội hay là nhu cầu về tôn trọng Đó là những điều mà thuyết nhu của Maslow có thể giúp tôi ứng dụng và làm rõ những điều trên

Trang 30

Ứng dụng vào đề tài: Ngày nay, cuộc sống ngày càng phát triển Học sinh

được tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng rất sớm Ngoài nhu cầu cơ

bản như ăn mặc, ở… học sinh THCS còn cần được đáp ứng nhu cầu về giáo dục

SKSS Đề tài sử dụng thuyết nhu cầu của Maslow để xem xét học sinh THCS có

nhu cầu được hiểu biết về các vấn đề SKSS là tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu của

các em Trong đó nhu cầu giáo dục SKSS trong tháp nhu cầu được xếp ở nhu

cầu an toàn Chính vì thế, học sinh THCS rất cần được trang bị những kiến thức

liên quan về giáo dục CSSKSS như quan hệ tình dục, kiến thức sinh sản… đúng

cách, đúng hướng để phát triển bản thân tốt nhất Ứng dụng lý thuyết này cũng

giúp nhà nghiên cứu nhìn nhận đánh giá mức độ quan trọng của nhu cầu được

giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS Từ đó có giải pháp nâng cao

nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục SKSS cho học sinh, gia đình, nhà

trường và cộng đồng nhằm tác động tích cực hơn góp phần thúc đẩy sự phát

triển lành mạnh cho các em.[13]

1.2.2 Thuyết nhận thức- hành vi

Thuyết nhận thức hành vi được xây dựng và phát triển bởi nhiều nhà khoa

học như Scott và Drylen, Goldstein, Glasser, Gambrill… Thuyết nhận thức hành

vi nêu thêm yếu tố nhận thức trong quá trình tạo ra hành vi Tác nhân kích thích

không trực tiếp tạo ra hành vi mà thông qua nhận thức của con người Thuyết

này được phát triển trên nền tảng lý thuyết về quá trình nhận thức, thuyết học

tập và phân tích hành vi Thuyết này cho rằng nguyên nhân của những hành vi

chưa tốt hay không tích cực bắt nguồn từ những nhận thức và suy nghĩ sai lệch

Do đó để làm thay đổi những hành vi lệch chuẩn chúng ta cần phải thay đổi

chính những suy nghĩ không thích nghi

Trang 31

dẫn đến phản ứng R Quan điểm về nhận thức - hành vi chỉ ra: Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức - hành vi thì các vấn đề nhân cách hành vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài Con người nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực Suy nghĩ không thích nghi tốt đưa đến các hành vi của một cái tôi thất bại Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức

Ứng dụng vào đề tài: Giáo dục SKSS của học sinh THCS trong sự phát

triển về nhận thức hành vi của các em Trong giai đoạn này các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc thích nghi với môi trường học tập, có quan điểm, sự nhìn nhận, đánh giá riêng về các vấn đề SKSS dẫn đến những hành vi không phù hợp, nếu không được phụ huynh và giáo viên hỗ trợ sẽ dẫn tới những hành vi, tình cảm lệch chuẩn Mặt khác, quá trình xã hội hóa cá nhân là kết quả của sự trưởng thành sinh học – phát triển tâm sinh lý ở lứa tuổi dậy thì và những kinh nghiệm

mà các em học sinh có được qua việc học tập cũng như tham gia các hoạt động

xã hội Đề tài áp dụng lý thuyết hành vi nhằm đưa nghiên cứu sự quan tâm, mức

độ hiểu biết và nhận thức của học sinh THCS về giáo dục SKSS Học sinh THCS là lứa tuổi đã chín muồi về sinh lí nếu nhận thức đúng về nội dung giáo dục SKSS sẽ giúp các em có những hành vi đúng đắn phù hợp trong các mối quan hệ như: Biết từ chối quan hệ tình dục không an toàn, biết sử dụng các biện pháp phòng tránh thai an toàn, biết cách sử dụng bao cao su, Từ đó nghiên cứu hiệu quả của giáo dục SKSS (nhận thức tốt dẫn tới hành vi tốt và ngược lại).[12]

