1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Bồi dưỡng phát triển kĩ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi cho giáo viên dạy tiếng Việt ở trường tiểu học

130 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 759,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG ĐỒNG THỊ LAN BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI CHO GIÁO VIÊN TRONG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN TRÀO QUẬN LÊ CHÂN LUẬN VĂN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

ĐỒNG THỊ LAN

BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG THIẾT KẾ

VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI CHO GIÁO VIÊN TRONG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

TÂN TRÀO QUẬN LÊ CHÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HẢI PHÒNG – 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

ĐỒNG THỊ LAN

BỒI DƯỠNG PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG THIẾT KẾ

VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI CHO GIÁO VIÊN TRONG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

TÂN TRÀO QUẬN LÊ CHÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC TIỂU HỌC

MÃ SỐ: 8 14 01 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Hiên

HẢI PHÒNG - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hải Phòng, ngày 8 tháng 10 năm 2020

Tác giả

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ quý báu các thầy cô giáo Trường Đại học Hải Phòng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

và làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Nguyễn Thị Hiên -

người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn, trở ngại trên con đường nghiên cứu khoa học

Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục tiểu học, Phòng quản lý sau Đại học, Trường Đại học Hải Phòng đã luôn tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, cung cấp tài liệu và thông tin cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân – Thành phố Hải Phòng đã ủng hộ, cộng tác và giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, đánh giá và tổ chức thực nghiệm các nội dung có liên quan đến luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Phòng

GD&ĐT quận Lê Chân, Ban giám hiệu Trường Tiểu học Tân Trào cùng bạn

bè, đồng nghiệp và gia đình đã luôn động viên, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Do sự hạn chế về thời gian nghiên cứu nên luận văn có thể có nhiều thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của các thầy, các cô và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hải Phòng, ngày 8 tháng 10 năm 2020

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 10

1.1 Cơ sở lí luận 10

1.1.1 Một số vấn đề về công tác bồi dưỡng, phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên ở trường tiểu học 10

1.1.2 Bồi dưỡng phát triển kĩ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi cho giáo viên tiểu học 18

1.2 Cơ sở thực tiễn 29

1.2.1 Khái quát về các trường Tiểu học quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng 29

1.2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học trong quận 29

1.2.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên ở các trường tiểu học quận Lê Chân 31

1.2.4 Đặc điểm tình hình của trường tiểu học Tân Trào, quận Lê Chân 31

1.2.5 Thực trạng công tác bồi dưỡng giáo viên hiện nay 32

1.2.6 Các yếu tố tác động đến thực trạng 43

Tiểu kết chương 1 44

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI TRONG DẠY TIẾNG VIỆT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 46

2.1 Nguyên tắc đề xuất 46

2.1.1 Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn 46

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 46

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và tính giáo dục 47

2.1.4 Nguyên tắc bảo đảm tính hiệu quả 48

Trang 6

2.2 Một số biện pháp triển khai việc bồi dưỡng phát triển kĩ năng thiết kế và

sử dụng câu hỏi trong dạy học tiếng Việt 49

2.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ, giáo viên 49

2.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng tài liệu, nội dung và kế hoạch tổ chức bồi dưỡng phát triển kĩ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi trong dạy học tiếng Việt 51

2.2.3 Biện pháp 3: Triển khai công tác bồi dưỡng theo hướng đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng, chú trọng nội dung dạy mẫu, làm mẫu và thực hành kĩ năng đặt câu hỏi trong từng phân môn tiếng Việt trong quá trình bồi dưỡng 75

2.2.4 Biện pháp 4: Tạo môi trường thuận lợi giúp giáo viên có điều kiện để vận dụng, trải nghiệm, thực hành các các kĩ thuật thiết kế và sử dụng câu hỏi đã được bồi dưỡng 79

2.2.5 Biện pháp 5: Chú trọng và đổi mới cách đánh giá hoạt động tự học, tự bồi dưỡng rèn luyện phát triển kĩ năng, nghiệp vụ sư phạm của giáo viên 81

2.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 83

Tiểu kết chương 2 83

CHƯƠNG 3:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85

3.1 Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm sư phạm 85

3.2 Đối tượng, thời gian thực nghiệm 85

3.2.1 Đối tượng 85

3.2.2 Thời gian 85

3.3 Điều kiện triển khai thực nghiệm 85

3.3.1 Về cơ sở vật chất 85

3.3.2 Về cơ sở pháp lý 85

3.4 Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp 85

3.4.1 Mục đích 85

3.4.2 Nội dung và cách thực hiện 85

3.5 Nội dung chương trình thưc nghiệm 87

Trang 7

3.6 Quy trình thực nghiệm 88

3.7 Các phương pháp đánh giá 89

3.8 Kết quả thực nghiệm 89

3.8.1 Về mặt định tính 89

3.8.2 Về mặt định lượng 91

3.9 Điều tra bảng hỏi 93

3.10 Đánh giá chung về kết quả thực nghiệm 95

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Số hiệu

1.1 Đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học quận Lê Chân

1.2 Thống kê trình độ, độ tuổi của đội ngũ cán bộ giáo viên 31

1.4

Khảo sát nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của

việc thiết kế và sử dụng câu hỏi trong dạy học nói chung và

môn tiếng Việt nói riêng

37

1.5 Khảo sát việc giáo viên thực hiện thiết kế và sử dụng câu

1.6 Khảo sát việc bồi dưỡng, học tập các chuyên đề về thiết kế

1.7 Khảo sát nhu cầu tập huấn bồi dưỡng thiết kế và sử dụng

câu hỏi trong dạy học tiếng Việt của giáo viên 39

1.8 Khảo sát việc nhận thức của giáo viên về các loại câu hỏi khi sử dụng trong quá trình soạn giáo án và giảng dạy trên

3.3 Khảo sát lớp 4, sau khi thực nghiệm tiết Tập làm văn, bài

3.4 Khảo sát lớp 5 sau khi thực nghiệm tiết Luyện từ và câu,

3.5 Khảo sát lớp 3 trước và sau khi thực nghiệm tiết Tập đọc bài

3.6 Khảo sát học sinh về mức độ đánh giá câu hỏi của giáo

3 1 Biểu đồ khảo sát mức độ cảm nhận của học sinh về giờ dạy

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học là bậc học nền tảng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản khác để tiếp tục học lên các bậc học tiếp theo Đội ngũ giáo viên chính là lực lượng nòng cốt giữ vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục học sinh Muốn trò học tốt cần phải có người thầy giỏi, nắm vững về nghiệp vụ, chuyên môn, có kiến thức sâu rộng, hiểu biết về tâm lý học sinh, để từ đó lựa chọn hình thức, phương pháp phù hợp để tổ chức các họat động học tập cho các em nhằm giúp các em chủ động học tập tích cực và lĩnh hội được kiến thức Chính vì thế, vấn đề cần thiết mà mỗi nhà trường cần phải thực hiện đó là bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho đội ngũ giáo viên

Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này, cần phải đẩy mạnh việc quản lý họat động chuyên môn trong nhà trường, tăng cường bồi dưỡng năng lực chuyên môn, bồi dưỡng các kĩ năng, kĩ thuật dạy học hiện đại để đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ chuyên môn đề ra, góp phần giúp giáo viên giải quyết được những khó khăn vướng mắc, lúng túng trong quá trình dạy học

Ở trường phổ thông nói chung, trường Tiểu học nói riêng môn tiếng Việt

có một vị trí rất quan trọng bởi môn học này là điều kiện giúp học sinh học tốt các môn học khác Bộ môn tiếng Việt này được coi là một môn khoa học, có tác dụng là công cụ, là phương tiện giúp người học lĩnh hội tri thức, rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo và phát triển tư duy Trong trường Tiểu học môn Tiếng Việt bao gồm có các phân môn: Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện

từ và câu, Tập làm văn, Kể chuyện Để dạy tốt các phân môn này đòi hỏi người giáo viên phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học, trau dồi các kĩ năng dạy học để giờ dạy đạt hiệu quả, tạo hứng thú học tập cho học sinh

1.2 Bên cạnh rất nhiều kĩ năng nghiệp vụ sư phạm, kĩ năng sử dụng câu hỏi

là một trong những kĩ năng quan trọng của giáo viên trong quá trình dạy học, góp phần không nhỏ vào thành công của giờ học

Trang 10

Đối với môn tiếng Việt- điều này càng được thể hiện rõ Để giúp học sinh đi tới tri thức cần thiết đòi hỏi người giáo viên không chỉ nắm chắc kiến thức mà còn phải biết cách thiết kế, tổ chức và sử dụng các hoạt động dạy học trong đó có việc thiết kế, sử dụng câu hỏi dạy học một cách hợp lí để dẫn dắt học sinh tự mình phát hiện và nắm được nội dung, tinh thần của bài học Tuy nhiên, thực tế hiện nay, kĩ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi của giáo viên trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học vẫn chưa thật sự được chú trọng Nhiều giáo viên còn lúng túng gặp khó khăn trong việc thiết kế hệ thống câu hỏi cho từng bài học, từng hoạt động Chính vì thế, việc bồi dưỡng kĩ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi trong môn tiếng Việt cho giáo viên tiểu học là nhiệm vụ thiết yếu cần đặt ra cho các nhà quản lí giáo dục

