TRỊNH THỊ HƯƠNG LAN SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 2 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC Chuyên ngành: LÝ
Trang 1TRỊNH THỊ HƯƠNG LAN
SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP
TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 2
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HẢI PHÒNG – 2020
Trang 2TRỊNH THỊ HƯƠNG LAN
SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP
TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 2
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN TOÁN
Mã số: 8 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ANH TUẤN
HẢI PHÒNG – 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn trường Đại học Hải Phòng, tập thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Hải Phòng đã giúp đỡ tận tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức cơ bản, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và có được những kiến thức, kĩ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn này
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn – Người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
rõ ràng và được phép công bố
Xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày … tháng … năm
Học viên thực hiện
Trịnh Thị Hương Lan
Trang 5DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
1.1 Về lý luận 1
1.2 Về thực tiễn 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Giả thuyết khoa học 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1.VAI TRÒ CỦA CNNT & TRUYỂN THÔNG TRONG DẠY HỌC TOÁN 5
1.1.1 Vai trò của CNTT & Truyền thông trong giáo dục 5
1.1.2 Tác dụng hỗ trợ của CNTT & Truyền thông đối với dạy học Toán 6
1.1.3 Một số phương tiện CNTT & Truyền thông sử dụng hỗ trợ dạy học Toán 7
1.1.4 Hướng khai thác CNTT & Truyền thông hỗ trợ dạy học Toán 9
1.2 THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN TOÁN LỚP 2 10
1.2.1 Nội dung chương trình môn Toán lớp 2 10
1.2.2 Tình hình dạy học môn Toán lớp 2 12
1.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20
Chương 2: XÂY DỰNG BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CNTT & TRUYỀN THÔNG HỖ TRỢ CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP MÔN TOÁN LỚP 2 21
Trang 72.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP 21
2.1.1 Căn cứ vào lợi thế và khả năng hỗ trợ của CNTT & Truyền thông đối với dạy học Toán 21
2.1.2 Căn cứ vào nội dung môn Toán lớp 2 24
2.1.3 Căn cứ vào tình hình thực tế về năng lực của dạy học Toán GV Tiểu học và đặc điểm của đối tượng HS lớp 2 25
2.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CNTT & TRUYỂN THÔNG HỖ TRỢ CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP MÔN TOÁN LỚP 2 CHO HỌC SINH 27
2.2.1 Biện pháp 1: Sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ củng cố kiến thức có liên quan cho HS trước khi học kiến thức mới 27
2.2.2 Biện pháp 2: Sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ củng cố kiến thức cho HS sau khi học bài mới 31
2.2.3 Biện pháp 3: Sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ ôn tập theo chủ đề cho học sinh 46
2.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 60
3.2 KẾ HOẠCH THỰC NGHIỆM 60
3.2.1 Đối tượng và thời gian thực nghiệm 60
3.2.2 Phương pháp thực nghiệm và đánh giá 61
3.3 TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM
3.4 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM 62
3.5 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 68
3.5.1 Nội dung đánh giá 68
3.5.2 Phương pháp và kết quả đánh giá 70
3.6 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Về lý luận
- Trong thời gian qua, nền giáo dục Việt Nam nói chung đã có những bước phát
triển đáng kể Tuy nhiên, một xã hội phát triển đòi hỏi giáo dục đại học cần có sự đổi mới toàn diện và sâu sắc
- Theo nghị quyết số 40/2000/QH10 và chỉ thị số 14/2001/CT-TTg ngày 9/12/2000 đối với việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông như sau:
“Nội dung chương trình là tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng CNTT vào dạy và học”
- Thời đại ngày nay khoa học kĩ thuật phát triển với tốc độ nhanh, thông tin khoa học ngày càng nhiều song thời gian dành cho mỗi tiết học trong trường Tiểu học không thay đổi Để theo kịp sự phát triển của xã hội của cung cấp cho HS những kiến thức mới
- Dựa vào các tiêu chí nên ta có những phương pháp phù hợp để trang bị cách học cho người học, phát huy tính chủ động của người học và sử dụng CNTT và truyền thông trong hoat động dạy và học Do vậy, ứng dụng CNTT là một yêu cầu tất yếu trong giai đoạn hiện nay
1.2 Về thực tiễn
- Việc ứng dụng CNTT theo từng bước, từ việc tiếp cận công nghệ, bồi dưỡng
kĩ năng sử dụng đến hoàn thiện phương pháp sử dụng CNTT trong dạy học
- HS tiểu học còn nhỏ, nên quá trình nhận thức rõ ràng là rất cần thiết trong quá trình giảng dạy khi kết hợp với các phương tiện trực quan sinh động, rõ nét sẽ thu hút được sự chú ý của HS giúp HS tiếp thu bài tốt hơn
- Bây giờ có nhiều phần mềm vận dụng hiệu quả trong dạy học các bộ môn nói chung và các phần mềm chuyên biệt sử dụng trong giảng dạy môn Toán nói
Trang 9riêng Các phần mềm này rất hữu ích cho hỗ trợ giảng dạy theo phương pháp dạy học tích cực như các phần mềm: MS Power Point, Exe learning, Violet, …
- Đối với môn Toán không có nhiều tranh ảnh như các bộ môn khác, nhưng không phải vì thế mà không cần đến ứng dụng CNTT Ngoài bộ đồ dùng toán khá đơn giản thì việc nhấn mạnh bằng các hiệu ứng như: cách đổi màu chữ hay gạch chân … sẽ có hiệu quả hơn
Thấy rằng việc đưa ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn Toán là cần thiết Trong những năm gần đây việc ứng dụng CNTT đã rất phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt ở ngành giáo dục cũng mạnh dạn đưa ứng dụng CNTT vào dạy học và có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung và phương pháp dạy học Mặt khác, đối với ngành có vai trò đặc biệt là ngành giáo dục và đào tạo cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT Hơn nữa, CNTT là phương tiện để giúp chúng ta tiến tới một “xã hội học tập”, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong trường học để tạo bước đột phá về ứng dụng CNTT trong giáo dục và tạo tiền đề phát triển CNTT trong những năm tiếp theo Việc áp dụng CNTT ở nước ta đã trở nên phổ cập và mang tính thường nhật
Với những lý do trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Sử dụng CNTT và truyền thông hỗ trợ hoạt động củng cố và luyện tập trong dạy học môn Toán lớp 2” làm đề
tài luận văn Thạc sỹ
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng biện pháp sử dụng CNTT và truyền thông để hỗ trợ GV và HS tiến hành hoạt động củng cố và luyện tập trong dạy học
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về sử dụng CNTT & Truyền thông để hỗ trợ hoạt
động củng cố và luyện tập trong dạy học môn Toán lớp 2
- Tìm hiểu thực tiễn các vấn đề nghiên cứu:
Trang 10Tìm hiểu về vai trò của CNTT & Truyền thông trong dạy học Toán và thực trạng
dạy và học môn Toán lớp 2 trên địa bàn
- Xây dựng một số biện pháp sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ củng cố
và luyện tập trong dạy học môn Toán lớp 2
- Thực nghiệm sư phạm để xác định tính hiệu quả của đề tài
3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xác định được lợi thế của CNTT & Truyền thông và khả năng hỗ trợ hoạt động củng cố luyện tập môn Toán lớp 2; Xây dựng được những biện pháp thích hợp thì có thể tăng cường khả năng và hiệu quả hỗ trợ của CNTT & Truyền thông đối
với hoạt động củng cố, luyện tập trong dạy học môn Toán lớp 2
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu lý luận:
+ Đọc tài liệu, sách báo, tạp chí giáo dục, nghiên cứu các phần mềm thiết kế bài
giảng, đọc sách giáo khoa, sách GV, các loại sách tham khảo, có liên quan đến nội dung đề tài
+ Tìm kiếm và chọn lọc các thông tin có nôi dung liên quan đến đề tài
+ Theo dõi và kiểm tra việc tiếp thu bài của HS
- Phương pháp thống kê toán học để điều tra và đánh giá kết quả thực nghiệm
5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Trang 11Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Xây dựng biện pháp sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ củng cố và
luyện tập môn Toán lớp 2
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 VAI TRÒ CỦA CNNT & TRUYỂN THÔNG TRONG DẠY HỌC TOÁN
Sự ra đời của CNTT & truyền thông là sự tích hợp đồng thời các tiến bộ về công nghệ và tổ chức thông tin truyền thông, đem đến nhiều ảnh hưởng tích cực cho
sự phát triển của giáo dục CNTT và đặc biệt là sự phát triển của internet mở ra một kho kiến thức vô cùng đa dạng và phong phú cho người học và ngời dạy, giúp cho việc tìm hiểu kiến thức đơn giản hơn rất nhiều, cải thiện chất lượng học và dạy Bên cạnh đó, với sự thuận tiện cho việc học ở mọi lúc mọi nơi, CNTT sẽ tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn những vấn đề mà phù hợp với năng lực học tập của từng
HS, từ đó mà phát triển theo thế mạnh của từng người
1.1.1 Vai trò của CNTT & Truyền thông trong giáo dục
Những thành tựu mới của khoa học công nghệ đang làm thay đổi hình thức và nội dung các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của loài người Các quốc gia phát triển đã chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh thông tin và tích cực áp dụng những tiến bộ mới của khoa học và công nghệ, đặc biệt là CNTT để phát triển
và hội nhập
CNTT có tác động mạnh mẽ tới ngành Giáo dục, làm thay đổi nội dung,
phương pháp dạy và học để tiến tới một “xã hội học tập” có chất lượng cao Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã yêu cầu: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học” - chỉ thị số 29/2001/CT – BGĐ&ĐT ngày 30/7/2001 của Bộ trưởng
Bộ GD&ĐT về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005
Với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy và luyện tập củng cố thì việc biết kết hợp với các phương pháp dạy học truyền thống và không truyền thống trong đó có sử dụng CNTT như một yếu tố không thể tách rời
Trang 13Trong hình thức này, nội dung giáo dục được liên kết chặt chẽ phối hợp đan xen các hoạt động của thầy và trò để đạt được mục tiêu của bài học Các bài giảng được soạn tạo điều kiện tối ưu cho HS lĩnh hội tri thức, ôn luyện và củng cố kiên thức Các tác động này thực hiện theo những lược đồ nhất định với 3 đặc tính cơ bản sau:
• Tạo ra một môi trường học tập hoàn toàn mới mà trong môi trường này tính chủ động, sáng tạo của HS được phát triển tốt nhất về khả năng phân tích, suy đoán và xử lý thông tin một cách có hiệu quả
• Cung cấp một môi trường đa dạng hóa thể hiện rõ mối quan hệ tương tác hai chiều giữa thầy và trò
• Tạo ra môi trường học tập và ôn luyện linh hoạt có tính mở
Với phương pháp học tập được hỗ trợ bởi công nghệ đã cung cấp cho người học chương trình học tập “mọi lúc, mọi nơi”, phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau (khả năng thích nghi cao), cá nhân hóa nội dung đào tạo
Việc phân tích, đánh giá các đáp ứng của người học thường dựa trên các yêu cầu sao cho thể hiện được tốt nhất nội dung bài học cũng như ý đồ sư phạm,
1.1.2 Tác dụng hỗ trợ của CNTT & Truyền thông đối với dạy học Toán
Chúng ta đang bắt đầu đổi mới các phương pháp dạy học trong bối cảnh mà CNTT đã phát triển như vũ bão về các phương pháp và hình thức học Những cách tiếp cận kiến tạo, theo dự án, theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề càng có
nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Việc chuyển từ “Lấy GV làm trung tâm” sang
“Lấy HS làm trung tâm” sẽ trở lên dễ dàng hơn qua các hình thức như dạy học đồng
loạt, dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân cũng có những thay đổi đến phát triển năng lực sáng tạo của HS
So sánh giữa phương pháp dạy học ứng dụng CNTT với phương pháp giảng dạy truyền thống có những ưu điểm là thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều loại kênh: kênh hình, kênh chữ Âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, dễ tiếp
Trang 14thu và bằng suy luận có lý, HS có thể dự đoán về tính chất, những quy luật mới Đây
là công dụng to lớn của CNTT trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học
1.1.3 Một số phương tiện CNTT & Truyền thông sử dụng hỗ trợ dạy học Toán
Để khai thác phương tiện CNTT & Truyền thông nhằm hỗ trợ hoạt động củng
cố và luyện tập khi thiết kế bài dạy Toán 2 ([6]), sau khi có ý tưởng sư phạm phù
hợp, cần thiết phải tìm cách lồng ghép vào nội dung DH, trong đó có hình thức thể hiện ở hệ thống các tài nguyên phong phú, sinh động
Các tài nguyên phong phú cho bài giảng có thể tìm kiếm được trên mạng Internet, chia sẻ giữa các đồng nghiệp hay tự xây dựng và xử lí bằng các công cụ tin học Dưới dây một số phần mềm đồ họa có thể sử dụng để tạo tài nguyên bài giảng
Có thể khai thác một số phần mềm đồ họa dưới đây để xây dựng tài nguyên dạng ảnh cho bài dạy:
Là công cụ hỗ trợ dạy học miễn phí, dùng để thiết kế những bài trắc nghiệm trực tuyến và được sử dụng như một hệ thống lớp học tương tác Về bản chất Kahoot là một website ứng dụng trực tuyến, vì vậy nó có thể sử dụng trên mọi thiết bị: laptop, smartphone, máy tính miễn là thiết bị đó kết nối mạng được
Là một trong những công cụ hỗ trợ kiểm tra, đánh giá trong dạy học khá nổi tiếng và được nhiều thầy cô sử dụng rất hiệu quả
Trang 15STT Phần mềm Mô tả tóm tắt
4 Hit the button
Là một ứng dụng được thiết kế để giúp phát triển các kỹ năng tính toán và toán học tinh thần Chế độ trò chơi khác nhau với độ khó khác nhau Sau mỗi trò chơi, điểm số đạt được được hiển thị cùng với điểm cao của trẻ Các ngôi sao
và cúp bằng đồng, bạc hoặc vàng được trao tùy thuộc vào số điểm đạt được trong mỗi trò chơi
Trang 161.1.4 Hướng khai thác CNTT & Truyền thông hỗ trợ dạy học Toán
Với sự hỗ trợ đắc lực của Internet và các phần mềm dạy học và ôn luyện sẽ
- Có thể trực tiếp hỗ trợ một số hoạt động dạy và học trong các tình huống, trợ giúp GV thực hiện được những ý đồ sư phạm của mình
Đối với bài đường gấp khúc ở khâu hình thành kiến thức, việc áp dụng CNTT
vào việc lựa chọn các hình ảnh biểu diễn đường gấp khúc trong thực tế bằng cách trừu tượng hóa và khái quát hóa, HS sẽ tìm ra được các dấu hiệu đặc trưng để từ đó
đi đến định nghĩa của khái niệm
Đối với việc giải bài tập Toán ở hoạt động ôn tập, việc áp dụng CNTT vào
việc lặp đi lặp lại các công thức khi gấp một số lên nhiều lần sẽ giúp HS luyện tập và ghi nhớ được dấu hiệu nhận diện của bài tập đó
Khi thiết kế đề kiểm tra Toán, các phần mềm có thể trợ giúp GV tạo ra nhiều
và nhanh với các đề bài tương tự nhau, phương pháp tương tự nhưng kết quả cuối cùng sẽ khác nhau Điều đó giúp cho HS khi làm các bài kiểm tra buộc phải tự làm,
tự vận động suy nghĩ để ra kết quả, khó có thể gian lận
- Dùng phần mềm trắc nghiệm có thể giúp GV nhanh chóng tạo câu hỏi, trộn
đề nhanh chóng Giúp cho GV linh hoạt trong việc lựa chọn và khai thác những khả năng của các phần mềm và phương tiện để tạo ra sự tối ưu trong việc dạy và ôn luyện kiến thức
- Ngoài ra, nhờ CNTT & Truyền thông, đặc biệt là trong điều kiện mạng Internet tốc độ cao và kho tư liệu cực kỳ phong phú, GV có thể khai thác nhiều loại
Trang 17thông tin liên quan đến nội dung dạy học và ôn luyện Toán Mặt khác, cũng còn nhiều khả năng và tác dụng khác khi ứng dụng CNTT & Truyền thông để hỗ trợ quá trình dạy học Toán của GV và HS
1.2 THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN TOÁN LỚP 2
1.2.1 Nội dung chương trình môn Toán lớp 2
Chương trình SGK môn Toán lớp 2 được biên soạn theo chương trình của Bộ giáo Dục và Đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu DH: Trang bị cho các em HS lớp 2 các kiến thức
về giải toán và rèn luyện các kỹ năng cơ bản để làm các dạng bài tập Nội dung kiến thức Toán 2 được sắp xếp, phân phối trong chương trình như sau:
(5 tiết/tuần x 35 tuần = 175 tiết)
Số học Đại lượng và
đo đại lượng
Yếu tố hình học
Quan hệ giữa các các đơn vị đo Đo và ước lượng độ dài
4 Ngày, giờ, phút
Đọc lịch, xem đồng
1.Giới thiệu về đường thẳng: Ba điểm thẳng hàng; đường gấp khúc; hình tứ giác; hình chữ nhật
2.Tính độ dài đường gấp khúc
Giới thiệu khái niệm chu vi của một hình đơn giản Tính chu vi hình tam giác, hình tứ giác
3.Thực hành vẽ
Giải bài toán bằng một phép tính cộng, trừ, nhân, chia (trong đó có bài toán về nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị)
Trang 18Số học Đại lượng và
đo đại lượng
Yếu tố hình học
5 Tiền Việt Nam (trong phạm vi các số
đã học) Đổi tiền
hình, gấp hình
Trang 19Giáo án điện tử có thể được sử dụng khá phổ biến trong các dạng bài học của
chương trình môn Toán nói chung và Toán 2 ([6]) nói riêng, như sau:
- Các dạng bài thành lập bảng cộng, trừ, nhân, chia: bảng nhân 2, bảng nhân
3 …; dạng bài giới thiệu thành phần và kết quả của phép tính …
- Khi dạy các bài về yếu tố hình học: chu vi hình tam giác, chu vi hình tứ giác, đoạn thẳng, đường gấp khúc, xếp hình …
- Một số yếu tố đại lượng thời gian: xem lịch, xem đồng hồ …
- Hoặc sử dụng trong một phần của bài dạy như: củng cố kiến thức, dạy học bài mới hoặc tổ chức trò chơi thích hợp …
- Do nhận thức của HS đầu cấp còn mang tính trực quan, hình ảnh nên sử dụng giáo án điện tử tạo hứng thú cho HS, cung cấp cho HS ôn luyện và củng cố kiến thức một cách sinh động hơn
1.2.2 Tình hình dạy học môn Toán lớp 2
1.2.2.1 Tình hình dạy và học môn Toán lớp 2 và thực trạng sử dụng CNTT & Truyền thông
- Ở lứa tuổi HS đang học toán lớp 2 nói riêng đang có tầm quan trọng to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận logic, thao tác tư duy cần thiết nhưng lại đang gặp những thực trạng như sau:
* Về phía HS:
Căn cứ vào khả năng quan sát và phân tích sự phát triển tư duy toán học của
HS trong quá trình dạy học ta thấy rằng:
+ Ở lứa tuổi lớp 2, cơ thể của trẻ đang trong thời kỳ phát triển hay nói cụ thể
là các hệ cơ quan còn chưa hoàn thiện Vì thế, sức dẻo dai còn thấp nên trẻ không thể làm lâu một cử động đơn điệu, dễ mệt nhất là khi hoạt động quá mạnh
+ HS lớp 2 dễ học tập bởi các em chưa bị chi phối nhiều về cuộc sống xung quanh nhưng cũng sẽ quên ngay Vì vậy, người GV phải nắm được đặc điểm tâm
Trang 20sinh lí đó để luôn tạo ra hứng thú trong học tập cho HS và giúp HS thường xuyên được luyện tập
+ HS rất dễ xúc động và thích tiếp xúc với một sự vật, hiện tượng nào đó + Trẻ ham hiểu biết cái mới nên dễ gây cảm xúc mới song các em chóng chán
Do vậy, trong dạy học GV phải sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, tăng cường thực hành, tổ chức các trò chơi xen kẽ để kích thích trí tưởng tượng của HS và củng cố khắc sâu kiến thức
+ Khó khăn nhất đối với GV là trình độ hiểu biết tin học còn hạn chế nên việc thiết kế giáo án điện tử rất vất vả và mất nhiều thời gian Tuy nhà trường luôn tạo điều kiện cho đi học để nâng cao trình độ tin học, nhưng thời gian có hạn nên các
GV không thể đi chuyên sâu tìm hiểu được các kiến thức của tin học để soạn bài theo mong muốn
+ Nhiều GV (nhất là những đồng chí GV đã có tuổi) sử dụng chưa thành thạo các phương tiện dạy học hiện đại nên việc soạn giáo án điện tử gặp nhiều khó khăn trong việc chọn màu sắc, phông nền, phông chữ hay chọn hiệu ứng chưa phù hợp
+ GV phải biết kết hợp nhiều chương trình, phần mềm khác nhau mà không phải lúc nào cũng làm được Thêm vào đó, có nhiều phần mềm là trôi nổi mà toàn
GV tự đi học hỏi, không có nguồn cung cấp chính thống
Trang 21+ Hơn nữa trong quá trình thiết kế, để có được một giáo án tốt, từng cá nhân
GV còn gặp không ít khó khăn trong việc tự đi tìm hình ảnh minh hoạ, âm thanh sôi động, tư liệu dẫn chứng phù hợp với bài giảng, phương pháp dạy học phù hợp Đó là
lí do mà một số GV thường đưa ra để tránh né việc thực hiện dạy bằng CNTT
Ta thấy rằng, HS Tiểu học có óc tưởng tượng phong phú Đó là tiền đề tốt cho việc phát triển tư duy toán học Tuy nhiên, HS cũng dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài nên dễ bị rối trí, căng thẳng Chính vì thế, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, hình thức chuyển tải kiến thức phải làm thế nào cho phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi là điều không thể xem nhẹ Đặc biệt đối với HS lớp 2, lớp mà các em vừa mới vượt qua những mới mẻ ban đầu chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập là chủ đạo Vì ở lớp mẫu giáo, các em được học theo cách chơi là chủ yếu, còn kỷ luật học tập không đặt ra nghiêm ngặt với các em ở tất cả các môn học Như vậy, về cách học đến cuối năm học lớp 1 và sang lớp 2 các em mới quen dần khiến giờ học sẽ trở nên nặng nề nếu các em chỉ được nghe và làm
- Trong hoạt động dạy học và ôn luyện các kiến thức Toán học lớp 2, phần mềm MS PowerPoint được ứng dụng rất phổ biến trong việc thiết kế các bài giảng điện tử Với những ưu điểm vượt trội về khả năng lựa chọn các mẫu Slide có sẵn hoặc xây dựng mẫu mới, chèn hoặc liên kết đến file văn bản, hình ảnh, âm thanh, chọn được rất nhiều các hiệu ứng sinh động, … làm cho bài giảng trở nên hấp dẫn, tạo hứng thú cho HS trong quá trình tiếp thu bài mới, luyện tập thực hành…
- Trong các giờ học ngoại khóa hay các giờ luyện tập, MS PowerPoint và Kahoot còn được ứng dụng trong việc tạo ra được rất nhiều các trò chơi mà lồng ghép trong đó các bài tập cho HS môi trường học tập vui vẻ, thoải mái Ứng dụng
MS PowerPoint, Kahoot, Quizizz, trợ giúp đắc lực cho GV trong quá trình hình thành kiến thức và củng cố luyện tập
Trang 22- Nhằm tìm hiểu việc ứng dụng CNTT vào dạy học Toán bài Bảng nhân 2 ở
một số trường Tiểu học Chúng tôi đã tiến hành điều tra đối với các GV thuộc trường tiểu học Trần Phú tỉnh Quảng Ninh
- Hình thức: Qua phỏng vấn trao đổi trực tiếp, quan sát, sử dụng phiếu điều tra
và tổng kết kinh nghiệm
- Kết quả thu được như sau:
a) Mức độ sử dụng giáo án điện tử của GV
Mức độ sử dụng giáo án điện tử của GV Tên trường Lớp
Thường xuyên Không thường xuyên Không sử
c) Về nội dung toán học bài Bảng nhân 2 có sự ứng dụng CNTT
Thông qua việc GV quan sát các tiết học với việc sử dụng phương tiện kĩ thuật khi dạy bảng nhân 2 qua các hoạt động dạy học như sau:
Trang 23Ý kiến Hình thành
kiến thức mới Bài tập toán
Trò chơi toán học Ý kiến khác
Kết
Thực tế điều tra kết quả trên trong năm học (2019 – 2020) khi dạy bảng nhân
2 ở khối lớp 2 Bằng phương pháp nghiên cứu lý luận: thu thập những thông tin dạy học của ba lớp khối 2, thực hiện triển khai dạy đủ, đúng chương trình môn Toán và đổi mới PPDH ở tiểu học; Bằng phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát qua việc dự giờ thăm lớp Trao đổi, trò chuyện với GV trong tổ, với HS khối lớp 2, với PPHS, với chỉ đạo chuyên môn của nhà trường Tham khảo thêm những báo cáo tổng kết đánh giá công tác chuyên môn của nhà trường để có được các kết quả trên Cho thấy đã có những hoạt động được GV thiết kế có sử dụng ứng dụng CNTT và việc tổ chức các hoạt động chủ yếu diễn ra ở phần cuối tiết học khi luyện tập Toán qua các bài tập để củng cố nội dung về các phép tính trong bảng nhân 2 Tuy nhiên kết quả thấy rằng chủ yếu đang là việc nhập số liệu, sử dụng hiệu ứng để hiện kết quả mà hình thức đã hấp dẫn và gây được hứng thú cho HS
Qua khảo sát quá trình giảng dạy chúng tôi thấy rằng:
- Trình độ tiếp thu kiến thức của HS phù hợp với phân phối chương trình về mặt kiến thức và nội dung của bài học được GV xây dựng
- Hs nắm được nội dung bài mới, biết cách vận dụng được kiến thức bài mới vào giải các bài tập vận dụng
- GV sử dụng phương pháp dạy học truyền thống là chủ yếu, còn hạn chết khi ứng dụng CNTT
- Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi ấy là những giờ dạy học GV còn lạm dụng CNTT, sử dụng không đúng lúc, đúng chỗ, không phối hợp với các phương
tiện khác, làm cho giờ học thụ động, ít có kiến tạo tri thức, HS học “như xem phim”,
trong khi CNTT chỉ là phương tiện dạy học; nhiều GV soạn giảng lạm dụng đến màu
Trang 24sắc, phông chữ, màu nền lòe loạt gây phản cảm, hiệu ứng nhảy nhót gây mất sự chú
ý khi tìm hiểu trọng tâm bài học; những hiểu biết cả GV về tin học, ngoại ngữ (tiếng
Anh) … là rào cản để GV ứng dụng CNTT & Truyền thông trong DH Toán 2
1.2.2.2 Những thuận lợi, khó khăn đối với GV và HS trong việc sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ dạy học Toán 2
a) Thuận lợi
- Môi trường đa phương tiện kết hợp với âm thanh, văn bản, biểu đồ, … được
trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa với đa giác quan
- Kĩ thuật đồ họa nâng cao có thể mô phỏng nhiều kiến thức toán học
- Ngân hàng dữ liệu khổng lồ được kết nối với nhau và với những người sử dụng Internet được khai thác để tạo ra những hoạt động thuận lợi tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu
- Một công dụng lớn của CNTT và truyền thông là cung cấp tài liệu bằng nhiều kênh (kênh hình, kênh chữ, kênh âm thanh) trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học giúp tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của HS và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới
*Bài: Ki – lô – mét (trang 151 – SGK Toán 2, [6]):
Ở bài này, nếu để HS chỉ sử dụng sgk làm tư liệu thì khó có thể giúp các em hình dung được một cách cụ thể Vì thế, GV dạy bài này và muốn HS chiếm lĩnh được toàn bộ kiến thức Cần được áp dụng vào thực tế, lấy điểm mốc cụ thể trên quãng đường mà HS thường đi qua hàng ngày để giúp các em dễ hình dung ra độ dài 1km là như thế nào
Ví dụ: Ở bài này, để dạy cho HS lớp 2 trường Dịch Vọng A hình dung ra đoạn
đường dài 1km, GV lấy điểm mốc cụ thể là tòa nhà HITC (ở đầu ngõ 233, nơi vào trường Tiểu học Dịch Vọng A) và siêu thị điện máy Topcare, đường Xuân Thủy Cầu Giấy Và GV giới thiệu cho HS biết: Khoảng cách từ tòa nhà HITC đến siêu thị điện
Trang 25máy Topcare là 1km Đây là đoạn đường mà rất nhiều HS của trường thường đi qua Với ví dụ minh họa như thế rất dễ để cho các em hình dung ra đoạn đường dài 1km mà GV không cần diễn giải nhiều Tôi có thể đưa nó lên sơ đồ trên màn hình như sau:
Ở phần luyện tập, để giúp các em làm tốt bài tập số 3, GV đưa lược đồ Việt Nam, đổi màu các đoạn đường để giúp HS hình dung được khoảng cách giữa các tỉnh và các em sẽ dễ dàng so sánh được các quãng đường đó
Trang 26Một số GV lạm dụng giáo án điện tử trong toán bộ chương trình giảng dạy là không nên Vì không phải bài học luyện tập nào cũng sử dụng được giáo án điện tử
để ôn tập
- Bên cạnh đó, một số GV còn hạn chế vẫn sử dụng phương pháp dạy học cũ với lối mòn khó thay đổi Việc dạy học tương tác giữa người – máy, dạy theo nhóm, dạy pháp tư duy sáng tạo cho HS, cũng như dạy HS cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng địng mình vẫn còn quá mới mẻ đối với GV và đòi hỏi GV phải kết hợp hài hòa các phương pháp dạy Dù CNTT đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính hết tích cực và tính hiệu quả của nó
- Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện dạy học có ứng dụng CNTT
- Việc ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học hỗ trợ hoạt động củng cố và luyện tập chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi làm dụng nó Nhiều GV còn còn quá lạm dụng
máy chiếu để thay cho tấm bảng đen, biến “đọc – chép” thành “chiếu – chép” Thời gian qua, nhiều GV vẫn còn quan niệm đồng nhất giữa “ứng dụng CNTT vào dạy học” với giáo án điện tử Do đó, GV đưa tất cả những công việc của mình và toàn bộ nội dung bài giảng lên các Slide để “chiếu cho HS chép” Điều đó ảnh hưởng đến
việc học tập của HS vì CNTT không phải là một giáo án, nó chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho quá trình dạy học và giúp HS có thêm nguồn tư liệu để tự tìm ra tri thức cho mình Từ đó, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS trong học tập
* Kết luận:
Hầu hết GV đều có những nhận thức về tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học, trong đó có môn toán Một số GV đã vận dụng CNTT trong thiết kế các bài tập toán cho HS Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT của GV lại chưa thường xuyên và thực sự hiệu quả Một số GV chỉ sử dụng đến máy tính và máy
Trang 27chiếu trong những tiết dự giờ hoặc thi GV dạy giỏi Hiểu biết của GV về tin học, ngoại ngữ và những khó khăn trong thực tế chính là rào cản của việc ứng dụng CNTT
Vì vậy, để có ứng dụng CNTT một cách có hiệu quả trong thiết kế các bài tập cho HS lớp 2 cần có những hướng dẫn để GV dễ dàng hơn trong việc thiết kế các bài tập ôn luyện và củng cố kiến thức cho HS nói riêng và trong toàn bộ hoạt động giảng dạy nói chung Hình thức các bài tập được đưa ra một cách, có thể dưới dạng các trò chơi được lồng ghép các bài tập theo chủ đề ôn tập… Để hấp dẫn HS có thể đưa vào trong thiết kế các hình ảnh sinh động, bắt mắt hay các âm thanh vui nhộn
1.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong trường Tiểu học, HS lớp 2 đã được làm quen với môn Tin học, nên việc ứng dụng CNTT vào trường là việc làm cần thiết và đúng đắn Bằng việc triển khai thiết kế các hoạt động trong giáo án điện tử GV có thể mang lại cho HS những giờ học bổ ích và lí thú, kích hoạt tất cả các giác quan của HS để lĩnh hội tri thức Khi soạn những bài giảng này, GV không phải vất vả trong việc đưa ra tranh, lại phải mất công bảo quản đồ dùng sau mỗi lần dạy xong Sau đó, việc thiết kế trên máy rất đơn giản, không cần phải di chuyển đi đâu, chỉ việc vào mạng Internet mọi tư liệu
đều có thể tìm thấy Nhờ đó mà HS hứng thú học tập hơn, tiếp thu bài tập nhanh hơn
và được ôn luyện kiến thức tốt hơn
Tuy nhiên, để ứng dụng CNTT một cách hiệu quả, người GV cần có hiểu biết sâu sắc để CNTT thực sự là phương tiện hữu hiệu giúp đạt được mục tiêu ôn luyện
và giáo dục Riêng với môn Toán với nhiều kiến thức mang tính trừu tượng và khái quát cao, khi dạy học; ôn luyện luôn cần sự hỗ trợ của phương tiện đồ dùng trực quan, ứng dụng CNTT phù hợp theo tinh thần và tư tưởng của pháp trực quan sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học Điển hình là các phần mềm Power Point, Kahoot, Quizz, Hit the button được ứng dụng hiệu quả vào thiết kế giáo án điện tử
hỗ trợ cho việc củng cố và luyện tập môn Toán lớp 2
Trang 28Chương 2 XÂY DỰNG BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CNTT & TRUYỀN THÔNG
HỖ TRỢ CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP MÔN TOÁN LỚP 2
2.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG CÁC BIỆN PHÁP
2.1.1 Căn cứ vào lợi thế và khả năng hỗ trợ của CNTT & Truyền thông đối với dạy học Toán
- Trong xu thế dạy học hiện đại, chúng ta cùng đặt ra vấn đề là ứng dụng
CNTT như thế nào để mang lại hiệu quả thiết thực và phù hợp với các quan điểm về phương pháp dạy học tích cực Nhằm trả lời cho câu hỏi đó, chúng tôi đề nghị chia thành 3 mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học Toán như sau:
- Mức độ 1: GV ứng dụng CNTT chỉ để trình chiếu và minh họa
Tôi cho rằng các xu hướng ứng dụng CNTT phổ biến hiện nay ở các trường học hiện nay chỉ ở cấp độ này GV thường soạn thảo và sử dụng bài trình chiếu trên máy vi tính nhờ các phần mềm hỗ trợ trình chiếu như Word, PowerPoint… Họ cũng tích hợp vào bài giảng điện tử của mình các hình ảnh (bất động hay động) có sẵn hay
tự xây dựng từ các phần mềm dạy học Toán như Geometry sketchpath, Geoplan…
HS thụ động quan sát những gì GV trình chiếu
Cách thức thực hiện và ví dụ minh họa
Tiến hành thiết kế giáo án điện tử trên phần mềm Power Point với nội dung củng cố kiến thức bài cũ
- Khởi động Power Point, định dạng và tạo file mới
- Chèn hình ảnh, đồ họa, âm thanh, video vào silde
- Sử dụng hiệu ứng trong Power Point để hoàn thiện nội dung và hình thức của một bài giảng
- Thực hiện liên kết giữa các silde, các file, chương trình
- Chạy thử và sửa chữa
- Đóng gói tập tin
Trang 29* Ví dụ minh họa
Ôn tập bài học cũ 5 cộng với một số Giúp HS nhớ lại bài học cũ biết cách đặt
tính và thực hiện phép cộng dạng 5 + 5; Tự lập và học thuộc bảng các công thức 5 cộng với một số; Củng cố về điểm ở trong và ngoài một hình, so sánh số
- Các bước thực hiện:
GV thiết kế các silde phục vụ cho tiến trình dạy học
Với bài này GV có thể tiến hành thiết kế 2 silde để làm bài giảng của mình: + Slide 1: Nhắc lại tên bài cũ
+ Silde 2: Kiểm tra bài cũ
HS quan sát và thực hiện các yêu cầu:
Trang 30- Mức độ 2: GV ứng dụng CNTT để minh họa các hoạt động
Ở mức độ này, CNTT hỗ trợ GV soạn thảo các hoạt động trên các phần mềm, trình chiếu trước lớp, thao tác trên phần mềm và đặt câu hỏi HS quan sát các kết quả tạo ra vở phần mềm khi GV thao tác để trả lời câu hỏi
*Bài: Ngày tháng (trang 79 – SGK Toán 2, [6]):
Để dạy bài này, nếu không sử dụng máy chiếu GV phải mất thời gian scan ảnh rồi phóng to ra giấy A0 nhưng vẫn rất khó cho HS có thể quan sát được Dùng máy chiếu GV có thể phóng to tờ lịch, đổi màu chữ nếu cần và HS có thể dễ dàng quan sát
Trang 31- Mức độ 3: HS trực tiếp thao tác trên phần mềm trong một tình huống gợi vấn
phần mềm và HS sẽ tự phối hợp các chức năng đã biết thành công cụ để giải quyết
nhiệm vụ được giao một cách tự nguyện
Nhiều phần mềm dạy học Toán được tạo ra với mục tiêu cho phép sự tương tác giữa giữa các kiến thức toán học của người sử dụng với các phản hồi trong môi trường phần mềm; các thao tác của người sử dụng trên phần mềm sẽ được điều khiển bởi và đồng thời biến đổi các kiến thức toán học của họ
2.1.2 Căn cứ vào nội dung môn Toán lớp 2
Trong nội dung chương trình môn Toán ở lớp 2, sách giáo khoa Toán 2 ([6]) đưa ra các dạng bài tập như sau:
+ Đặt tính rồi tính
+ Tìm một thành phần chứa biết của phép tính
+ Tính giá trị của biểu thức
+ Giải bài toán có lời văn
+ Tính nhẩm
+ Trắc nghiệm nối phép tính với kết quả tương ứng
+ Điền dấu phép tính sau khi thực hiện kết quả
+ Trắc nghiệm đúng sai
+ Tính số đo các đại lượng, so sánh số đo các đại lượng
+ Giải toán bằng sơ đồ tóm tắt
Do đó, các mục tiêu được thể hiện cụ thể thông qua các bài học và các dạng bài tập khác nhau giúp HS có nhiều cơ hội chiếm lĩnh tri thức cho bản thân Việc sử
Trang 32dụng một số phần mềm thiết kế các bài tập cho HS để nâng cao chất lượng dạy học
là vô cùng cần thiết cần xây dựng quy trình xây dựng các bài tập bằng các phần mềm như sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu
Bước 2: Xây dựng kịch bản bài tập
1- Xác định yêu cầu bài tập
2- Thiết kế nội dung bài tập
Bước 3: Chuẩn bị tư liệu (văn bản, hình ảnh, âm thanh, bài tập, …)
Bước 4: Thiết kế bài tập trên máy tính cùng với phần mềm chuyên dụng
Bước 5: Chỉnh sửa và đóng gói bài giảng
1- Chỉnh sửa bài tập: Trình diễn thử; soát lỗi; …
2- Hoàn thiện và đóng gói bài tập
2.1.3 Căn cứ vào tình hình thực tế về năng lực của dạy học Toán GV Tiểu học
và đặc điểm của đối tượng HS lớp 2
- Ta thấy rằng giáo dục toán học hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất chủ yếu, năng lượng chung và năng lượng toán học với các thành tố cốt lỗi: năng lượng tư duy và lập luận toán học, năng lượng mô hình toán học, năng lượng giải quyết vấn đề toán học, năng lượng giao tiếp toán học, năng lượng sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để HS được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn, giáo dục toán học tạo dựng sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa toán học với các môn học khác và giữa toán học với đời sống thực tiễn
- Về năng lực dạy học Toán dựa vào phương pháp dạy học: Thực hiện dạy học phù hợp với tiến trình nhận thức của HS (đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ dễ đến khó); Quán triệt tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, chú ý nhu cầu, năng lượng nhận thức, cách thức học tập khác nhau của từng cá nhân HS; tổ chức quá trình dạy học theo hướng kiến tạo, trong đó HS được tham gia tìm tòi, phát hiện, suy luận giải
Trang 33quyết vấn đề; linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo với việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học truyền thống; kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với các hoạt động thực hành trải nghiệm, vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn
- Về đánh giá kết quả giáo dục môn Toán ở bậc tiểu học: Mục tiêu đánh giá là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về sự phát triển năng lực và sự tiến
bộ của HS trên cơ sở yêu cầu cần đạt ở mỗi lớp học để điều chỉnh các hoạt động dạy học, bảo đảm sự tiến bộ của từng HS và nâng cao chất lượng giáo dục môn Toán nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung Việc đánh giá thường xuyên do GV phụ trách môn học tổ chức, kết hợp với đánh giá của GV các môn học khác, của bản thân
HS được đánh giá và của các HS khác trong tổ, trong lớp hoặc đánh giá của cha mẹ
HS, đi liền với tiến trình hoạt động học tập của HS, bảo đảm mục tiêu đánh giá vì sự tiến bộ trong học tập của HS Việc đánh giá địng kì được sử dụng để chứng nhận cấp
độ học tập, công nhận thành tích cho người học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Khuyến khích vận dụng kết hợp nhiều phương pháp đánh giá (quan sát, ghi lại quá trình thực hiện, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, tự luận, kiểm tra viết, bài tập thực hành, các dự án học tập, thực hiện nhiệm vụ thực tiễn, …); đồng thời hướng dẫn GV lựa chọn các phương pháp, công cụ đánh giá phù hợp với từng thành phần năng lượng toán học
Sử dụng đủ và hiệu quả các phương tiện, thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định đối với môn Toán Tăng cường việc sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng CNTT hiện đại hỗ trợ quá trình dạy học và ôn luyện kiến thức toán học Khi có điều kiện,
GV hướng dẫn HS cách tìm kiếm thông tin, tư liệu trên Internet uy tín về giáo dục
để mở rộng vốn hiểu biết và năng lực tự học
- Qua quá trình tiếp xúc và tìm hiểu đặc điểm với các em HS thuộc đối tượng lớp 2, tôi nhận thấy rằng:
Trang 34+ HS có trí thông minh khá nhạy bé và sắc sảo, có óc tưởng tượng phong phú
Đó là tiền để tốt cho việc phát triển tư duy toán học nhưng trẻ cũng rất dễ bị phân tán, rối trí nếu bị áp đặt, căng thẳng hay cũng sẽ quên ngay khi chúng không tập trung cao độ và không được luyện tập thường xuyên
+ Cơ thể của trẻ đang trong thời kỳ phát triển hay nói cụ thể là các hệ cơ quan còn chưa hoàn thiện Vì thế, sức dẻo dai của cơ thể còn thấp nên trẻ không thể làm lâu một cử động đơn điệu, không thể ngồi quá lâu trong giờ học cũng như làm một việc gì đó nhiều thời gian vì thế GV có thể thay đổi hoạt động tạo hứng thú học tập
và khắc sâu bài học
+ HS rất dễ xúc động và thích tiếp xúc với một sự vật, hiện tượng nào đó nhất
là những hình ảnh gây cảm xúc mạnh
+ Các em hứng thú với việc học Toán bằng cách gián tiếp là chủ yếu Nếu Gv
tổ chức dạy học theo hướng tích cực, tạo ra bầu không khí tích cực, chủ động, sáng tạo cho HS trong quá trình học toán thì có thể làm thay đổi hứng thú môn Toán của các em
Do đó, ta thấy rằng HS lớp 2 có nhu cầu lớn trong hoạt động và tiếp xúc với môi trường kiến thức một cách tự nhiên, có nội dung, có phương pháp, có kế hoạch phục vụ mục đích giáo dục đề ra Gây hứng thú cho HS là những biện pháp ứng dụng CNTT & Truyền thông phong phú và đa dạng, dễ dàng kích thích bồi dưỡng nhu cầu, hứng thú toán học của HS, giúp các em cảm thấy thoải mái, dễ chịu và phục hồi sức lực sau giờ học căng thẳng
2.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CNTT & TRUYỂN THÔNG HỖ TRỢ CỦNG CỐ VÀ LUYỆN TẬP MÔN TOÁN LỚP 2 CHO HỌC SINH
2.2.1 Biện pháp 1: Sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ củng cố kiến thức có liên quan cho HS trước khi học kiến thức mới
2.2.1.1 Cơ sở khoa học và ý nghĩa của biện pháp
Trang 35HS lớp 2 có quá trình nhận thức thường gắn với những hình ảnh, hoạt động cụ thể Bởi vậy các phương tiện trực quan rất cần thiết trong quá trình giảng dạy đặc biệt trong hỗ trợ củng cố kiến thức có liên quan cho HS trước khi học kiến thức mới
vì khả năng nhớ bài cũ của các em chưa được tốt Sử dụng CNTT và truyền thông sẽ thu hút được sự chú ý của HS, giúp HS nhớ lại toàn bộ bài đã được bên cạnh đó giúp
HS tiếp thu bài tốt hơn, nhớ lâu hơn
Đối với môn Toán không có nhiều tranh ảnh như các bộ môn khác, nhưng không phải vì thế mà không cần đến ứng dụng CNTT và truyền thông Ngoài bộ đồ dùng dạy học và học toán chỉ là những con số và các bài toán và những hình vẽ Thế nhưng, những con số, những bài toán và những hình vẽ nếu đưa lên màn hình lớn với sự nhấn mạnh bằng cách đổi màu chữ hay gạch chân sẽ có hiệu quả hơn
Việc đưa ứng dụng CNTT hỗ trợ củng cố kiến thức sẽ tiết kiệm được thời gian, không cần in tranh ảnh tốn tiền, mất thời gian, bảo quản khó mà hình ảnh lại nhỏ không rõ nét như khi đưa lên màn hình lớn Tuy nhiên vấn đề đặt ra là sử dụng ứng dụng CNTT như thế nào cho phù hợp mới đem lại hiệu quả mong muốn
Chính vì vậy mà việc sử dụng ứng dụng CNTT và truyền thông hỗ trợ củng cố
kiến thức có liên quan cho HS trước khi học kiến thức mới là cần thiết
2.2.1.2 Cách thức thực hiện và ví dụ minh họa
Trước khi học bài mới cần phải củng cố kiến thức bài cũ cho HS Kiến thức
cũ mà không vững chắc thì HS không thể tiếp thu thêm được kiến thức mới Trong phạm vi toán lớp 2 GV có thể sử dụng một số phần mềm, phương tiện để hỗ trợ củng
cố kiến thức như: MS Power Point, Exe learning, Violet, hoặc thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành hoạt động học tập…
Cách thức xây dựng giáo án điện tử: Giáo án điện tử được xây dựng theo quy trình gồm 6 bước sau:
- Xác định mục tiêu bài học,
- Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm,
Trang 36- Multimedia hoá từng đơn vị kiến thức,
- Xây dựng thư viện,
- Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể,
- Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện
Ví dụ 1: Để củng cố bài cũ trước khi học bài mới với nhóm bài:
29 +5, 49 + 25 (trang 12, 17 – SGK Toán 2, [6])
28+5, 38 + 25 (trang 16, 17 – SGK Toán 2, [6])
Ở những bài này, để xây dựng được các công thức trong bảng cộng mà không
sử dụng giáo án điện tử thì người GV phải sử dụng rất nhiều que tính, GV sẽ vất vả trong việc gắn que tính lên bảng cũng như gộp hoặc tách que tính để phân tích nội dung bài học
Bước 1: Có 49 que tính (gồm 4 bó 1 chục
que tính và 9 que rời)
Bước 2: Có thêm 25 que tính nữa (gồm 2
bó 1 chục que tính và 5 que rời) Bước 3: Có 9 que tính rời và thêm 5 que
tính rời nữa, tức là thêm 1 que tính vào 9
que tính (rồi bó lại thành 1 bó 1 chục que
tính) và thêm tiếp 4 que tính còn lại
Bước 4: 4 bó thêm 2 bó rồi thêm 1 bó nữa thành 7 chục que tính, 7 chục que tính thêm 4 que tính nữa là 74 que tính
Như vậy 49 que tính thêm 25 que tính thành 74 que tính
Để củng cố bài cũ trước khi học bài mới với giáo án điện tử GV cần có các phương tiện hỗ trợ như máy tính, máy chiếu để truyền tải thông tin cho HS dưới hình thức các slide, chiếu slide, chèn đồ họa theo thiết kế mong muốn Trước đây
GV sẽ trình bày các thông tin cần thiết dưới hình thức chia sẻ kiến thức hay ý tưởng với HS bằng các công cụ truyền thống như bảng, giấy viết hay qua giảng bằng lời Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của CNTT và truyền thông thì GV có thể truyền tải thông tin đến HS một cách hiệu quả hơn Thông qua một số phần mềm, GV có thể củng cố bài cũ trước khi học bài mới cho HS được chia sẻ nội dung thông tin một cách sinh
Trang 37động qua các hiệu ứng, hình ảnh, những đoạn chữ được cài đặt font dễ nhìn, phần mềm trình chiếu giúp GV thông qua các chương trình máy tính tạo được các nội dung được trình bày và trình chiếu dưới dạng điện tử, silde và chiếu cho HS xem với mục đích ôn lại kiến thức bài cũ, HS hệ thống lại trong đầu những gì đã được học để chuẩn bị bước vào học bài mới Đây là một trong những công cụ hữu ích trong việc
hỗ trợ GV trình bày thông tin một cách hiệu quả
Ví dụ 2: Củng cố kiến thức bài mi –li – mét (trang 153 – SGK toán 2, [6])
Ở bài này để hướng dẫn HS cùng quan sát thước có vạch chia mi – li –mét là
khó vì khoảng cách giữa các vạch là quá nhỏ
Để GV có thể giới thiệu về 1mm và giúp HS nắm được biểu tượng 1mm trên thước là rất khó cho việc quan sát của HS Vì vậy, việc đưa hình ảnh cái thước cùng với độ dài 1mm được tô màu đó lên màn hình sẽ giúp cho GV dễ dàng truyền tải tới
HS và HS cũng dễ dàng nắm bắt khái niệm nhớ lại bài cũ
Hình 1
Trang 38Để HS nắm được 1cm = … mm, GV có thể yêu cầu HS quan sát độ dài trên thước và hỏi: “Độ dài 1cm, chẳng hạn từ vạch 0 đến vạch 1, được chia thành bao nhiêu phần bằng nhau?” GV có thể đưa ra hình ảnh sau:
Hình 2
Hoặc khi hướng dẫn HS đo độ dài đoạn thẳng thì rất khó để cho HS quan sát nếu GV sử dụng thước chia vạch mi-li-mét của HS với một đoạn thẳng chỉ có vài mi
– li – mét GV phóng lên màn hình để hướng dẫn HS nhìn thấy cách đo, cách đặt
thước và đọc số đo của đoạn thẳng đó HS có thể quan sát dễ dàng mà không sợ thước nhỏ quá hay đoạn thẳng ngắn quá
Ngoài ra GV cũng có thể sử dụng máy để quay các thao tác đo mẫu hoặc vẽ mẫu để đưa lên màn hình lớn cho HS quan sát một cách dễ dàng
2.2.2 Biện pháp 2: Sử dụng CNTT & Truyền thông hỗ trợ củng cố kiến thức cho HS sau khi học bài mới
2.2.2.1 Cơ sở khoa học và ý nghĩa của biện pháp
Sử dụng CNTT và truyền thông hỗ trợ củng cố kiến thức cho HS sau khi học bài mới là GV tổng hợp những kiến thức đã học trong buổi học đó cụ thể bằng những hình ảnh minh họa, tạo cho bài toán sinh động hơn, kích thích hứng thú học tập của HS, giúp HS dễ tiếp thu bài và nhớ lâu hơn Nếu như GV không sử dụng
Trang 39CNTT để hệ thống lại các vấn đề trong bài học mà chỉ nói bằng lời thì HS không thể hiểu hết được vấn đề GV muốn truyền thụ; HS không tập trung lắng nghe Vì vậy phải tăng cường sử dụng CNTT trong dạy học Toán lớp 2 vì Toán lớp 2 có một số bài học với dụng cụ học tập: thước và thực hành đo; đơn vị, thời gian Với những kiến thức đó thì sử dụng CNTT rất thuận lợi
Ví dụ: Để hỗ trợ kiến thức cho HS sau khi học bài mới dùng những thẻ phiếu hoặc vẽ lên bảng rất khó khăn vì thời gian không cho phép nên GV có thể cho HS xem clip hoặc xem một phép tính do máy tính thực hiện…
2.2.2.2 Cách thức thực hiện và ví dụ minh họa
GV có thể sử dụng phần mềm Powerpoint trong soạn giáo án điện tử hoặc phần mềm violet, Sketchpat, Miccrosoft Word
Tiến hành thiết kế giáo án điện tử trên phần mềm Power Point với nội dung củng cố kiến thức bài cũ
- Khởi động Power Point, định dạng và tạo file mới
+ Khởi động Power Point:
Chọn start/program/Microssoft Power Point, hoặc có thể nhấp chuột vào nút Microssoft Power trên thanh Toolbar office hoặc trên màn hình Windows
Tiến hành định dạng diễn trình:
Một slide được chia làm 3 vùng với 3 phần: Phần tiêu đề, phần thân và phần ghi chú Việc định dạng được tiến hành như sau:
Chọn câu lệnh: View/ Master/ Slide master, hộp thoại sẽ xuất hiện Phần tiêu
đề của Slide nằm ở khung to edid Master tile Style
Định dạng chung tất cả các tiêu đề của Slide bao gồm chọn kiểu chữ, cỡ chữ,
khung viền, kích cỡ, màu sắc của khung tiêu đề Phần thân Slide nằm ở khung to edid Master text Style Định dạng khung cho tất cả các phần thân của Slide gồm
chọn kiểu chữ, cỡ chữ, font chữ khung viền, kích cỡ, màu sắc của khung Phần ghi
chú nằm ở khung Footeoo are dùng để đưa nội dung phần cuối trang vào các Slide,
Trang 40tức là chọn khung Footer are, chọn kiểu chữ, cỡ chữ, hộp thoại font chữ trên thanh
Formating, sau đó nhập nội dung cần thiết
Lưu file mới: Chọn file/ Save (Ctrl+S) hoặc nhấp chuột vào biểu tượng Save trên thanh công cụ
- Nhập nội dung, đồ họa cho từng slide
Trước tiên cần dự kiến số Slide và nội dung cụ thể cho từng Slide Có rất nhiều cách khác nhau để nhập văn bản vào Slide Cách thuận lợi có được từ thanh
Menu Drawing cuối màn hình nhấn trỏ chuột vào ô Text box, rê chuột trên phần
thanh rồi nhập kí tự
Hiệu chỉnh định dạng kí tự: Vào Format/ font, xuất hiện hộp thoại font Trong hộp thoại font, có các mục chọn sau: Font (chọn các loại font chữ) Font style (dạng chữ), Size (cỡ chữ), Color (màu chữ), Underline (gạch dưới), Shadow (tạo bóng mờ), Emboss (chữ nổi), Superscript (chỉ số trên), supscript (chỉ số dưới) Những định dạng chữ ở trên có thể dùng phím nóng hoặc dùng biểu tượng trên thanh công
cụ Formating Tạo Bullets và numbering (định dạng đầu dòng): Chọn Format/ Bullets and numbering, hộp thoại Bullets and numbering xuất hiện, chọn dạng cần thiết trong các ô mẫu, chọn màu trong khung color, chọn kích cỡ trong khung Size
Để chọn các bullets, kích vào Customize hoặc picture Canh đầu dòng (Alignment): Chọn format/Alignment làm xuất hiện các lựa chọn: Align left (canh lề trái), center (canh giữa), Align right (canh phải), Justify (canh hai bên)
Thay đổi khoảng cách giữa các dòng (Line spacing): Chọn Format/ linespacing, xuất hiện hộp thoại Linespacing, có các khung hiệu chỉnh sau: Linespacing (khoảng cách giữa các dòng), Before paragraph (khoảng cách phía trên đoạn văn), After paragraph (khoảng cách phía dưới đoạn văn) Sử dụng thanh công
cụ Drawing để thực hiện đồ họa Nếu thanh công cụ Drawing chưa xuất hiện, vào trình đơn View/Toolbar/Drawing để làm xuất hiện công cụ đồ họa Cũng có thể sử dụng các hình mẫu trong AutoShapes