1.3 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

1.3.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.3.1.1 Trên thế giới

Trên Thế giới nghiên cứu về sức khỏe vị thành niên có từ rất sớm nhưng

Trang 32

được gọi với các cái tên khác nhau, chẳng hạn sức khỏe vị thành niên hay giới tính tình dục thanh thiếu niên Từ sau hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ICPD tại Cairo (4/1994) định nghĩa chính thức về sức khỏe sinh sản được thống nhất và phổ biến đến mọi quốc gia trên thế giới và là mối quan tâm của toàn xã hội Vấn đề sức khỏe sinh sản được đẩy lên một trình độ mới

Tại Châu Phi: Giáo dục sức khỏe sinh sản ở châu lục này tập trung vào đẩy lùi nạn dịch AIDS và cố gắng thiết lập những chương trình giáo dục về AIDS hợp tác với tổ chức y tế thế giới (WGO) và các tổ chức phi chính phủ (NGO)

Những chương trình này dạy cho họ và con em họ các cách “ABC” với A

để phòng chống AIDS B – Chung thủy và C – Dùng bao cao su

Ở Ai Cập, trẻ từ 12 – 14 tuổi được giáo viên giảng dạy những kiến thức giải phẩu sinh học như cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ, cớ chế hoạt động, quan

hệ tình dục, nguyên nhân có thai, các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục Tại các quốc gia Châu Á: Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc và Sri LanKa là những nước đã thực hiện chính sách riêng về giáo dục giới tính trong các trường học về giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên

Tuy nhiên ở Bangladesh, Myanmar, Nepan và Pakistan thì không có những chương trình giáo dục giới tính như vậy

Ngay các nước Đông Nam Á như: Thailand, Malaysia, Indonesia, Singapore, Phihppines… cũng đã thực hiện nội dung giáo dục này Ở Philippines, giáo dục giới tính đã được đưa vào chương trình nội khoá của trường phổ thông cơ sở và trường trung học phổ thông, và là một bộ phận của giáo dục dân số và kế hoạch hoá gia đình Nội dung giáo dục giới tính đã được lồng ghép một cách hợp lí vào nhiều bộ môn văn hoá khác, chủ yếu là môn kế hoạch hoá gia đình qua các giờ chính khoá và qua các hoạt động ngoại khoá, theo mức độ khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau Ở nước này, việc nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học, những phương pháp và những phương tiện dạy học về SKSS rất được quan tâm và cuốn hút học sinh, làm cho quá trình giáo

Trang 33

dục đạt hiệu quả cao Việc giáo dục nội dung này cũng đã được mở rộng ra ngoài nhà trường, đến các tầng lớp nhân dân khác nhau qua rất nhiều hình thức giáo dục phong phú, qua các trung tâm tư vấn và đã được xã hội ủng hộ

Đối với các quốc gia Châu Âu: Như Pháp 2/2020, chính phủ Pháp quyết định đưa kiến thức giới tính và SKSS lên đài truyền hình và phát thanh, đồng thời phát khoảng 5 triệu tờ rơi cho học sinh phổ thông và trung học về các phương pháp tránh thai an toàn hiệu quả

Ở Đức hiện nay, có rất nhiều các nhà khoa học nổi tiếng với những công trình nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính như: R Neubert, Aresin, Smolka, Hopman và Klemm, Linser, Polte, Dierl, Grassel… Một cuốn bách khoa toàn thư về giới tính được biên soạn để giảng dạy và giáo dục giới tính cho học sinh

Các quốc gia Châu Mỹ : Các trường học đều đưa giáo dục giới tính và SKSS vào chương trình học của học sinh lớp 7 -12, có nơi bắt đầu học từ lớp 5, lớp 6 Học sinh tiếp cận với kiến thức giới tính thuộc hai kiểu: Toàn diện kiến thức chung chiếm 58% hoặc kiến thức sâu về một khía cạnh, vấn đề chiếm 34% Tuy nhiên, Mỹ lại là một trong những nước có tỷ lệ sinh ở trẻ vị thành niên cao nhất thế giới, Tỷ lệ nhiễm bệnh qua đường tình dục ở thanh thiếu niên cũng cao nhất Điều này cho thấy người ta nên chú trọng vào phương pháp hơn là xác định ở cấp độ giáo dục nào

( Theo giáo dục giới tính toàn cầu của trang Tailieu.vn)

Trang 34

Giáo dục đã đưa ra Chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước

Từ năm 1985, những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, về tình yêu, hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố Các tác giả Đặng Xuân Hoài, Tràn Trọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… đã nghiên cứu nhiều vấn

đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giới tính Nhiều công trình nghiên cứu về giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình, nhiều cuộc điều tra về tình yêu và đời sống hôn nhân gia đình đã được tiến hành từ năm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh niên và học sinh Những công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề rất phong phú đa dạng về vấn đề giới tính và giáo dục SKSS ở Việt Nam

Đặc biệt từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh (gọi tắt là Giáo dục đời sống gia đình) có kí hiệu VIE/88/P09 (gọi tắt là đề án P09) đã được Hội đồng Chính phủ,

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thuỷ và Giáo sư Đặng Xuân Hoài, đề án đã được tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân; nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh, phụ huynh… ở nhiều nơi trong cả nước, để chuẩn bị tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12

Từ khoảng năm 1990 đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia, nhiều đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những vấn đề có liên quan như: Giáo dục sức khoẻ sinh sản; Giáo dục về tình yêu trong thanh niên, học sinh; Giáo dục đời sống gia đình; Giáo dục giới tính cho học sinh… Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được sự quan tâm nhiều của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và

Trang 35

các bậc phụ huynh

Công trình nghiên cứu xây dựng chương trình thử nghiệm giáo dục dân số, SKSS trong trường phổ thông do Viện khoa học Giáo dục thực hiện, đã tập trung chủ yếu vào hai chủ điểm về tâm lý giáo dục và sinh học Lần đầu tiên trong nhà trường phổ thông ở nước ta HS được học có hệ thống về “những điều

bí ẩn” của chính mình và mối quan hệ với người khác giới, bằng cách dạy tích hợp vào các môn học từ bậc tiểu học đến trung học với 5 chủ đề: Nhân khẩu học, môi trường, gia đình, giới và dinh dưỡng, trọng tâm là GDSKSS cho vị thành niên, coi đầu tư giải quyết vấn đề về SKSS vị thành niên là một yêu cầu quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước Tuy nhiên, nội dung còn quá thiên về dân số phát triển, chưa coi SKSS như một mục tiêu ưu tiên trong chính sách quốc gia

Nhiều tác giả đã lựa chọn vấn đề GDSKSS làm Luận văn tốt nghiệp đại học, thạc sỹ, tiến sỹ, như: “Thực trạng và các biện pháp nâng cao nhận thức về SKSS cho học sinh các trường THPT các huyện miền núi Phú Thọ” (Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Hoàng Thị Lợi, năm 2000); “Các biện pháp giáo dục SKSS vị thành niên cho HS THPT thành phố Nam Định” (Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Lê Thị Kim Hoa, năm 2003) ; Luận án Tiến sỹ của tác giả Trần Thị Minh Ngọc với đề tài “Nghiên cứu nhận thức của sinh viên đại học

sư phạm về SKSS” năm 2006 Nhìn chung, các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý luận sự cần thiết phải quan tâm đến vấn đề giáo dục SKSS, thực trạng nhận thức về SKSS mà tập trung vào dân số, kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), đời sống tâm, sinh lý tuổi vị thành niên [4]

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI TRƯỜNG TH VÀ THCS AN LẠC -

XÃ THỐNG NHẤT - HUYỆN LẠC THỦY -TỈNH HÒA BÌNH

2.1 Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Xã Thống Nhất là một xã trung du vùng núi thấp có độ dốc trung bình 150

, cao nhất 40o Địa hình đồi núi chiếm đa số có độ cao từ 120m đến 270m so với mực nước biển Tỉnh lộ 438B đi qua với tổng chiều dài 5km, xã cách trung tâm huyện 18 km ở phía Tây nam của huyện Lạc Thủy với tổng diện tích tự nhiên 2.380,37 ha, với 861 hộ cùng 2893 nhân khẩu Chủ yếu là dân tộc Mường chiếm 70%, còn lại là dân tộc kinh

Do sản xuất phát triển, cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực nên đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, bộ mặt nông thôn xã thay đổi nhanh chóng, cơ sở hạ tầng được chỉnh trang, nâng cấp ngày càng hoàn thiện, xứng đáng với danh hiệu xã đạt chuẩn Nông thôn mới Năm 2019 thu nhập bình quân đầu người đạt 35,6 triệu đồng/người/năm, tổng giá trị sản xuất năm 2019 ước đạt 319,6 tỷ đồng Chính sách xã hội được quan tâm như gia đình con thương binh liệt sĩ, ủng hộ đồng bào bị thiên tai bão lũ, xóa đói giảm nghèo