Từ những lí do nói trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Bồi dưỡng phát triển kĩ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi cho giáo viên trong dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu học Tân Trào quận Lê Chân – Hải Phòng” làm đề tài

nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Một số kết quả nghiên cứu về bồi dưỡng phát triển kĩ năng dạy học cho giáo viên

Trang 11

Nhờ sớm coi trọng vai trò của Giáo dục và Đào tạo mà nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt được những thành quả to lớn trong quá trình phát triển, ví

dụ như quan điểm của đất nước Nhật Bản coi Giáo dục-Đào tạo là quốc sách

hàng đầu; hay phương châm của đất nước Singapore là “Thắng trong cuộc

đua về giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua về phát triển kinh tế”; Luôn chú

trọng đến việc: Tập trung cho đầu tư Giáo dục - Đào tạo và thu hút nhân tài là mục tiêu mà nước Mỹ hướng tới

Một nền giáo dục được phát triển tốt, hiện đại chắc chắn sẽ tạo ra nguồn nhân lực tốt giúp nền kinh tế, văn hóa-xã hội của quốc gia đó ngày càng phát triển và nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế Các cường quốc trên thế giới đã rất coi trọng công tác quản lý bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, đầu tư xây dựng được nền giáo dục tốt nhất nên thành quả đạt được là tất yếu, đó là

có được nền kinh tế, văn hóa, xã hội rất phát triển

Công tác bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục ở đất nước Nhật Bản được coi là nhiệm vụ bắt buộc đối với các cơ sở giáo dục Các cấp quản lý giáo dục căn cứ vào điều kiện thực tế của đơn vị mình mà đề ra các hình thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi yêu cầu nhất định

Trên thế giới, người nghiên cứu sâu đến vấn đề “câu hỏi hiệu quả cao

trong dạy học” là Ivan Hannel Ông là tác giả của cuốn sách “Phương pháp đặt

câu hỏi hiệu quả trong dạy học” Ông khẳng định “Đặt câu hỏi hiệu quả cao là cách thức giúp học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập”.[24]

b) Ở Việt Nam

Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu bản chất, các quy luật, đặc điểm của quá trình dạy học hiện đại Đó là tác giả BERND MEIER-

Nguyễn Văn Cường “ Lí luận dạy học hiện đại,Cơ sở đổi mới mục tiêu và

phương pháp dạy học”- Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Các tác giả Nguyễn

Ngọc Quang; Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Kỳ, Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo, Thái Duy Tuyên, Trần Bá Hoành… hay nhóm tác giả Đỗ

Trang 12

Ngọc Thống ( Tổng chủ biên), Đỗ Xuân Thảo ( Chủ biên ), Phan Thị Hồ

Điệp, Lê Phương Nga với “ Dạy học phát triển năng lực môn Tiếng Việt tiểu

học” – NXB Đại học Sư phạm Tác giả Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga với

“ Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” – NXB Đại học Sư phạm Tuy

xem xét hoạt động dạy học dưới những khía cạnh khác nhau nhưng tất cả các tác giả đều tập trung đến việc nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao hiệu lực công tác quản lý hoạt động quan trọng này trong trường học

Trên địa bàn Thành phố Hải Phòng nói chung và Quận Lê Chân nói riêng chưa có công trình nào nghiên cứu để đưa ra các giải pháp với mục đích nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học ở trường tiểu học, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và giáo dục của địa phương

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại trên thế giới đã tác động không nhỏ đến mọi mặt của đời sống xã hội Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải có ý thức luôn tự học hỏi, tự bồi dưỡng cho bản thân để đáp ứng được các yêu cầu,nhiệm vụ đặt ra và xu thế phát triển của thời đại

2.2 Một số kết quả nghiên cứu về bồi dưỡng phát triển kĩ năng thiết kế và

sử dụng câu hỏi cho giáo viên trong dạy học Tiếng Việt

Quá trình giảng dạy và học tập sẽ đạt được kết quả tốt nhất khi có sự phối hợp, tương tác giữa thầy cô và học trò nhằm đạt được mục tiêu của bài học Vậy làm thế nào để trong quá trình dạy học luôn có được sự tương tác hiệu quả giữa người dạy và người học ? Để đạt được điều đó, buộc chúng ta phải có những phương tiện giao tiếp hiệu quả Một trong những phương tiện giao tiếp hiệu quả trong lớp học không gì thay thế được đó là việc đặt câu hỏi

Hệ thống câu hỏi trong dạy học là linh hồn của mỗi giờ học và nó có vai trò cực kỳ quan trọng: tạo môi ra trường giao tiếp, môi trường học tập Hệ thống câu hỏi còn là công cụ để khai thác kiến thức, phát triển tư duy cho học sinh đồng thời câu hỏi còn phục vụ công tác kiểm tra, đánh giá kết quả của người học

Trang 13

Gần đây, các đề tài về lĩnh vực đặt câu hỏi trong dạy học ở Việt Nam cũng được nghiên cứu sâu rộng Tiêu biểu là các hoạt động nghiên cứu tại

Trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN với nội dung “Dạy học với câu hỏi

hiệu quả” Các nhà giáo dục của chương trình Dạy học cho tương lai nhấn

mạnh vai trò của đặt câu hỏi: “Đặt câu hỏi là trọng tâm của phương pháp dạy

học tích cực Điều quan trọng là phải lựa chọn được loại câu hỏi thích hợp để kích thích tư duy của học sinh và thu hút các em vào các cuộc thảo luận hiệu quả”[24]

Đặt câu hỏi hay, câu hỏi đúng, câu hỏi có tính sư phạm là một nghệ thuật của người thiết kế và sử dụng câu hỏi và nó cũng là một trong những kỹ năng

cơ bản của giáo viên trong quá trình dạy học

Trong những năm gần đây, nhiều tác giả đã có những công trình nghiên cứu khoa học rất có giá trị, có tác dụng bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên trong trường phổ thông Nhưng các tác giả thường đi sâu nghiên cứu về công tác bồi dưỡng kỹ năng dạy học nói chung hay kỹ năng dạy học tiếng Việt nói riêng Còn những công trình nghiên cứu khoa học về bồi dưỡng phát triển kỹ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi trong dạy học tiếng Việt đã có xong nội dung nghiên cứu chưa sâu, chưa nhiều, chưa khái quát thành cơ sở lý luận dạy học mà chủ yếu là chia sẻ kinh nghiệm được rút ra từ thực tế giảng dạy, nghiên cứu

Một số đề tài nghiên cứu có nội dung đề cập tới vấn đề gần với đề tài tôi đang nghiên cứu như :

Tác giả Đậu Thị Hòa với “ Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên

tiểu học theo hướng phát triển năng lực học sinh” [21]

Tác giả Đặng Thị Tâm với đề tài “ Đặt câu hỏi trong dạy học Tập đọc

lớp5 cho học sinh dân tộc thiểu số ” [33]

Tác giả TS Ngô Vũ Thu Hằng, “Thiết kế và sử dụng câu hỏi trong dạy

Tập đọc chương trình tiếng Việt tiểu học” [20]

Các chuyên đề, công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến vấn đề kỹ năng đặt câu hỏi trong dạy học, trong giao tiếp và được thực hiện trên một

Trang 14

phạm vi, thời gian, đối tượng khác nhau Kết quả nghiên cứu đã phần nào làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của đề tài

Đặc biệt tác giả Lê Phước Lộc, 2005, Đại học Cần Thơ với chuyên đề

“Câu hỏi và việc sử dụng câu hỏi trong dạy học”, đăng trên Tạp chí nghiên

cứu khoa học là có nội dung gần đề tài nghiên cứu nhất, nhưng cũng mới chỉ dừng ở phân loại các kiểu câu hỏi theo từng mức độ, cách sử dụng câu hỏi như thế nào, hay một số chuyên đề, đề tài nghiên cứu của các tác giả khác đã nêu ở trên đã chỉ ra cách đặt câu hỏi, những điều cần lưu ý (cần tránh) để đặt câu hỏi sao cho hiệu quả Chưa có đề tài nào đề xuất được các biện pháp cụ thể để bồi dưỡng phát triển kỹ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi cho giáo viên trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học.[26]

Hiện nay, việc bồi dưỡng giáo viên vẫn còn thiếu các tài liệu hướng dẫn công tác thực hành rèn luyện các kĩ năng dạy học - một ngành học có nhiều đặc thù riêng về kỹ năng nghề nghiệp Các giáo trình về Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học cũng có đề cập các kỹ năng dạy học tiếng Việt nhưng chưa cụ thể và hệ thống Giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức các hoạt động thực hành rèn luyện các kỹ năng dạy học tiếng Việt cho học sinh Giáo viên còn xem nhẹ việc thiết kế và sử dụng câu hỏi trong dạy học nói chung và dạy tiếng Việt nói riêng Chưa chủ động thực hiện các hoạt động tự rèn luyện

“tay nghề” dạy học tiếng Việt của mình

Đã có rất nhiều trường tiểu học đề cập về việc thay đổi phương pháp dạy học, đặc biệt là trong các phương pháp dạy học tích cực vẫn chưa được đề cập đúng mức, đặc biệt là thiết kế và sử dụng câu hỏi trong quá trình dạy học Trong dạy học, câu hỏi dùng để giao tiếp thầy – trò, trò – trò, câu hỏi dùng

để đánh giá kết quả học tập, câu hỏi dùng để khai thác kiến thức, phát triển tư duy cho người học…cũng như các cách thức thiết kế và sử dụng câu hỏi là những vấn đề chưa được quan tâm đúng mức Việc nghiên cứu đến nội dung này cũng là thiết thực góp phần thay đổi phương pháp dạy học trong nhà trường đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giáo dục hiện nay

Trang 15

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu chính của đề tài là xây dựng, đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng phát triển kĩ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi dạy học nhằm góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên trong dạy học môn tiếng Việt tại trường tiểu học Tân Trào

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, đề tài có các nhiệm vụ sau đây: Một là, hệ thống hóa, xác lập được cơ sở lí luận cần thiết cho việc triển

khai đề tài

Hai là, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng các vấn đề về công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ nói chung, bồi dưỡng phát triển kỹ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi trong dạy học môn tiếng Việt cho giáo viên ở trường tiểu học Tân Trào quận Lê Chân

Ba là, xây dựng, đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng phát triển kĩ năng dạy học, đặc biệt là kỹ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi trong dạy học môn Tiếng Việt cho giáo viên và tổ chức thử nghiệm để kiểm chứng tính hiệu quả, khả thi của các biện pháp đã đề xuất

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biệnpháp bồi dưỡng phát triển kỹ năng thiết kế

và sử dụng câu hỏi trong dạy học môn tiếng Việt ở trường tiểu học

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Thiết kế và sử dụng câu hỏi trong dạy học là một kĩ năng dạy học quan trọng của giáo viên tất cả các môn học ở các cấp bậc học Do điều kiện thời gian và khả năng của người nghiên cứu, đề tài này chỉ tập trung vào việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp bồi dưỡng, phát triển kĩ năng dạy học quan trọng này trong môn tiếng Việt ở trường Tiểu học

Trang 16

4.2.2 Giới hạn địa bàn và khách thể nghiên cứu

Đề tài tiến hành nghiên cứu đối với các thành viên lãnh đạo của Phòng GD&ĐT, 05 Hiệu trưởng, 10 Phó hiệu trưởng thuộc các trường tiểu học công lập trên địa bàn quận Lê Chân, các Tổ trưởng chuyên môn và giáo viên Trường Tiểu học Tân Trào quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này tác giả sử dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu từ các tài liệu thu thập được như: các văn bản, sách báo, tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học, để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

5.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp quan sát: Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài tác

giả tiến hành quan sát hoạt động dạy học và hoạt động tự bồi dưỡng của giáo viên trong các trường tiểu học; Tác giả còn quan sát công tác chỉ đạo, quản lý,

tổ chức triển khai các lớp bồi dưỡng phương pháp dạy học, các lóp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên của Ban giám hiệu các nhà trường

Phương pháp phỏng vấn: Để thu thập thêm những thông tin cần thiết

liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tác giả tiến hành phỏng vấn, trao đổi, trò chuyện với giáo viên và các cán bộ quản lý các trường tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân Tác giả ghi chép các nội dung cơ bản có liên quan thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng nhằm thu thập, bổ sung, kiểm tra và làm rõ hơn những thông tin đã thu được từ khảo sát thực tiễn

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi được tiến hành qua 3 bước:

Thiết kế bảng hỏi, điều tra thử và khảo sát chính thức

Phương pháp thực hành : Tổ chức các hoạt động triển khai thực hành

nội dung bồi dưỡng kỹ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi cho giáo viên.Tiến

Trang 17

hành xem xét mức độ cần thiết của mỗi biện pháp đề xuất và các điều kiện để

thực hiện biện pháp đó

5.3 Phương pháp bổ trợ

Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học; sử dụng phần mềm Excel để xử lý kết quả; tính điểm trung bình; hệ số tương quan …để định lượng kết quả nghiên cứu nhằm rút ra các kết quả khoa học

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 2: Đề xuất hệ thống biện pháp bồi dưỡng kĩ năng thiết kế và

sử dụng câu hỏi cho giáo viên trong dạy học tiếng Việt ở trường tiểu học Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

1.1.1.1 Khái niệm bồi dưỡng

Quá trình nghiên cứu tác giả thấy có rất nhiều ý kiến về khái niệm bồi

dưỡng Tác giả hiểu bồi dưỡng như sau:

“ Bồi dưỡng là quá trình cập nhật bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để

nâng cao năng lực và trình độ phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó.”

Hoặc theo định nghĩa từ điểnTiếng Việt 2005 của tác giả Hoàng Phê:

“Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất.” [32,tr.79]

Như vậy nếu hiểu theo nghĩa rộng thì bồi dưỡng là quá trình giáo dục và đào tạo nhằm hình thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo mục đích đã chọn còn hiểu theo nghĩa hẹp thì bồi dưỡng là quá trình bổ sung những kiến thức, những kỹ năng còn thiếu, còn lạc hậu, nhằm mục đích nâng cao hoặc hoàn thiện các năng lực hoạt động trong các lĩnh vực

cụ thể, để làm tốt hơn công việc đang thực hiện ”

Từ góc độ khác: Bồi dưỡng là quá trình đào tạo nối tiếp, đào tạo liên tục trong khi làm việc

Qua các ý kiến nêu trên ta có thể hiểu: “ Bồi dưỡng là quá trình bổ sung

trì thức, thái độ, kỹ năng nhằm nâng cao năng lực, phẩm chất trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó mà người tham gia đã có một trình độ chuyên

môn nhất định.”

Nghị quyết 29/ TW- Hội nghị trung ương 8 khóa XI về Đổi mới căn bản

toàn diện Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo: “Giáo dục

đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn

Trang 19

dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; Phát triển Giáo dục và Đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. [1].

Muốn thực hiện được quan điểm chỉ đạo đó, đòi hỏi phải tăng cường xây dựng và phát triển, quản lý bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo một cách toàn diện ngay từ ở bậc học đầu tiên của giáo dục phổ thông Giáo dục tiểu học có một

vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Đây là bậc học đầu tiên

có tính chất nền móng của quá trình giáo dục phổ thông.Giáo dục tiểu học có nhiệm vụ giúp học sinh tạo lập những cơ sở ban đầu cho sự phát triển về các mặt đức, trí, thể, mỹ và các kỹ năng cơ bản khác để các em tiếp tục học lên bậc học Trung học cơ sở

Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và đào tạo chỉ rõ : “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu

đổi mới giáo dục đào tạo Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình

độ đào tạo; Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp.”[1]

Công tác quản lý bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là rất cần thiết, bởi lẽ một trong những nhân tố quyết định chất lượng giáo dục chính là giáo viên Hiện nay, trong thời đại công nghiệp 4.0, những yêu cầu, đòi hỏi về tri thức, năng lực, kỹ năng đối với mỗi người giáo viên lại càng cao hơn trước Trường tiểu học hiện nay ngoài việc cung cấp cho học sinh các kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt ở bậc Tiểu học, còn phải tăng cường dạy kỹ năng sống

để đào tạo ra những thế hệ học sinh chủ động, mạnh dạn, tự tin, ham học hỏi

Trang 20

tìm tòi khám phá tri thức, biết đồng cảm, sẻ chia, thấu hiểu với bạn bè, có khả năng ứng xử, linh hoạt giải quyết các tình huống trong cuộc sống Các trường tiểu học phải thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức theo hướng hiện đại, bắt kịp với xu hướng phát triển của xã hội và của người học Nếu các giáo viên tiểu học không cập nhật kiến thức thường xuyên, không chịu khó học hỏi, luôn tìm tòi sáng tạo sẽ bị lạc hậu và bị đào thải Công tác bồi dưỡng chính là bước tiếp theo của đào tạo Hoạt động bồi dưỡng thường xuyên vừa là bổ sung những kiến thức kĩ năng còn thiếu hoặc chưa được đào tạo, vừa là duy trì những gì đã được đào tạo để không làm mai một

Động lực thúc đẩy người giáo viên tiểu học phải luôn luôn học tập và bồi dưỡng chính là sự phát triển của xã hội Điều đó đòi hỏi các nhà quản lý phải quan tâm chú ý đến công tác bồi dưỡng giáo viên

