Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về việc ứng dụng CNTT trong dạy học, đề tài khai thác việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán ở trường THPT nhằm nâng ca
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHONG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
_
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHONG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: LL & PP DẠY HỌC BỘ MÔN TOÁN
MÃ SỐ: 8 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Hồng Minh
HẢI PHÒNG - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hải Phòng, ngày 20 tháng 9 năm 2020
Tác giả
PHẠM THU HẰNG
Trang 4Em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Toán, trường Đại học Hải Phòng đã tận tình truyền đạt kiến thức để em
có những kiến thức vững chắc là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách tự tin
Và để hoàn thành bản luận văn này, em xin tỏ lòng cám ơn sâu sắc đến cô giáo Tiến sĩ Đỗ Thị Hồng Minh – người đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn Cô đã chỉ dẫn giúp đỡ em trong suốt quá trình làm luận văn, thiết kế nội dung và những đóng góp vô cùng quý báu giúp luận văn mang tính khoa học, tính sư phạm, tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành luận văn của mình
Do điều kiện thời gian, cùng vốn kiến thức và phương pháp còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm còn ít nên bản luận văn này còn nhiều thiếu xót Em rất mong được nhận ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để em tiếp tục bổ sung và hoàn thiện bản luận văn này
Cuối cùng em xin kính chúc thầy cô có nhiều sức khỏe, luôn hạnh phúc
và công tác tốt trong sự nghiệp trồng người
Em xin chân thành cảm ơn !
Hải Phòng, ngày 20 tháng 9 năm 2020
Tác giả
PHẠM THU HẰNG
Trang 5LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu CNTT trong dạy học 5
1.1.1 Ở nước ngoài 5
1.1.2 Ở trong nước 8
1.1.3 Tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay 10
1.2 Công nghệ thông tin trong dạy học môn toán 15
1.2.1 Khái niệm về công nghệ thông tin 15
1.2.2 Vai trò của CNTT trong dạy học 15
1.2.3 Một số phần mềm thường được sử dụng trong dạy ho ̣c môn Toán ở trường Trung học phổ thông 19
Kết luận chương 1 36
CHƯƠNG 2 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 37
QUA GIẢNG DẠY NỘI DUNG PHÉP BIẾN HÌNH 37
2.1 Chủ đề phép biến hình trong chương trình toán THPT 37
2.1.1 Vị trí, nội dung, cấu trúc 37
2.1.2 Mục đích, yêu cầu 37
2.2 Khai thác ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ dạy học nội dung phép biến hình ở trường THPT 38
2.2.1 Khai thác CNTT hỗ trợ hoạt động gợi động cơ 38
2.2.2 Khai thác CNTT hỗ trợ hoạt động dạy học khái niệm toán học 41
Trang 62.3.4 Khai thác ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ hoạt động ôn tập và
tổng kết kiến thức 46
2.3.5 Khai thác ứng dụng CNTT trong hoạt động đánh giá 50
Kết luận chương 2 53
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 54
3.1 Khái quát quá trình thực nghiệm 54
3.1.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 54
3.1.2 Nội dung thực nghiệm 54
3.2 Tổ chức thực nghiệm 54
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 54
3.2.2.Tiến trình thực nghiệm 54
3.3 Đánh giá thực nghiệm 56
3.3.1 Cơ sở đánh giá kết quả thực nghiệm 56
3.3.2 Kết quả thực nghiệm 56
Kết luận chương 3 60
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 62
Trang 8Kết quả khảo sát của Intel Việt Nam về mong đợi
của GV trong việc bồi dưỡng ứng dụng CNTT
trong dạy học
12
1.2
Bảng khảo sát tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học
3.1 Điểm kiểm tra đầu vào của 2 lớp 11A5 và 11A6 55 3.2 Các bài dạy thực nghiệm của hai lớp 11A5 và 11A6 55
Trang 9Số
hiệu
hình
1.4 Giao diện hiệu ứng lật trang sách của phần mềm Violet 21 1.5 Sử dụng phần mềm Violet tạo trò chơi “ Đua xe” 22
1.6 Giao diện phần mềm vẽ bản đồ tư duy Edraw Mind
Sử dụng phần mềm Geometer's Sketchpad trong dạy
1.10 Giao diện phần mềm Zoom cloud meeting 27 1.11 Giao diện phần mềm Transparent solution 28
1.13 Sử dụng phần mềm Mcmix trộn đề thi trắc nghiệm 31
1.15 Sử dụng phần mềm Kahoot tạo bài tập trắc nghiệm 33
1.17 Sử dụng phần mềm Shub Classroom tạo bài kiểm tra
Trang 102.4
Sử dụng phần mềm GSP tạo hình động về phép đồng
2.5 Sử dụng phần mềm Sketchpad tạo ảnh M’N’ và tạo ảnh MN qua phép quay có độ dài không đổi 45
2.6 Một số hình ảnh khác về phép quay trên phần mềm Sketchpad 46
2.7 Sử dụng phần mềm Violet thiết kế trò chơi “Cóc vàng tài ba” 47 2.8 Sử dụng phần mềm Kahoot! để tạo bài tập củng cố ôn
2.9 Sử dụng phần mềm Imindmap vẽ sơ đồ tư duy hệ thống
2.10 Tạo và trộn các câu hỏi trắc nghiệm trong phần mềm
2.11 Bài kiểm tra, kết quả bảng điểm và tổng quan điểm
trung bình của HS trong phần mềm Shub classroom 52 2.12 Giao diện ứng dụng hỗ trợ giải bài tập trong phần mềm 52
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Phát triển giáo dục và đào tạo có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đó cũng là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Trước những yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển giáo dục trong thời kì mới, đòi hỏi phải đặc biệt chú trọng đổi mới PPDH vì PPDH là một trong những yếu tố cơ bản quyết định đến chất lượng giáo dục
và đào tạo
Mặt khác, trong thời đại của nền kinh tế tri thức và thông tin như hiện nay, đã tạo ra những biến đổi to lớn trong mọi mặt HĐ của con người và xã hội Việc ứng dụng CNTT rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực đã cho thấy vai trò
to lớn và những tác dụng kỳ diệu của CNTT trong các lĩnh vực của đời sống
xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục
Việc áp dụng CNTT giúp tạo hứng thú học tập cho HS, thấy được hình
vẽ, hình ảnh ở các góc độ khác nhau một cách sinh động và gần gũi từ đó giúp
HS hiểu bài và ứng dụng được môn học trong cuộc sống Việc ứng dụng CNTT trong thực tế dạy học đã đem lại kết quả đáng kể và những chuyển biến tích cực trong dạy học, nhất là về PPDH, đó thực sự là “một cuộc cách mạng công nghệ trong giáo dục”
Môn Toán là môn học quan trọng trong việc hình thành và phát triển tư duy cho HS Rèn luyện cho HS suy luận logic, hình thành và phát triển năng lực tự học, trau dồi các phẩm chất linh hoạt, sáng tạo, độc lập của tư duy Vậy câu hỏi đặt ra, trong giảng dạy môn Toán là làm thế nào để giúp HS hứng thú hơn trong giờ học, dễ hiểu bài và tiếp thu kiến thức một cách nhanh nhất các nội dung bài học, vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết các hệ thống bài tập
Chủ đề phép biến hình là một trong những nội dung khá quan trọng trong chương trình toán học THPT Đây cũng là một chủ đề hấp dẫn, có nhiều
Trang 12tiềm năng để phát triển tư duy sáng tạo và rèn trí tưởng tượng cho HS Có thể thấy HS còn gặp khá nhiều khó khăn trong việc tiếp cận khái niệm phép biến hình, cũng như chưa vận dụng được nhiều trong quá trình giải toán hình học Thực tế cho thấy cả GV và HS khi dạy và học phép biến hình chỉ dừng ở mức
độ giải một số bài toán cơ bản, mà chưa vận dụng được phép biến hình trong giải các bài toán khác để phát triển tư duy sáng tạo và sự chủ động của HS trong chủ đề này
Từ những định hướng trên, tôi thấy rằng việc ứng dụng CNTT vào tổ chức các HĐ dạy học là một biện pháp tích cực hóa HĐ học tập của HS góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở trường phổ thông Chính vì những lợi
ích đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “Khai thác ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán qua dạy học chủ đề phép biến hình ở trường THPT” với mong
muốn đưa đề tài nghiên cứu này áp dụng vào thực tiễn, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán ở trường THPT
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về việc ứng dụng CNTT trong dạy học, đề tài khai thác việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán ở trường THPT nhằm nâng cao hiệu quả dạy học chủ đề phép biến hình trong chương trình Hình học lớp 11 cũng như góp phần nâng cao chất lượng dạy
học môn Toán ở trường THPT
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán ở trường THPT
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Toán ở trường THPT
4 Giả thuyết khoa học
Nếu khai thác được một số ứng dụng của CNTT trong dạy học môn Toán qua dạy học chủ đề phép biến hình ở trường THPT thì có thể giúp HS học tập tích cực, chủ động và sáng tạo, giúp HS hiểu rõ bản chất của các kiến
Trang 13thức liên quan đến các phép biến hình, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán ở trường THPT
5 Nội dung và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc đổi mới PPDH, ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán ở trường THPT
- Xây dựng một số tình huống điển hình có ứng dụng CNTT trong dạy học và một số giáo án dạy học chủ đề phép biến hình
- TN sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong tổ chức dạy học môn Toán ở trường THPT
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu việc khai thác ứng dụng của CNTT trong dạy học chủ đề phép biến hình ở trường THPT
6 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước về giáo dục đào tạo, chương trình SGK đổi mới, định hướng đổi mới PPDH nói chung và dạy học toán phổ thông nói riêng
- Nghiên cứu CNTT và các phần mềm ứng dụng trong dạy học môn Toán
- Nghiên cứu nội dung chương I – Phép dời hình và phép đồng dạng trong mặt phẳng – SGK Hình học lớp 11
6.2 Phương pháp điều tra quan sát
- Dự giờ, trao đổi với thầy cô giáo tại trường đại học cũng như các trường phổ thông về việc tổ chức ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán
- Điều tra nhằm tìm hiểu thực tế khả năng ứng dụng CNTT trong môn Toán ở trường phổ thông
Trang 146.3 Phương pháp TN sư phạm
- Nhằm kiểm nghiệm trên thực tiễn một phần tính khả thi và hiệu quả của đề tài nghiên cứu
6.4 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý các kết quả điều tra và TN
7 Những đóng góp của luận văn
- Giới thiệu một số phần mềm có thể ứng dụng trong dạy học môn Toán đồng thời khai thác một số tình huống điển hình có ứng dụng CNTT trong dạy học phép biến hình trong chương trình Hình học 11
- Trình bày một số giáo án có khai thác ứng dụng của CNTT trong dạy học môn Toán qua chủ đề phép biến hình
8 Bố cục của luận văn
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chương 2: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA GIẢNG DẠY NỘI DUNG PHÉP BIẾN HÌNH
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu CNTT trong dạy học
1.1.1 Ở nước ngoài
Việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã được các nước trên thế giới áp dụng không lâu kể từ khi CNTT ra đời Cho đến ngày nay, CNTT đã nhanh chóng trở thành một phương tiện dạy học dạy học tích cực với nhiều thành tựu đáng kể
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO
dự báo: CNTT sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản và toàn diện, có
hệ thống và mang tính hội nhập cao vào đầu thế kỉ XXI Sự bùng nổ và phát triển về công nghệ giáo dục sẽ tạo ra những phương thức giáo dục phi truyền thống, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền giáo dục mang tính chuyển đổi sâu sắc vì con người (“dạy học cho mọi người và mỗi người”, “sự gia tăng tri thức và nhu cầu chia sẻ”, “tập trung hóa kiến thức và dịch chuyển năng lực”,
“các yếu tố bền vững, truyền thống và sự hội nhập trong không gian giáo dục”…) Quá trình này dẫn đến sự cần thiết phải nhìn nhận lại giá trị và ý nghĩa của việc dạy học (giáo dục nói chung) dưới góc độ mối quan hệ giữa sự phát triển của công nghệ và những thay đổi về bản chất của quá trình thực thi các chương trình giáo dục
Dựa trên kết quả nghiên cứu toàn quốc về ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường trung học ở Hà Lan, GS Wilfried Admiraal (Đại học Leiden, Hà Lan) chỉ ra mười yếu tố cần có để triển khai hiệu quả CNTT vào môi trường giáo dục bậc THPT Nghiên cứu này có thể sẽ là một nguồn tham khảo hữu ích trong bối cảnh GV và HS đều đang phải học cách để thay đổi kỹ năng dạy và học của chính mình nhất là trong tình hình của đại dịch Covid-
19 [24]
Trang 16Kunskapsskolan là một mô hình ‘trường tri thức’ của Thụy Điển Tại đây, các GV chia sẻ và cùng nhau xây dựng toàn bộ HĐ giảng dạy, học tập, đánh giá và tài liệu Trong một HĐ giảng dạy và thực hành bất kỳ chứa đựng
sự nỗ lực của rất nhiều thầy cô [24]
Từ lý thuyết đến TN, tất cả đều cho thấy rằng dạy học ứng dụng CNTT
sẽ giúp người học tích cực hơn trong việc trau dồi kiến thức – thông qua quá trình tích hợp thông tin và trải nghiệm mới vào nền tảng kiến thức sẵn có Trước diễn biến của đại dịch Covid-19 như hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong dạy học càng phát huy vai trò của nó Tại nhiều quốc gia trên thế giới,
GV đến trường hoặc ở nhà để dạy, còn HS tham dự các lớp học, thực hiện dự
án và hoàn thành bài tập tại nhà Nhưng không phải HS, sinh viên nào cũng