đã được thực hiện tốt Những chính sách đó tạo điều kiện cho các hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất để vượt nghèo thông qua các đoàn thể nhân dân như: hội Cựu chiến binh, hội Nông dân, hội Phụ nữ Hiện toàn xã có 49 hộ nghèo = 1,9% tổng số hộ trong xã, giảm 0,34% so với năm 2018

Trong những năm qua, bằng nhiều hình thức, xã Thống Nhất đã có những biện pháp tích cực để giải quyết việc làm cho người lao động như hỗ trợ, đầu tư xây dựng các mô hình kinh tế, phối hợp với các ngành liên quan để xúc tiến việc làm cho người lao động góp phần giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp Trong những năm tới, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, cần đặc biệt chú trọng đến phát triển nguồn

Trang 37

nhân lực, đảm bảo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, nhằm nâng cao đời sống của nhân dân và ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn xã

Lĩnh vực văn hóa - xã hội có chuyển biến tích cực; chất lượng giáo dục toàn diện và mũi nhọn được nâng lên; đội ngũ giáo viên được chuẩn hóa, cơ sở vật chất trường học được tăng cường; kết quả phổ cập tiểu học đúng độ tuổi được giữ vững; đã hoàn thành mục tiêu phổ cập trung học cơ sở Mạng lưới y tế được tăng cường cả về cán bộ và cơ sở vật chất; điều kiện chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày càng tốt hơn Hoạt động văn hóa, thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục, thể thao được đẩy mạnh, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân

Tình hình chính trị ổn định; an ninh nông thôn miền núi được giữ vững; trật

tự an toàn xã hội được bảo đảm Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có chuyển biến tích cực Số chi bộ trong sạch, vững mạnh hàng năm đều tăng Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chỉ đạo điều hành của chính quyền các cấp từ huyện đến xã được nâng lên Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được phát huy

2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu

Trường tiểu học và THCS An Lạc thuộc huyện miền núi Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình Xã đời sống còn rất khó khăn, địa hình hiểm trở, phức tạp, đi lại khó khăn, dân cư thưa thớt Trường tiểu học và THCS An Lạc cũng đã đạt được nhiều thành tích trong giáo dục Trường tiểu học và THCS An Lạc mỗi năm có tổng 440 học sinh theo học, mặc dù khó khăn nhưng các em học sinh ở trường rất ngoan ngoãn chịu khó siêng năng trong học tập Phụ huynh của các em đa số

là làm nông, có một số ít là công nhân viên chức Đội ngũ giáo viên hầu hết đều

có trình độ đại học, cao đẳng với chuyên môn vững vàng

Trang thiết bị dạy học gần như là đầy đủ về phòng học, các tài liệu học trong thư viện như: sách, báo và dụng cụ học tập… bên cạnh đó còn hạn chế về

số lượng máy tính không đủ để học môn tin học, và đội ngũ giảng viên dạy ngoại ngữ còn ít

Trang 38

Nội dung đào tạo chủ yếu là các kiến thức chung về văn hóa, đạo đức làm người trong xã hội, giáo dục thể lực và sức khỏe cho học sinh

Phương pháp dạy học còn theo các phương pháp cũ đó là giảng, đọc và chép chưa có sự áp dụng các phương tiện dạy học mới như: máy chiếu, powerpoint… chính vì vậy trong quá trình lĩnh hội kiến thức của học sinh còn hạn chế và chưa sâu sát

- Về học sinh: Báo cáo tổng kết năm học 2019 – 2020

Bảng 2.1: Báo cáo số học sinh trường TH và THCS An Lạc

Tỷ lệ tăng giảm so với đầu

- Về đội ngũ cán bộ giáo viên:

Trang 39

Bảng 2.2 : Báo cáo số giáo viên trường TH và THCS An Lạc

( Báo cáo sơ kết năm học 2019 – 2020)

Cơ bản đảm bảo cho công tác giảng dạy và các hoạt động chung của nhà trường Nhìn chung đội ngũ đều đã đạt và vượt chuẩn Cán bộ, giáo viên nhà trường đủ khả năng đảm nhiệm nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho Học sinh

2.2 Thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS tại trường tiểu học và THCS An Lạc, xã Thống Nhất – huyện Lạc Thủy – tỉnh Hòa Bình

2.2.1 Thực trạng nhận thức của học sinh THCS An Lạc về giáo dục sức khỏe sinh sản

Trải qua một thời gian dài, thậm chí cho đến hiện nay trong xã hội nói chung và ở góc độ cá nhân chúng ta vẫn còn né tránh khi đề cập đến vấn đề giới tính, tình dục Và đây là một trong những nguyên nhân quan trọng của những hậu quả không mong muốn như: lối sống buông thả, quan hệ tình dục sớm, sống thử, mang thai ngoài ý muốn… ở tuổi vị thành niên Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ sự hiểu biết chưa đúng về kiến thức giới tính của học sinh, có quan niệm chưa đúng đắn như: GDSKSS là con dao hai lưỡi, là vẽ đường cho hươu chạy… Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi muốn tìm hiểu sự hiểu biết của học sinh về những nội dung trong môn GDGT trên cơ sở các em đã được học ở tại trường Qua khảo sát 180 học sinh ở trường tiểu học và THCS An Lạc hiểu về nội dung GDGT thu được kết quả như sau:

Trang 40

 Nhận thức của học sinh về khái niệm giáo dục sức khỏe sinh sản

Biểu đồ 2.1 Hiểu biết của học sinh về nhận thức giới tính

(Nguồn khảo sát thực tế) Nhận xét biểu đồ 2.1

+ Có 79,2% đã nhận thức chưa đầy đủ về khái niệm giới tính Các em chỉ nhận thức được một mặt nào đó trong các khái niệm về giới tính như: Giống đực

và giống cái (37,5%), các đặc điểm khác nhau về sinh lí cơ thể (25,8%), con trai

- con gái (15,8%)

+ Chỉ có 83,3% học sinh chọn khái niệm về giới tính là “Những đặc điểm khác nhau về tâm sinh lí con người” Đây là nhận thức khái niệm tương đối đầy

đủ về giới tính

 Nhận thức về nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản

Qua khảo sát 120 học sinh thcs ở trường tiểu học và THCS An Lạc hiểu về nội dung GDGT, kết quả thu được như sau:

So với nội dung GDGT được đưa vào trường, các em có cách hiểu về nội dung GDGT với tỉ lệ khá cao Các em hiểu GDGT bao gồm những nội dung: Quan hệ tình bạn, tình yêu; Tâm sinh lí tuổi vị thành niên; Quan hệ tình dục; Các bệnh lây truyền qua đường tình dục; Các biện pháp tránh thai; Hậu quả của việc nạo phá thai; Vấn đề sinh sản; Vấn đề sinh sản; Hôn nhân gia đình Trong

đó, những nội dung được các em đề cập đến nhiều nhất là: “Quan hệ tình dục” chiếm 85,5% ý kiến học sinh; “Các bệnh lây truyền qua đường tình dục” chiếm

Ngày đăng: 02/06/2021, 21:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Thủ Tướng Chính Phủ.(2011). QĐ số 2474/ QĐ- TTG Chính Phủ phê duyệt “ Chiến lƣợc phát triển thanh niên giai đoạn 2011 – 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lƣợc phát triển thanh niên giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Thủ Tướng Chính Phủ
Năm: 2011
1. Dự án giáo dục giới tính tình dục và sức khỏe sinh sản dành cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn- Quỹ dân số thế giới, Trung tâm giáo dục đạo đức công dân, viện khoa học giáo dục cục V26 - Bộ công an, trung tâm dạy nghề KoTo Khác
2. Phạm Hoàng Gia và Minh Đức, Vấn đề giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên, Tạp chí nghiên cứu giáo dục Khác
3. Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc,(2004), Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách, NXB Chính trị quốc gia Khác
4. Phạm Thị Lệ Hằng, (2009), Nhu cầu GDGT của học sinh THPT ở Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ tâm lý học Hội CTXH trường học Mỹ Khác
5. Nguyễn Linh Khiếu, Lê Ngọc Hân, Nguyễn Phương Thảo (2005), Gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, nhà xuất bản Trung tâm 6. Trần Thị Loan (2002), Nhu cầu giáo dục kiến thức SKSS của học sinhTHPT, Trường ĐH khoa học xã hội và nhân văn Khác
7. Lê Thị Thoa ( 2014 ) Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Yên sơn, tỉnh Tuyên Quang Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm