1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

106 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp
Tác giả Trần Thị Huyền Thơ
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thuận
Trường học Trường Đại học Hải Phòng
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 691,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng về việc dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp .... Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu đề tài: “Dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hải Phòng, tháng 10 năm 2020

Tác giả

Trần Thị Huyền Thơ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn

TS Nguyễn Thị Thuận, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá

trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban lãnh đạo, các thầy giáo, cô giáo, Trường Đại học Hải Phòng, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo

và các em học sinh của các Trường Tiểu học Hòa Bình 1, Trường Tiểu học

An Lư, Thủy Nguyên, Hải Phòng đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát

và thực nghiệm nghiên cứu đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, gia đình và người thân, những người đã động viên, khích lệ tôi rất nhiều trong thời gian học tập và nghiên cứu vừa qua

Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Hải Phòng, năm 2020

Người viết

Trần Thị Huyền Thơ

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG - BIỂU vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9

1.1 Cơ sở lí luận 9

1.1.1 Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực giao tiếp 9

1.1.2 Những hiểu biết chung về kể chuyện và văn bản truyện kể 15

1.1.3 Đặc điểm tâm li và ngôn ngữ của học sinh lớp 2 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 20

1.2.1 Nội dung dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2 20

1.2.2 Thực trạng về việc dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp 23

Tiểu kết chương 1 36

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP 37

2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 37

2.1.1 Bám sát mục tiêu nội dung chương trình dạy Tiếng Việt ở tiểu học 37

2.1.2 Kết hợp luyện kể chuyện với việc bồi dưỡng tình cảm cho học sinh 38

2.1.3 Nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh 39

2.2 Các biện pháp dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển NLGT 40

Để các biện pháp đưa ra đạt hiệu quả cao, trước khi vào tiết dạy, GV cần coi trọng công tác chuẩn bị để đạt được những yêu cầu sau: 40

2.2.1 Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực để tổ chức dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển NLGT 44

2.2.2 Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập kể chuyện phát triển NLGT cho học sinh lớp 2 55

Trang 6

2.2.3 Đánh giá trong dạy học Kể chuyện theo hướng phát triển NLGT cho

HS lớp 2 62

Tiểu kết chương 2 66

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67

3.1 Mục đích thực nghiệm 67

3.2 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm 67

3.3 Nội dung tổ chức thực nghiệm 68

3.4 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm 68

3.4.1 Đánh giá về mặt định lượng 68

3.4.2 Đánh giá về mặt định tính 69

3.5 Tổ chức thực nghiệm 69

3.6 Phân tích kết quả thực nghiệm 70

3.6.1 Kết quả thực nghiệm 70

3.6.2 Về mức độ rèn luyện kĩ năng 71

3.6.3 Về mặt hứng thú học tập của học sinh 72

Tiểu kết chương 3 75

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 8

DANH MỤC BẢNG - BIỂU

Số hiệu

1.1 Thống kê tên truyện trong SGK Tiếng Việt lớp 2 20 1.2 Bảng mô tả khái quát đối tượng khảo sát 24

1.3 Khảo sát nhận thức và thực trạng tổ chức dạy học kể

chuyện theo hướng phát triển NLGT của GV 26

1.4 Tổng hợp ý kiến phản hồi của HS lớp 2 về việc học

kể chuyện theo hướng phát triển NLGT 31 3.1 Bảng mô tả khái quát đối tượng thực nghiệm 69

3.3 Mức độ hứng thú của HS đối với các bài học TN 74

3.1 So sánh kết quả học tập sau TN của HS lớp TN và

3.2 So sánh mức độ hứng thú của HS lớp TN và ĐC 74

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Brian Tracy, một diễn giả động lực người Canada đã từng nói:

“Giao tiếp là một kỹ năng bạn có thể học Nó cũng giống như đi xe đạp hay tập đánh máy Nếu bạn sẵn sàng nhọc công vì nó, bạn có thể nhanh chóng cải thiện chất lượng của mọi phần trong cuộc sống của mình.” Kỹ năng giao tiếp tốt sẽ giúp bạn đạt được thành công trong công việc và cuộc sống một cách dễ dàng hơn Nhu cầu đầu tiên trong những nhu cầu cần thỏa mãn của con người chính là giao tiếp Con người biết được giá trị của người khác và chính bản thân mình nhờ giao tiếp Trên cơ sở đó cá nhân tự điều chỉnh, tự điều khiển bản thân theo các chuẩn mực xã hội Vì thế mà nhân cách con người ngày càng hoàn thiện hơn Không những thế giao tiếp còn có vai trò quan trọng đối với xã hội, nhờ giao tiếp mà các mối quan hệ xã hội của con người được tạo nên ngày càng phong phú về tinh thần của mỗi con người

1.2 Đối với trẻ em nói chung và học sinh tiểu học nói riêng, giao tiếp mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng Giao tiếp giúp các em được tham gia vào các hoạt động, vui chơi, hòa đồng hơn với bạn bè, giải tỏa được những băn khoăn, thắc mắc trong cuộc sống Không những thế, qua giao tiếp các em còn có thể tiếp thu, lĩnh hội được các tri thức khoa học Do vậy việc phát triển năng lực giao tiếp (NLGT) được đặt ra như một yêu cầu tất yếu đối với HS Tiểu học cùng với nhiệm vụ chủ đạo là học tập Bởi vậy nên việc giao tiếp, nói chuyện với thầy cô, bạn bè về việc học tập hay đơn giản là những vấn đề trong cuộc sống hằng ngày còn nhiều thiếu sót, các em hiểu ý nhưng không diễn đạt được ý của mình Điều này làm ảnh hưởng rất nhiều tới hoạt động tiếp thu tri thức khoa học của các em

1.3 Nhận thức được tầm quan trọng của giao tiếp, trong những năm vừa qua việc dạy học trong nhà trường đã hướng tới mục đích phát triển NLGT cho HS Các môn học đều được lồng ghép việc phát triển NLGT cho

HS để đảm bảo sự phát triển về nhân cách Các môn học được gắn kết đặc

Trang 10

biệt, sắp xếp phân bố hợp lý tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của HS, trong đó Tiếng Việt được xem là môn học có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển NLGT cho HS Trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học, Kể chuyện

là một phân môn có vai trò đặc biệt quan trọng Với việc rèn kĩ năng nghe nói,

Kể chuyện góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện khả năng giao tiếp cho

HS Kể chuyện là môn học cơ sở để HS học tập tốt môn Ngữ văn ở cấp học cao hơn

1.4 Tuy nhiên, hiện nay ở các trường tiểu học việc dạy học kể chuyện cho HS theo hướng phát triển NLGT vẫn chưa được thực sự chú ý đúng mức, còn gặp rất nhiều khó khăn Về mặt lí luận, hiện chưa có những công trình nghiên cứu về dạy học theo hướng phát triển NLGT cho HS trong từng phân môn theo đúng yêu cầu thực tiễn Thực tiễn giảng dạy cho thấy nhiều GV vẫn chưa thực sự ý thức được đích cao nhất trong dạy học Tiếng Việt là rèn kĩ năng giao tiếp cho HS Do đó việc lựa chọn hình thức và phương pháp dạy học còn chưa phù hợp, chưa mang lại hiệu quả cao Trong giờ dạy kể chuyện chưa quan tâm đến việc hình thành kĩ năng kể cho HS Ngôn ngữ được sử dụng phần lớn trong các giờ kể chuyện là ngôn ngữ nghệ thuật nên đòi hỏi HS phải kết hợp nhiều kĩ năng trong hoạt động giao tiếp Sự hạn chế về phương tiện dạy học và cơ sở vật chất cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động dạy và học Kể chuyện

1.5 Trong trường Tiểu học, dạy học kể chuyện cho HS theo hướng phát triển NLGT là yêu cầu đặt ra với tất cả các khối lớp HS lớp 2 là đối tượng dạy học ở giai đoạn đầu của bậc Tiểu học Qua năm học đầu tiên, các

em đã biết đọc và bước đầu gia nhập vào môi trường giao tiếp rộng rãi hơn trong mối quan hệ với thầy cô, bạn bè và thế giới xung quanh Tuy nhiên, trong giao tiếp các em còn rất lúng túng, thụ động Tham gia các tình huống giao tiếp thông qua học tập phân môn Kể chuyện, giúp HS vừa được nâng cao hiểu biết, vừa được phát triển NLGT, đặc biệt là thông qua việc rèn kĩ năng nói trong hội thoại, trong đơn thoại

Trang 11

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:

“Dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp” Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn đưa ra một số biện

pháp nhằm phát triển NLGT cho học sinh lớp 2 qua phân môn Kể chuyện

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2.1 Một số kết quả nghiên cứu về dạy học phát triển NLGT

Từ lâu việc nghiên cứu về giao tiếp đã là một đề tài quen thuộc, nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Các công trình được các nhà nghiên cứu tìm hiểu theo nhiều hướng khác nhau, nhưng về cơ bản những đặc điểm cũng như cách hiểu về năng lực giao tiếp đều được các nhà nghiên cứu phân tích khá kĩ Tuy nhiên, tùy mức độ nghiên cứu khái quát hay tổng hợp, thì không phải công trình nào cũng giống nhau

Từ những năm đầu thế kỉ XX, có nhiều nhà tâm lí, triết học, xã hội học

đã nghiên cứu về lĩnh vực giao tiếp Trong đó phải kể đến G.Mit (người Mỹ), C.Giaspe (người Đức), Mactin Babo (người Nhật Bản), Gien Marosen (người Pháp),… đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này

Ở nước Nga, vấn đề dạy học theo hướng giao tiếp và vận dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp được nói đến ngay từ những năm 60 của thế kỉ

XX Tài liệu “Phương pháp dạy tiếng mẹ đẻ” (NXB Giáo dục – 1989) đã viết:

“Ở nước Nga, lí thuyết về phương pháp giảng dạy lời nói liên kết được thiết lập vào những năm 60 Người ta tiếp cận nó không phải chỉ như đến với kết quả của quá trình nói năng mà đến với chính bản thân của quá trình đó – hoạt động nói năng”

Ở Việt Nam, dạy học theo hướng phát triển năng lực giao tiếp đã được quan tâm từ những năm 80 của thế kỉ trước Cải cách giáo dục 1989 – 1990 đã

có những định hướng và nhấn mạnh vấn đề này Từ đó đến nay đã có một số tài liệu bàn về NLGT, trong đó phải kể đến là:

Trong giáo trình “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” (dùng cho hệ trung cấp sư phạm – NXB Đại học sư phạm 1997) đã coi nguyên tắc giao tiếp là

Trang 12

một trong những nguyên tắc cơ bản, đặc thù của dạy học Tiếng Việt Các nhà

sư phạm đã chỉ ra: Trong dạy học Tiếng Việt phải thường xuyên tổ chức các hoạt động giao tiếp cho HS Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ nêu những ý kiến

có tính chất định hướng và những định hướng này phần nào đã được thể hiện

ở từng phân môn

Cuốn “Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở Tiểu học theo hướng giao tiếp” (NXB giáo dục – 1998) nêu các chức năng của giao tiếp bằng ngôn ngữ, mối quan hệ giữa giao tiếp với việc hình thành ngôn bản và đề cập đến những nhân tố ảnh hưởng đến giao tiếp Đây cũng là một định hướng cho giáo viên trong quá trình dạy học

Khi chương trình Tiểu học mới đã được hình thành, có nhiều tài liệu đề cập đến một số vấn đề về quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt Trong “Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV Tiểu học chu kì II” (2003 – 2004), tác giả khẳng định: “Một trong số những đổi mới trong chương trình

và sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học mới là dạy Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp Về nội dung dạy học: Phát triển các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường Về phương pháp dạy học: các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt được dạy thông qua các bài tập tình huống, phù hợp với giao tiếp tự nhiên, thông qua các phân môn”

Sách: “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” (Dự án phát triển

GV Tiểu học) đã chỉ rõ: môn Tiếng Việt bước đầu dạy cho HS nhận biết những tri thức sơ giản Trên cơ sở đó, rèn kỹ năng ngôn ngữ, giúp HS sử dụng Tiếng Việt có hiệu quả trong giao tiếp Cuốn sách đã trình bày về nguyên tắc phát triển lời nói (nguyên tắc giao tiếp) Một lần nữa, lí luận về nguyên tắc giao tiếp được nhắc đến với tư cách là nguyên tắc cơ bản trong dạy học Tiếng Việt

Ngoài ra, còn có một số tài liệu của các nhà ngôn ngữ các các nhà nghiên cứu giáo dục có liên quan đến việc dạy học phát triển NLGT như:

“Rèn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt” (Đào Ngọc, Nguyễn Quang Ninh), “Tiếng Việt và phương pháp sử dụng Tiếng Việt ở Tiểu học” (Đinh Thị Oanh, Vũ

Trang 13

Thị Kim Dung, Phạm Thị Thanh) … là những tài liệu giúp cho người viết đề tài có thêm những hiểu biết sâu sắc về lịch sử vấn đề có liên quan đến phạm

vi nghiên cứu

2.2 Một số kết quả nghiên cứu về dạy học kể chuyện

- Tác giả M.K Bogliuxkaia, V.V Septsenko đã cho ra mắt quyển Đọc và

kể chuyện văn học ở vườn trẻ Trong quyển sách này, tác giả đã cho thấy

những nghệ thuật và thủ thuật khi đọc cũng như những phương pháp dạy học một tiết kể chuyện

- Trong Dạy kể chuyện ở tiểu học, tác giả Chu Huy đã đưa ra mục tiêu, vị

trí, nhiệm vụ, phương pháp dạy học cũng như các hình thức tổ chức dạy học

Kể chuyện

- Tác giả Nguyễn Trí và Lê Phương Nga có công trình nghiên cứu Dạy

học Tiếng Việt 2 Trong công trình nghiên cứu này, hai tác giả đã vạch ra mục

đích quan trọng và ý nghĩa thiết thực của việc dạy học kể chuyện cách tổ chức dạy học một tiết Kể chuyện

- Trong Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, Nguyễn

Xuân Khoa đã chỉ ra phương pháp cũng như nghệ thuật đọc và kể chuyện rất đầy đủ, chi tiết

- Truyện cổ tích và một số biện pháp dạy học Kể chuyện cổ tích cho HS

lớp 1, 2, 3 của tác giả Phạm Thị Thu Thuỷ đã chỉ ra một số biện pháp dạy học

kể chuyện cổ tích cho HS các lớp 1, 2, 3 khá cụ thể

- Xác định quan niệm và biện pháp dạy học Kể chuyện ở tiểu học là đề

tài nghiên cứu của tác giả Trần Thị Mến Trong đề tài này, tác giả đã xác định quan niệm về dạy học Kể chuyện và đưa ra một số biện pháp dạy học cụ thể nhưng chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn học sinh kể lại câu chuyện vừa nghe thầy cô kể trên lớp

Xét về phạm vi tìm hiểu, các công trình nghiên cứu của các tác giả trên phần nào có bàn đến vấn đề dạy học theo hướng phát triển NLGT Tuy nhiên, phần lớn các bài viết còn thiên về mặt lí luận chung, mới nêu được đường

Trang 14

hướng chưa cụ thể hóa được việc dạy học theo hướng phát triển NLGT cho từng khối lớp, từng phân môn Mặc dù vậy, chúng tôi cũng thấy rằng các tài liệu kể trên thực sự là những tài liệu quý giúp chúng tôi có những cơ sở lí luận, những tiền đề cơ bản để triển khai đề tài

Do vậy, việc nghiên cứu để tìm biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học

kể chuyện cho HS lớp 2 theo hướng phát triển NLGT là một việc làm cần thiết, nhằm hỗ trợ cho GV trong quá trình dạy học nội dung này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu các phương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức dạy học Kể chuyện cho HS lớp 2 theo hướng phát triển NLGT của các em nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu dạy học

phát triển năng lực của giáo dục phổ thông hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài: “Dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp” luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những nội dung cơ bản về phát triển NLGT trong dạy học, những hiểu biết chung về kể chuyện và văn bản truyện kể lớp 2

- Tìm hiểu thực trạng dạy và học kể chuyện cho HS lớp 2 theo hướng phát triển NLGT

- Xây dựng các nguyên tắc dạy học và đề xuất một số biện pháp dạy học kể chuyện cho HS lớp 2 theo hướng phát triển NLGT

- Thực nghiệm được các phương pháp đã đề xuất để khẳng định được tính khả thi của đề tài

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu việc dạy và học kể

chuyện cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển NLGT

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 15

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng của việc dạy và học Kể chuyện

cho HS lớp 2 và những biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Kể chuyện cho

HS lớp 2 theo hướng phát triển NLGT Do điều kiện thời gian nghiên cứu có

hạn, luận văn chỉ giới hạn đối tượng khảo sát của đề tài bao gồm 12 GV dạy khối 2 và 417 HS lớp 2 của 2 Trường Tiểu học Hòa Bình 1 và Trường Tiểu học An Lư, Thủy Nguyên, Hải Phòng

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài này được thực hiện bằng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: thống kê - phân loại; điều tra - khảo sát; phân tích - tổng hợp

- Phương pháp thống kê – phân loại được sử dụng trong quá trình tìm

hiểu nội dung, phương pháp dạy học qua sách giáo khoa tiếng Việt tiểu học, hoặc điều tra năng lực giao tiếp của HS

- Phương pháp điều tra khảo sát được sử dụng trong quá trình dạy học,

dự giờ hoặc thông qua việc khảo sát các bài tập của HS để nhận xét thực tiễn dạy học Kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển NLGT ở tiểu học Kết quả điều tra, khảo sát là cơ sở của những phương pháp tổ chức dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển NLGT được sử dụng trong đề tài

- Phương pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng khi phân tích, lí giải

những vấn đề lí luận và thực tiễn đã đề cập trong đề tài như: một số vấn đề về phát triển NLGT, vai trò, đặc trưng của hoạt động kể chuyện, ưu điểm và tồn tại của việc dạy học Kể chuyện ở tiểu học

- Phương pháp thực nghiệm được sử dụng trong việc tiến hành dạy học

TN tại trường Tiểu học nhằm kiểm nghiệm và đánh giá tính khả thi của các biện pháp tổ chức dạy học Kể chuyện theo hướng phát triển NLGT cho HS lớp 2 đã được đề xuất trong luận văn

Ngoài các phương pháp chủ yếu nói trên, đề tài này còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: quan sát, phỏng vấn, trắc nghiệm khách quan

Trang 16

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Một số biện pháp dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực giao tiếp

1.1.1.1 Khái niệm năng lực

Vấn đề năng lực đã được tìm hiểu, bàn luận, đánh giá và định nghĩa

theo rất nhiều cách khác nhau từ nhiều bình diện, góc độ, ở trong nước cũng như trên thế giới

Nhóm lấy dấu hiệu tố chất tâm lí để định nghĩa: “Năng lực là một thuộc

tính tích hợp của nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động

đó có kết quả tốt đẹp” [22, tr 23]

Theo quan điểm của nhóm này, năng lực được hiểu là một tổ hợp các đặc điểm tâm lí của cá nhân, một thuộc tính của nhân cách phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Năng lực của con người phần lớn do quá trình hoạt động,

do tập luyện mà thành, không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có

Trong tâm lí học, năng lực chia thành các dạng khác nhau như: năng lực chung và năng lực chuyên môn Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khác nhau như: năng lực tư duy suy luận, năng lực hợp tác, năng lực trừu tượng hóa, năng lực khái quát hóa Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định nào đó của xã hội như: năng lực hội họa, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh Hai dạng năng lực chung trên có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau Năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn Những năng lực cơ bản này phải được hình thành, phát triển và bồi dưỡng ở con người thường xuyên, liên tục mà không phải là bẩm sinh đã có

Theo nhóm lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động

để định nghĩa: “Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ

năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí và thực hiện

Trang 18

thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống” [22, tr 23]

Năng lực có một số đặc điểm cơ bản, đó là: năng lực được hình thành và bộc lộ trong hoạt động; năng lực gắn với một hoạt động cụ thể; nó chịu sự chi phối của các yếu tố di truyền, môi trường và hoạt động của bản thân Năng lực bao gồm: tri thức, kĩ năng, tinh thần tự giác và tính tích cực hoàn thành nhiệm vụ Tri thức là những hiểu biết con người thu thập được trong sách vở,

từ việc học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của chính bản thân mình Kĩ năng là sự vận dụng những tri thức đã thu lượm được vào thực tế để tiến hành một hoạt động nào đó Tri thức và kĩ năng là điều kiện cần thiết để hoàn thành năng lực, song không đồng nhất với nhau Năng lực góp phần làm cho quá trình lĩnh hội tri thức, vận dụng kĩ năng tốt hơn Có năng lực hoạt động tức là

có tri thức, kĩ năng trong lĩnh vực đó, nhưng có tri thức, kĩ năng, không có nghĩa là có năng lực mà còn cần phải có tinh thần tự giác và tính tích cực hoàn thành nhiệm vụ nữa

Như vậy, để tạo nên năng lực của con người cần có đầy đủ các yếu tố: tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, tinh thần tự giác và tính tích cực hoàn thành nhiệm vụ

Để có năng lực trong một hoạt động nào đó, trước hết phải cung cấp tri thức,

kĩ năng, sau nữa là phải có tinh thần tự giác, tính tích cực trong hoạt động đó

1.1.1.2 Năng lực giao tiếp

* Khái niệm về năng lực giao tiếp

Theo Hymes, NLGT là năng lực biết khi nào nên nói, khi nào không,

nói điều gì, nói với ai, nói ở đâu, nói theo cách nào [10, tr 2]

Tuy nhiên NLGT vẫn chưa được hiểu và lý giải một cách thống nhất luôn dù nó đã là mục tiêu cơ bản của các chương trình dạy học ngôn ngữ hiện

nay Theo Widdowson, “NLGT của người nói bao gồm cả sự hiểu biết về

những quy tắc mà tạo cho người nói có khả năng sử dụng chúng một cách phù hợp để thực hiện những hành vi tu từ phong cách trong những tình huống giao tiếp xã hội nhất định Do những quy tắc sử dụng này mang đặc

Trang 19

trưng văn hóa và không thể thụ đắc một cách tự nhiên, nên chúng cần được

mô tả cặn kẽ và dạy cẩn thận” Ông cũng có cùng quan điểm với Hymes về

NLGT [12, tr 3]

Murby (1978) cho rằng khái niệm “NLGT” phải bao hàm khái niệm

“năng lực ngữ pháp” Nếu không đưa khái niệm ”năng lực ngữ pháp” vào khái niệm “năng lực giao tiếp” thì rất dễ làm cho người ta đi đến kết luận rằng: 1) Năng lực ngữ pháp và NLGT là hai loại năng lực phát triển độc lập với nhau và thường ưu tiên phát triển năng lực ngữ pháp trước 2) Năng lực ngữ pháp không phải là một thành tố cơ bản của NLGT" [10, tr 4]

Như vậy có thể định nghĩa như sau về NLGT: NLGT là khả năng vận

dụng kiến thức, kinh nghiệm, thái độ, tình cảm liên quan đến giao tiếp, đảm bảo hoạt động giao tiếp thu được hiệu quả

* Các thành tố của năng lực giao tiếp

Có rất nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu xoay quanh vấn đề các thành tố của NLGT Theo Celce Marcia, NLGT gồm có năm khía cạnh: năng lực ngôn ngữ, năng lực diễn ngôn, năng lực hành động lời nói, năng lực văn hóa xã hội, năng lực chiến lược

Năng lực ngôn ngữ là các kiến thức về hệ thống ngôn ngữ (ngữ âm, từ

vựng, ngữ pháp, chính tả, từ ngữ, câu văn, đoạn văn, văn bản ), đây chính là

cơ sở để chúng ta thực hiện giao tiếp Năng lực ngôn ngữ rất quan trọng trong cách tiếp cận giao tiếp, hướng tới mục đích đạt được trình độ hiểu và sử dụng

chính xác cách diễn đạt ngôn ngữ

Năng lực diễn ngôn là khả năng tổ chức, sắp xếp các từ ngữ, câu văn

mang tính liên kết và mạch lạc, thể hiện các ý tưởng một cách lôgic và thống nhất Năng lực diễn ngôn đặt ra những câu hỏi như: các từ ngữ và câu kết hợp lại với nhau như thế nào để tạo thành một đoạn văn, đoạn hội thoại, bài văn, bài diễn thuyết, bức thư

Năng lực hành động lời nói là khả năng biểu đạt các ý định bằng các

hình thái ngôn ngữ thích hợp dựa trên kiến thức đã biết và việc vận dụng kĩ

Trang 20

năng về ngôn ngữ phù hợp với các ngữ cảnh giao tiếp Năng lực này đòi hỏi cần phải có khả năng diễn đạt suy nghĩ, tình cảm của mình để tạo ra lời nói

Năng lực văn hóa - xã hội là khả năng biểu đạt hành động lời nói một

cách phù hợp trong bối cảnh văn hóa - xã hội Năng lực này giúp cho việc sử dụng ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, nội dung và các mối quan hệ

xã hội Năng lực văn hóa - xã hội đặt ra những câu hỏi như: những từ ngữ nào phù hợp với tình huống giao tiếp và nội dung này? Cần phải diễn đạt bằng thái độ cụ thể (lịch sự, thân thiện, tôn trọng ) như thế nào khi cần thiết? Làm sao để biết được người đối thoại đang có thái độ như thế nào?

Cuối cùng, năng lực chiến lược là khả năng đàm phán về mặt ngữ

nghĩa, khả năng sử dụng các chiến lược giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ

để nhận diện và giải quyết những sự đụng độ trong giao tiếp, để lấp đầy những khoảng trống tri thức về ngôn ngữ trong cảnh huống Năng lực chiến lược đặt ra những câu hỏi như: Làm thế nào để biết lời nói của mình đã bị hiểu sai và khi đó cần phải nói gì? Cần phải làm gì để diễn đạt ý tưởng của mình nếu không biết từ ngữ cụ thể dùng để diễn đạt nó là gì?

Ở nước ta, các nhà nghiên cứu cho rằng năm năng lực trên quá phức tạp

và rất khó triển khai trong chương trình giáo dục phổ thông Hơn nữa, “năng lực hành động lời nói” chưa đầy đủ trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Ngoài hành động “biểu đạt các ý định bằng hình thái ngôn ngữ thích hợp dựa trên kiến thức và kĩ năng về ngôn ngữ phù hợp với các ngữ cảnh giao tiếp” (tạo lập lời nói) trong giao tiếp còn phải bao gồm hành động nghe và đọc (tiếp nhận lời nói) Còn năng lực “chiến lược” thì chỉ cần thiết ở giai đoạn đầu khi chưa nắm vững ngôn ngữ đối với người học ngoại ngữ hoặc học ngoại ngữ thứ hai (ví dụ người dân tộc ít người học tiếng Việt) Bởi vậy, các nhà nghiên cứu tương đối thống nhất quan niệm năng lực giao tiếp bao gồm:

- Năng lực ngôn ngữ (tương đương với hai năng lực đầu tiên: năng lực ngôn ngữ và năng lực diễn ngôn)

- Năng lực hoạt động lời nói (đọc, nghe, nói, viết) phù hợp với ngữ

Trang 21

cảnh, đạt hiệu quả

- Năng lực văn hóa xã hội

Trong luận văn này chúng tôi theo quan niệm phổ biến trên đây NLGT

là khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, thái độ, tình cảm liên quan đến

giao tiếp, đảm bảo hoạt động giao tiếp thu được hiệu quả

1.1.1.3 Dạy học phát triển năng lực giao tiếp

Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng: giao tiếp là một phần quan trọng và cũng là nền tảng của giáo dục

Dạy học phát triển NLGT là mô hình dạy học nhằm phát triển tối đa NLGT của người học, trong đó, người học tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự

tổ chức, hướng dẫn của người dạy Quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang hát triển toàn diện năng lực của người học trên nguyên lý:

- Học đi đôi với hành;

- Lí luận gắn với thực tiễn;

- Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình, xã hội

Để giúp hiểu rõ hơn bản chất của dạy học phát triển NLGT, chúng tôi xin làm phép so sánh giữa dạy học định hướng nội dung với dạy học theo hướng phát triển NLGT:

Nếu dạy học định hướng nội dung đề cao mặt “Học để nắm tri thức” thì

dạy học phát triển NLGT cho HS đề cao mặt “Học để hình thành kĩ năng sử

dụng tiếng Việt”, tạo cơ hội để HS xem xét lời nói của mình, cách giao tiếp

với người khác trong những tình huống cụ thể

Dạy học định hướng nội dung chủ trương dạy thực hành để nắm lý thuyết mà ít chú trọng thực hành các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Do đó chưa giúp học sinh tạo được những lời nói phù hợp với thái độ, hoàn cảnh Dạy học

phát triển NLGT cho học sinh dạy thực hành để giúp HS ứng dụng vào hoàn

cảnh cụ thể

Nếu như dạy học định hướng nội dung chú trọng việc giáo dục các em một cách nhẹ nhàng, thoải mái thông qua các bài học trong truyện, vốn văn

Trang 22

học của các em ngày càng được tích luỹ, mở rộng và rèn luyện kĩ năng nói, kể thì dạy học phát triển NLGT lại chú trọng phát triển kĩ năng nói, kể một cách

tự tin, mạnh dạn và nghe hiểu nội dung, nắm được ý chính Đồng thời trí tưởng tượng và ước mơ hoài bão của các em cũng phát triển

Sự thành công của dạy học phát triển NLGT là quan tâm tới việc dạy học kể chuyện đặt trong ngữ cảnh và tình huống giao tiếp cụ thể, phát triển trí tưởng tượng và mở rộng hiểu biết về vốn sống cho HS Việc này giúp các em nâng cao hiệu quả giao tiếp và tạo lập được những phát ngôn đúng; đồng thời làm cho ngôn ngữ của HS trở nên phong phú, sắc bén hơn, đạt hiệu quả cao trong học tập và giao tiếp

Có thể khái quát dạy học theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp

thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

Một, việc dạy học thông qua tổ chức nhiều hoạt động học tập, giúp HS

tự khám phá những kiến thức chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn GV sẽ là người tổ chức và điều khiển HS tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn

Hai, dạy học chú trọng rèn luyện cho HS biết khai thác các kiến thức

trong SGK và các tài liệu học tập liên quan, biết cách tự tìm lại những kiến thức

đã có, suy luận, tìm tòi để phát hiện ra kiến thức mới Định hướng cho HS cách

tư duy và phát triển các thao tác như: phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo

Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học sẽ

trở thành môi trường giao tiếp giữa GV và HS, HS và HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm

vụ học tập chung

Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến

trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập Phát triển kĩ năng tự đánh giá của cá nhân HS và đánh giá lẫn nhau với nhiều hình thức đa dạng như theo lời giải

Trang 23

hay đáp án mẫu, theo hướng dẫn hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót

1.1.2 Những hiểu biết chung về kể chuyện và văn bản truyện kể

1.1.2.1 Kể chuyện là gì?

Đất nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đã có nhiều đổi thay về mọi lĩnh vực qua từng ngày, từng giờ Hiện nay, sự bùng nổ công nghệ thông tin, xu hướng toàn cầu hóa thì vấn đề “hòa nhập nhưng không hòa tan” - phát triển cùng thế giới mà vẫn giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc dân tộc đòi hỏi nền giáo dục phải có những đổi mới đột phá để đào tạo ra thế

hệ tương lai tài giỏi cho đất nước Từ những yêu cầu trên giáo dục cần đổi mới trong quá trình dạy tiếng nói chung và tiếng mẹ đẻ nói riêng để Tiếng Việt trở thành công cụ đắc lực không chỉ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, mà còn đóng góp cho chính sự phát triển của ngành Giáo dục

Như vậy, việc dạy tiếng mẹ đẻ cho học sinh một cách cẩn thận, khoa học

có vai trò vô cùng quan trọng giúp trẻ có thể sử dụng công cụ này để học tập, chiếm lĩnh tri thức, có kĩ năng ứng xử, giao tiếp trong suốt quá trình học tập

và cả cuộc đời

Muốn vậy, việc dạy Tiếng Việt cần chú trọng rèn cả bốn kĩ năng nghe - nói - đọc - viết, phải hướng tới phát triển NLGT cho HS Việc rèn các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt được dạy ở tất cả các môn học Phân môn kể chuyện có nhiệm vụ rất quan trọng là rèn kĩ năng kể chuyện - một trình độ cao hơn của kĩ năng nói thông thường, mang tính nghệ thuật và rèn kĩ năng nghe đúng và chính xác Qua phân môn kể chuyện có thể bồi dưỡng cho HS về ngôn ngữ nói giúp các em biết nói

năng lịch sự, thể hiện sự văn minh trong giao tiếp

Tác giả Nguyễn Trí cho rằng: Kể chuyện là một phương thức tự sự, một phương thức biểu đạt để kể các chuyện [23]

Theo tác giả Chu Huy, “kể chuyện” bao gồm bốn phạm trù ngữ nghĩa

như sau: [9]

Một là: Chỉ một loại hình tự sự trong văn học

Trang 24

Hai là: Chỉ tên một phương pháp nói trong diễn giảng

Ba là: Chỉ tên một loại văn thuật chuyện trong môn Tập làm văn

Bốn là: Chỉ tên một phân môn ở các lớp trong trường Tiểu học

Tóm lại: Kể chuyện là lời độc thoại mang tính nghệ thuật nhằm truyền đến người nghe một văn bản nghệ thuật Sự thành công của việc kể chuyện

do nhiều yếu tố tạo nên: nội dung câu chuyện, nghệ thuật kể chuyện, khả năng cảm nhận của người kể, cách sử dụng ngữ điệu, ngôn ngữ hình thể để

hỗ trợ giúp người kể làm sống lại câu chuyện

1.1.2.2 Vai trò, đặc trưng của hoạt động kể chuyện

Trong đời sống hằng ngày, không chỉ trẻ em mà cả người lớn ai cũng rất thích được nghe kể chuyện Trong nhà trường Tiểu học, kể chuyện là một nhu cầu thiết yếu của các em HS Các văn bản truyện kể được dùng cho hoạt động kể

chuyện gồm rất nhiều thể loại khác nhau: không chỉ có truyện dân gian, cổ tích mà bao gồm cả truyện hiện đại nhằm mục đích giáo dục, giáo dưỡng và rèn kĩ năng tổng hợp cho người đọc Dạy học kể chuyện ngoài đáp ứng nhu cầu của học HS còn góp phần thực hiện yêu cầu của chương trình là nhằm hình thành và phát triển NLGT cho HS

Kể chuyện giúp học sinh tiếp xúc sớm nhất với các tác phẩm văn học nghệ thuật có sức lôi cuốn kì lạ với nhiều thể loại làm giàu vốn sống và vốn văn học cho trẻ Mỗi câu chuyện giúp học sinh khám phá thế giới muôn màu sắc, góp phần quan trọng để hình thành nhân cách cho trẻ qua các nhân vật trong truyện Từ đó các em có nhận thức đúng đắn về thế giới xung quanh, có trách nhiệm của bản thân, giáo dục kĩ năng sống giúp các em biết ứng xử phù hợp với mọi tình huống giao tiếp trong cuộc sống

Mỗi câu chuyện còn mở rộng hiểu biết và chắp cánh cho trí tưởng tượng của các em được bay bổng Sự phát triển trí tưởng tượng là phẩm chất quý giá của con người, là bệ phóng cho hoài bão, ước mơ cao đẹp, là hành trang quý báu giúp các em vững bước vào đời Không những thích nghe kể

Trang 25

chuyện mà học sinh Tiểu học còn có nhu cầu rất lớn trong việc giao lưu, chia

sẻ với thầy cô, bạn bè, thích kể chuyện cho mọi người nghe.Vì khi kể chuyện học sinh cần huy động tư duy lô-gíc, trí nhớ để được hòa nhập vào toàn bộ câu chuyện để thể hiện là người dẫn chuyện, là các nhân vật, khi thể hiện sự sung sướng hả hê, lúc buồn rầu lo lắng theo diễn biến câu chuyện

Trong tiết kể chuyện, ngôn ngữ được GV và HS sử dụng chủ yếu là ngôn ngữ nghệ thuật, tức là ngôn ngữ được chọn lọc, có tính hàm súc HS trên cơ sở nắm vững nội dung truyện sẽ dùng lời và các yếu tố phi ngôn ngữ

để kể lại truyện Việc diễn đạt hay, lưu loát, hấp dẫn, khả năng nghe, hiểu tốt chính là sự thể hiện kĩ năng giao tiếp của HS Qua giờ học kể chuyện, HS được rèn luyện rất nhiều kĩ năng: kĩ năng nghe, kĩ năng ghi nhớ, kĩ năng nói trước đám đông, diễn tả điều muốn trình bày với lời lẽ gọn gàng, chính xác, rành mạch, có ngữ điệu, thuyết phục người nghe

1.1.2.3 Các loại truyện kể trong chương trình Tiểu học

Chương trình Kể chuyện ở Tiểu học, thuộc rất nhiều thể loại khác nhau

như: Truyện thần thoại,, Truyện truyền thuyết, Truyện cổ tích, Truyện vui dân

gian (Truyện cười,) Truyện ngụ ngôn, Truyện lịch sử, Truyện danh nhân, Truyện khoa học, Truyện người thực, việc thực, Truyện cảnh giác, Truyện sinh hoạt, Truyện đồng thoại Các loại truyện này được lựa chọn và đưa vào

chương trình Kể chuyện ở Tiểu học nhằm giúp HS có kiến thức sâu sắc, toàn diện Sự lựa chọn này giúp ích rất lớn cho việc phát triển NLGT cho HS Với người GV, để dạy tốt giờ học cần phân loại được truyện kể tạo nên không gian hợp lí cho câu chuyện

Riêng các loại truyện kể trong chương trình lớp 2 sẽ được chúng tôi nhận xét, đánh giá trong mục 1.2.1 bên dưới

1.1.3 Đặc điểm tâm lí và ngôn ngữ của học sinh lớp 2

1.1.3.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 2

HS lớp 2 đã qua năm học đầu tiên trong nhà trường Tiểu học Các hoạt động sinh hoạt, vui chơi, học tập của các em không còn phụ thuộc quá nhiều

Trang 26

vào sự chỉ bảo, dẫn dắt của người lớn Các em phần lớn đã xác định được kỉ luật học tập như: đi học đúng giờ, chăm chú nghe giảng, học bài và làm bài tập tại lớp, giữ gìn trật tự…

Về động cơ học tập của HS lớp 2 chưa thật bền vững, còn thiên về cảm tính Các em tham gia học tập do thích thú sự hấp dẫn của bộ môn hoặc thầy

cô Bởi vậy, trong học tập, GV phải giúp HS có thái độ học tập đúng đắn, tạo cho các em sự hứng thú, kích thích nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh

Về tri giác: HS lớp 2 tri giác vẫn mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết, phân biệt đối tượng chưa chính xác, dễ nhầm lẫn Trực quan sinh động dễ gây ấn tượng và giúp HS tri giác tốt, cho nên việc sử dụng trực quan sẽ lôi cuốn các em vào hoạt động học tập Trong dạy kể chuyện, nếu HS được tri giác các hình ảnh minh họa nội dung câu chuyện sẽ giúp các em nhớ lại các tình tiết, chi tiết trong câu chuyện, kể chuyện một cách tự nhiên, ít phụ thuộc vào văn bản truyện

Về tư duy: Năng lực tư duy của HS lớp 2 đã có bước phát triển Tư duy của các em không còn thiên về dấu hiệu bên ngoài, cụ thể trực quan mà tư duy sâu sắc hơn, có thể thoát khỏi sự vật để hình thành khái niệm Từ những biểu hiện, hành động của nhân vật trong chuyện, HS có thể khái quát để thấy được kẻ tốt, người xấu, cái đáng học tập và đáng chê trách

Về khả năng sáng tạo và trí tượng tượng: HS lớp 2 có trí tưởng tượng phong phú, bay bổng Các em có thể sáng tạo ra những chi tiết mới đáp ứng yêu cầu của bài học

Về quan hệ: HS lớp 2 có mối quan hệ giao tiếp, quan hệ xã hội bắt đầu được mở rộng Các em cũng rất thích thể hiện mình, thích nói lên lời suy nghĩ, hiểu biết của mình Nhưng cũng cần chú ý thêm về một số dối tượng HS còn rụt rè nhút nhát, chưa tự tin tham gia vào hoạt động nói năng, giao tiếp

GV cần chú ý để động viên, khuyến khích đối tượng này

Về năng lực cảm thụ: HS bắt đầu hình thành năng lực cảm thụ về một câu chuyện nhưng chưa sâu sắc Các em đã biết đánh giá, bình phẩm những

Trang 27

hành động, chi tiết, tình tiết trong cốt truyện để hiểu được nhân vật và rút ra bài học cho bản thân… Tuy nhiên, do mới giai đoạn đầu nên khả năng cảm thụ của HS mới chỉ dừng ở những câu chuyện chưa thật phức tạp

Về cảm xúc: Các em lứa tuổi này rất dễ xúc động và xúc động cao Các

em dễ vui buồn, yêu ghét, hòa mình vào nhân vật trong truyện Cảm xúc của các em rất tự nhiên

Đặc điểm tâm lý lứa tuổi của HS lớp 2 là cơ sở cho việc dạy kể chuyện theo hướng phát triển NLGT GV cần khai thác triệt để yếu tố thuận lợi và khắc phục những yếu tố bất lợi để có thể phát huy mọi khả năng tiềm ẩn trong tâm hồn trẻ thơ vào hoạt động kể chuyện

1.1.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh lớp 2

Ngôn ngữ của các em đang phát triển mạnh cả về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Qua việc tham gia ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động hoạt động giao tiếp với những người xung quanh và việc tiếp thu tri thức qua các môn học, các em ngày càng mở rộng vốn từ ngữ phong phú hơn, giàu sức biểu đạt

và giàu hình ảnh hơn Việc nói năng của các em đã đúng ngữ pháp, đúng quy tắc phát ngôn, có đầu, có cuối tuy nhiên, ở một số em vẫn còn hiện tượng phát âm sai, viết sai ngữ pháp

HS lớp 2 ngôn ngữ rất tự nhiên, trong sáng Ngôn ngữ của lứa tuổi này thường tự nhiên và chứa nhiều yếu tố cảm xúc, không phải là ngôn ngữ khoa học Vì thế, với mỗi bài kể chuyện HS thể hiện cảm xúc của mình bằng cách phát ngôn từ trong cuộc sống rất tự nhiên và chân thành

Ngôn ngữ của HS lớp 2 rất tự nhiên, sinh động và giàu tính tạo hình

Do được rèn luyện thường xuyên về mặt ngôn ngữ qua tất cả các phân môn của Tiếng Việt nên khả năng diễn đạt của HS cũng được nâng cao dần, HS sáng tạo ngôn ngữ của mình để ngày càng hấp dẫn người nghe hơn Tuy nhiên, trong dạy học kể chuyện, GV cần chú ý những yếu tố trong ngôn ngữ của HS vì đây là ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ chân thật, gần gũi giúp

Trang 28

người nghe dễ hiểu truyện nhưng không nên quá sơ sài, đơn giản GV cần giúp HS lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp để giao tiếp đạt hiệu quả

Nắm được đặc điểm ngôn ngữ của HS lớp 2 giúp GV có thêm điều kiện thuận lợi để phát triển NLGT trong dạy học kể chuyện Từ đó, thực hiện hiệu quả mục tiêu phân môn đã đặt ra

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nội dung dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2

Nội dung dạy học kể chuyện trong SGK được tổng hợp bằng bảng sau:

Bảng 1.1: Thống kê tên truyện trong SGK Tiếng Việt lớp 2

1 Có công mài sắt, có ngày nên kim

13 Câu chuyện bó đũa

Trang 29

19 Chim sơn ca và bông cúc trắng

3 tuần) Các chủ điểm này đều gần gũi, thân thiết với HS xoay quanh cuộc sống hằng ngày của các em Điều này tạo nên sự phong phú về nội dung và thể loại cho các câu chuyện mà HS được học

Ở lớp 2, Kể chuyện gắn bó chặt chẽ với phân môn Tập đọc Nội dung của cả 31 tiết kể chuyện đều là kể lại những câu chuyện HS đã được học trong bài tập đọc 2 tiết đầu tuần Các em được học mỗi tuần một tiết kể chuyện (trừ những tuần ôn tập giữa học kì và cuối học kì) Khác với chương trình kể chuyện ở lớp 3, HS cũng được kể lại câu chuyện của tiết tập đọc nhưng thời lượng của mỗi giờ Kể chuyện chỉ là 0,5 tiết Còn ở lớp 4, 5 thời lượng của các giờ Kể chuyện là 1 tiết nhưng đòi hỏi HS ở mức độ cao hơn Các câu chuyện

HS kể lại không có trong các bài tập đọc đầu tuần mà các em có thể được thầy

cô kể mẫu dựa vào tranh và gợi ý trong SGK, hoặc các câu chuyện em đã

Trang 30

được đọc, được nghe, được chứng kiến, tham gia Điều này cho thấy dạy học

Kể chuyện ở lớp 2 rất quan trọng, đây là nền tảng để các em phát triển được các kĩ năng nghe, nói với mức độ cao hơn ở các lớp học sau của bậc Tiểu học.Những câu chuyện trong các bài học góp phần hình thành ở trẻ nhận thức đúng đắn về thế giới xung quanh và trách nhiệm bản thân, biết chinh phục thiên nhiên nhưng cũng phải sống hòa hợp với thiên nhiên (Ông Mạnh thắng Thần Gió), tình cảm dân tộc, gia đình, bạn bè (Câu chuyện bó đũa, Bạn của Nai Nhỏ, Sự tích cây vú sữa…)

Nội dung dạy học kể chuyện lớp 2 đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa phân môn này với các phân môn khác của môn Tiếng Việt như Tập đọc, Tập làm văn Việc lấy văn bản của giờ Tập đọc làm ngữ liệu cho giờ Kể chuyện

đã đáp ứng yêu cầu dạy Tiếng Việt theo hướng giao tiếp Do các văn bản của giờ Tập đọc HS đã được luyện đọc, tìm hiểu nội dung giúp các em hiểu được nội dung câu chuyện nên việc kể lại truyện sẽ thuận lợi và dễ dàng hơn Dạy

Kể chuyện sẽ tiết kiệm được khá nhiều thời gian vì không phải đầu tư nhiều cho việc đọc truyện, hướng dẫn tìm hiểu truyện GV có thể dành nhiều thời gian để phát triển NLGT cho HS

Chương trình môn Tiếng Việt lớp 2 đã chú ý đến vấn đề phát triển NLGT Với nội dung gần gũi, quen thuộc gắn bó với cuộc sống, qua việc Kể chuyện, HS có thể rút ra bài học ứng xử và giao tiếp trong gia đình, nhà trường, xã hội Giờ học Kể chuyện mang lại điều kiện tốt để HS được giao tiếp tự nhiên và hiệu quả Thông qua hoạt động nói năng, biểu đạt bằng lời và bằng hành động, HS có thêm niềm tin vào bản thân, hiểu rõ hơn về khả năng của mình Dạy học Kể chuyện ở lớp 2 cũng như các khối lớp khác là điều kiện cho HS phát triển NLGT với mọi môi trường

Không được phong phú về các thể loại truyện như các lớp khác của bậc Tiểu học, các loại truyện trong chương trình kể chuyện ở lớp 2 có thể phân thành các thể loại sau:

Trang 31

- Truyện cổ tích: gồm 5 truyện (Sự tích cây vú sữa, Hai anh em, Bà cháu, Tìm ngọc, Ông Mạnh thắng Thần Gió)

- Truyện thần thoại: có 2 truyện (Sơn Tinh – Thủy Tinh, Chuyện quả bầu)

- Truyện ngụ ngôn: có 6 truyện (Có công mài sắt có ngày nên kim, Chuyện bốn mùa, Một trí khôn hơn trăm trí khôn, Kho báu, Câu chuyện bó đũa, Quả tim Khỉ)

- Truyện danh nhân: có 3 truyện (Ai ngoan sẽ được thưởng, Chiếc rễ đa tròn, Bóp nát quả cam)

- Truyện đồng thoại: có 3 truyện (Bạn của Nai Nhỏ, Chim sơn ca và bông cúc trắng, Bác sĩ Sói)

- Truyện sinh hoạt: có 10 truyện, là những truyện còn lại trong chương trình Chương trình Kể chuyện lớp 2 vắng bóng các câu chuyện khoa học và xuất hiện thưa thớt những truyện người thực, việc thực Trong các thể loại truyện trên, truyện sinh hoạt chiếm số lượng lớn nhất Những câu chuyện gần gũi với cuộc sống đời thường sẽ giúp các em hiểu về cuộc sống, biết cách giao tiếp, ứng xử trong cuộc sống

Việc tiếp xúc với nhiều thể loại truyện giúp HS được rèn luyện kỹ năng tổng hợp trong Kể chuyện Qua từng câu chuyện, HS rèn khả năng lựa chọn

và sử dụng ngôn ngữ để phù hợp với hoàn cảnh, giao tiếp tốt hơn trong các môi trường khác nhau

1.2.2 Thực trạng về việc dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 2 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp

1.2.2.1 Mục đích khảo sát

Dựa vào việc khảo sát thực trạng dạy và học Kể chuyện cho HS lớp 2 theo hướng phát triển NLGT để rút ra được thực trạng dạy và học Kể chuyện cho HS lớp 2 theo hướng phát triển NLGT và những vấn đề liên quan đến thực tiễn dạy học kể chuyện theo hướng phát triển NLGT ở lớp 2 Tiểu học hiện nay Trên cơ

sở đó chúng tôi đề xuất một số biện pháp dạy học và xây dựng một số dạng bài

tập kể chuyện cho HS lớp 2 theo hướng phát triển NLGT

Trang 32

1.2.2.2 Đối tượng khảo sát

Do điều kiện thời gian có hạn, chúng tôi chỉ xin lựa chọn 12 GV và 417

HS khối 2 Trường Tiểu học Hòa Bình 1 và Trường Tiểu học An Lư, Thủy Nguyên, Hải Phòng làm đối tượng khảo sát

Bảng 1.2: Bảng mô tả khái quát đối tượng khảo sát

SỐ LƯỢNG

GV

SỐ LƯỢNG

HS

1 Tiểu học Hòa Bình 1 6

Đỗ Thu Hiền 2a1 33 Đòa Thị Lương 2a2 30 Nguyễn Thị Thúy Vân 2a3 33 Đào Thị Nguyên 2a4 31 Nguyễn Thị Thu Thủy 2a5 35 Hoàng Thị Trang 2a6 31

2 Tiểu học An Lư 6

Hoàng T Thùy Dương 2a1 36 Trần Thị Hoàng Yến 2a2 37 Trần Thị Minh Châu 2a3 39

Vũ Thị Thu Hà 2a4 37 Bùi Thị Thanh Tâm 2a5 37

Lê Thị Thảo 2a6 38

Để tìm hiểu sâu hơn, bao quát hơn về thực trạng dạy học Kể chuyện theo hướng phát triển NLGT cho HS lớp 2, chúng tôi đã lựa chọn Trường Tiểu học Hòa Bình 1 và Trường Tiểu học An Lư, Thủy Nguyên, Hải Phòng

là địa điểm cụ thể để khảo sát Hai ngôi trường này nằm trong cùng cụm chuyên môn, đều được sự chỉ đạo và quan tâm từ phòng giáo dục huyện Thủy Nguyên Bên cạnh đó, cả hai trường đều có đội ngũ GV có trình độ cao (từ đại học trở lên), giàu kinh nghiệm dạy học và có tâm với nghề HS

Trang 33

ở cả hai trường có số lượng đồng đều Hầu hết các em đều ngoan ngoãn, lễ phép, thuận lợi cho việc khảo sát

1.2.2.3 Nội dung khảo sát

- Tìm hiểu thực trạng dạy học kể chuyện theo hướng phát triển NLGT cho HS lớp 2 của GV tiểu học

- Tìm hiểu thực trạng phát triển NLGT của HS lớp 2 trong giờ kể chuyện

1.2.2.4 Phương pháp khảo sát

- Phỏng vấn 12 GV dạy lớp 2 của Trường Tiểu học Hòa Bình 1 và Trường Tiểu học An Lư về mục tiêu, nội dung, PPDH theo hướng phát triển

NLGT, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình dạy học

- Điều tra khảo sát thực tế dạy và học của GV và HS Trường Tiểu học Hòa Bình 1, Trường Tiểu học An Lư, Thủy Nguyên, Hải Phòng

- Dự giờ 6 tiết học kể chuyện theo hướng phát triển NLGT của GV lớp 2 của 6 GV tại 2 trường Tiểu học Hòa Bình 1 và Trường Tiểu học An Lư, Thủy

Phiếu số 1 (Phụ lục 2, Tr.11)

Phiếu điều tra được gửi về 2 trường Tiểu học nằm trong địa bàn huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng: Trường Tiểu học Hòa Bình 1, Trường Tiểu học An Lư Việc khảo sát được thực hiện nghiêm túc, kết quả được chúng tôi tổng hợp trong bảng sau đây:

Trang 34

Bảng 1.3: Khảo sát nhận thức và thực trạng tổ chức dạy học kể chuyện

theo hướng phát triển NLGT của GV

TT Nhận thức và thực trạng tổ chức dạy học kể chuyện

theo hướng phát triển NLGT

Tổng hợp

Số phiếu

Tỉ lệ (%)

1

Theo thầy (cô) dạy học kể chuyện theo định hướng

phát triển năng lực giao tiếp là:

a Giúp HS tự khám phá những điều chưa biết chứ

không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt

sẵn

0 0,0

b Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập

hợp tác trở thành môi trường giao tiếp trong giải

quyết các nhiệm vụ học tập trung

0 0,0

c Chú trọng phát triển kĩ năng tự đánh giá và đánh

giá lẫn nhau của HS với nhiều hình thức khác nhau 0 0,0

d Tạo điều kiện cho HS rèn luyện và phát triển kĩ năng

e Kích thích tính chủ động của HS trong giờ học 0 0,0

2

Khi dạy học kể chuyện cho HS lớp 2 theo định

hướng phát triển năng lực giao tiếp, thầy(cô) đã sử

dụng hệ thống bài tập như thế nào?

a Sử dụng toàn bộ các bài tập, câu hỏi gợi ý trong

b Chỉ chọn một số bài tập, câu hỏi trong SGK, SGV 0 0,0

c Tự mình xây dựng và sưu tầm những bài tập, câu

hỏi phù hợp với mục đích của bài dạy và đối tượng

HS

5 41,7

Trang 35

3

Thầy (cô) có nhận xét gì về nội dung giảng dạy Kể

chuyện trong SGK Tiếng Việt lớp 2 hiện nay

a Các câu chuyện gần gũi, đưa ra những bài học ý

b Các câu chuyện phù hợp với thực tiễn khi giao

tiếp và kinh nghiệm sống của HS 0 0,0

c Các câu chuyện gây được hứng thú với HS 0 0,0

d Chưa có nhiều dạng bài tập phát triển năng lực của

e Các câu chuyện không gây được hứng thú cho HS 0 0,0

f Một số bài tập còn khó hiểu, chưa phù hợp với

4

Theo thầy (cô) bài tập Kể chuyện trong SGK hiện

nay có phát huy được năng lực giao tiếp của HS :

5

Khi dạy học Kể chuyện cho HS lớp 2, ngoài các

bài tập trong SGK, thầy (cô) có xây dựng thêm

các bài tập cho HS ôn luyện không?

Thầy (cô) lựa chọn 1 trong 4 trường hợp cần đạt nào

sau đây khi rèn kĩ năng cho HS lớp 2 học Kể chuyện

theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp:

a Kỹ năng kể lại truyện bằng lời của mình 0 0,0

Trang 36

b Kỹ năng kể có thêm chi tiết sáng tạo 0 0,0

c Kỹ năng kể có sử dụng các yếu tố phụ trợ trong

giao tiếp (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…) 0 0,0

7

Theo thầy (cô) khi học Kể chuyện, HS được rèn

luyện phát triển NLGT bằng cách nào?

a Thông qua việc giải quyết hệ thống bài tập 11 91,7

b Thông qua các hoạt động tương tác 10 83,3

8

Khi tổ chức luyện tập Kể chuyện cho HS lớp 2,

thầy cô thấy HS thường gặp những khó khăn gì?

a Chưa nắm được nội dung truyện 0 0,0

b Chưa tự tin khi kể, kể chuyện còn ngắt ngứ 10 83,3

c Thuộc truyện song chưa sáng tạo câu từ khi kể 8 66,7

d Chưa kết hợp các cử chỉ, điệu bộ, giọng điệu khi kể 8 66,7

Theo thầy (cô) phương pháp hữu hiệu nào sau

đây có thể dùng để dạy học Kể chuyện cho HS lớp

2 theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp?

b Phương pháp thực hành giao tiếp 0 0,0

c Phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề 0 0,0

Trang 37

d Phương pháp trò chơi học tập 0 0,0

e Phương pháp chuyển đổi ngôi kể 0 0,0

f Tất cả các phương pháp trên 12 100,0

11

Trong giờ học Kể chuyện, thầy (cô) thấy HS có

hay phát biểu xây dựng bài không?

Khi dạy Kể chuyện theo định hướng phát triển

năng lực giao tiếp, các thầy (cô) thường cho HS

làm bài tập nhiều ở dạng nào sau đây:

Từ kết quả khảo sát trên, chúng tôi có một vài nhận xét về nhận thức và thực trạng tổ chức dạy học kể chuyện theo hướng phát triển NLGT cho HS lớp 2 của 12 GV Trường Tiểu học Hòa Bình 1 và Trường Tiểu học An Lư, Thủy

Nguyên, Hải Phòng như sau:

Mặt mạnh: Việc dạy học kể chuyện cho HS lớp 2 tại Trường Tiểu học

Hòa Bình 1 và Trường Tiểu học An Lư, Thủy Nguyên, Hải Phòng trong thời

gian qua đã có nhiều đổi mới, sáng tạo và đảm bảo được chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình

Về kiến thức, đa số GV (75%) đã nhận thức được việc phát triển NLGT

của HS thông qua việc dạy học kể chuyện; 100% GV cho rằng các bài tập kể chuyện trong SGK hiện nay chỉ phát huy được NLGT của HS tùy từng bài cụ thể; do đó, có 91,4% GV thỉnh thoảng xây dựng thêm các bài tập bên ngoài cho HS ôn luyện Để hình thành, củng cố và phát triển NLGT cho HS lớp 2,

Trang 38

hầu hết GV cho rằng phương pháp dạy học, hệ thống bài tập và sự tích cực, chủ động trao đổi, hợp tác của HS là cần thiết

Về phương pháp giảng dạy, đa số GV (58,3%) bám sát nội dung,

chương trình, sử dụng toàn bộ các bài tập, câu hỏi gợi ý trong SGK, SGV và

ít nhiều có đầu tư tự mình xây dựng và sưu tầm những bài tập, câu hỏi phù hợp với mục đích của bài dạy và đối tượng HS (41,7%); 100% GV nắm được

các phương pháp dạy học hữu hiệu để dạy kể chuyện cho HS lớp 2 theo định

hướng phát triển NLGT

Các thầy cô (100%) đều thấy rằng chưa có nhiều dạng bài tập phát triển NLGT cho HS và một số bài tập còn khó hiểu, chưa phù hợp với trình độ HS gây khó khăn trong quá trình dạy học Gv cũng đã nhận ra các lỗi HS thường mắc phải khi luyện tập kể chuyện, 83,8% thầy cô cho rằng HS chưa tự tin khi

kể, còn ngắt ngứ; 66,7% GV cho rằng HS thuộc truyện song chưa sáng tạo câu từ và chưa kết hợp các cử chỉ, điệu bộ, giọng điệu khi kể Từ đó để có những biện pháp tác động phù hợp tới đối tượng HS

Mặt hạn chế:

Về kiến thức: Một số GV chưa hiểu đúng nội dung dạy học kể chuyện

theo hướng phát triển NLGT, vẫn còn GV chưa thật sự quan tâm tới phát triển NLGT cho HS mà chỉ chú trọng giúp HS nắm được nội dung các câu chuyện

Về phương pháp giảng dạy: Sau khi thăm dò ý kiến GV, chúng tôi tiến

hành dự giờ một số giờ dạy Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy, các GV hầu hết chỉ quan tâm đến việc truyền đạt các kiến thức trong SGK Hầu hết nội dung giảng dạy đều được sử dụng trong SGK, ít có sự bổ sung ngoài SGK

Trong giờ dạy, nhìn chung GV sử dụng các phương pháp truyền thống như: hỏi đáp, thuyết trình,… là chủ yếu, thỉnh thoảng có sử dụng đan xen phương pháp thảo luận nhóm nhưng cách thảo luận của HS chưa sôi nổi, chủ yếu là thảo luận hình thức Các phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề, trò chơi học tập,… ít được sử dụng Do

Trang 39

vậy, tiết học còn khô khan, HS học một cách thụ động nên chưa phát huy được NLGT của HS

* Thực trạng học tập kể chuyện của HS lớp 2 theo hướng phát triển NLGT

Chúng tôi đã tiến hành điều tra 417 HS của bốn lớp 12 thuộc hai

trường tiểu học trong địa bàn huyện Thuỷ Nguyên, Thành phố Hải Phòng

Để tìm hiểu nhận thức và thực trạng học tập kể chuyện theo định hướng phát triển NLGT của HS lớp 2 Trường Tiểu học Hòa Bình 1, Trường Tiểu học

An Lư, Thủy Nguyên, Hải Phòng, chúng tôi đã đưa ra các câu hỏi với các phương án cụ thể để HS trả lời và đã thu được kết quả phản hồi sau:

Bảng 1.4: Tổng hợp ý kiến phản hồi của HS lớp 2 về việc học kể

chuyện theo hướng phát triển NLGT

Trong giờ học kể chuyện, thầy (cô) có chú ý phát

triển năng lực giao tiếp cho các em không?

Trang 40

b Phù hợp với thực tiễn khi giao tiếp và kinh nghiệm

c Gây được hứng thú với em không?

d Một số bài tập còn khó hiểu, chưa phù hợp với trình

5

Trong giờ học kể chuyện, em thường làm gì?

a Tích cực, chủ động, hoạt động nhóm, hăng hái phát

biểu để được nói và trình bày miệng nhiều trước thầy,

cô giáo, bạn bè trong lớp

385 92,3

b Ngồi im lặng nghe các bạn phát biểu 0 0,0

c Viết ra giấy nháp những ý kiến hay, sáng tạo trong

d Hoạt động riêng rẽ một mình, không hoạt động nhóm 0 0,0

6

Khi học giờ Kể chuyện, em thường mắc phải lỗi nào

trong các lỗi sau đây?

b Chưa tự tin khi kể, còn ngắt ngứ 37 8,9

c Thuộc truyện song chưa sáng tạo câu từ khi kể 186 44,6

d Chưa kết hợp các cử chỉ, điệu bộ, giọng điệu khi kể 194 46,5

Ngày đăng: 02/06/2021, 20:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê A, Nguyễn Quang Minh, Bùi Minh Toán (1997), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Nguyễn Quang Minh, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
[2] Lê Thanh Bình (2003), Thực trạng dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học và một số yêu cầu rèn luyện kĩ năng giao tiếp, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 65, trang 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học và một số yêu cầu rèn luyện kĩ năng giao tiếp
Tác giả: Lê Thanh Bình
Năm: 2003
[3] Bộ Giáo dục & đào tạo (2006), Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục & đào tạo
Năm: 2006
[4] Đỗ Hữu Châu - Bùi Minh Toán ( 1993), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB Giáo dục
[5] Phan Phương Dung (2001), Về vấn đề dạy lời nói văn hóa trong giao tiếp ngôn ngữ cho HS qua môn Tiếng Việt, Tạp chí Giáo dục, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề dạy lời nói văn hóa trong giao tiếp ngôn ngữ cho HS qua môn Tiếng Việt
Tác giả: Phan Phương Dung
Năm: 2001
[6] Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy (1998), Tâm lý học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[7] Phạm Minh Hạc (2002), Tuyển tập Tâm lý học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
[8] Lê Bá Hoành, Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga (2003), Áp dụng dạy và học tích cực trong môn Tiếng Việt, Dự án Việt Bỉ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng dạy và học tích cực trong môn Tiếng Việt
Tác giả: Lê Bá Hoành, Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga
Năm: 2003
[9] Chu Huy (2000), Dạy học kể chuyện ở trường tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học kể chuyện ở trường tiểu học
Tác giả: Chu Huy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
[10] Vũ Thị Thanh Hương (2006), "Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay", Tạp chí Ngôn ngữ, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Thanh Hương
Năm: 2006
[11] Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo (2015), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học I, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học I
Tác giả: Lê Phương Nga, Lê A, Đặng Kim Nga, Đỗ Xuân Thảo
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2015
[12] Lê Phương Nga (2015), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2015
[13] Lê Phương Nga (2018), Giáo dục năng lực giao tiếp và tinh thần hợp tác cho học sinh tiểu học khi dạy kiến thức Tiếng Việt, Bigschool.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục năng lực giao tiếp và tinh thần hợp tác cho học sinh tiểu học khi dạy kiến thức Tiếng Việt
Tác giả: Lê Phương Nga
Năm: 2018
[15] Nhiều tác giả (2002), Sách giáo khoa, Sách giáo viên Tiếng Việt 2 (tập 1 và 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa, Sách giáo viên Tiếng Việt 2
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
[16] Nguyễn Quang Ninh (1998), Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở Tiểu học theo hướng giao tiếp, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dạy ngôn bản nói và viết ở Tiểu học theo hướng giao tiếp
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[17] Đinh Thị Oanh, Vũ Thị Kim Dung, Phạm Thị Thanh (2006), Tiếng Việt và phương pháp sử dụng Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt và phương pháp sử dụng Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Đinh Thị Oanh, Vũ Thị Kim Dung, Phạm Thị Thanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
[18] Lê Hữu Tỉnh, Trần Mạnh Hảo (2001), Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Lê Hữu Tỉnh, Trần Mạnh Hảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
[19] Đỗ Ngọc Thống, Đỗ Xuân Thảo, Phan Thị Hồ Điệp, Lê Phương Nga (2018), Dạy học phát triển năng lực môn Tiếng Việt tiểu học, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học phát triển năng lực môn Tiếng Việt tiểu học
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống, Đỗ Xuân Thảo, Phan Thị Hồ Điệp, Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2018
[20] Nguyễn Minh Thuyết (2003), Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
[21] Nguyễn Trí (2002), Dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w