có khả năng truy cập công nghệ để tham dự lớp học, cũng như không phải ai trong các em cũng có một môi trường học tập an toàn tại nhà CNTT được áp dụng nhiều trong dạy học từ xa, học trực tuyến Nhiều phần mềm dạy học trực tuyến đã ra đời đáp ứng yêu cầu dạy học từ xa như phần mềm Hangout meet, Zoom, Trans,
Luận án tiến sĩ của Mohammed I.Isleem (2003), đại học Ohio( Hoa kỳ),
đã nghiên cứu sâu về mối tương quan của các yếu tố cơ bản với mức độ ứng dụng CNTT trong HĐ dạy học của GV ngành công nghệ giáo dục Luận án
đã nghiên cứu và chỉ ra mối tương quan giữa mức độ ứng dụng CNTT trong
HĐ dạy học với các yếu tố được lựa chọn Đồng thời tác giả Mohammed đã xây dựng bộ công cụ đo lường mức độ ứng dụng CNTT gồm 63 biến quan sát.[6]
Trong tác phẩm “Teacher ICT skill”, một nghiên cứu của Sở giáo dục Tây Úc (Western Australia) đã tiến hành khảo sát và đánh giá mức độ kiến thức, kỹ năng của GV trên địa bàn Western Australia về lĩnh vực ứng dụng CNTT và truyền thông phục vụ dạy học Tác giả đã nghiên cứu về các yếu tố tác động đến năng lực ứng dụng CNTT của GV cùng các yếu tố ảnh hưởng
Trang 17đến năng lực đó như: nguồn lực của nhà trường về CNTT, động lực của GV, chính sách và sự quan tâm của lãnh đạo,… [19]
Cùng với những nghiên cứu về mức độ ứng dụng CNTT trong HĐ dạy học, tác giả Nasera Jamil Al-Zaidiyeen, Leong Lai Mei và Fong Soon Fook (2010 đã khảo sát trên 650 GV ở Jordan và khẳng định có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa thái độ của GV đối với việc ứng dụng CNTT
và mức độ ứng dụng CNTT trong HĐ dạy học của họ.[19]
Nghiên cứu về ảnh hưởng của CNTT trong HĐ dạy và học, tác giả Schacter (1999) đã chứng minh tác động tích cực của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục bằng việc phân tích hơn 700 nghiên cứu về tác động của công nghệ giáo dục đến thành quả học tập của HS Từ đó nghiên cứu đã kết luận rằng HS được tiếp cận với công nghệ phục vụ giảng dạy và học tập đều có tác động tích cực đối với thành quả học tập Hiện nay, trên thế giới đã xuất
hiện một xu hướng học tập mới nữa đó là học tập di động (Mobile Learning,
M-Learning) dựa trên nền tảng phát triển của công nghệ và thiết bị di động (mobile devices) Như vậy, cơ sở để phân loại thành các hình thức học tập như trên mới chỉ căn cứ vào khía cạnh kỹ thuật [23]
Theo tài liệu “ CNTT và ứng dụng CNTT trong dạy học” nếu nhìn nhận CNTT là một phương tiện dạy học mới đặt trong mối quan hệ tương tác với các yếu tố người dạy và người học thì hiện nay trên thế giới đang có
3 hướng sử dụng phương tiện này: [22]
Hướng 1: CNTT là phương tiện của người GV Trong đó người GV
sử dụng CNTT phục vụ trực tiếp cho việc thiết kế và thể hiện bài giảng Hay nói theo cách khác đó là các “bài giảng điện tử” mà người GV soạn để lên lớp Phần mềm được sử dụng phổ biến nhất là Microsoft PowerPoint (gọi là
“bài giảng điện tử” hay bài dạy có sự hỗ trợ của CNTT);
Hướng 2: CNTT là phương tiện dạy và học của cả thày và trò Trong
đó, người GV sử dụng CNTT để thiết kế bài dạy và các tài liệu hỗ trợ học
Trang 18tập, đồng thời, HS sử dụng CNTT là phương tiện để “trả bài” cho GV (gọi là bài dạy tích hợp CNTT);
Hướng 3: Về hình thức, CNTT dường như chỉ là phương tiện của trò,
là “môi trường” học tập mới, môi trường học tập ảo (virtual learning environment) Trong đó, CNTT thay thế cho hình thức dạy học trực tiếp mặt giáp mặt giữa GV và HS CNTT trở thành môi trường chứa đựng thông tin
và tình huống nhận thức mà người học trở thành chủ thể HĐ trong môi trường đó
Có thể biểu diễn ba hướng ứng dụng CNTT trong dạy học qua sơ đồ 1.1 như sau [22]:
Hình 1.1 Ba hướng ứng dụng CNTT trong dạy học
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy việc nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong HĐDH được đặc biệt quan tâm
1.1.2 Ở trong nước
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu ứng dụng CNTT trong dạy học ở nước ta đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, tiêu biểu các
công trình:
Trang 19Bàn về ứng dụng của CNTT trong dạy học tích cực, tác giả Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn đã giới thiệu cách khai thác, sử dụng các tiện ích của
CNTT trong dạy học như là một PPDH tích cực qua tác phẩm “ Ứng dụng CNTT trong dạy học tích cực” (2008) Bằng cách khai thác thông tin, soạn
giáo án có ứng dụng CNTT, sử dụng máy tính để tổ chức các HĐ dạy theo hướng phát huy tính tích cực của người học, cuốn sách đã mang đến cho người đọc cái nhìn tổng quan về cách sử dụng hiệu quả giáo án có ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học tích cực Đây là công trình tương đối hoàn chỉnh về ứng dụng CNTT trong dạy học.[8]
Trong tác phẩm “ CNTT trong dạy học tích cực” (2010) các tác giả
Trần Nữ Mai Thi, Trần Thị Thái Hà đã khẳng định tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT không chỉ đơn thuần ở bản thân công cụ mà cả ở cách thức
GV và người học sử dụng các công cụ này để hỗ trợ việc dạy và học như thế nào Cuốn sách đã giới thiệu một cách ngắn gọn về các công cụ và cách thiết
kế hướng dẫn, cho thấy tác dụng của thiết kế hướng dẫn thúc đẩy công nghệ
đó Cuốn sách được sử dụng làm tài liệu tự học về CNTT cho dạy học tích cực và sử dụng cho các khóa học tập huấn cho GV về ứng dụng CNTT trong dạy học [20]
Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của tác giả Đào Thái Lai với
tên:“ Ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” (2006),
đây là một trong số các công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện
về ứng dụng CNTT trong dạy học Đề tài đề cập tới những định hướng ứng dụng CNTT trong dạy học ở phổ thông và các yếu tố CNTT cần ứng dụng trong dạy học ở phổ thông Đồng thời, tác giả đưa ra những phương pháp sử dụng cơ bản các yếu tố này trong dạy học và những định hướng cơ bản trong việc sử dụng phần mềm dạy học trong dạy học các bộ môn Ngoài ra, đề tài còn trình bày những hướng dẫn sử dụng phần mềm dạy học, nghiên cứu việc
sử dụng Internet trong dạy học [12]
Trang 20Ngoài ra, Việc ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm đổi mới PPDH ở trường phổ thông đã được nhiều nhà khoa học công bố trên các tạp chí khoa
học chuyên ngành, như bài viết “ Ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập hóa vô cơ” của tác giả Tú Sỹ Chương Bài viết đã đưa ra những kinh nghiệm
ứng dụng CNTT trong đổi mới giảng dạy bằng cách kết hợp giữa PPDH hiện đại với truyền thống [2]
Trong bài báo “ Ứng dụng CNTT hỗ trợ đổi mới PPDH” của tác giả
Đặng Thị Thu Thủy và Trần Đình Châu đã đề xuất một số vấn đề liên quan đến ứng dụng CNTT đổi mới PPDH [21] Ngoài ra, nói tới việc khai thác ứng dụng của CNTT nhằm tạo ra môi trường tương tác trong dạy học môn Toán,
tác giả Đỗ Thị Hồng Minh cùng cuốn sách “Khai thác ứng dụng CNTT trong dạy học tương tác môn Toán Hi ̀nh học lớp 11 THPT” mang đến cho bạn đọc
cái nhìn tổng quan về PPDH tương tác cũng như một số ứng dụng của CNTT trong dạy học Hình học lớp 11 ở trường THPT [13]
Thực tế cho thấy, việc ứng dụng CNTT trong thực tế dạy học ở Việt Nam đã đem lại kết quả đáng kể và những chuyển biến tích cực trong dạy học, nhất là về PPDH, đó thực sự là “một cuộc cách mạng công nghệ trong giáo dục”
1.1.3 Tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học hiện nay
CNTT là yếu tố quan trọng góp phần đổi mới nội dung và phương thức giáo dục - đào tạo nhất là trong tình hình của đại dịch Covid- 19 như hiện nay
Khi đi vào chi tiết sử dụng các yếu tố công nghệ trong dạy học thì hiện nay người ta phân ra nhiều hình thức học tập mới như:
- Học tập được trợ giúp bởi công nghệ (Technology Enhanced Learning);
- Học tập dựa vào công nghệ (Technology Based Learning);
- Dạy học với sự trợ giúp của máy tính (Computer-Assisted Instruction);
Trang 21- Đào tạo qua máy tính (Computer Based Training);
- Dạy học được quản lý trên máy tính (Computer Managed Instruction);
- Dạy học tương tác qua đa phương tiện (Interactive Multimedia Instruction);
- Hệ thống học tập tích hợp (Integrated Learning Systems);
- Đào tạo trên mạng (Web Based Training)
- Học tập điện tử (Electronic Learning, E-learning)
Sự phân biệt các hình thức này chỉ là tương đối và đôi khi có sự đan xen lẫn nhau giữa các hình thức E-learning theo nghĩa đơn giản nhất là học tập thông qua mạng, song hiện nay đã có rất nhiều “công nghệ” tham gia vào e-learning như: quay phim màn hình máy tính (Screencasts); hồ sơ tài liệu điện tử (ePortfolio); bảng thảo luận (discussion board); phần mềm chia sẻ, làm việc nhóm (collaborative software); thư điện tử (e-mail); trang viết cá nhân trên mạng (blog); các website mở (wiki); cho đến máy nghe nhạc MP3; đĩa CD-ROM Bình thường e- learning rất phù hợp với đào tạo từ xa nhưng hiện nay hình thức này cũng có thể dùng phối hợp với hình thức dạy học mặt giáp mặt (face to face teaching) và trong trường hợp này người ta gọi nó với
thuật ngữ mới là học tập hỗn hợp (blended learning) Học tập hỗn hợp là mô
hình của sự kết hợp giữa học tập truyền thống với giải pháp E- learning Hình thức e-learning đã thực hiện được “sứ mạng” mà nền giáo dục truyền thống khó mà làm được, đó là cung cấp cho người học khả năng học mọi nơi (anywhere), học mọi lúc (anytime), học mọi thứ (on anything), học một cách
mở và mềm dẻo suốt đời (open and flexible lifelong learning) Với những thành tựu của khoa học công nghệ, hình thức dạy và học sẽ còn tiếp tục tiến hóa [22]
Đánh giá theo các tiêu chí của UNESCO về các giai đoạn phát triển ứng dụng CNTT của GV và nhà trường, có thể thấy mức độ ứng dụng
Trang 22CNTT trong dạy học của nước ta hiện nay đang ở giai đoạn giữa biết và vận dụng Cụ thể trong 3 hướng ứng dụng mà chúng tôi nêu trên thì hướng (1) hiện đang là phổ biến nhất ở Việt Nam Điều này được thể hiện rõ qua các tư liệu: các đĩa VCD bài dạy mẫu cho SGK mới được Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành; các bài dạy được chia sẻ trên mạng giáo dục EduNet và cả các bài đạt giải “GV sáng tạo” do Microsoft Việt Nam tổ chức trong hai năm 2005,
2006 đều ứng dụng CNTT theo hướng xây dựng các bài dạy có sự hỗ trợ của CNTT Ngay cả phần mềm VIOLET của công ty Bạch Kim (Việt Nam) cũng được thiết kế để chủ yếu hỗ trợ bài dạy của GV theo hướng trình diễn Bên cạnh đó, qua thực tế chúng tôi giảng dạy, bồi dưỡng GV nhiều tỉnh thành trong nhiều năm qua hầu hết các GV đều quan tâm đến việc thiết kế
“bài giảng điện tử” Số liệu điều tra của Cơ quan đào tạo (Regional Training Agency) của Intel Việt Nam khi tiến hành đánh giá cuối khóa bồi dưỡng GV
về chương trình “Dạy học của Intel” năm 2006 cũng cho thấy: trung bình có 82,66% GV quan tâm đến dùng CNTT để thiết kế “bài giảng điện tử”, trong khi chỉ có 58,64% GV quan tâm đến khai thác mạng Internet Số liệu này được trình bày ở bảng 1.1 [22]
Bảng 1.1 Kết quả khảo sát của Intel Việt Nam về mong đợi của
GV trong việc bồi dưỡng ứng dụng CNTT trong dạy học
Mong đợi của GV trước khi
đến khóa bồi dưỡng
Địa phương (% GV) HCM Huế Nội Hà Đồng Lâm Trung
bình
Học về sử dụng Internet 45,00 62,26 64,81 62,50 58,64
Biết cách sử dụng CNTT vào soạn bài,
thiết kế bài giảng điện tử 70,00 73,58 98,15 88,89 82,66 Biết sử dụng 1 số phần mềm chuyên
Trang 23Các bài dạy ứng dụng CNTT theo hướng (1), bài dạy có sự hỗ trợ của CNTT, có các đặc điểm sau:
- Về hình thức: GV có thể thể hiện toàn bộ bài dạy bằng “bài giảng điện tử” hoặc một đoạn bài dạy với sự hỗ trợ của CNTT kết hợp với các phương tiện khác, nên bài dạy sinh động hơn
- Về nội dung: kiến thức được trực quan hóa bằng kênh hình (có thể kết hợp cả kênh tiếng) Nội dung minh họa có thể là các cơ chế, quá trình, các thí nghiệm…
- Về công nghệ: GV chủ yếu sử dụng phần mềm Microsoft PowerPoint để thiết kế bài dạy Người được “hưởng lợi” công nghệ trực tiếp là GV
- Đặc điểm chung: Bài dạy được nâng cao chất lượng hơn nhờ sự minh họa sinh động của công nghệ Hỗ trợ HS nhận thức các cơ chế, quá trình trừu tượng được tốt hơn Hay nói cách khác, GV đã bày được mâm cỗ hấp dẫn và dễ tiêu hóa hơn với HS nhờ sự hỗ trợ của CNTT
Sở dĩ ở Việt Nam, việc ứng dụng CNTT chủ yếu theo hướng (1) là do
cả yếu tố khách quan và chủ quan Yếu tố khách quan là hệ thống cơ sở hạ tầng ở nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu của hướng (2) và (3), đặc điểm phân phối chương trình chưa thuận lợi cho GV tổ chức, thực hiện bài dạy theo hướng này Yếu tố chủ quan là GV cũng chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng trong dạy học theo hướng (2) và (3) Trong khi hướng (1) thì GV có thể tận dụng cơ sở hạ tầng hiện có Dạy HS học cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó Cho nên, trong giai đoạn hiện nay, xác định các
kỹ năng sử dụng CNTT của GV Sinh học cũng cần tập trung theo hướng (1) này nhằm phù hợp với thực tiễn giảng dạy “Chương trình đào tạo GV phải phù hợp với tình hình sử dụng CNTT trong hệ thống trường phổ thông của một đất nước”
Trang 24Qua khảo sát tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán hiện nay tại trường THPT cho thấy kết quả như sau:
Bảng 1.2 Bảng khảo sát tình hình ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán hiện nay của GV THPT
1
Theo các thầy (cô) việc ứng
dụng cntt trong dạy học môn
Toán có cần thiết không?