1.1.1.2 Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp

Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học là quá trình bổ sung tri thức, kỹ năng,

thái độ nghề nghiệp nhằm nâng cao năng lực, phẩm chất của người giáo viên

Hiện nay ở Việt Nam, hoạt động bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học chủ yếu là hình thức bồi dưỡng tập trung, thường xuyên và bồi dưỡng tại chỗ Đối tượng của quá trình bồi dưỡng là đội ngũ giáo viên tiểu học đã được đào tạo để có một trình độ chuyên môn nhất định Thực chất của quá trình bồi dưỡng là nhằm mục đích bổ sung những kiến thức và kỹ năng còn khiếm khuyết hoặc lỗi thời với mục đích nâng cao trình độ, phát triển thêm năng lực trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn dưới một hình thức phù hợp Mục tiêu bồi dưỡng đội ngũ để chuẩn hóa chất lượng đội ngũ giáo viên,

vì vậy các nhà trường cần bồi dưỡng giáo viên tiểu học theo chuẩn để đáp ứng các yêu cầu quy hoạch Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiểu học theo chuẩn là quá trình bồi dưỡng để giáo viên tiểu học phải đạt được các yêu cầu cơ bản về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, kiến thức, kỹ năng sư phạm, thái độ

Trang 21

nghề nghiệp nhằm nâng cao năng lực, phẩm chất và đáp ứng mục tiêu giáo dục của người giáo viên tiểu học

Mục đích ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học nhằm giúp giáo viên tự đánh giá năng lực nghề nghiệp của mình từ đó xây dựng và thực hiện kế hoạch rèn luyện phẩm chất, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và làm căn cứ để cơ sở giáo dục phổ thông đánh giá phẩm chất, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên; xây dựng và triển khai kế hoạch bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên đáp ứng mục tiêu giáo dục của nhà trường, địa phương

giáo viên là vấn đề cần nghiên cứu triển khai

a) Bồi dưỡng nâng cao tư tưởng, nhận thức chính trị cho đội ngũ giáo viên

Hằng năm, các nhà trường tổ chức cho giáo viên tham gia học tập các lớp bồi dưỡng chính trị tổ chức học tập, phổ biến các chủ chương chính sách, các văn bản, chỉ thị nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ ngành nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết xã hội, rèn bản lĩnh chính trị cho đội ngũ giáo viên

Vận động giáo viên tự rèn luyện và thực hiện đúng các tiêu chí thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống theo các quy định của chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học: có nhận thức tư tưởng chính trị với trách nhiệm của một công dân, tích cực tham gia học tập và nghiên cứu các Nghị quyết của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước Bản thân luôn chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước Chấp hành các quy chế, quy định của ngành, cơ quan, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, luôn yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề; luôn khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành tốt

Trang 22

các nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh Giáo viên phải giáo dục học sinh biết thương yêu và kính trọng ông bà, cha mẹ, những người cao tuổi; biết giữ gìn truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; luôn nêu cao ý thức bảo

vệ độc lập, tự do, lòng tự hào dân tộc, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội;

Bồi dưỡng giáo viên nâng cao nhận thức, có tinh thần tự học, trau dồi

trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Luôn rèn luyện tu dưỡng phẩm chất đạo đức, nhân cách và có lối sống lành mạnh, trong sáng của nhà giáo Luôn rèn luyện

sức khỏe, có lối sống lành mạnh, giản dị, trung thực, luôn đoàn kết, gương mẫu mọi lúc mọi nơi và không có những biểu hiện tiêu cực trong giảng dạy và giáo dục; không làm các việc vi phạm phẩm chất, danh dự và uy tín của nhà giáo, không xúc phạm danh dự, nhân phẩm học sinh, đồng nghiệp và nhân dân Hết lòng giảng dạy và giáo dục học sinh bằng tình yêu thương , sự công bằng và trách nhiệm của một nhà giáo, luôn có ý thức nỗ lực phấn đấu vươn lên trong công tác

Công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên có tác dụng hoàn thiện và nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao năng lực phẩm chất nhằm giúp giáo viên vừa thích ứng được với chức năng nhiệm

vụ lại đáp ứng được những yêu cầu phát triển của nhà trường

b) Bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và kỹ năng sư phạm

Bồi dưỡng chuyên môn là giai đoạn tiếp nối tất yếu của hoạt động đào tạo nghề nghiệp, thực chất đây là quá trình “đào tạo liên tục và học tập suốt đời” của giáo viên để đáp ứng các nhiệm vụ và yêu cầu ngày càng cao trong hoạt động nghề nghiệp

Có thể hiểu, bồi dưỡng chuyên môn của giáo viên tiểu học là hoạt động cập nhật, nâng cao kiến thức và năng lực thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn

về dạy học và giáo dục qua một hình thức đào tạo nào đó

Bồi dưỡng chuyên môn về bản chất là quá trình tự học, tự bồi dưỡng hoặc có sự định hướng, giúp đỡ về mặt chuyên môn nào đó từ các chủ thể giáo dục; có thể thông qua hai hình thức là học tập chính thức và học tập

không chính thức Học tập chính thức là hình thức tổ chức các lớp như khóa

huấn luyện, tập huấn và các chương trình học tập trực tuyến; học tập không

Trang 23

chính thức là quá trình tự bồi dưỡng chuyên môn, quá trình tích lũy học hỏi qua trải nghiệm, qua dự giờ, qua cập nhật các thông tin từ các phương tiện thông tin

Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ là công việc cần thiết của giáo viên

trong cả quá trình giảng dạy của họ Song song với bồi dưỡng chuyên môn, nhà trường cần bồi dưỡng cho giáo viên về phương pháp, cách tổ chức các hình thức dạy học và các kỹ năng kỹ năng nghề nghiệp: kỹ năng dạy học; kỹ năng giáo dục; kỹ năng xử lý tình huống; kỹ năng giao tiếp; kỹ năng tự học,

tự bồi dưỡng; và các kỹ năng khác để giáo viên có đủ năng lực thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh

Người giáo viên nếu có chuyên môn vững vàng, có kỹ năng nghề nghiệp tốt sẽ tổ chức và thực hiện tốt các hoạt động dạy học trên lớp, phát huy được tính năng động sáng tạo của học sinh Biết lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp theo hướng phát huy tính sáng tạo, chủ động trong việc học tập cho học sinh; Thiết kế câu hỏi kiểm tra phù hợp với mỗi đối tượng và phát huy được năng lực học tập của các em; xây dựng được môi trường học tập hợp tác, thân thiện, tạo sự tự tin cho học sinh; hướng dẫn tốt học sinh tự học; biết khai thác triệt để các điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị đồ dùng phương tiện có sẵn để phục vụ giờ dạy; Biết cách xử lý tình huống linh hoạt,

cụ thể để giáo dục học sinh, hay ứng xử với đồng nghiệp, luôn giữ gìn uy tín, phong cách chuẩn mực của nhà giáo

Trong chương I điều 15 của Luật Giáo dục có ghi rõ: "Nhà giáo giữ vai

trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách bảo đảm các điều kiện cần thiết

về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của mình…"[27]

Mỗi nhà trường không chỉ tổ chức hoạt động bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên mà còn phải yêu cầu mỗi giáo viên xây dựng kế hoạch tự học- tự bồi

dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để đạt trình độ chuẩn hóa đáp ứng được nhiệm

Trang 24

vụ của ngành đề ra

Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính

phủ nêu rõ: "Tiếp tục đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo để đến

năm 2020, 100% giáo viên mầm non và phổ thông đạt chuẩn trình độ đào tạo, trong đó 60% giáo viên mầm non, 100% giáo viên tiểu học, 88% giáo viên Trung học cơ sở và 16,6% giáo viên trung học phổ thông đạt trình độ đào tạo trên chuẩn".[14]

Công tác bồi dưỡng giáo viên phải tiến hành trên nguyên lý bảo đảm tính thống nhất giữa bồi dưỡng về tư tưởng, chính trị đạo đức, với nghiệp vụ, chuyên môn và các nhiệm vụ đặt ra từ thực tế Mỗi giáo viên cần phải nhận thức rõ việc học tập bồi dưỡng là thường xuyên và suốt đời, không bao giờ kết thúc

Mỗi nhà trường cần phải căn cứ điều kiện thực tế trường mình để thiết

kế chương trình bồi dưỡng riêng sao cho phù hợp, không chạy theo phong trào, thành tích

Công tác bồi dưỡng thường xuyên giúp nhà trường và các giáo viên luôn luôn đổi mới và có thể thích ứng được với những thử thách mới Giáo viên là lực lượng có vai trò nòng cốt, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển cả về trí tuệ, hiểu biết và nhân cách con người; còn là người thực hiện nhiệm vụ của bản thân, với gia đình, với học sinh, với phụ huynh đồng thời còn thể hiện trách nhiệm với cộng đồng xã hội, với vận mệnh và tương lai của dân tộc

Vì vậy, mỗi giáo viên phải là một tấm gương sáng về đạo đức và tự học, cần bồi dưỡng cho mình các năng lực cơ bản để thực hiện nhiệm vụ dạy học tốt nhất, hiệu quả nhất Việc nâng cao năng lực dạy học của giáo viên quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường

Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, khuyến khích, tạo điều kiện cho giáo viên học tập, bồi dưỡng là những quyết sách đúng đắn, bền vững để phát triển một nền giáo dục có chất lượng

Trang 25

Như vậy, tự học, tự bồi dưỡng là con đường cần thiết phải phát triển của

mỗi người, tự học, tự bồi dưỡng giúp mỗi giáo viên sớm thích ứng với sự phát triển giáo dục đồng thời nâng cao khả năng tiếp nhận, ứng dụng thành quả tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tếc cuộc sống và công viêc

Công tác tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên sẽ là điều kiện cần và đủ cho việc thực hiện các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp đồng thời giúp họ sử dụng có hiệu quả những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp vào việc giảng dạy, giáo dục học sinh Công tác này đòi hỏi các giáo viên và các nhà trường cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, tổ chức thực hiện thường xuyên, liên tục hàng năm

1.1.1.3 Chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên tiểu học

a) Mục đích bồi dưỡng thường xuyên

“ Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên cơ sở giáo dục phổ

thông nhằm bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm; bồi dưỡng kiến thức,

kỹ năng chuyên ngành bắt buộc hàng năm đối với giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông; là căn cứ để quản lý, chỉ đạo, tổ chức và biên soạn tài liệu phục

vụ công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm, nâng cao mức độ đáp ứng của giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông đối với yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông.[ 11]

b) Nội dung chương trình bồi dưỡng thường xuyên

Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông thuộc hình thức bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành bắt buộc hàng năm, bao gồm:

+ Chương trình bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên ngành đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm học đối với các cấp học của giáo dục phổ thông (gọi là Chương trình bồi dưỡng 01)

+ Chương trình bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng chuyên ngành

Trang 26

thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phổ thông theo từng thời kỳ của mỗi địa phương (gọi là Chương trình bồi dưỡng 02):

+ Chương trình bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp theo yêu cầu

vị trí việc làm (gọi là Chương trình bồi dưỡng 03):

1.1.2 Bồi dưỡng phát triển kĩ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi cho giáo viên tiểu học

1.1.2.1 Khái quát chung về kỹ năng và kĩ năng dạy học

a) Kĩ năng

Nghiên cứu về kỹ năng tác giả thấy có rất nhiều quan điểm khác nhau,

có thể đưa ra một số quan điểm sau:

Theo L.Đ.Lêvitôv nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: “Kỹ năng là sự thực

hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định”.Theo ông, người nắm được và biết vận dụng phù hợp các cách

thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả là người có kỹ năng

hành động Nhà tâm lý học Liên xô còn nói: “Con người có kỹ năng không chỉ

nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế”.[25]

Theo tác giả Đặng Thành Hưng: “ Kỹ năng là một dạng hành động được

thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học- tâm lí khác của cá nhân (tức chủ thể của kỹ năng đó), như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn mực hay quy định.” [23, tr 25-27].

Theo tác giả Vũ Dũng thì: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả

tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện

những nhiệm vụ tương ứng”.[16]

Mỗi kỹ năng bao gồm trong nó một hệ thống các thao tác trí tuệ và thực hành Nếu chủ thể thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động

Trang 27

Nhìn chung,các tác giả đều cho rằng kỹ năng là quá trình áp dụng những tri thức đúng đắn mà một cá nhân tích lũy được để thực hiện mục tiêu đã đề

ra Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu kỹ năng một cách chung nhất như sau:

Kỹ năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào

đó bằng cách lựa chọn các phương pháp và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra

b) Kỹ năng dạy học

Kỹ năng dạy học có đầy đủ các đặc điểm chung như: tính chính xác, tính linh hoạt, tính hiệu quả được hình thành trong quá trình hoạt động sư phạm,

thông qua sự tích lũy kinh nghiệm sống

Kỹ năng dạy học đối với giáo viên là cần thiết và nó là cơ sở để giáo

viên thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học và giáo dục học sinh

Ở trường tiểu học, môn tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển

ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt như: nghe, nói, đọc, viết để sử dụng vào việc học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi đồng thời thông qua việc dạy và học tiếng Việt cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt, những hiểu biết sơ giản về xã hội, về

tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam, của nước ngoài

và rèn luyện các thao tác tư duy

Môn tiếng Việt có nhiệm vụ bồi dưỡng lòng yêu thích tiếng Việt cho học sinh, bồi dưỡng cho các em những tình cảm chân chính, lành mạnh như: tình cảm gia đình, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quê hương, đất nước, con người, đồng thời hình thành và phát triển ở các em những phẩm chất tốt đẹp, hình

thành nên nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Vậy để dạy tốt được môn học này đòi hỏi các giáo viên phải có kỹ năng dạy học môn tiếng Việt Hệ thống các kỹ năng dạy học môn tiếng Việt rất đa

dạng và phong phú, bao gồm hệ thống các kỹ năng

Bên cạnh hệ thống các kỹ năng dạy học một môn học nói chung, người giáo viên tiểu học cần chú trọng các kỹ năng cơ sở và cơ bản sau:

Trang 28

- Nhóm kỹ năng cơ sở: Bao gồm các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ trong dạy

học: đọc, viết, nói, nghe Đây là các kỹ năng cần thiết khi dạy học bất kỳ môn học nào nhưng đối với việc dạy học môn tiếng Việt ở trường tiểu học, các kỹ năng này của giáo viên lại là đặc biệt quan trọng Mục tiêu quan trọng nhất của môn tiếng Việt ở tiểu học là rèn luyện các kỹ năng đọc, viết, nói, nghe bằng tiếng Việt cho học sinh Vì vậy nếu giáo viên không hoàn thiện được hệ thống kỹ năng này cho bản thân mình thì không thể tạo ra một môi trường

"mẫu" tốt cho học sinh luyện tập

- Nhóm kỹ năng cơ bản: Bao gồm các kỹ năng tìm hiểu trình độ và đặc

điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học như:

- Kỹ năng phân tích mục tiêu, tìm hiểu chương trình, sách giáo khoa và các tài liệu dạy học Tiếng Việt

- Kỹ năng tìm hiểu trình độ và đặc điểm ngôn ngữ của học sinh

- Kỹ năng lập kế hoạch dạy học, thiết kế bài dạy tiếng Việt

- Kỹ năng tổ chức các hoạt động dạy học trong giờ tiếng Việt, kỹ năng kiểm tra, đánh giá học sinh

- Kỹ năng tổ chức hoạt động ngoại khoá tiếng Việt và bồi dưỡng học sinh giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém về tiếng Việt

- Kỹ năng vận dụng công tác chủ nhiệm, công tác Đội hỗ trợ cho việc dạy tiếng Việt và kết hợp dạy tiếng Việt trên các giờ học khác

- Kỹ năng phân tích, đánh giá kết quả dạy học tiếng Việt ở tiểu học Ngoài ra, phải kể đến một kỹ năng vô cùng quan trọng, ảnh hưởng lớn đến việc hình thành và phát triển năng lực dạy học tiếng Việt của giáo viên đó

là kỹ năng nghiên cứu về phương pháp dạy học tiếng Việt và tự bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng dạy học tiếng Việt

Nhóm các kỹ năng cơ bản có thể phân thành hai loại:

Loại thứ nhất, các kỹ năng liên quan trực tiếp đến việc tổ chức một giờ dạy tiếng Việt (phân tích bài học của sách giáo khoa tiếng Việt, lập kế hoạch bài dạy tiếng Việt, tổ chức các hoạt động dạy học trong giờ tiếng Việt) Đây

Trang 29

là những kỹ năng không thể thiếu của bất cứ một người giáo viên nào và hiệu quả rèn luyện có thể đánh giá trực tiếp

Loại thứ hai, là các kỹ năng liên quan đến quá trình dạy học tiếng Việt nói chung như nghiên cứu về phương pháp dạy học tiếng Việt, phân tích chương trình, sách giáo khoa tiếng Việt, tổ chức hoạt động ngoại khóa Tiếng Việt Hiệu quả rèn luyện những kỹ năng này không thể trực tiếp đánh giá chính xác ngay khi tổ chức rèn luyện Để hoàn thiện những kĩ năng này, giáo viên cần sự trải nghiệm trong quá trình giảng dạy tiếng Việt của mình Việc hình thành và hoàn thiện những kĩ năng này phải dựa trên những nền tảng lí thuyết vững vàng về ngôn ngữ học, tâm lý học, giáo dục học

Tuy nhiên, mỗi kỹ năng kể trên có thể quan niệm là một tổ hợp kỹ năng, trong đó, chúng là những kỹ năng bề mặt và đằng sau chúng còn có những kỹ năng chuyên sâu Chẳng hạn, để kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng tiếng Việt của học sinh tiểu học, người giáo viên tiểu học cần có cả kỹ năng thiết

kế, xây dựng đề kiểm tra môn tiếng Việt

1.1.2.2 Kỹ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi nhìn từ phương diện Giáo dục học a) Khái niệm

Kỹ năng đặt câu hỏi là năng lực thực hiện việc đặt câu hỏi theo mục đích, yêu cầu đã định

