1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông hỗ trợ dạy học môn toán lớp 2

81 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử Dụng Công Nghệ Thông Tin Và Truyền Thông Hỗ Trợ Hoạt Động Củng Cố Và Luyện Tập Trong Dạy Học Môn Toán Lớp 2
Tác giả Trịnh Thị Hương Lan
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn
Trường học Trường Đại Học Hải Phòng
Chuyên ngành Lý Luận Và Phương Pháp Dạy Học Bộ Môn Toán
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRỊNH THỊ HƯƠNG LAN SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 2 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC Chuyên ngành: LÝ

Trang 1

TRỊNH THỊ HƯƠNG LAN

SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP

TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HẢI PHÒNG – 2020

Trang 2

TRỊNH THỊ HƯƠNG LAN

SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP

TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN TOÁN

Mã số: 8 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ANH TUẤN

HẢI PHÒNG – 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn trường Đại học Hải Phòng, tập thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Hải Phòng đã giúp đỡ tận tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức cơ bản, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và có được những kiến thức, kĩ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn này

Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn – Người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

rõ ràng và được phép công bố

Xin chân thành cảm ơn!

Hải Phòng, ngày … tháng … năm

Học viên thực hiện

Trịnh Thị Hương Lan

Trang 5

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

1.1 Về lý luận 1

1.2 Về thực tiễn 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

2.1 Mục đích nghiên cứu 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Giả thuyết khoa học 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Cấu trúc luận văn 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1.VAI TRÒ CỦA CNNT & TRUYỂN THÔNG TRONG DẠY HỌC TOÁN 5

1.1.1 Vai trò của CNTT & Truyền thông trong giáo dục 5

1.1.2 Tác dụng hỗ trợ của CNTT & Truyền thông đối với dạy học Toán 6

1.1.3 Một số phương tiện CNTT & Truyền thông sử dụng hỗ trợ dạy học Toán 7

1.1.4 Hướng khai thác CNTT & Truyền thông hỗ trợ dạy học Toán 9

1.2 THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN TOÁN LỚP 2 10

1.2.1 Nội dung chương trình môn Toán lớp 2 10

1.2.2 Tình hình dạy học môn Toán lớp 2 12

1.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20

Chương 2: XÂY DỰNG BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CNTT & TRUYỀN THÔNG HỖ TRỢ CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP MÔN TOÁN LỚP 2 21

Trang 7

2.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP 21

2.1.1 Căn cứ vào lợi thế và khả năng hỗ trợ của CNTT & Truyền thông đối với dạy học Toán 21

2.1.2 Căn cứ vào nội dung môn Toán lớp 2 24

2.1.3 Căn cứ vào tình hình thực tế về năng lực của dạy học Toán GV Tiểu học và đặc điểm của đối tượng HS lớp 2 25

2.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CNTT & TRUYỂN THÔNG HỖ TRỢ CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP MÔN TOÁN LỚP 2 CHO HỌC SINH 27

2.2.1 Biện pháp 1: Sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ củng cố kiến thức có liên quan cho HS trước khi học kiến thức mới 27

2.2.2 Biện pháp 2: Sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ củng cố kiến thức cho HS sau khi học bài mới 31

2.2.3 Biện pháp 3: Sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ ôn tập theo chủ đề cho học sinh 46

2.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60

3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 60

3.2 KẾ HOẠCH THỰC NGHIỆM 60

3.2.1 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 60

3.2.2 Phương pháp thực nghiệm và đánh giá 61

3.3 TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM

3.4 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 62

3.5 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 68

3.5.1 Nội dung đánh giá 68

3.5.2 Phương pháp và kết quả đánh giá 70

3.6 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Về lý luận

- Trong thời gian qua, nền giáo dục Việt Nam nói chung đã có những bước phát

triển đáng kể Tuy nhiên, một xã hội phát triển đòi hỏi giáo dục đại học cần có sự đổi mới toàn diện và sâu sắc

- Theo nghị quyết số 40/2000/QH10 và chỉ thị số 14/2001/CT-TTg ngày 9/12/2000 đối với việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông như sau:

“Nội dung chương trình là tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng CNTT vào dạy và học”

- Thời đại ngày nay khoa học kĩ thuật phát triển với tốc độ nhanh, thông tin khoa học ngày càng nhiều song thời gian dành cho mỗi tiết học trong trường Tiểu học không thay đổi Để theo kịp sự phát triển của xã hội của cung cấp cho HS những kiến thức mới

- Dựa vào các tiêu chí nên ta có những phương pháp phù hợp để trang bị cách học cho người học, phát huy tính chủ động của người học và sử dụng CNTT và truyền thông trong hoat động dạy và học Do vậy, ứng dụng CNTT là một yêu cầu tất yếu trong giai đoạn hiện nay

1.2 Về thực tiễn

- Việc ứng dụng CNTT theo từng bước, từ việc tiếp cận công nghệ, bồi dưỡng

kĩ năng sử dụng đến hoàn thiện phương pháp sử dụng CNTT trong dạy học

- HS tiểu học còn nhỏ, nên quá trình nhận thức rõ ràng là rất cần thiết trong quá trình giảng dạy khi kết hợp với các phương tiện trực quan sinh động, rõ nét sẽ thu hút được sự chú ý của HS giúp HS tiếp thu bài tốt hơn

- Bây giờ có nhiều phần mềm vận dụng hiệu quả trong dạy học các bộ môn nói chung và các phần mềm chuyên biệt sử dụng trong giảng dạy môn Toán nói

Trang 9

riêng Các phần mềm này rất hữu ích cho hỗ trợ giảng dạy theo phương pháp dạy học tích cực như các phần mềm: MS Power Point, Exe learning, Violet, …

- Đối với môn Toán không có nhiều tranh ảnh như các bộ môn khác, nhưng không phải vì thế mà không cần đến ứng dụng CNTT Ngoài bộ đồ dùng toán khá đơn giản thì việc nhấn mạnh bằng các hiệu ứng như: cách đổi màu chữ hay gạch chân … sẽ có hiệu quả hơn

Thấy rằng việc đưa ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn Toán là cần thiết Trong những năm gần đây việc ứng dụng CNTT đã rất phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt ở ngành giáo dục cũng mạnh dạn đưa ứng dụng CNTT vào dạy học và có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung và phương pháp dạy học Mặt khác, đối với ngành có vai trò đặc biệt là ngành giáo dục và đào tạo cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT Hơn nữa, CNTT là phương tiện để giúp chúng ta tiến tới một “xã hội học tập”, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong trường học để tạo bước đột phá về ứng dụng CNTT trong giáo dục và tạo tiền đề phát triển CNTT trong những năm tiếp theo Việc áp dụng CNTT ở nước ta đã trở nên phổ cập và mang tính thường nhật

Với những lý do trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Sử dụng CNTT và truyền thông hỗ trợ hoạt động củng cố và luyện tập trong dạy học môn Toán lớp 2” làm đề

tài luận văn Thạc sỹ

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng biện pháp sử dụng CNTT và truyền thông để hỗ trợ GV và HS tiến hành hoạt động củng cố và luyện tập trong dạy học

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về sử dụng CNTT & Truyền thông để hỗ trợ hoạt

động củng cố và luyện tập trong dạy học môn Toán lớp 2

- Tìm hiểu thực tiễn các vấn đề nghiên cứu:

Trang 10

Tìm hiểu về vai trò của CNTT & Truyền thông trong dạy học Toán và thực trạng

dạy và học môn Toán lớp 2 trên địa bàn

- Xây dựng một số biện pháp sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ củng cố

và luyện tập trong dạy học môn Toán lớp 2

- Thực nghiệm sư phạm để xác định tính hiệu quả của đề tài

3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu xác định được lợi thế của CNTT & Truyền thông và khả năng hỗ trợ hoạt động củng cố luyện tập môn Toán lớp 2; Xây dựng được những biện pháp thích hợp thì có thể tăng cường khả năng và hiệu quả hỗ trợ của CNTT & Truyền thông đối

với hoạt động củng cố, luyện tập trong dạy học môn Toán lớp 2

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu lý luận:

+ Đọc tài liệu, sách báo, tạp chí giáo dục, nghiên cứu các phần mềm thiết kế bài

giảng, đọc sách giáo khoa, sách GV, các loại sách tham khảo, có liên quan đến nội dung đề tài

+ Tìm kiếm và chọn lọc các thông tin có nôi dung liên quan đến đề tài

+ Theo dõi và kiểm tra việc tiếp thu bài của HS

- Phương pháp thống kê toán học để điều tra và đánh giá kết quả thực nghiệm

5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Trang 11

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Xây dựng biện pháp sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ củng cố và

luyện tập môn Toán lớp 2

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 VAI TRÒ CỦA CNNT & TRUYỂN THÔNG TRONG DẠY HỌC TOÁN

Sự ra đời của CNTT & truyền thông là sự tích hợp đồng thời các tiến bộ về công nghệ và tổ chức thông tin truyền thông, đem đến nhiều ảnh hưởng tích cực cho

sự phát triển của giáo dục CNTT và đặc biệt là sự phát triển của internet mở ra một kho kiến thức vô cùng đa dạng và phong phú cho người học và ngời dạy, giúp cho việc tìm hiểu kiến thức đơn giản hơn rất nhiều, cải thiện chất lượng học và dạy Bên cạnh đó, với sự thuận tiện cho việc học ở mọi lúc mọi nơi, CNTT sẽ tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn những vấn đề mà phù hợp với năng lực học tập của từng

HS, từ đó mà phát triển theo thế mạnh của từng người

1.1.1 Vai trò của CNTT & Truyền thông trong giáo dục

Những thành tựu mới của khoa học công nghệ đang làm thay đổi hình thức và nội dung các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của loài người Các quốc gia phát triển đã chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh thông tin và tích cực áp dụng những tiến bộ mới của khoa học và công nghệ, đặc biệt là CNTT để phát triển

và hội nhập

CNTT có tác động mạnh mẽ tới ngành Giáo dục, làm thay đổi nội dung,

phương pháp dạy và học để tiến tới một “xã hội học tập” có chất lượng cao Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã yêu cầu: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học” - chỉ thị số 29/2001/CT – BGĐ&ĐT ngày 30/7/2001 của Bộ trưởng

Bộ GD&ĐT về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005

Với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy và luyện tập củng cố thì việc biết kết hợp với các phương pháp dạy học truyền thống và không truyền thống trong đó có sử dụng CNTT như một yếu tố không thể tách rời

Trang 13

Trong hình thức này, nội dung giáo dục được liên kết chặt chẽ phối hợp đan xen các hoạt động của thầy và trò để đạt được mục tiêu của bài học Các bài giảng được soạn tạo điều kiện tối ưu cho HS lĩnh hội tri thức, ôn luyện và củng cố kiên thức Các tác động này thực hiện theo những lược đồ nhất định với 3 đặc tính cơ bản sau:

• Tạo ra một môi trường học tập hoàn toàn mới mà trong môi trường này tính chủ động, sáng tạo của HS được phát triển tốt nhất về khả năng phân tích, suy đoán và xử lý thông tin một cách có hiệu quả

• Cung cấp một môi trường đa dạng hóa thể hiện rõ mối quan hệ tương tác hai chiều giữa thầy và trò

• Tạo ra môi trường học tập và ôn luyện linh hoạt có tính mở

Với phương pháp học tập được hỗ trợ bởi công nghệ đã cung cấp cho người học chương trình học tập “mọi lúc, mọi nơi”, phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau (khả năng thích nghi cao), cá nhân hóa nội dung đào tạo

Việc phân tích, đánh giá các đáp ứng của người học thường dựa trên các yêu cầu sao cho thể hiện được tốt nhất nội dung bài học cũng như ý đồ sư phạm,

1.1.2 Tác dụng hỗ trợ của CNTT & Truyền thông đối với dạy học Toán

Chúng ta đang bắt đầu đổi mới các phương pháp dạy học trong bối cảnh mà CNTT đã phát triển như vũ bão về các phương pháp và hình thức học Những cách tiếp cận kiến tạo, theo dự án, theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề càng có

nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Việc chuyển từ “Lấy GV làm trung tâm” sang

“Lấy HS làm trung tâm” sẽ trở lên dễ dàng hơn qua các hình thức như dạy học đồng

loạt, dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân cũng có những thay đổi đến phát triển năng lực sáng tạo của HS

So sánh giữa phương pháp dạy học ứng dụng CNTT với phương pháp giảng dạy truyền thống có những ưu điểm là thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều loại kênh: kênh hình, kênh chữ Âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, dễ tiếp

Trang 14

thu và bằng suy luận có lý, HS có thể dự đoán về tính chất, những quy luật mới Đây

là công dụng to lớn của CNTT trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học

1.1.3 Một số phương tiện CNTT & Truyền thông sử dụng hỗ trợ dạy học Toán

Để khai thác phương tiện CNTT & Truyền thông nhằm hỗ trợ hoạt động củng

cố và luyện tập khi thiết kế bài dạy Toán 2 ([6]), sau khi có ý tưởng sư phạm phù

hợp, cần thiết phải tìm cách lồng ghép vào nội dung DH, trong đó có hình thức thể hiện ở hệ thống các tài nguyên phong phú, sinh động

Các tài nguyên phong phú cho bài giảng có thể tìm kiếm được trên mạng Internet, chia sẻ giữa các đồng nghiệp hay tự xây dựng và xử lí bằng các công cụ tin học Dưới dây một số phần mềm đồ họa có thể sử dụng để tạo tài nguyên bài giảng

Có thể khai thác một số phần mềm đồ họa dưới đây để xây dựng tài nguyên dạng ảnh cho bài dạy:

Là công cụ hỗ trợ dạy học miễn phí, dùng để thiết kế những bài trắc nghiệm trực tuyến và được sử dụng như một hệ thống lớp học tương tác Về bản chất Kahoot là một website ứng dụng trực tuyến, vì vậy nó có thể sử dụng trên mọi thiết bị: laptop, smartphone, máy tính miễn là thiết bị đó kết nối mạng được

Là một trong những công cụ hỗ trợ kiểm tra, đánh giá trong dạy học khá nổi tiếng và được nhiều thầy cô sử dụng rất hiệu quả

Trang 15

STT Phần mềm Mô tả tóm tắt

4 Hit the button

Là một ứng dụng được thiết kế để giúp phát triển các kỹ năng tính toán và toán học tinh thần Chế độ trò chơi khác nhau với độ khó khác nhau Sau mỗi trò chơi, điểm số đạt được được hiển thị cùng với điểm cao của trẻ Các ngôi sao

và cúp bằng đồng, bạc hoặc vàng được trao tùy thuộc vào số điểm đạt được trong mỗi trò chơi

Trang 16

1.1.4 Hướng khai thác CNTT & Truyền thông hỗ trợ dạy học Toán

Với sự hỗ trợ đắc lực của Internet và các phần mềm dạy học và ôn luyện sẽ

- Có thể trực tiếp hỗ trợ một số hoạt động dạy và học trong các tình huống, trợ giúp GV thực hiện được những ý đồ sư phạm của mình

Đối với bài đường gấp khúc ở khâu hình thành kiến thức, việc áp dụng CNTT

vào việc lựa chọn các hình ảnh biểu diễn đường gấp khúc trong thực tế bằng cách trừu tượng hóa và khái quát hóa, HS sẽ tìm ra được các dấu hiệu đặc trưng để từ đó

đi đến định nghĩa của khái niệm

Đối với việc giải bài tập Toán ở hoạt động ôn tập, việc áp dụng CNTT vào

việc lặp đi lặp lại các công thức khi gấp một số lên nhiều lần sẽ giúp HS luyện tập và ghi nhớ được dấu hiệu nhận diện của bài tập đó

Khi thiết kế đề kiểm tra Toán, các phần mềm có thể trợ giúp GV tạo ra nhiều

và nhanh với các đề bài tương tự nhau, phương pháp tương tự nhưng kết quả cuối cùng sẽ khác nhau Điều đó giúp cho HS khi làm các bài kiểm tra buộc phải tự làm,

tự vận động suy nghĩ để ra kết quả, khó có thể gian lận

- Dùng phần mềm trắc nghiệm có thể giúp GV nhanh chóng tạo câu hỏi, trộn

đề nhanh chóng Giúp cho GV linh hoạt trong việc lựa chọn và khai thác những khả năng của các phần mềm và phương tiện để tạo ra sự tối ưu trong việc dạy và ôn luyện kiến thức

- Ngoài ra, nhờ CNTT & Truyền thông, đặc biệt là trong điều kiện mạng Internet tốc độ cao và kho tư liệu cực kỳ phong phú, GV có thể khai thác nhiều loại

Trang 17

thông tin liên quan đến nội dung dạy học và ôn luyện Toán Mặt khác, cũng còn nhiều khả năng và tác dụng khác khi ứng dụng CNTT & Truyền thông để hỗ trợ quá trình dạy học Toán của GV và HS

1.2 THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN TOÁN LỚP 2

1.2.1 Nội dung chương trình môn Toán lớp 2

Chương trình SGK môn Toán lớp 2 được biên soạn theo chương trình của Bộ giáo Dục và Đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu DH: Trang bị cho các em HS lớp 2 các kiến thức

về giải toán và rèn luyện các kỹ năng cơ bản để làm các dạng bài tập Nội dung kiến thức Toán 2 được sắp xếp, phân phối trong chương trình như sau:

(5 tiết/tuần x 35 tuần = 175 tiết)

Số học Đại lượng và

đo đại lượng

Yếu tố hình học

Quan hệ giữa các các đơn vị đo Đo và ước lượng độ dài

4 Ngày, giờ, phút

Đọc lịch, xem đồng

1.Giới thiệu về đường thẳng: Ba điểm thẳng hàng; đường gấp khúc; hình tứ giác; hình chữ nhật

2.Tính độ dài đường gấp khúc

Giới thiệu khái niệm chu vi của một hình đơn giản Tính chu vi hình tam giác, hình tứ giác

3.Thực hành vẽ

Giải bài toán bằng một phép tính cộng, trừ, nhân, chia (trong đó có bài toán về nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị)

Trang 18

Số học Đại lượng và

đo đại lượng

Yếu tố hình học

5 Tiền Việt Nam (trong phạm vi các số

đã học) Đổi tiền

hình, gấp hình

Trang 19

Giáo án điện tử có thể được sử dụng khá phổ biến trong các dạng bài học của

chương trình môn Toán nói chung và Toán 2 ([6]) nói riêng, như sau:

- Các dạng bài thành lập bảng cộng, trừ, nhân, chia: bảng nhân 2, bảng nhân

3 …; dạng bài giới thiệu thành phần và kết quả của phép tính …

- Khi dạy các bài về yếu tố hình học: chu vi hình tam giác, chu vi hình tứ giác, đoạn thẳng, đường gấp khúc, xếp hình …

- Một số yếu tố đại lượng thời gian: xem lịch, xem đồng hồ …

- Hoặc sử dụng trong một phần của bài dạy như: củng cố kiến thức, dạy học bài mới hoặc tổ chức trò chơi thích hợp …

- Do nhận thức của HS đầu cấp còn mang tính trực quan, hình ảnh nên sử dụng giáo án điện tử tạo hứng thú cho HS, cung cấp cho HS ôn luyện và củng cố kiến thức một cách sinh động hơn

1.2.2 Tình hình dạy học môn Toán lớp 2

1.2.2.1 Tình hình dạy và học môn Toán lớp 2 và thực trạng sử dụng CNTT & Truyền thông

- Ở lứa tuổi HS đang học toán lớp 2 nói riêng đang có tầm quan trọng to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận logic, thao tác tư duy cần thiết nhưng lại đang gặp những thực trạng như sau:

* Về phía HS:

Căn cứ vào khả năng quan sát và phân tích sự phát triển tư duy toán học của

HS trong quá trình dạy học ta thấy rằng:

+ Ở lứa tuổi lớp 2, cơ thể của trẻ đang trong thời kỳ phát triển hay nói cụ thể

là các hệ cơ quan còn chưa hoàn thiện Vì thế, sức dẻo dai còn thấp nên trẻ không thể làm lâu một cử động đơn điệu, dễ mệt nhất là khi hoạt động quá mạnh

+ HS lớp 2 dễ học tập bởi các em chưa bị chi phối nhiều về cuộc sống xung quanh nhưng cũng sẽ quên ngay Vì vậy, người GV phải nắm được đặc điểm tâm

Trang 20

sinh lí đó để luôn tạo ra hứng thú trong học tập cho HS và giúp HS thường xuyên được luyện tập

+ HS rất dễ xúc động và thích tiếp xúc với một sự vật, hiện tượng nào đó + Trẻ ham hiểu biết cái mới nên dễ gây cảm xúc mới song các em chóng chán

Do vậy, trong dạy học GV phải sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, tăng cường thực hành, tổ chức các trò chơi xen kẽ để kích thích trí tưởng tượng của HS và củng cố khắc sâu kiến thức

+ Khó khăn nhất đối với GV là trình độ hiểu biết tin học còn hạn chế nên việc thiết kế giáo án điện tử rất vất vả và mất nhiều thời gian Tuy nhà trường luôn tạo điều kiện cho đi học để nâng cao trình độ tin học, nhưng thời gian có hạn nên các

GV không thể đi chuyên sâu tìm hiểu được các kiến thức của tin học để soạn bài theo mong muốn

+ Nhiều GV (nhất là những đồng chí GV đã có tuổi) sử dụng chưa thành thạo các phương tiện dạy học hiện đại nên việc soạn giáo án điện tử gặp nhiều khó khăn trong việc chọn màu sắc, phông nền, phông chữ hay chọn hiệu ứng chưa phù hợp

+ GV phải biết kết hợp nhiều chương trình, phần mềm khác nhau mà không phải lúc nào cũng làm được Thêm vào đó, có nhiều phần mềm là trôi nổi mà toàn

GV tự đi học hỏi, không có nguồn cung cấp chính thống

Trang 21

+ Hơn nữa trong quá trình thiết kế, để có được một giáo án tốt, từng cá nhân

GV còn gặp không ít khó khăn trong việc tự đi tìm hình ảnh minh hoạ, âm thanh sôi động, tư liệu dẫn chứng phù hợp với bài giảng, phương pháp dạy học phù hợp Đó là

lí do mà một số GV thường đưa ra để tránh né việc thực hiện dạy bằng CNTT

Ta thấy rằng, HS Tiểu học có óc tưởng tượng phong phú Đó là tiền đề tốt cho việc phát triển tư duy toán học Tuy nhiên, HS cũng dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài nên dễ bị rối trí, căng thẳng Chính vì thế, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, hình thức chuyển tải kiến thức phải làm thế nào cho phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi là điều không thể xem nhẹ Đặc biệt đối với HS lớp 2, lớp mà các em vừa mới vượt qua những mới mẻ ban đầu chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập là chủ đạo Vì ở lớp mẫu giáo, các em được học theo cách chơi là chủ yếu, còn kỷ luật học tập không đặt ra nghiêm ngặt với các em ở tất cả các môn học Như vậy, về cách học đến cuối năm học lớp 1 và sang lớp 2 các em mới quen dần khiến giờ học sẽ trở nên nặng nề nếu các em chỉ được nghe và làm

- Trong hoạt động dạy học và ôn luyện các kiến thức Toán học lớp 2, phần mềm MS PowerPoint được ứng dụng rất phổ biến trong việc thiết kế các bài giảng điện tử Với những ưu điểm vượt trội về khả năng lựa chọn các mẫu Slide có sẵn hoặc xây dựng mẫu mới, chèn hoặc liên kết đến file văn bản, hình ảnh, âm thanh, chọn được rất nhiều các hiệu ứng sinh động, … làm cho bài giảng trở nên hấp dẫn, tạo hứng thú cho HS trong quá trình tiếp thu bài mới, luyện tập thực hành…