Theo thầy (cô), ứng dụng CNTT
trong dạy học sẽ đem lại lợi ích
Trang 25sử dụng máy vi tính, các thiết bị CNTT được đánh giá là đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình soạn giáo án và giúp đổi mới PPDH Tuy nhiên, việc sử dụng CNTT trong HĐ đánh giá HS chưa nhiều 56,58% Bên cạnh
đó, khoảng 60% GV cho ý kiến rằng mình còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình ứng dụng CNTT như tuổi tác, trang thiết bị chưa đầy đủ, HS không theo kịp được tiến độ của bài học, dễ mất tập trung…
1.2 Công nghệ thông tin trong dạy học môn toán
1.2.1 Khái niệm về công nghệ thông tin
Thuật ngữ CNTT (information technology - IT) xuất hiện khoảng những năm 70 của thế kỷ XX Thuật ngữ này thực chất gắn liền với sự phát triển của máy vi tính (computer), thiết bị manh nha ra đời từ thời chiến tranh thế giới thứ II
Chúng tôi đồng quan điểm với khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết chính Phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993 :
“ Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội ” [16]
Qua các định nghĩa về CNTT, có thể rút ra một số nhận xét sau về nội hàm của khái niệm CNTT:
- Về gốc của khái niệm, người ta ra đi từ khái niệm “công nghệ”, một khái niệm có nhiều nghĩa Nên tùy theo ngữ cảnh, công nghệ có thể được hiểu
là công cụ, máy móc hay là phương pháp, quy trình giải quyết vấn đề Ở đây chúng tôi hiểu “công nghệ” theo nghĩa là công cụ, phương tiện kỹ thuật
- Về phương tiện chủ yếu: gồm máy vi tính, phần mềm máy vi tính
- Về đối tượng xử lý: là thông tin ở dạng tín hiệu số
1.2.2 Vai trò của CNTT trong dạy học
Trang 26Sự ra đời của CNTT là sự tích hợp đồng thời các tiến bộ về công nghệ
và tổ chức thông tin, đem đến nhiều ảnh hưởng tích cực cho sự phát triển của giáo dục
CNTT và đặc biệt là sự phát triển của internet mở ra một kho kiến thức
vô cùng đa dạng và phong phú cho người học và người dạy, giúp cho việc tìm hiểu kiến thức đơn giản hơn rất nhiều, cải thiện chất lượng học và dạy
Thực tế qua việc giảng dạy cho thấy rằng các bài giảng khi sử dụng CNTT sẽ sinh động và hấp dẫn hơn rất nhiều so với bài giảng không sử dụng CNTT Mỗi một giờ học được áp dụng CNTT như vậy sẽ tích cực hóa được
HĐ nhận thức của học sinh, thu hút được sự chú ý xây dựng bài, dễ dàng lĩnh hội tri thức mới Lúc này, học sinh thật sự là chủ thể hóa của HĐ nhận thức, được đặt vào những tình huống cụ thể của đời sống, trực tiếp quan sát, thảo luận, thí nghiệm… tìm hiểu vấn đề một cách trực quan hơn để giải quyết các vấn đề đó theo cách của riêng mình Từ đó nắm bắt được kiến thức mới và phương pháp “làm ra kiến thức mới” đó mà không theo những khuông mẫu
Nếu như trước đây, việc tiếp thu kiến thức được cung cấp từ sách vở và
GV thì hiện nay, nguồn kiến thức đa dạng này được cung cấp trực tuyến qua
Trang 27kết nối internet Người thầy chủ yếu là người truyền thu kiến thức Điều này đóng một vai trò to lớn trong quá trình đổi mới giáo dục
Công nghệ thông tin tạo điều kiện cho người học có thể học tập và tiếp thu kiến thức một cách linh động và thuận tiện Mọi người có thể tự học ở mọi lúc, mọi nơi, có thể tham gia thảo luận một vấn đề mà mỗi người đang ở cách xa nhau, góp phần tạo ra xa hội học tập mà ở đó, người học có thể học tập suốt đời
Không những thế, một giờ học có ứng dụng CNTT sẽ tăng cường việc học tập và lĩnh hội tri thức theo từng cá thể, phối hợp với học tập tương tác nhóm và giúp hoàn thiện tốt hơn kỹ năng sử dụng máy tính cho học sinh Trong một lớp học, trình độ và khả năng tư duy của học sinh là không đồng đều, khi sử dụng CNTT trong dạy học sẽ làm tăng cường cá thể hóa trong học
tập và sự hợp tác giữa các cá nhân: Thầy – trò, trò – trò, giúp thuận tiện hơn
trên con đường chiếm lĩnh kiến thức Với phương tiện là máy tính, máy chiếu người học có thể thực hiện các “thao tác của tư duy” ngay trong tiết học, và được phản hồi gần như ngay tức khắc việc khẳng định đúng hay sai, làm lại hay lựa chọn tiếp một cách chính xác và công bằng Điều này càng gây hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập và đương nhiên việc học sinh tự tìm
ra tri thức sẽ nâng cao hơn chất lượng và hiệu quả của giờ dạy
Bên cạnh đó, với sự thuận tiện cho việc học ở mọi lúc mọi nơi, CNTT
sẽ tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn những vấn đề mà mình ưa thích, phù hợp với năng khiếu của mỗi người, từ đó mà phát triển theo thế mạnh của từng người do cấu tạo khác nhau của các tiểu vùng vỏ não Chính điều đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của các tài năng
Đối với môn Toán ở trường THPT, đây là môn khoa học có tính trừu tượng cao, bởi vậy việc khai thác sử dụng CNTT đặc biệt là các phần mềm trong dạy học môn Toán có những đặc thù riêng Ngoài mục tiêu trợ giúp tạo
ra môi trường tương tác giúp HS chiếm lĩnh kiến thức thì vấn đề phát triển tư
Trang 28duy toán học, óc suy luận logic, trí tưởng tượng phong phú sáng tạo và đặc biệt là kích thích sự đam mê và khả năng tự tìm tòi chiếm lĩnh kiến thức là một mục tiêu rất quan trọng Việc tổ chức dạy học với sự hỗ trợ của CNTT có các đặc tính cơ bản sau:
- CNTT đã tạo ra một môi trường học tập hoàn toàn mới, môi trường dạy
và học linh hoạt, có tính mở cho phép đa dạng hóa mối quan hệ tương tác hai chiều giữa thầy và trò, tạo điều kiện phát triển tính chủ động, sáng tạo của HS Người học có điều kiện phát huy khả năng phân tích, suy đoán và xử lý thông tin một cách hiệu quả
- CNTT giúp GV sử dụng các phần mềm hỗ trợ soạn giảng để tạo bài giảng điện tử như MS Powerpoint, Violet, Spring Presenter,…
- GV và HS có thể sử dụng diễn đàn, email như một phương tiện để giao lưu, trao đổi kinh nghiệm học tập Và cao hơn, với E-Learning, HĐ dạy và học ngày nay được diễn ra mọi lúc, mọi nơi Trên lớp, ở nhà, ngay tại góc học tập của mình HS vẫn có thể nghe thầy cô giảng, vẫn được giao bài và được hướng dẫn làm bài tập, vẫn có thể nộp bài và trình bày ý kiến của mình
- CNTT hỗ trợ việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập, hỗ trợ làm đề thi, kiểm tra của HS một cách thuận tiện và khách quan bằng cách sử dụng các phần mềm và máy tính điện tử như McMix, Quest, MS Excel, Moodle,….[13] Nhờ phần mềm dạy học này mà HS trung bình, HS yếu cũng sẽ nối dài cánh tay của GV tới từng gia đình HS thông qua hệ thống mạng, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy truyền thống Tuy nhiên, để CNTT
hỗ trợ một cách hiệu quả trong dạy học, thì khi sử dụng cần đảm bảo nguyên tắc an toàn, đúng lúc, đúng chỗ, đủ cường độ, phù hợp với nội dung chương trình, PPDH mới và khả năng lĩnh hội của người học
Trang 291.2.3 Một số phần mềm thường được sử dụng trong dạy học môn Toán ở trường Trung học phổ thông
Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phần mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể như: bộ Office, Cabri, Crocodile, Sketchpad, Geomaster Sketchpad, Maple, LessonEditor, Violet… Và các phần mềm đóng goi tiện ích khác Sau đây, tác giả xin giới thiệu một số phần mềm có thể sử dụng trong dạy học, đặc biệt trong môn Toán:
1.2.3.1 Phần mềm tạo các bài thực hành luyện tập (Violet)
- Violet là phần mềm giúp GV tự soạn được các bài giảng điện tử sinh động hấp dẫn, hỗ trợ việc trình chiếu trên lớp và giảng dạy E-learning qua mạng của GV, giao diện tiếng Việt, dễ sử dụng Violet còn có thể chạy được
cả trong Powerpoint dưới dạng Add-in
Hình 1.2 Giao diện của phần mềm Violet
- Violet còn có một kho đa dạng các loại tư liệu tranh ảnh, âm thanh, video, flash, văn bản, công thức, cho phép tạo các hiệu ứng hình ảnh, hiệu ứng
chuyển động, tạo các siêu liên kết, v.v
Trang 30Hình 1.3 Giao diện thư viện tư liệu SGK
- Violet hỗ trợ truy cập Hệ thống Thư viện với 6000 bài giảng mẫu đầy
đủ, đa dạng, đang được cập nhật dần theo chương trình học, GV có thể mở bất
cứ bài nào và chỉnh sửa theo ý mình dễ dàng Hệ thống tư liệu dạy học phong phú (20.000 tư liệu) giúp GV tạo ra các bài giảng sinh động và giàu kiến thức
- Tích hợp công cụ tìm kiếm Google và YouTube để tìm kiếm các tư liệu tranh ảnh và phim, người dùng sẽ sử dụng như một chức năng của Violet rất nhanh chóng và thuận tiện
- Có sẵn rất nhiều mẫu bài tập thường dùng trong SGK như: trắ c nghiệm, ghép đôi, ô chữ, kéo thả, điền khuyết, xếp chữ, Ngoài việc nhập nội dung, người dùng còn có thể thay đổi giao diện và các biểu tượng của các module bài tập rất dễ dàng
- Cho phép tạo các game giáo dục hấp dẫn như trong Violympic, IOE và các game show truyền hình như: “Ai là triệu phú”, “Rung chuông vàng”,
“Đuổi hình bắt chữ”,… trong đó nội dung sẽ do GV đưa vào hoặc tự động chọn từ ngân hàng câu hỏi có sẵn
- Cung cấp nhiều mẫu giao diện bài giảng phong phú, sinh động
Ví dụ mẫu giao diện hình quyển sách với hiệu ứng lật trang sách
Trang 31Hình 1.4 Giao diện hiệu ứng lật trang sách của phần mềm Violet
- Rất nhiều các module chuyên dụng cho từng môn học hoặc cho từng mục đích như: Vẽ đồ thị, Vẽ hình Sketchad, Thiết kế mạch điện, Lập trình mô phỏng, Vẽ bản đồ tư duy Mindmap
- Kết hợp dễ dàng với các phần mềm khác như: Sketchpad, Photoshop, Corel Draw, Word, Excel, Ví dụ GV có thể vẽ hình bằng Sketchpad rồi đưa vào Violet, tạo các Word Art hoặc Chart trong Word và Excel và cắt dán vào Violet
- Cho phép đóng gói ra file EXE chạy đô ̣c lâ ̣p, hoă ̣c ra trang web chạy trên Internet Các bài giảng đã đóng gói đặc biệt hỗ trợ rất tốt các thiết bị như bảng tương tác hay bút lật trang Ngoài ra Violet còn cho phép đóng gói ra chuẩn SCORM để đưa lên các hệ thống LMS
- Violet cung cấp sẵn nhiều mẫu bài tập chuẩn thường được sử dụng trong các SGK và sách bài tập như: Bài tập dạng ô chữ, bài tập trắc nghiệm, gồm có các loại: một đáp án đúng, nhiều đáp án đúng, ghép đôi, chọn đúng sai, v.v…; Bài tập kéo thả chữ / kéo thả hình ảnh: Bài tập này còn có thể thể hiện dưới dạng bài tập điền khuyết hoặc ẩn/hiện
Ví dụ 1.1: Sau khi học xong bài “ Phép tịnh tiến” GV thiết kế bài tập
trắc nghiệm dưới dạng trò chơi “Đua xe” như sau: GV chia lớp thành 4 đội chơi, mỗi đội cùng suy nghĩ câu trả lời (mỗi chướng ngại vật là một câu hỏi
Trang 32về nội dung bài học), sau đó cử đại diện tham gia trò chơi, nếu trả lời sai, đội chơi mất lượt và dành quyền trả lời cho Đội khác
Hình 1.5 Sử dụng phần mềm Violet tạo trò chơi “ Đua xe”
Trang 331.2.3.2 Phần mềm vẽ bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy (Mindmap) là một phương thức sử dụng sơ đồ hình vẽ để diễn đạt một hệ thống kiến thức, công việc, content, ý tưởng nhất định Phần mềm vẽ bản đồ tư duy có rất nhiều loại, điển hình là các phần mềm sau:
a) Edraw Mind Map
Đây là phần mềm vẽ sơ đồ tư duy miễn phí Edraw Mind Map có những công cụ và ví dụ được tích hợp sẵn giúp cho phần mềm rất dễ sử dụng Edraw Mind Map có những tính năng nhúng khác nhau như: smart drawing guide tạo ra công cụ vẽ thật đơn giản, cho phép tích hợp chủ đề, với các hiệu ứng, kiểu dáng sinh động Ngoài ra Edraw Mind Map còn tự động căn chỉnh, tương thích với MS office, hỗ trợ cho sơ đồ có kích thước lớn và nhiều trang,
dễ dàng chia sẻ và rất nhiều tính năng khác
Hình 1.6 Giao diện phần mềm vẽ bản đồ tư duy Edraw Mind Map
Sử dụng Edraw Mind Map giúp GV có thể tạo ra các ý tưởng một cách trực quan trên máy tính và tổ chức công việc dễ dàng, giúp HS hệ thống một cách đầy đủ kiến thức trọng tâm của bài
b) IMindMap
Trang 34IMindMap được biết đến là phần mềm tạo sơ đồ tư duy Phần mềm này giúp hỗ trợ học tập cho các bé, phát huy tính tích cực trong tư duy trí não của trẻ em và đưa ra các ý tưởng và sắp xếp chúng dưới dạng một sơ đồ tư duy
Hình 1.7 Giao diện phần mềm vẽ bản đồ tư duy Iminmap
IMindMap có những tính năng chính như: sử dụng những hình ảnh cần thiết, tạo hình ảnh, nội dung tổng quát, sử dụng các màu sắc để làm nổi bật vấn đề, vẽ sơ đồ nhanh chóng và dễ dàng
Tuy nhiên, hầu hết các phần mềm vẽ bản đồ tư duy đều không đánh được các kí tự toán học và không xuất được ra file word
Ví dụ 1.2: Sử dụng phần mềm Iminmap hệ thống kiến thức trong bài ôn
tập chương
Hình 1.8 Sử dụng phần mềm Imindmap tạo bản đồ tư duy hệ thống kiến thức
Trang 351.2.3.3 Phần mềm tạo mô phỏng (Sketchpad)
Geometer's sketchpad là phần mềm dạy và học Toán rất nổi tiếng trên thế giới, dùng để mô phỏng hình học, chương trình có nhiều chức năng nổi trội hơn so với các phần mềm toán cùng loại như: hiệu ứng trình chiếu, hiệu ứng hoạt hình, hiệu ứng âm thanh, phép lặp, các phép biến hình, vẽ đồ thị hàm số và đặc biệt là hàm số dưới dạng tham số
Geometer's Sketchpad là phần mềm các công cụ vẽ hình cổ điển của hình học Euclid đó thước kẻ và com-pa, từ đó hình thành nên các công cụ dựng hình cơ bản của Hình học như: Vẽ một góc bằng góc đã cho trước, vẽ tia phân giác của góc bằng cách lấy trung điểm của đoạn thẳng, vẽ đường thẳng đi qua một điểm, vuông góc hoặc song song với một đường thẳng đã cho trước Ngoài ra, phần mềm cho phép đo độ dài của các đoạn thẳng, đo góc, diện tích hay bán kính của hình tròn… và tính toán, từ đó lập bảng thống kê với các con số đã đo; đặc biệt hơn phần mềm thực hiện các phép biến hình như phép quay, tịnh tiến, vị tự… Geometer's Sketchpad có tính năng quan trọng là cho chạy điểm, vẽ và xem quỹ tích của hình
Tóm lại Geometer’s Sketchpad là một công cụ rất hay để tạo ra các bài giảng môn Hình học và Đại số, tạo ra các "sách hình học điện tử" rất độc đáo
từ đó giúp cho các em HS tiếp thu bài tốt, dễ hiểu và hào hứng hơn Phầm mềm đã biên soạn sẵn rất nhiều các mẫu hình học dùng cho việc giảng dạy của GV cho các khối lớp…
Tuy nhiên Sketchpad phiên bản chưa đăng ký không cho phép người dùng sử dụng các tính năng in hay lưu bản thiết kế, sao chép hay dán các nội dung trong bản thiết kế đó
Ví dụ 1.3: Trong dạy học tiết bài tập ứng dụng về phép tịnh tiến, GV có
thể sử dụng phần mềm Sketchpad tạo hình ảnh động giúp HS quan sát quỹ đạo của 1 điểm chuyển động khi thay đổi các yếu tố trong bài toán như sau:
Trang 36Bài toán: Cho hai điểm B, C cố định trên đường tròn (O,R) và điểm A
thay đổi trên đường tròn đó Chứng minh rằng trực tâm của tam giác ABC nằm trên một đường tròn cố định
- GV ấn nút “ShowBT1” để hiện bài toán, ấn nút “Hide các đối tượng”
để hiện các đối tượng của bài toán, ấn nút “ Thay doi A” để HS quan sát sự thay đổi của điểm A trên đường tròn (O) và vết của điểm trực tâm H vạch ra đường tròn (O’) là ảnh của (O) qua phép tịnh tiến theo OO ', qua đó giúp HS
dễ dàng hình dung trực tâm tam giác ABC luôn nằm trên một đường tròn cố định, khi đó các em sẽ dễ tìm cách chứng minh bài toán hơn
Hình 1.9 Sử dụng phần mềm Geometer's Sketchpad trong
dạy học giải bài tập về phép tịnh tiến
1.2.3.4 Phần mềm dạy học trực tuyến
a) Phần mềm Zoom cloud meeting
Khi mà dịch COVID-19 vẫn còn căng thẳng thì họp hành, thậm chí tổ chức lớp học online qua Zoom là giải pháp rất tốt đã được nhiều trường phổ thông sử dụng để dạy học trực tuyến
Zoom được thành lập vào năm 2011 bởi Eric Yuan, kỹ sư trưởng của Cisco Systems và đơn vị kinh doanh hợp tác WebEx Dịch vụ này bắt đầu HĐ
Trang 37vào tháng 1 năm 2013 và đến nay đã ghi nhận đến hơn 65 triệu tổ chức và cá nhân tham gia
Hình 1.10 Giao diện phần mềm Zoom cloud meeting
Zoom là công cụ truyền hình hội nghị với nền tảng điện toán đám mây,
đi kèm với rất nhiều tính năng độc đáo, hỗ trợ nhiều hệ điều hành như Windows, Mac, Linux, Chrome, iOS, Android, Blackberry
Zoom là một công cụ hội thoại trực tuyến, gần giống như Skype nhưng bạn không cần phải vào các nhóm chat mới gọi điện được nên dễ dùng hơn Tất cả những gì bạn cần là một đường link zoom hoặc một mã Zoom ID để tham gia vào cuộc họp online Phần mềm này có thể kết nối được hàng trăm thành viên, hình ảnh và chất lượng âm thanh tốt, GV có thể gửi file và hình ảnh của bài tập qua màn hình một cách dễ dàng Vào năm 2020, tỉ lệ sử dụng Zoom đã tăng 67% từ đầu năm đến giữa tháng 3 khi các trường học và công
ty áp dụng nền tảng cho công việc từ xa để đối phó với đại dịch virus corona 2019-2020 Kể từ khi đại dịch gia tăng, hàng ngàn tổ chức giáo dục đã chuyển sang các lớp học trực tuyến bằng cách sử dụng Zoom Zoom cũng trở thành một nền tảng xã hội phổ biến trong quá trình xảy ra đại dịch
Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm của Zoom, đôi khi phần mềm vẫn xảy ra một số lỗi về âm thanh, video, đường truyền khi số người học quá tải…
Trang 38b) Phần mềm dạy học Tranparent Solution
Hình 1.11 Giao diện phần mềm Transparent solution
Trong thời điểm dịch Covid 19 diễn ra, nhiều đơn vị công nghệ của Việt Nam nỗ lực nghiên cứu ra các giải pháp để giải quyết nhu cầu đời sống Họp
và dạy học trực tuyến theo mô hình hiện đại và linh hoạt là mục tiêu mà TranS hướng đến để hỗ trợ hiệu quả cho các trường học trong thời điểm hiện nay
TranS là phần mềm họp và học trực tuyến tương tự như với Zoom hay các ph
ần mềm cao cấp khác Sử dụng công nghệ nén độc quyền của Zoom cho nên TranS cho chất lượng tương đương phần mềm này, tuy nhiên tính bảo mật cao hơn nhờ việc mã hóa đường truyền dẫn và hệ thống máy chủ độc lập đặt tại Việt Nam Chất lượng của TranS thậm chí cao hơn Zoom nếu sử dụng chỉ ở Việt Nam vì hệ thống máy chủ đặt trong nước có thể tránh hiện tượng “nghẽn
cổ chai” vì không phải đi qua đường internet quốc tế (đang bị đứt cáp quang) TranS hỗ trợ độ phân giải HD và âm thanh rõ ràng tới 300 điểm đồng thời trong 1 phòng và 49 video trên một màn hình, người dùng có thể đăng nhập ở bất kỳ đâu, bất kỳ thiết bị nào có kết nối internet
TranS sử dụng công nghệ điện toán đám mây, máy chủ sẽ được nhân bản khi số lượng người dùng tăng Công cụ này cũng có khả năng tự sửa lỗi
Trang 39đường truyền, tự động hiệu chỉnh độ phân giải video phù hợp với tốc độ đường truyền của điểm cầu đó Người dùng có thể sử dụng mọi lúc, mọi nơi
mà chất lượng âm thanh rõ ràng, hình ảnh mượt bởi thuật toán xử lý nén và truyền dẫn tín hiệu tốt nhất hiện nay
Tiện ích của TranS bao gồm: Trình chiếu tài liệu, chat, chia sẻ file, ghi hình, bảng trắng… Đối với các thầy cô, công cụ này giúp dễ dàng trong việc mang tới giao diện dạy học, tạo phòng học online, quản trị người học, điểm danh, đăng ký phát biểu và giám sát độ tập trung của người học Người dùng chỉ cần cài đặt ứng dụng TranS để được trải nghiệm những tiện ích trên Tuy nhiên phần mềm TranS vẫn chưa thể mang đến một trải nghiệm hoàn hảo cho người dùng dạy và HS Khi mà người dùng đang sử dụng có thể đôi lúc sẽ bị lỗi, hoặc không thể truy cập vào lớp do gõ sai mã lớp…
1.2.3.5 Phần mềm trộn đề thi trắc nghiệm McMIX
McMIX là phần mềm hỗ trợ GV trong việc trộn một đề thi trắc nghiệm
có sẵn mà không phải là phần mềm quản lý ngân hàng câu hỏi Đây là phần mềm hoàn toàn miễn phí không giới hạn thời gian sử dụng, không giới hạn số lượng môn thi, đề thi và số lượng câu hỏi
Hình 1.12 Giao diện phần mềm McMIX
McMIX cho phép người dùng soạn sẵn đề thi trên Word một cách tự nhiên và nhập vào McMIX chỉ bằng thao tác rất đơn giản (copy và paste) Rất
Trang 40thuận tiện ngay cho cả những người dùng không thành thục sử dụng phần mềm Nhiệm vụ chính của phần mềm này là tạo ra các đề thi khác nhau từ việc hoán vị thứ tự các câu hỏi và cả các lựa chọn từ một bộ đề thi gốc, sử dụng được cho mọi môn thi trắc nghiệm ở mọi cấp độ học thông qua việc soạn đề tự nhiên bằng Word với mẫu đơn giản
Người dùng có thể nhập toàn bộ đề thi với nhiều câu hỏi trong một lần vào phần mềm từ file word sẵn có (hoặc có thể nhập từng câu hỏi từ phần mềm) Bởi vậy, người dùng có thể in đề thi hoán vị rất nhanh chỉ sau một vài thao tác rất đơn giản McMIX quản lý trên cơ sở dữ liệu cho toàn bộ các kỳ thi, các môn thi và đề thi để có thể truy cứu lại dữ liệu cũ ở bất cứ khi nào Phần mềm dùng mọi loại font có tiếng Việt (Unicode, VNI, ABC …), đặc biệt
là có hỗ trợ các đề thi tiếng nước ngoài (Nga, Pháp, Trung …) Bên cạnh đó
nó cũng bảo toàn định dạng đề gốc với tất cả các format văn bản, hình ảnh, công thức…Người dùng có thể thêm các tiêu đề, chân trang (header, footer)
và chương trình bố trí đề thi một cách mỹ thuật để các đề thi hoán vị có thể sử dụng ngay sau khi tạo mà không cần sửa đổi gì thêm Sau khi tạo đề xong, có thể in ra file word để có thể sửa chữa (nếu cần thiết)
Phần mềm có phần tự chọn giống đề thi phân ban và không phân ban, hoặc chia đề thi thành nhiều nhóm, có lời dẫn cho từng nhóm và chỉ hoán vị trong từng nhóm Ngoài ra, phần mềm không giới hạn số lượng đề thi hoán vị,
tự động sinh mã đề hoán vị một cách thông minh Người dùng chỉ cần nhập đáp án để có thể chấm tự động hoặc chấm thủ công, trích xuất các đề thi gốc, dùng cho mục đích trao đổi đề thi với nhau giữa những người sử dụng
Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm, phần mềm Mcmix còn nhiều lỗi, không hỗ trợ xuất file PDF, không hỗ trợ chấm thi tự động, và không hỗ trợ quản lý ngân hàng câu hỏi
Ví dụ 1.4 : GV sử dụng phần mềm Mcmix từ 30 câu hỏi trộn đề thành 4
bộ đề, mỗi bộ có 20 câu hỏi như sau :