Bên cạnh rất nhiều kĩ năng nghiệp vụ sư phạm, kĩ năng sử dụng câu hỏi

là một trong những kĩ năng quan trọng trong quá trình dạy học, góp phần không nhỏ vào việc thành công của giờ học Đối với bộ môn tiếng Việt – chương trình tiểu học - điều này càng được thể hiện rõ Để giúp học sinh đi tới tri thức cần thiết đòi hỏi người giáo viên không chỉ nắm chắc kiến thức mà còn phải biết cách thiết kế, tổ chức và sử dụng câu hỏi một cách hợp lí để dẫn dắt học sinh tự mình phát hiện và nắm được nội dung, tinh thần của bài học Tuy nhiên, hiện nay, dường như kĩ năng thiết kế và sử dụng câu hỏi trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học vẫn chưa thật sự được chú trọng Điều này

có nhiều lí do:

Trang 30

Một là do giáo viên trong quá trình dạy chủ yếu bị áp lực của xu hướng

“đổi mới phương pháp” – song họ mới thực hiện đổi mới phương pháp ở tầm

“vĩ mô” và mới chỉ dừng lại ở hình thức

Hai là do giáo viên chăm chăm chỉ muốn “nhồi nhét” thật nhiều kiến thức vào đầu học sinh, hòng mong muốn sự truyền thụ được đầy đủ, trọn vẹn

mà quên đi cái gì có thể đọng lại và bằng cách nào để bài học đọng lại trong đầu các em một cách sâu sắc nhất sau mỗi tiết dạy

Ba là giáo viên thường áp dụng một cách máy móc hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa, không có sự sáng tạo,linh động Họ không ý thức được rằng câu hỏi trong sách giáo khoa chỉ mang tính chất gợi ý chung và đòi hỏi người sử dụng phải biết tổ chức lại một cách phù hợp trong quá trình thực giảng của mình Việc không chú trọng vào hệ thống câu hỏi đưa ra trong quá trình giúp học sinh đi tới tri thức khiến cho giờ học trở nên khô cứng, đôi khi

thành thô, hiệu quả giờ học vì vậy mà chưa cao

b) Vai trò của đặt câu hỏi trong dạy học

* Đối với người học:

Cách đặt câu hỏi là rất quan trọng Nếu đặt câu hỏi tốt sẽ giúp tạo hứng thú học tập, khích lệ được sự đóng góp ý kiến, chia sẻ, thảo luận của người học tới các bạn học trong nhóm trong lớp Việc đặt câu hỏi tốt có tác dụng định hướng, dẫn dắt người học tiếp cận với kiến thức, giúp người học lĩnh hội tri thức một cách có logic, có hệ thống, không bị tình trạng ghi nhớ máy móc, hay rập khuôn Việc trả lời câu hỏi cũng giúp người học rèn luyện và phát triển tư duy Mặt khác qua việc trả lời câu hỏi, các kĩ năng về phân tích, tổng hợp của các em được phát triển, học sinh có điều kiện phát triển kĩ năng diễn đạt của mình trong khi nói và khi viết Đây chính là một trong các kĩ năng cần

rèn luyện cho học sinh

* Đối với người dạy:

Trong quá trình giảng dạy, việc đặt câu hỏi được sử dụng như một phương tiện để tổ chức dạy học, hướng dẫn quá trình nhận thức cho học sinh,

Trang 31

giúp giáo viên đánh giá được khả năng tiếp thu, mức độ nhận thức của người học, nắm được thông tin phản hồi từ phía người học đồng thời thấu hiểu tâm

tư, nguyện vọng của người học để có những điều chỉnh phù hợp Việc đặt câu hỏi còn có tác dụng giúp nâng cao tầm hiểu biết của giáo viên

Trong dạy học tiếng Việt, việc thiết kế và sử dụng hệ thống câu hỏi là vô cùng quan trọng Câu hỏi giúp định hướng sự suy nghĩ, khám phá, tìm tòi nội dung bài học, giúp học sinh dễ dàng tiếp cận kiến thức dễ dàng hơn

Khi tiếp cận mội nội dung kiến thức nào đó, mỗi học sinh sẽ có những suy nghĩ và cảm nhận khác nhau nên nhờ có hệ thống câu hỏi mà suy nghĩ của các em được định hướng theo nội dung chính của bài học

Thông qua hệ thống câu hỏi, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh tiến hành khai thác nội dung của bài học có trọng tâm và hệ thống Học sinh khám phá nội dung kiến thức từ dễ đến khó, từ những hình ảnh, chi tiết, sự kiện đơn giản để từ đó có thể rút ra ý nghĩa hay nội dung chính của bài học

Khi nghe câu hỏi, các học sinh sẽ phải chủ động suy nghĩ tích cực mới tìm ra được câu trả lời Như vậy năng lực tự giải quyết vấn đề của học sinh cũng được rèn luyện và sẽ khắc phục được tình trạng dạy học một chiều Trong tiết học giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời phản hồi lại qua đó giúp giáo viên biết được học sinh có hiểu bài hay không từ đó

có những phương pháp phù hợp giúp học sinh nắm được nội dung bài học có hiệu quả nhất

c) Nguyên tắc thiết kế xây dựng câu hỏi

Nguyên tắc khi thiết kế câu hỏi phải đảm bảo tính phù hợp, vừa sức và

có sự phân hóa đối tượng học sinh

Để giúp học sinh có thể trả lời và tiếp nhận kiến thức một cách thuận lợi, người giáo viên cần phải có hệ thống câu hỏi phù hợp Thiết kế những câu hỏi giúp các em trả lời theo sự hiểu hiết của cá nhân học sinh

Tùy theo đối tượng học sinh mà giáo viên đưa ra câu hỏi cho phù hợp Câu hỏi phải tạo ra hứng thú học tập, tạo được sự tự tin để kích thích tinh thần

Trang 32

tích cực học tập của các em Câu hỏi giáo viên đưa ra không được quá khó làm cho học sinh không trả lời được, nhưng câu hỏi cũng không được quá dễ đối với học sinh vì sẽ không kích thích hứng thú, sự sáng tạo của các em Câu hỏi đặt ra phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, vừa sức với khả năng của học sinh để các em nắm bắt nhanh nội dung hỏi, có thể suy nghĩ và trả lời được Đối với học sinh tiểu học, khi đặt câu hỏi, giáo viên không nên đưa ra những câu hỏi quá dài, các em sẽ khó nắm bắt được nội dung câu hỏi Tránh đưa ra những câu hỏi trừu tượng khó hiểu học sinh sẽ cảm thấy chán nản dẫn đến hiệu quả giờ dạy không cao Câu hỏi phải phù hợp với mỗi văn bản để học sinh dễ trả lời vì mỗi loại văn bản có những đặc trưng riêng

Khi sử dụng câu hỏi rèn luyện kĩ năng tự học cho học sinh, giáo viên phải cần chú ý kiểm tra, đánh giá mức độ thông hiểu của học sinh Để chống nhàm chán, đơn điệu thì câu hỏi đưa ra phải đa dạng về cách hỏi, giúp học sinh suy nghĩ theo nhiều cách mới lạ, sáng tạo…tích cực

Kỹ năng đặt câu hỏi là một kỹ năng quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả dạy học

Trong một giờ lên lớp, người giáo viên giỏi sẽ biết sử dụng nhiều câu hỏi với nhiều mục đích khác nhau, tung ra câu hỏi đúng thời điểm để đem lại hiệu quả tối đa và khai thác câu trả lời để đặt câu hỏi tiếp theo Muốn vậy người đặt câu hỏi cũng phải có kỹ năng và hiểu biết thì mới có thể diễn đạt câu hỏi một cách rõ ràng, chính xác Muốn đặt câu hỏi có hiệu quả thì câu hỏi phải được chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng, phải dự kiến được những khả năng và mức

độ trả lời

d) Phân loại câu hỏi

Trong thực tế có rất nhiều loại câu hỏi Mỗi loại câu hỏi có cấu trúc, chức năng khác nhau, được dùng để hỏi vào những mục đích khác nhau Tuy nhiên ta có thể hiểu một khái niệm chung: Câu hỏi là một dạng cấu trúc ngôn ngữ dùng để diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi hay một mệnh lệnh cần giải đáp

Trang 33

Câu hỏi được nhận biết bằng dấu hỏi ở cuối câu, bằng các từ, cặp từ, phó từ để hỏi, các tiểu từ tình thái, bằng ngữ điệu hỏi Ngữ điệu trong câu hỏi thường cao và sắc, nhấn vào trọng điểm hỏi Đã có rất nhiều cách phân loại câu hỏi khác nhau

Tuy nhiên, nếu xét trong lĩnh vực dạy học, dựa trên mục đích và chức năng của câu hỏi thì có thể phân ra các loại câu hỏi sau:

Câu hỏi đóng: Đây là loại câu hỏi trực tiếp, ngắn gọn không bắt đầu

bằng từ để hỏi Dạng câu hỏi này thường chỉ có một câu trả lời ngắn duy nhất

là đúng hoặc sai được sử dụng để thu thập và đánh giá, kiểm tra thông tin ở mức cơ bản với thời gian ngắn không yêu cầu phải tư duy nhiều

Câu hỏi mở: là câu hỏi có nhiều hướng trả lời hay nhiều đáp án chấp

nhận được Loại câu hỏi này giúp phát hiện, giải quyết vấn đề, giải quyết tình huống, đồng thời kích thích tư duy để sử dụng các kiến thức, kinh nghiệm đã

có trong việc nghiên cứu và tiếp nhận tri thức mới

Câu hỏi làm rõ: Đây là dạng câu hỏi dùng để khai thác, thu thập thêm

thông tin Dạng câu hỏi này là hình thức được sử dụng nhiều nhất trong hoạt động tương tác giữa người dạy và người học; nó có tác dụng dẫn dắt để

hướng tới sự hiểu biết, thúc đẩy trạng thái lắng nghe tích cực, khuyến khích, tạo hứng thú cho người học

Câu hỏi mở rộng: Đây là dạng câu hỏi khuyến khích sự trình bày, phân

tích, giải thích, mở rộng, giúp đào sâu suy nghĩ Loại câu hỏi này giúp người học nhận thức toàn diện hơn,sâu sắc hơn về một vấn đề đang nghiên cứu

Câu hỏi so sánh: là câu hỏi yêu cầu sự so sánh, đánh giá hay bình luận

Loại câu hỏi này thường khuyến khích tư duy phê phán, bình luận, đánh giá, thúc đẩy kỹ năng tư duy bậc cao, định hướng suy nghĩ vào các khái niệm và các vấn đề trọng tâm của bài học

Câu hỏi giả định: là câu hỏi được đặt trong một điều kiện giả định để

giải quyết một vấn đề nào đó, nó kích thích sự hình dung, tưởng tượng, từ

đó tạo hứng thú cho người học về những vấn đề mới nảy sinh Đây là cách để

Trang 34

tạo ra những tình huống, thách thức sự hiểu biết, kích thích, phát triển tư duy sáng tạo cho người học

Câu hỏi tóm tắt: là dạng câu hỏi yêu cầu trình bày vắn tắt những nội

dung, kiến thức đã học Nó là một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng và thúc đẩy sự tiến bộ của người học Loại câu hỏi này giúp cho người học nhìn nhận nội dung học tập một cách khái quát và logic từ đó giúp hình thành khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa và phát triển khả năng tư duy cho người học Ngoài cách phân loại trên, còn có cách phân loại theo Bloom - một nhà

tâm lý học Mỹ đã phân loại câu hỏi thành các dạng sau:

Câu hỏi mức độ biết: thường yêu cầu kể lại, liệt kê, mô tả, liên hệ, trình

bày, cho biết, gọi tên…

Câu hỏi mức độ hiểu: thường yêu cầu giải thích, nêu ý chính, so sánh,

tóm tắt, liên hệ, trình bày, mô tả vắn tắt

Câu hỏi mức độ vận dụng: thường yêu cầu giải quyết, trình bày, sử dụng,

minh họa, tính toán, hoàn tất, kiểm tra, phân loại…

Câu hỏi mức độ phân tích: thường yêu cầu xem xét, phân tích, so sánh,

đối chiếu, kiểm tra, phân loại, xác định, giải thích, phân chia…

Câu hỏi mức độ tổng hợp: thường yêu cầu sự đề xuất, sáng tạo, dự đoán,

lên kế hoạch, tưởng tượng, xây dựng, thiết kế…

Trong những năm gần đây, Giáo dục Việt Nam đã có những bước chuyển biến rõ rệt, từng bước đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, tạo

ra sự thay đổi về vị thế của người học, làm cho người học thực sự là chủ thể,

là trung tâm của quá trình dạy học Đó là một trong những mục tiêu của đổi mới phương pháp dạy học

Để thực hiện quá trình dạy học cần có nhiều phương pháp và kỹ năng

dạy học khác nhau Trong đó, kỹ năng đặt câu hỏi trong dạy học là một kỹ

năng rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của dạy học

Thực tế cho thấy, việc đặt câu hỏi trong dạy học hiện nay còn mang tính hình thức, tính kinh nghiệm, chưa lôi cuốn, chưa thu hút, chưa khích lệ được

Trang 35

tư duy, suy nghĩ, sự tò mò, sáng tạo của người học Đặc biệt, đối với giáo viên trẻ chưa nhiều kinh nghiệm thì việc đặt câu hỏi trong dạy học vẫn còn nhiều lúng túng và chưa đạt được mục tiêu dạy học

Vì vậy, kỹ năng đặt câu hỏi trong dạy học đang là một vấn đề cần được

quan tâm, nghiên cứu

1.1.2.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học

a) Đặc điểm phát triển tâm lí của học sinh tiểu học

Bắt đầu chuyển sang bậc tiểu học, đây là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ Hoạt động chủ đạo của trẻ chuyển từ hoạt động vui chơi (mầm non) chuyển sang loại hoạt động học tập (tiểu học) Sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo này, có tác động không nhỏ đến tâm sinh lí của trẻ

Hệ thần kinh chưa ổn định, các em dễ bị xúc động, đặc biệt là hay bị chi phối của điều kiện ngoại cảnh, sự vật, sự việc bên ngoài tác động đến sự chú ý của các em

Ví dụ: Khi đang học mà có một đối tượng khác đột nhiên tác động vào

các em (con vật bay qua, có người đi lại, tiếng động ) dẫn đến việc các em

sẽ tập trung chú ý, theo dõi, quan tâm đến những vật đó mà quên đi việc học Trẻ ở lứa tuổi tiểu học, các cơ quan cảm giác như: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều được phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện Các đặc điểm về tri giác, chú ý, trí nhớ, tưởng tượng của trẻ đã phát triển nhưng chưa cao Trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc

sỡ, hấp hẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng Các phẩm chất của ý chí như: Tính độc lập, tính kìm chế và tự chủ còn thấp nên trẻ dễ bắt chước hành động của người khác, kể cả những hành động vượt quá sức trẻ Tư duy của trẻ tiểu học là tư duy cụ thể, mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát

Trang 36

Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền

vững và dễ thay đổi Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn

thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Trẻ ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học thì tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển: khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, bắt đầu phát triển

Như vậy, các nhà giáo dục phải đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có

cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện

Sang độ tuổi cuối bậc tiểu học các em rất hiếu động, bắt đầu phát triển nhận thức lý tính tức là phát triển những tư duy mới

Dựa vào đặc điểm này, các nhà sư phạm nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ nhưng nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh hoạt theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá nhân của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ

Trong quá trình phát triển, nhân cách của trẻ ở tuổi tiểu học mang tính

chỉnh thể và hồn nhiên, trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách hồn nhiên vô tư, rất thật thà và trung thực nhưng lại hay bắt chước Việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một sớm một chiều, nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với quá trình phát triển của mình Nắm được đặc điểm này các bậc phụ huynh hay thầy cô giáo phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp Chính cha mẹ và thầy cô phải là những hình mẫu nhân cách tốt đẹp để các em học tập noi theo

b) Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học dễ tiếp nhận những loại câu hỏi nào?

Ở lứa tuổi đầu bậc tiểu học, trí tuệ của các em đang phát triển, tính cách rất ngây thơ hồn nhiên, ham tìm hiểu, khám phá cái mới, nhưng chủ yếu là nhận thức cảm tính- nhìn nhận sự việc, hiện tượng ngay trước mắt mình chứ chưa nhìn nhận được mọi sự vật, hiện tượng bên trong Vì vậy các em dễ tiếp

Trang 37

nhận các dạng câu hỏi đóng, câu hỏi có tính chất nhận diện, tái hiện ngôn ngữ văn bản Việc tiếp nhận các dạng câu hỏi mở, câu hỏi so sánh hay suy luận là khó đối với học sinh đầu cấp tiểu học

Sang độ tuổi cuối bậc tiểu học các em bắt đầu phát triển nhận thức lý tính tức là phát triển những tư duy mới Việc tiếp nhận câu hỏi mở, câu hỏi suy luận, câu hỏi giả định, câu hỏi sáng tạo sẽ dễ dàng hơn không còn khó đối với các em so với thời kì đầu cấp

Chính vì vậy giáo viên cần chú ý đến những đặc điểm nêu trên để thiết

kế và sử dụng câu hỏi sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh đầu cấp hay cuối cấp, giúp cho các em lĩnh hội và tiếp thu kiến thức được tốt hơn

1.2 Cơ sở thực tiễn

Để có cái nhìn khách quan toàn diện về đặc điểm tình hình địa bàn nơi trường thực nghiệm, tác giả đã tiến hành điều tra nghiên cứu về các trường tiểu học trong quận