- Trong các giờ học ngoại khóa hay các giờ luyện tập, MS PowerPoint và Kahoot còn được ứng dụng trong việc tạo ra được rất nhiều các trò chơi mà lồng ghép trong đó các bài tập cho HS môi trường học tập vui vẻ, thoải mái Ứng dụng

MS PowerPoint, Kahoot, Quizizz, trợ giúp đắc lực cho GV trong quá trình hình thành kiến thức và củng cố luyện tập

Trang 22

- Nhằm tìm hiểu việc ứng dụng CNTT vào dạy học Toán bài Bảng nhân 2 ở

một số trường Tiểu học Chúng tôi đã tiến hành điều tra đối với các GV thuộc trường tiểu học Trần Phú tỉnh Quảng Ninh

- Hình thức: Qua phỏng vấn trao đổi trực tiếp, quan sát, sử dụng phiếu điều tra

và tổng kết kinh nghiệm

- Kết quả thu được như sau:

a) Mức độ sử dụng giáo án điện tử của GV

Mức độ sử dụng giáo án điện tử của GV Tên trường Lớp

Thường xuyên Không thường xuyên Không sử

c) Về nội dung toán học bài Bảng nhân 2 có sự ứng dụng CNTT

Thông qua việc GV quan sát các tiết học với việc sử dụng phương tiện kĩ thuật khi dạy bảng nhân 2 qua các hoạt động dạy học như sau:

Trang 23

Ý kiến Hình thành

kiến thức mới Bài tập toán

Trò chơi toán học Ý kiến khác

Kết

Thực tế điều tra kết quả trên trong năm học (2019 – 2020) khi dạy bảng nhân

2 ở khối lớp 2 Bằng phương pháp nghiên cứu lý luận: thu thập những thông tin dạy học của ba lớp khối 2, thực hiện triển khai dạy đủ, đúng chương trình môn Toán và đổi mới PPDH ở tiểu học; Bằng phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát qua việc dự giờ thăm lớp Trao đổi, trò chuyện với GV trong tổ, với HS khối lớp 2, với PPHS, với chỉ đạo chuyên môn của nhà trường Tham khảo thêm những báo cáo tổng kết đánh giá công tác chuyên môn của nhà trường để có được các kết quả trên Cho thấy đã có những hoạt động được GV thiết kế có sử dụng ứng dụng CNTT và việc tổ chức các hoạt động chủ yếu diễn ra ở phần cuối tiết học khi luyện tập Toán qua các bài tập để củng cố nội dung về các phép tính trong bảng nhân 2 Tuy nhiên kết quả thấy rằng chủ yếu đang là việc nhập số liệu, sử dụng hiệu ứng để hiện kết quả mà hình thức đã hấp dẫn và gây được hứng thú cho HS

Qua khảo sát quá trình giảng dạy chúng tôi thấy rằng:

- Trình độ tiếp thu kiến thức của HS phù hợp với phân phối chương trình về mặt kiến thức và nội dung của bài học được GV xây dựng

- Hs nắm được nội dung bài mới, biết cách vận dụng được kiến thức bài mới vào giải các bài tập vận dụng

- GV sử dụng phương pháp dạy học truyền thống là chủ yếu, còn hạn chết khi ứng dụng CNTT

- Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi ấy là những giờ dạy học GV còn lạm dụng CNTT, sử dụng không đúng lúc, đúng chỗ, không phối hợp với các phương

tiện khác, làm cho giờ học thụ động, ít có kiến tạo tri thức, HS học “như xem phim”,

trong khi CNTT chỉ là phương tiện dạy học; nhiều GV soạn giảng lạm dụng đến màu

Trang 24

sắc, phông chữ, màu nền lòe loạt gây phản cảm, hiệu ứng nhảy nhót gây mất sự chú

ý khi tìm hiểu trọng tâm bài học; những hiểu biết cả GV về tin học, ngoại ngữ (tiếng

Anh) … là rào cản để GV ứng dụng CNTT & Truyền thông trong DH Toán 2

1.2.2.2 Những thuận lợi, khó khăn đối với GV và HS trong việc sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ dạy học Toán 2

a) Thuận lợi

- Môi trường đa phương tiện kết hợp với âm thanh, văn bản, biểu đồ, … được

trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa với đa giác quan

- Kĩ thuật đồ họa nâng cao có thể mô phỏng nhiều kiến thức toán học

- Ngân hàng dữ liệu khổng lồ được kết nối với nhau và với những người sử dụng Internet được khai thác để tạo ra những hoạt động thuận lợi tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu

- Một công dụng lớn của CNTT và truyền thông là cung cấp tài liệu bằng nhiều kênh (kênh hình, kênh chữ, kênh âm thanh) trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học giúp tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của HS và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới

*Bài: Ki – lô – mét (trang 151 – SGK Toán 2, [6]):

Ở bài này, nếu để HS chỉ sử dụng sgk làm tư liệu thì khó có thể giúp các em hình dung được một cách cụ thể Vì thế, GV dạy bài này và muốn HS chiếm lĩnh được toàn bộ kiến thức Cần được áp dụng vào thực tế, lấy điểm mốc cụ thể trên quãng đường mà HS thường đi qua hàng ngày để giúp các em dễ hình dung ra độ dài 1km là như thế nào

Ví dụ: Ở bài này, để dạy cho HS lớp 2 trường Dịch Vọng A hình dung ra đoạn

đường dài 1km, GV lấy điểm mốc cụ thể là tòa nhà HITC (ở đầu ngõ 233, nơi vào trường Tiểu học Dịch Vọng A) và siêu thị điện máy Topcare, đường Xuân Thủy Cầu Giấy Và GV giới thiệu cho HS biết: Khoảng cách từ tòa nhà HITC đến siêu thị điện

Trang 25

máy Topcare là 1km Đây là đoạn đường mà rất nhiều HS của trường thường đi qua Với ví dụ minh họa như thế rất dễ để cho các em hình dung ra đoạn đường dài 1km mà GV không cần diễn giải nhiều Tôi có thể đưa nó lên sơ đồ trên màn hình như sau:

Ở phần luyện tập, để giúp các em làm tốt bài tập số 3, GV đưa lược đồ Việt Nam, đổi màu các đoạn đường để giúp HS hình dung được khoảng cách giữa các tỉnh và các em sẽ dễ dàng so sánh được các quãng đường đó

Trang 26

Một số GV lạm dụng giáo án điện tử trong toán bộ chương trình giảng dạy là không nên Vì không phải bài học luyện tập nào cũng sử dụng được giáo án điện tử

để ôn tập

- Bên cạnh đó, một số GV còn hạn chế vẫn sử dụng phương pháp dạy học cũ với lối mòn khó thay đổi Việc dạy học tương tác giữa người – máy, dạy theo nhóm, dạy pháp tư duy sáng tạo cho HS, cũng như dạy HS cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng địng mình vẫn còn quá mới mẻ đối với GV và đòi hỏi GV phải kết hợp hài hòa các phương pháp dạy Dù CNTT đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính hết tích cực và tính hiệu quả của nó

- Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện dạy học có ứng dụng CNTT

- Việc ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học hỗ trợ hoạt động củng cố và luyện tập chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi làm dụng nó Nhiều GV còn còn quá lạm dụng

máy chiếu để thay cho tấm bảng đen, biến “đọc – chép” thành “chiếu – chép” Thời gian qua, nhiều GV vẫn còn quan niệm đồng nhất giữa “ứng dụng CNTT vào dạy học” với giáo án điện tử Do đó, GV đưa tất cả những công việc của mình và toàn bộ nội dung bài giảng lên các Slide để “chiếu cho HS chép” Điều đó ảnh hưởng đến

việc học tập của HS vì CNTT không phải là một giáo án, nó chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho quá trình dạy học và giúp HS có thêm nguồn tư liệu để tự tìm ra tri thức cho mình Từ đó, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập

* Kết luận:

Hầu hết GV đều có những nhận thức về tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học, trong đó có môn toán Một số GV đã vận dụng CNTT trong thiết kế các bài tập toán cho HS Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT của GV lại chưa thường xuyên và thực sự hiệu quả Một số GV chỉ sử dụng đến máy tính và máy

Trang 27

chiếu trong những tiết dự giờ hoặc thi GV dạy giỏi Hiểu biết của GV về tin học, ngoại ngữ và những khó khăn trong thực tế chính là rào cản của việc ứng dụng CNTT

Vì vậy, để có ứng dụng CNTT một cách có hiệu quả trong thiết kế các bài tập cho HS lớp 2 cần có những hướng dẫn để GV dễ dàng hơn trong việc thiết kế các bài tập ôn luyện và củng cố kiến thức cho HS nói riêng và trong toàn bộ hoạt động giảng dạy nói chung Hình thức các bài tập được đưa ra một cách, có thể dưới dạng các trò chơi được lồng ghép các bài tập theo chủ đề ôn tập… Để hấp dẫn HS có thể đưa vào trong thiết kế các hình ảnh sinh động, bắt mắt hay các âm thanh vui nhộn

1.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong trường Tiểu học, HS lớp 2 đã được làm quen với môn Tin học, nên việc ứng dụng CNTT vào trường là việc làm cần thiết và đúng đắn Bằng việc triển khai thiết kế các hoạt động trong giáo án điện tử GV có thể mang lại cho HS những giờ học bổ ích và lí thú, kích hoạt tất cả các giác quan của HS để lĩnh hội tri thức Khi soạn những bài giảng này, GV không phải vất vả trong việc đưa ra tranh, lại phải mất công bảo quản đồ dùng sau mỗi lần dạy xong Sau đó, việc thiết kế trên máy rất đơn giản, không cần phải di chuyển đi đâu, chỉ việc vào mạng Internet mọi tư liệu

đều có thể tìm thấy Nhờ đó mà HS hứng thú học tập hơn, tiếp thu bài tập nhanh hơn

và được ôn luyện kiến thức tốt hơn

Tuy nhiên, để ứng dụng CNTT một cách hiệu quả, người GV cần có hiểu biết sâu sắc để CNTT thực sự là phương tiện hữu hiệu giúp đạt được mục tiêu ôn luyện

và giáo dục Riêng với môn Toán với nhiều kiến thức mang tính trừu tượng và khái quát cao, khi dạy học; ôn luyện luôn cần sự hỗ trợ của phương tiện đồ dùng trực quan, ứng dụng CNTT phù hợp theo tinh thần và tư tưởng của pháp trực quan sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học Điển hình là các phần mềm Power Point, Kahoot, Quizz, Hit the button được ứng dụng hiệu quả vào thiết kế giáo án điện tử

hỗ trợ cho việc củng cố và luyện tập môn Toán lớp 2

Trang 28

Chương 2 XÂY DỰNG BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CNTT & TRUYỀN THÔNG

HỖ TRỢ CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP MÔN TOÁN LỚP 2

2.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP

2.1.1 Căn cứ vào lợi thế và khả năng hỗ trợ của CNTT & Truyền thông đối với dạy học Toán

- Trong xu thế dạy học hiện đại, chúng ta cùng đặt ra vấn đề là ứng dụng

CNTT như thế nào để mang lại hiệu quả thiết thực và phù hợp với các quan điểm về phương pháp dạy học tích cực Nhằm trả lời cho câu hỏi đó, chúng tôi đề nghị chia thành 3 mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học Toán như sau:

- Mức độ 1: GV ứng dụng CNTT chỉ để trình chiếu và minh họa

Tôi cho rằng các xu hướng ứng dụng CNTT phổ biến hiện nay ở các trường học hiện nay chỉ ở cấp độ này GV thường soạn thảo và sử dụng bài trình chiếu trên máy vi tính nhờ các phần mềm hỗ trợ trình chiếu như Word, PowerPoint… Họ cũng tích hợp vào bài giảng điện tử của mình các hình ảnh (bất động hay động) có sẵn hay

tự xây dựng từ các phần mềm dạy học Toán như Geometry sketchpath, Geoplan…

HS thụ động quan sát những gì GV trình chiếu

Cách thức thực hiện và ví dụ minh họa

Tiến hành thiết kế giáo án điện tử trên phần mềm Power Point với nội dung củng cố kiến thức bài cũ

- Khởi động Power Point, định dạng và tạo file mới

- Chèn hình ảnh, đồ họa, âm thanh, video vào silde

- Sử dụng hiệu ứng trong Power Point để hoàn thiện nội dung và hình thức của một bài giảng

- Thực hiện liên kết giữa các silde, các file, chương trình

- Chạy thử và sửa chữa

- Đóng gói tập tin

Trang 29

* Ví dụ minh họa

Ôn tập bài học cũ 5 cộng với một số Giúp HS nhớ lại bài học cũ biết cách đặt

tính và thực hiện phép cộng dạng 5 + 5; Tự lập và học thuộc bảng các công thức 5 cộng với một số; Củng cố về điểm ở trong và ngoài một hình, so sánh số

- Các bước thực hiện:

GV thiết kế các silde phục vụ cho tiến trình dạy học

Với bài này GV có thể tiến hành thiết kế 2 silde để làm bài giảng của mình: + Slide 1: Nhắc lại tên bài cũ

+ Silde 2: Kiểm tra bài cũ

HS quan sát và thực hiện các yêu cầu:

Trang 30

- Mức độ 2: GV ứng dụng CNTT để minh họa các hoạt động

Ở mức độ này, CNTT hỗ trợ GV soạn thảo các hoạt động trên các phần mềm, trình chiếu trước lớp, thao tác trên phần mềm và đặt câu hỏi HS quan sát các kết quả tạo ra vở phần mềm khi GV thao tác để trả lời câu hỏi

*Bài: Ngày tháng (trang 79 – SGK Toán 2, [6]):

Để dạy bài này, nếu không sử dụng máy chiếu GV phải mất thời gian scan ảnh rồi phóng to ra giấy A0 nhưng vẫn rất khó cho HS có thể quan sát được Dùng máy chiếu GV có thể phóng to tờ lịch, đổi màu chữ nếu cần và HS có thể dễ dàng quan sát

Trang 31

- Mức độ 3: HS trực tiếp thao tác trên phần mềm trong một tình huống gợi vấn

phần mềm và HS sẽ tự phối hợp các chức năng đã biết thành công cụ để giải quyết

nhiệm vụ được giao một cách tự nguyện

Nhiều phần mềm dạy học Toán được tạo ra với mục tiêu cho phép sự tương tác giữa giữa các kiến thức toán học của người sử dụng với các phản hồi trong môi trường phần mềm; các thao tác của người sử dụng trên phần mềm sẽ được điều khiển bởi và đồng thời biến đổi các kiến thức toán học của họ

2.1.2 Căn cứ vào nội dung môn Toán lớp 2

Trong nội dung chương trình môn Toán ở lớp 2, sách giáo khoa Toán 2 ([6]) đưa ra các dạng bài tập như sau:

+ Đặt tính rồi tính

+ Tìm một thành phần chứa biết của phép tính

+ Tính giá trị của biểu thức

+ Giải bài toán có lời văn

+ Tính nhẩm

+ Trắc nghiệm nối phép tính với kết quả tương ứng

+ Điền dấu phép tính sau khi thực hiện kết quả

+ Trắc nghiệm đúng sai

+ Tính số đo các đại lượng, so sánh số đo các đại lượng

+ Giải toán bằng sơ đồ tóm tắt

Do đó, các mục tiêu được thể hiện cụ thể thông qua các bài học và các dạng bài tập khác nhau giúp HS có nhiều cơ hội chiếm lĩnh tri thức cho bản thân Việc sử

Trang 32

dụng một số phần mềm thiết kế các bài tập cho HS để nâng cao chất lượng dạy học

là vô cùng cần thiết cần xây dựng quy trình xây dựng các bài tập bằng các phần mềm như sau:

Bước 1: Xác định mục tiêu

Bước 2: Xây dựng kịch bản bài tập

1- Xác định yêu cầu bài tập

2- Thiết kế nội dung bài tập

Bước 3: Chuẩn bị tư liệu (văn bản, hình ảnh, âm thanh, bài tập, …)

Bước 4: Thiết kế bài tập trên máy tính cùng với phần mềm chuyên dụng

Bước 5: Chỉnh sửa và đóng gói bài giảng

1- Chỉnh sửa bài tập: Trình diễn thử; soát lỗi; …

2- Hoàn thiện và đóng gói bài tập

2.1.3 Căn cứ vào tình hình thực tế về năng lực của dạy học Toán GV Tiểu học

và đặc điểm của đối tượng HS lớp 2

- Ta thấy rằng giáo dục toán học hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất chủ yếu, năng lượng chung và năng lượng toán học với các thành tố cốt lỗi: năng lượng tư duy và lập luận toán học, năng lượng mô hình toán học, năng lượng giải quyết vấn đề toán học, năng lượng giao tiếp toán học, năng lượng sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để HS được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn, giáo dục toán học tạo dựng sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa toán học với các môn học khác và giữa toán học với đời sống thực tiễn

- Về năng lực dạy học Toán dựa vào phương pháp dạy học: Thực hiện dạy học phù hợp với tiến trình nhận thức của HS (đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ dễ đến khó); Quán triệt tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, chú ý nhu cầu, năng lượng nhận thức, cách thức học tập khác nhau của từng cá nhân HS; tổ chức quá trình dạy học theo hướng kiến tạo, trong đó HS được tham gia tìm tòi, phát hiện, suy luận giải

Trang 33

quyết vấn đề; linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo với việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học truyền thống; kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với các hoạt động thực hành trải nghiệm, vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn

- Về đánh giá kết quả giáo dục môn Toán ở bậc tiểu học: Mục tiêu đánh giá là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về sự phát triển năng lực và sự tiến

bộ của HS trên cơ sở yêu cầu cần đạt ở mỗi lớp học để điều chỉnh các hoạt động dạy học, bảo đảm sự tiến bộ của từng HS và nâng cao chất lượng giáo dục môn Toán nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung Việc đánh giá thường xuyên do GV phụ trách môn học tổ chức, kết hợp với đánh giá của GV các môn học khác, của bản thân

HS được đánh giá và của các HS khác trong tổ, trong lớp hoặc đánh giá của cha mẹ

HS, đi liền với tiến trình hoạt động học tập của HS, bảo đảm mục tiêu đánh giá vì sự tiến bộ trong học tập của HS Việc đánh giá địng kì được sử dụng để chứng nhận cấp

độ học tập, công nhận thành tích cho người học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Khuyến khích vận dụng kết hợp nhiều phương pháp đánh giá (quan sát, ghi lại quá trình thực hiện, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, tự luận, kiểm tra viết, bài tập thực hành, các dự án học tập, thực hiện nhiệm vụ thực tiễn, …); đồng thời hướng dẫn GV lựa chọn các phương pháp, công cụ đánh giá phù hợp với từng thành phần năng lượng toán học

Sử dụng đủ và hiệu quả các phương tiện, thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định đối với môn Toán Tăng cường việc sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng CNTT hiện đại hỗ trợ quá trình dạy học và ôn luyện kiến thức toán học Khi có điều kiện,

GV hướng dẫn HS cách tìm kiếm thông tin, tư liệu trên Internet uy tín về giáo dục

để mở rộng vốn hiểu biết và năng lực tự học

- Qua quá trình tiếp xúc và tìm hiểu đặc điểm với các em HS thuộc đối tượng lớp 2, tôi nhận thấy rằng:

Trang 34

+ HS có trí thông minh khá nhạy bé và sắc sảo, có óc tưởng tượng phong phú

Đó là tiền để tốt cho việc phát triển tư duy toán học nhưng trẻ cũng rất dễ bị phân tán, rối trí nếu bị áp đặt, căng thẳng hay cũng sẽ quên ngay khi chúng không tập trung cao độ và không được luyện tập thường xuyên

+ Cơ thể của trẻ đang trong thời kỳ phát triển hay nói cụ thể là các hệ cơ quan còn chưa hoàn thiện Vì thế, sức dẻo dai của cơ thể còn thấp nên trẻ không thể làm lâu một cử động đơn điệu, không thể ngồi quá lâu trong giờ học cũng như làm một việc gì đó nhiều thời gian vì thế GV có thể thay đổi hoạt động tạo hứng thú học tập

và khắc sâu bài học

+ HS rất dễ xúc động và thích tiếp xúc với một sự vật, hiện tượng nào đó nhất

là những hình ảnh gây cảm xúc mạnh

+ Các em hứng thú với việc học Toán bằng cách gián tiếp là chủ yếu Nếu Gv

tổ chức dạy học theo hướng tích cực, tạo ra bầu không khí tích cực, chủ động, sáng tạo cho HS trong quá trình học toán thì có thể làm thay đổi hứng thú môn Toán của các em

Do đó, ta thấy rằng HS lớp 2 có nhu cầu lớn trong hoạt động và tiếp xúc với môi trường kiến thức một cách tự nhiên, có nội dung, có phương pháp, có kế hoạch phục vụ mục đích giáo dục đề ra Gây hứng thú cho HS là những biện pháp ứng dụng CNTT & Truyền thông phong phú và đa dạng, dễ dàng kích thích bồi dưỡng nhu cầu, hứng thú toán học của HS, giúp các em cảm thấy thoải mái, dễ chịu và phục hồi sức lực sau giờ học căng thẳng

2.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CNTT & TRUYỂN THÔNG HỖ TRỢ CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP MÔN TOÁN LỚP 2 CHO HỌC SINH

2.2.1 Biện pháp 1: Sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ củng cố kiến thức có liên quan cho HS trước khi học kiến thức mới

2.2.1.1 Cơ sở khoa học và ý nghĩa của biện pháp

Trang 35

HS lớp 2 có quá trình nhận thức thường gắn với những hình ảnh, hoạt động cụ thể Bởi vậy các phương tiện trực quan rất cần thiết trong quá trình giảng dạy đặc biệt trong hỗ trợ củng cố kiến thức có liên quan cho HS trước khi học kiến thức mới

vì khả năng nhớ bài cũ của các em chưa được tốt Sử dụng CNTT và truyền thông sẽ thu hút được sự chú ý của HS, giúp HS nhớ lại toàn bộ bài đã được bên cạnh đó giúp

HS tiếp thu bài tốt hơn, nhớ lâu hơn

Đối với môn Toán không có nhiều tranh ảnh như các bộ môn khác, nhưng không phải vì thế mà không cần đến ứng dụng CNTT và truyền thông Ngoài bộ đồ dùng dạy học và học toán chỉ là những con số và các bài toán và những hình vẽ Thế nhưng, những con số, những bài toán và những hình vẽ nếu đưa lên màn hình lớn với sự nhấn mạnh bằng cách đổi màu chữ hay gạch chân sẽ có hiệu quả hơn

Việc đưa ứng dụng CNTT hỗ trợ củng cố kiến thức sẽ tiết kiệm được thời gian, không cần in tranh ảnh tốn tiền, mất thời gian, bảo quản khó mà hình ảnh lại nhỏ không rõ nét như khi đưa lên màn hình lớn Tuy nhiên vấn đề đặt ra là sử dụng ứng dụng CNTT như thế nào cho phù hợp mới đem lại hiệu quả mong muốn

Chính vì vậy mà việc sử dụng ứng dụng CNTT và truyền thông hỗ trợ củng cố

kiến thức có liên quan cho HS trước khi học kiến thức mới là cần thiết

2.2.1.2 Cách thức thực hiện và ví dụ minh họa

Trước khi học bài mới cần phải củng cố kiến thức bài cũ cho HS Kiến thức

cũ mà không vững chắc thì HS không thể tiếp thu thêm được kiến thức mới Trong phạm vi toán lớp 2 GV có thể sử dụng một số phần mềm, phương tiện để hỗ trợ củng

cố kiến thức như: MS Power Point, Exe learning, Violet, hoặc thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành hoạt động học tập…

Cách thức xây dựng giáo án điện tử: Giáo án điện tử được xây dựng theo quy trình gồm 6 bước sau:

- Xác định mục tiêu bài học,

- Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm,

Trang 36

- Multimedia hoá từng đơn vị kiến thức,

- Xây dựng thư viện,

- Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể,

- Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện

Ví dụ 1: Để củng cố bài cũ trước khi học bài mới với nhóm bài:

29 +5, 49 + 25 (trang 12, 17 – SGK Toán 2, [6])

28+5, 38 + 25 (trang 16, 17 – SGK Toán 2, [6])

Ở những bài này, để xây dựng được các công thức trong bảng cộng mà không

sử dụng giáo án điện tử thì người GV phải sử dụng rất nhiều que tính, GV sẽ vất vả trong việc gắn que tính lên bảng cũng như gộp hoặc tách que tính để phân tích nội dung bài học

Bước 1: Có 49 que tính (gồm 4 bó 1 chục

que tính và 9 que rời)

Bước 2: Có thêm 25 que tính nữa (gồm 2

bó 1 chục que tính và 5 que rời) Bước 3: Có 9 que tính rời và thêm 5 que

tính rời nữa, tức là thêm 1 que tính vào 9

que tính (rồi bó lại thành 1 bó 1 chục que

tính) và thêm tiếp 4 que tính còn lại

Bước 4: 4 bó thêm 2 bó rồi thêm 1 bó nữa thành 7 chục que tính, 7 chục que tính thêm 4 que tính nữa là 74 que tính

Như vậy 49 que tính thêm 25 que tính thành 74 que tính

Để củng cố bài cũ trước khi học bài mới với giáo án điện tử GV cần có các phương tiện hỗ trợ như máy tính, máy chiếu để truyền tải thông tin cho HS dưới hình thức các slide, chiếu slide, chèn đồ họa theo thiết kế mong muốn Trước đây

GV sẽ trình bày các thông tin cần thiết dưới hình thức chia sẻ kiến thức hay ý tưởng với HS bằng các công cụ truyền thống như bảng, giấy viết hay qua giảng bằng lời Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của CNTT và truyền thông thì GV có thể truyền tải thông tin đến HS một cách hiệu quả hơn Thông qua một số phần mềm, GV có thể củng cố bài cũ trước khi học bài mới cho HS được chia sẻ nội dung thông tin một cách sinh

Trang 37

động qua các hiệu ứng, hình ảnh, những đoạn chữ được cài đặt font dễ nhìn, phần mềm trình chiếu giúp GV thông qua các chương trình máy tính tạo được các nội dung được trình bày và trình chiếu dưới dạng điện tử, silde và chiếu cho HS xem với mục đích ôn lại kiến thức bài cũ, HS hệ thống lại trong đầu những gì đã được học để chuẩn bị bước vào học bài mới Đây là một trong những công cụ hữu ích trong việc

hỗ trợ GV trình bày thông tin một cách hiệu quả

Ví dụ 2: Củng cố kiến thức bài mi –li – mét (trang 153 – SGK toán 2, [6])

Ở bài này để hướng dẫn HS cùng quan sát thước có vạch chia mi – li –mét là

khó vì khoảng cách giữa các vạch là quá nhỏ

Để GV có thể giới thiệu về 1mm và giúp HS nắm được biểu tượng 1mm trên thước là rất khó cho việc quan sát của HS Vì vậy, việc đưa hình ảnh cái thước cùng với độ dài 1mm được tô màu đó lên màn hình sẽ giúp cho GV dễ dàng truyền tải tới

HS và HS cũng dễ dàng nắm bắt khái niệm nhớ lại bài cũ

Hình 1

Trang 38

Để HS nắm được 1cm = … mm, GV có thể yêu cầu HS quan sát độ dài trên thước và hỏi: “Độ dài 1cm, chẳng hạn từ vạch 0 đến vạch 1, được chia thành bao nhiêu phần bằng nhau?” GV có thể đưa ra hình ảnh sau:

Hình 2

Hoặc khi hướng dẫn HS đo độ dài đoạn thẳng thì rất khó để cho HS quan sát nếu GV sử dụng thước chia vạch mi-li-mét của HS với một đoạn thẳng chỉ có vài mi

– li – mét GV phóng lên màn hình để hướng dẫn HS nhìn thấy cách đo, cách đặt

thước và đọc số đo của đoạn thẳng đó HS có thể quan sát dễ dàng mà không sợ thước nhỏ quá hay đoạn thẳng ngắn quá

Ngoài ra GV cũng có thể sử dụng máy để quay các thao tác đo mẫu hoặc vẽ mẫu để đưa lên màn hình lớn cho HS quan sát một cách dễ dàng

2.2.2 Biện pháp 2: Sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ củng cố kiến thức cho HS sau khi học bài mới

2.2.2.1 Cơ sở khoa học và ý nghĩa của biện pháp

Sử dụng CNTT và truyền thông hỗ trợ củng cố kiến thức cho HS sau khi học bài mới là GV tổng hợp những kiến thức đã học trong buổi học đó cụ thể bằng những hình ảnh minh họa, tạo cho bài toán sinh động hơn, kích thích hứng thú học tập của HS, giúp HS dễ tiếp thu bài và nhớ lâu hơn Nếu như GV không sử dụng

Trang 39

CNTT để hệ thống lại các vấn đề trong bài học mà chỉ nói bằng lời thì HS không thể hiểu hết được vấn đề GV muốn truyền thụ; HS không tập trung lắng nghe Vì vậy phải tăng cường sử dụng CNTT trong dạy học Toán lớp 2 vì Toán lớp 2 có một số bài học với dụng cụ học tập: thước và thực hành đo; đơn vị, thời gian Với những kiến thức đó thì sử dụng CNTT rất thuận lợi

Ví dụ: Để hỗ trợ kiến thức cho HS sau khi học bài mới dùng những thẻ phiếu hoặc vẽ lên bảng rất khó khăn vì thời gian không cho phép nên GV có thể cho HS xem clip hoặc xem một phép tính do máy tính thực hiện…

2.2.2.2 Cách thức thực hiện và ví dụ minh họa

GV có thể sử dụng phần mềm Powerpoint trong soạn giáo án điện tử hoặc phần mềm violet, Sketchpat, Miccrosoft Word

Tiến hành thiết kế giáo án điện tử trên phần mềm Power Point với nội dung củng cố kiến thức bài cũ

- Khởi động Power Point, định dạng và tạo file mới

+ Khởi động Power Point:

Chọn start/program/Microssoft Power Point, hoặc có thể nhấp chuột vào nút Microssoft Power trên thanh Toolbar office hoặc trên màn hình Windows

Tiến hành định dạng diễn trình:

Một slide được chia làm 3 vùng với 3 phần: Phần tiêu đề, phần thân và phần ghi chú Việc định dạng được tiến hành như sau:

Chọn câu lệnh: View/ Master/ Slide master, hộp thoại sẽ xuất hiện Phần tiêu

đề của Slide nằm ở khung to edid Master tile Style

Định dạng chung tất cả các tiêu đề của Slide bao gồm chọn kiểu chữ, cỡ chữ,

khung viền, kích cỡ, màu sắc của khung tiêu đề Phần thân Slide nằm ở khung to edid Master text Style Định dạng khung cho tất cả các phần thân của Slide gồm

chọn kiểu chữ, cỡ chữ, font chữ khung viền, kích cỡ, màu sắc của khung Phần ghi

chú nằm ở khung Footeoo are dùng để đưa nội dung phần cuối trang vào các Slide,

Trang 40

tức là chọn khung Footer are, chọn kiểu chữ, cỡ chữ, hộp thoại font chữ trên thanh

Formating, sau đó nhập nội dung cần thiết

Lưu file mới: Chọn file/ Save (Ctrl+S) hoặc nhấp chuột vào biểu tượng Save trên thanh công cụ

- Nhập nội dung, đồ họa cho từng slide

Trước tiên cần dự kiến số Slide và nội dung cụ thể cho từng Slide Có rất nhiều cách khác nhau để nhập văn bản vào Slide Cách thuận lợi có được từ thanh

Menu Drawing cuối màn hình nhấn trỏ chuột vào ô Text box, rê chuột trên phần

thanh rồi nhập kí tự

Hiệu chỉnh định dạng kí tự: Vào Format/ font, xuất hiện hộp thoại font Trong hộp thoại font, có các mục chọn sau: Font (chọn các loại font chữ) Font style (dạng chữ), Size (cỡ chữ), Color (màu chữ), Underline (gạch dưới), Shadow (tạo bóng mờ), Emboss (chữ nổi), Superscript (chỉ số trên), supscript (chỉ số dưới) Những định dạng chữ ở trên có thể dùng phím nóng hoặc dùng biểu tượng trên thanh công

cụ Formating Tạo Bullets và numbering (định dạng đầu dòng): Chọn Format/ Bullets and numbering, hộp thoại Bullets and numbering xuất hiện, chọn dạng cần thiết trong các ô mẫu, chọn màu trong khung color, chọn kích cỡ trong khung Size

Để chọn các bullets, kích vào Customize hoặc picture Canh đầu dòng (Alignment): Chọn format/Alignment làm xuất hiện các lựa chọn: Align left (canh lề trái), center (canh giữa), Align right (canh phải), Justify (canh hai bên)

Thay đổi khoảng cách giữa các dòng (Line spacing): Chọn Format/ linespacing, xuất hiện hộp thoại Linespacing, có các khung hiệu chỉnh sau: Linespacing (khoảng cách giữa các dòng), Before paragraph (khoảng cách phía trên đoạn văn), After paragraph (khoảng cách phía dưới đoạn văn) Sử dụng thanh công

cụ Drawing để thực hiện đồ họa Nếu thanh công cụ Drawing chưa xuất hiện, vào trình đơn View/Toolbar/Drawing để làm xuất hiện công cụ đồ họa Cũng có thể sử dụng các hình mẫu trong AutoShapes

Ngày đăng: 02/06/2021, 21:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Hoài Anh (2008), Sử dụng đồ dùng dạy học ảo thao tác được trong dạy học khái niệm toán học ở tiểu học, Tạp chí Giáo dục kì 2 - 4/08, (số 188), tr.29- 30, 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đồ dùng dạy học ảo thao tác được trong dạy học khái niệm toán học ở tiểu học
Tác giả: Nguyễn Hoài Anh
Năm: 2008
[2] Nguyễn Hoài Anh (2008), Đồ dùng dạy học ảo thao tác được trong dạy học toán ở tiểu học, Tạp chí Giáo dục kì 2 - 1/08, (số 182), tr.48-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ dùng dạy học ảo thao tác được trong dạy học toán ở tiểu học
Tác giả: Nguyễn Hoài Anh
Năm: 2008
[3] Vũ Quốc Chung (2007), Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển GV Tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Tác giả: Vũ Quốc Chung
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007
[3] Vũ Quốc Chung - Đào Thái Lai - Đỗ Tiến Đạt - Trần Ngọc Lan - Nguyễn Hùng Quang - Lê Ngọc Sơn (2007), Phương pháp dạy học toán ở Tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học toán ở Tiểu học
Tác giả: Vũ Quốc Chung - Đào Thái Lai - Đỗ Tiến Đạt - Trần Ngọc Lan - Nguyễn Hùng Quang - Lê Ngọc Sơn
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007
[4] Đỗ Tiến Đạt (2004), Một số vấn đề về dạy học “các yếu tố hình học” ở lớp 2. Tạp chí giáo dục số 78 (tháng 8/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dạy học “các yếu tố hình học” ở lớp 2
Tác giả: Đỗ Tiến Đạt
Năm: 2004
[5] Phạm Huy Điển (2001), Sử dụng phần mềm toán học trong giảng dạy và học tập, Viện Toán học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng phần mềm toán học trong giảng dạy và học tập
Tác giả: Phạm Huy Điển
Năm: 2001
[6] Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (2010), Toán lớp 2 (tái bản lần thứ sáu), NXBGD Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán lớp 2
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (chủ biên)
Nhà XB: NXBGD Việt Nam
Năm: 2010
[7] Đỗ Đình Hoan (chủ biên), Nguyễn Áng (2010), Vở bài tập toán 2 - tập 1, NXBGD Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vở bài tập toán 2 - tập 1
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (chủ biên), Nguyễn Áng
Nhà XB: NXBGD Việt Nam
Năm: 2010
[8] Đỗ Đình Hoan (chủ biên), Nguyễn Áng (2010), Vở bài tập toán 2 - tập 2, NXBGD Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vở bài tập toán 2 - tập 2
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (chủ biên), Nguyễn Áng
Nhà XB: NXBGD Việt Nam
Năm: 2010
[9] Trần Diên Hiển (chủ biên) (2006), Toán và phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học, Dự án phát triển GV Tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán và phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Tác giả: Trần Diên Hiển (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2006
[10] Nguyễn Thị Hạnh (2008), Sử dụng mô hình trong dạy học các yếu tố hình học ở tiểu học, Tạp chí Giáo dục kì 1 - 2/08, (số 183), tr.40-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng mô hình trong dạy học các yếu tố hình học ở tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Năm: 2008
[11] Đào Thái Lai, Nguyễn Việt Hồng, Vũ Dương Thụy (2008), Các trò chơi lắp ghép hình ở tiểu học. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trò chơi lắp ghép hình ở tiểu học
Tác giả: Đào Thái Lai, Nguyễn Việt Hồng, Vũ Dương Thụy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[12] Trần Ngọc Lan (2004), Về sử dụng đồ dùng dạy học môn toán ở tiểu học. Tạp chí giáo dục số 100. Tháng 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sử dụng đồ dùng dạy học môn toán ở tiểu học. Tạp chí giáo dục số 100
Tác giả: Trần Ngọc Lan
Năm: 2004
[13] Trần Ngọc Lan - Đặng Thị Hồng Hiếu (2008), Sử dụng kỹ thuật trình diễn trực quan trong dạy học Toán ở tiểu học, Tạp chí Giáo dục kì 1 - 7/08, (số 193), tr.37-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng kỹ thuật trình diễn trực quan trong dạy học Toán ở tiểu học
Tác giả: Trần Ngọc Lan - Đặng Thị Hồng Hiếu
Năm: 2008
[14] Bùi Hạnh Lâm - Nguyễn Danh Nam - Nguyễn Anh Tuấn (chủ biên) - Phan Thị Phương Thảo (2014), Giáo trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm môn Toán, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm môn Toán
Tác giả: Bùi Hạnh Lâm - Nguyễn Danh Nam - Nguyễn Anh Tuấn (chủ biên) - Phan Thị Phương Thảo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
[15] Nguyễn Bá Minh (2008), Kỹ năng dạy học môn Toán ở tiểu học, Tạp chí Giáo dục kì 2 - 6/08, (số 192), tr.20-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng dạy học môn Toán ở tiểu học
Tác giả: Nguyễn Bá Minh
Năm: 2008
[16] Nguyễn Bá Kim, Đinh Nho Chương, Nguyễn Mạnh Cảng, Vũ Dương Thụy, Nguyễn Văn Thường (1994), Phương pháp dạy học môn toán – Phần 2: Dạy học những nội dung cơ bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn toán – Phần 2: Dạy học những nội dung cơ bản
Tác giả: Nguyễn Bá Kim, Đinh Nho Chương, Nguyễn Mạnh Cảng, Vũ Dương Thụy, Nguyễn Văn Thường
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
[17] Nguyễn Bá Kim (2009), Phương pháp dạy học môn Toán, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2009
[18] Nguyễn Bá Kim (2017), Phương pháp dạy học môn Toán, Nhà xuất bản Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm
Năm: 2017
[19] Hoàng Trọng Thái, Trần Thị Ngọc Diệp, Lê Quang Phan, Nguyễn Văn Tuấn (2008), Giáo trình sử dụng phần mềm toán học, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sử dụng phần mềm toán học
Tác giả: Hoàng Trọng Thái, Trần Thị Ngọc Diệp, Lê Quang Phan, Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w