1.2.1 Khái quát về các trường Tiểu học quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Tính đến năm học 2019-2020, quận Lê Chân có tổng số 12 trường Tiểu học gồm: Trần Hưng Đạo, Tân Trào, Trưng Vương, Dư Hàng, Dư Hàng Kênh, Vĩnh Niệm, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn

Tố, Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu

Toàn quận có 20.317 HS/475 lớp Trong đó: Khối 1: 3978 HS/96 lớp; Khối 2: 4874 HS/107 lớp; Khối 3: 4157 HS/98 lớp; Khối 4: 3475 HS/82 lớp; Khối 5: 3833 HS/92 lớp

1.2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học trong quận

Tổng số cán bộ quản lí của quận: 34, Giáo viên 615 Trong đó trình độ: Thạc sĩ 35 Đại học 554 Cao đẳng 62 Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên của quận phát triển cả về số lượng và chất lượng Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn là 100%

Địa bàn nghiên cứu của đề tài gồm 05 trường Tiểu học quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng: Tiểu học Trần Hưng Đạo, Tiểu học Dư Hàng, Tiểu học

Trang 38

Trưng Vương, Tiểu học Dư Hàng Kênh, Tiểu học Lê Văn Tám Tổng số Cán

bộ quản lý của 5 trường là 40, giáo viên: 208 Trình độ thạc sĩ: 21 Đại học:

196 Cao đẳng: 16 Tổng số học sinh của 5 trường là: 6912 em

Bảng 1.1 Đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu học quận Lê Chân

( Năm học 2019 - 2020 )

Trường

Đảng viên

Trung cấp

Sơ cấp

( Nguồn : Điều tra từ các trường trong quận )

Số liệu thống kê ở bảng 1.1 cho thấy đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường tiểu học quận Lê Chân đa số là nữ ( 33/ 34 = 97% ), 100 % số họ là đảng viên, trình độ chính trị đạt yêu cầu ( trung cấp: 31/34 = 95 %, sơ cấp 3/34 = 5% ); trình độ chuyên môn cao (Trên đại học 19/34 = 55,8 %, Đại học 15/34 = 44,1% ) Ban giám hiệu chủ yếu được đề bạt từ các chức danh Chủ tịch công đoàn, khối trưởng chuyên môn, giáo viên giỏi đã qua nhiều năm công tác có năng lực chuyên môn tốt, khẳng định được vị trí, vai trò lãnh đạo của mình

Trang 39

1.2.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên ở các trường tiểu học quận Lê Chân

Theo báo cáo tổng kết năm học 2018 – 2019 của Phòng giáo dục và đào tạo quận Lê Chân:

- Tổng số cán bộ giáo viên nhân viên: 625, cán bộ quản lí: 34, giáo viên tiểu học: 560

- Trong đó: Trình độ đạt chuẩn: 100 % , trình độ trên chuẩn: 98,1% Kết quả trên cho thấy đội ngũ giáo viên tiểu học đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo Đội ngũ cán bộ giáo viên các trường trong những năm gần đây đã tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập bồi dưỡng trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, biết sử dụng tốt các phương tiện

đồ dùng dạy học hiện đại nên góp phần nâng cao một bước về chất lượng Tuy nhiên, tỷ lệ giáo viên xếp loại tay nghề trung bình vẫn còn 15/560 = 2,6 %, cần phải tiếp tục bồi dưỡng Đối với những giáo viên có tuổi đời và tuổi nghề cao, việc tiếp thu cái mới còn chậm, họ thường ngại khi sử dụng máy móc hiện đại Điều đó dẫn đến họ vẫn dạy theo phương pháp cũ, theo sách giáo khoa, không đổi mới phương pháp, không sáng tạo trong quá trình dạy học

1.2.4 Đặc điểm tình hình của trường tiểu học Tân Trào, quận Lê Chân

1.2.4.1 Số lượng, cơ cấu, trình độ đội ngũ giáo viên

Qua bảng thống kê trên cho thấy 100% giáo viên của trường đạt trên chuẩn, được đào tạo bài bản đảm bảo chuẩn hóa về đội ngũ Về độ tuổi phần lớn giáo viên có độ tuổi từ 30-40 tuổi Đây là đội ngũ đã có thời gian công tác tối thiểu từ 5 năm trở nên, đã có chút kinh nghiệm trong giảng dạy, khả năng học hỏi nắm bắt nhanh, không ngại đổi mới Số giáo viên dưới 30 tuổi ít Đây

là đội ngũ mới vào nghề, kinh nghiệm ít nhưng luôn động sáng tạo, thích ứng

nhanh

Trang 40

Bảng 1.2 Thống kê trình độ, độ tuổi của đội ngũ cán bộ giáo viên

1.2.4.2 Quy mô, mạng lưới trường lớp

Bảng 1.3 cho thấy số học sinh trung bình /lớp là khoảng 35 em, phù hợp

về sĩ số /lớp theo Điều lệ trường tiểu học đã quy định.Tỷ lệ lớp học 2 buổi/ngày cao đạt 60 % là điều kiện thuận lợi giúp học sinh được rèn luyện, lĩnh hội kiến thức ở trường

1.2.5 Thực trạng công tác bồi dưỡng giáo viên hiện nay

1.2.5.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công tác bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo

Nghị quyết 29/NQ-TW hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng đã nêu ra :

Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp.” [ 2]

Cao cấp

Cao đẳng

Cử nhân

Từ 40-50

Trên

50

Tỉ lệ 51.3 % 5,1 % % 0 12,8 % 84,6 % 2,6 % 12,8 % 58,9 % 17,9 % 10,2 %

Ngày đăng: 02/06/2021, 20:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Đinh Quang Báo, (2005), “Giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV”, Tạp chí Giáo dục, (105), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đổi mới phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV
Tác giả: Đinh Quang Báo
Năm: 2005
[11]. Bộ GD& ĐT, (2019), Thông tư 17/2019/TT- BGD ĐT ngày 01/11/2019 ban hành về Chương trình Bồi dưỡng thường xuyên giáo viên cơ sở giao dục phổ thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: giao
Tác giả: Bộ GD& ĐT
Năm: 2019
[12]. Bộ GD&ĐT, (2002), Chương trình môn tiếngViệt trong chương trình Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình môn tiếngViệt trong chương trình Tiểu học
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
[13]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (1998), Những vấn đề về Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kì CNH-HĐH, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kì CNH-HĐH
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[15]. Phạm Thanh Cường, (2017), Kĩ năng đặt câu hỏi trong dạy học, Khoa Sư phạm kĩ thuật, ĐH Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng đặt câu hỏi trong dạy học
Tác giả: Phạm Thanh Cường
Năm: 2017
[17]. Hồ Ngọc Đại, (1993), Tâm lý học Dạy học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
[18]. Trần Khánh Đức, (2010), Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
[21]. Đậu Thị Hòa, Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học theo hướng phát triển năng lực học sinh,Tạp chí giáo dục số 426- Tháng 3 /2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học theo hướng phát triển năng lực học sinh
[22].TS. Dương Thị Hương, (2008), Bồi dưỡng cho giáo viên riểu học kĩ năng sử dụng câu hỏi trong dạy học Tiếng Việt, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng cho giáo viên riểu học kĩ năng sử dụng câu hỏi trong dạy học Tiếng Việt
Tác giả: TS. Dương Thị Hương
Năm: 2008
[23]. Đặng Thành Hưng, (2004), Hệ thống kỹ năng học tập hiện đại”, Tạp chí giáo dục, tr.25-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống kỹ năng học tập hiện đại
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Năm: 2004
[25]. Khái niệm kĩ năng và vai trò ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày, Nguồn edu2review.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm kĩ năng và vai trò ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày
[26]. Lê Phước Lộc, (2005), Câu hỏi và việc sử dụng câu hỏi trong dạy học, Tạp chí nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi và việc sử dụng câu hỏi trong dạy học
Tác giả: Lê Phước Lộc
Năm: 2005
[28]. Lê Phương Nga (Chủ biên), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học tập 1, Tập 2 (4/2017), NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học tập 1, Tập 2
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
[29]. Lê Phương Nga, (2009), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học tập 1, tập 2 NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học tập 1
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2009
[30]. Nguyễn Quang Ninh (2011), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, tập 1, NXB Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, tập 1
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2011
[31]. Nguyễn Quang Ninh, (2011), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, tập 2, NXB Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, tập 2
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2011
[33]. Đặng Thị Tâm, (2017), Đặt câu hỏi trong dạy Tập đọc lớp 5cho học sinh dân tộc thiểu số. Luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đặt câu hỏi trong dạy Tập đọc lớp 5cho học sinh dân tộc thiểu số
Tác giả: Đặng Thị Tâm
Năm: 2017
[34]. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên),(2017),Tiếng Việt 2 tập 1, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 2 tập 1, tập 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2017
[35]. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), (2017), Tiếng 3 tập1, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng 3 tập1, tập 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2017
[37]. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), (2017), Tiếng Việt 5, tập 1, tập2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 5, tập 1, tập2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2017

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm