Các phương pháp khác nhau được áp dụng để thu thập số liệu, trình tự bao gồm: 1 phỏng vấn người am hiểu cấp tỉnh và cấp huyện để mô tả dịch vụ HST; 2 phỏng vấn người am hiểu 07 ấp đại di
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN ĐBSCL
MÃ NGÀNH: 9620116
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS ĐẶNG KIỀU NHÂN PGS TS NGUYỄN DUY CẦN
2021
Trang 2i
LỜI CẢM TẠ
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Đặng Kiều Nhân - người đã rất tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi, hỗ trợ động viên, đóng góp những lời khuyên và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án Được làm việc với Thầy là một cơ hội tốt cho tôi được học tập và mở rộng kiến thức chuyên môn và tinh thần làm việc Xin chân thành cám ơn Phó Giáo Sư Tiến sĩ Nguyễn Duy Cần đã tận tình
hỗ trợ và đóng góp nhiều kiến thức quý báu giúp tôi hoàn thành luận án Xin chân thành cám ơn Quý Thầy Cô Viện Nghiên cứu Phát triển Đồng bằng đã tận tình truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu và hỗ trợ giúp tôi hoàn thành chương trình học và hoàn thành luận án
Xin gửi lời cám ơn đến các anh chị em ngành kiểm lâm và ngành nông nghiệp tỉnh An Giang đã cung cấp nhiều thông tin quý báu và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thu thập thông tin Xin cám ơn các
cô chú bác nông dân xã An Hảo, xã Lê Trì, xã Lương Phi và xã Núi Tô đã nhiệt tình cung cấp thông tin cho tôi trong quá trình thu thập số liệu
Chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học An Giang, Ban Giám Đốc Trung tâm Nghiên cứu và PTNT đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và kinh phí giúp tôi hoàn thành chương trình học và hoàn thành luận án Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến Ban Giám Đốc SEARCA đã tài trợ một phần kinh phí
hỗ trợ tôi thực hiện luận án
Cuối cùng, xin chân thành cám ơn những người thân trong gia đình, quý đồng nghiệp và bạn bè đã luôn hỗ trợ, và động viên tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành chương trình học và hoàn thành luận án
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận án
Trang 3Nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận dịch vụ HST, sinh kế bền vững, đánh giá có sự tham gia và phân tích đa biến để khám phá mối quan hệ giữa giá trị dịch vụ HST rừng và sinh kế cư dân địa phương Các phương pháp khác nhau được áp dụng để thu thập số liệu, trình tự bao gồm: (1) phỏng vấn người am hiểu cấp tỉnh và cấp huyện để mô tả dịch vụ HST; (2) phỏng vấn người am hiểu 07 ấp đại diện cấp xã để mô tả sinh kế cộng đồng, (3) đánh giá nông thôn thông qua 04 cuộc thảo luận nhóm để nhận ra dịch vụ HST và đối tượng hưởng lợi, và (3) phỏng vấn 223 hộ để thu thập số liệu chi tiết về loại dịch vụ HST, giá trị dịch vụ hưởng lợi, nguồn lực sinh kế, và các yếu tố chi phối đến
sử dụng dịch vụ HST của hộ Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích thống kê khác nhau như: (1) phân tích phương sai để đánh giá sự khác biệt về giá trị dịch vụ HST và nguồn lực sinh kế của hộ, (2) phân tích bảng chéo để tìm ra mối quan hệ hưởng lợi giữa các nhóm hộ, và (3) phân tích tương quan chính tắc để xác định mối quan hệ giữa giá trị dịch vụ HST và yếu
tố sinh kế
Cộng đồng địa phương đã nhận ra dịch vụ HST rừng núi tỉnh An Giang chủ yếu từ sản phẩm nông nghiệp (lúa, rau/màu và trái cây), sản phẩm rừng (củi, dược liệu, rau rừng, nước) và dịch vụ du lịch sinh thái Dịch vụ HST thay đổi theo thời gian và bối cảnh tự nhiên, kinh tế - xã hội Khoảng 43,4% hộ hưởng lợi trực tiếp từ canh tác nông nghiệp, và giá trị kinh tế từ sản phẩm nông nghiệp cao hơn các sản phẩm khác Hệ thống canh tác nông - lâm kết hợp (cây rừng – cây ăn trái) ở tiểu HST đồi núi và canh tác khoai mì ở tiểu
Trang 4iii
HST ruộng trên có giá trị kinh tế tương đối cao Khoảng 7,2% hộ khai thác củi với giá trị bình quân là 14,4 triệu đồng/năm/hộ và 17% hộ khai thác rau rừng với giá trị khoảng 400.000 đồng/năm/hộ Đối với du lịch, 12,6% hộ hưởng lợi trực tiếp, xảy ra chủ yếu ở xã An Hảo, với giá trị 5,6 triệu đồng/năm/hộ Ngoài
ra, HST còn các loại dịch vụ khác có giá trị phi thị trường (vô hình) mà cộng đồng hoặc hộ có thể hưởng lợi nhưng khó định giá được trong nghiên cứu này Kết quả cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa giá trị thị trường của các dịch vụ HST rừng, nguồn lực sinh kế cư dân địa phương và xã điểm nghiên cứu Hộ được đánh giá khá hơn có nguồn lực lao động và đất đai nhiều hơn thì
có cơ hội tiếp cận và sử dụng tài nguyên rừng tốt hơn, nên hưởng lợi giá trị từ sản phẩm nông nghiệp và sản phẩm rừng nhiều hơn Trong điều kiện hạ tầng kinh tế và văn hóa thuận lợi, hộ khá hơn cũng hưởng lợi giá trị dịch vụ du lịch nhiều hơn Do đó, họ có xu hướng cải tiến sinh kế so với nhóm hộ có nguồn lực kém hơn Điều này đặt ra vấn đề tính công bằng trong việc hưởng lợi và trách nhiệm bảo vệ tài nguyên rừng của cộng đồng địa phương Nhóm giải pháp phát huy hơn nữa giá trị dịch vụ HST rừng để phát triển sinh kế và bảo tồn gồm: (1) cải tiến hiệu quả sản xuất nông nghiệp của tiểu HST ruộng trên
và ruộng dưới để giảm áp lực khai thác tiểu HST đồi núi, đồng thời phát huy giá trị thị trường của hệ thống nông – lâm, dược liệu và nguồn nước tự nhiên trên đồi núi; (2) tăng cường năng lực của hộ để họ nhận thức đầy đủ giá trị của tất cả dịch vụ HST đối với sinh kế nhằm khai thác hợp lý và phát huy giá trị các dịch vụ HST tiềm năng, đồng thời nhóm hộ nghèo (có nguồn lực hạn chế)
có cơ hội đa dạng sinh kế và tăng thu nhập để giảm nghèo bền vững; (3) chính sách và đầu tư hợp lý từ chính quyền địa phương để phát huy và tăng cường lợi ích của dịch vụ HST đối với cộng đồng và tạo sự công bằng trong hưởng lợi dịch vụ HST giữa các nhóm hộ khác nhau
Từ khoá: dịch vụ hệ sinh thái rừng, giá trị dịch vụ hệ sinh thái, hệ thống
nông - lâm kết hợp, sinh kế, tỉnh An Giang
Trang 5iv
ABSTRACT
Efficient enhancement and sustainable use of forest ecosystem services plays a crucial role to income generation and improvement of local livelihoods, and hence sustainable management of forest ecosystems This poses a challenge to achieving the dual goal of forest management, both development and conservation For the management of forest ecosystems in
An Giang province, two major questions are raised: (1) what are relationships between the value of forest ecosystem services and livelihoods of local people? and (2) if yes, what are possible solutions to efficiently enhancement
of the value of ecosystem services, allowing to improved livelihoods of local people while sustaining forest ecosystems To answers those questions, the main objectives of the present thesis are to: (1) understand available forest ecosystem services and their (market, tangible) value that benefits local people
in Tri Ton and Tinh Bien districts; (2) determine relationships between the (market) value of forest ecosystem services and local livelihoods; and (3) identify enablers, barriers and solutions of efficiently enhancing ecosystem service value and of improved livelihoods of local people as well as sustainable management of forest resources in the future
The study applied a combination of approaches (i.e ecosystem services, sustainable livelihoods, participatory appraisals and multivariate analysis) to explore relationships between the market value of forest ecosystem services and local livelihoods Different methods of data collection were used: (1) key informant panel interviews at provincial and district levels for ecosystem services context setting, (2) key informant panel interviews in
07 representative hamlets at the commune level for community context setting, (3) focus group discussions by 04 groups for identification of available ecosystem services and beneficiaries, and (4) interviewed 223 households for ecosystem services and their economic value, livelihood assets, and drivers of ecosystem service uses at household scale The study deployed a combination
of different statistical analysis methods, such as (1) analysis of variance to evaluate differences in ecosystem service value and livelihood assets, (2) cross-tab analysis to find out relationships between ecosystem services and beneficiaries, and (3) canonical correlation analysis to determine relationships between ecosystem service value and livelihood assets of local households
Local communities identified availability of tangible ecosystem services of mountainous forests in An Giang, mainly from agricultural products (rice, vegetables and fruits), forest natural products (firewood,
Trang 6v
medicinal herbs, vegetables and water), and ecotourism services Ecosystem services changed with time and bio-physical and socio-economical contexts About 43.4% of interviewed households directly benefited from agricultural production, and the economic value from agricultural products was higher than that from other products of the ecosystem services Agro-forestry integrated farming systems (i.e forest trees - fruit crops) in the hilly sub-ecosystem and cassava production in the upland sub-ecosystem gave relatively higher profit that other framing systems About 7.2% of interviewed households harvested firewood with an average annual value of 14.4 million VND/household and 17% of households exploited natural vegetables with annual earnings of about 400,000 VND/household For tourism, 12.6% of households benefited directly, mainly in tourism-favourable An Hao commune, earning an average of 5.6 million VND/household annually In addition, the ecosystem offered non-market (intangible) services that local communities or households can benefit Such the services, however, could not
be valued in the present study
The results showed inter-relationships among the market value of ecosystem services, livelihood assets of local households and study sites Better-off households with better human assets and more land holdings had opportunities to better access and use forest ecosystem services, and hence benefiting more from agricultural and forest products With favourable conditions of physical and cultural infrastructure, better-off households earned higher income from tourism services Doing so, they better improved their wealth, compared to resource-poorer households These findings raised the equity of sharing benefits and responsibility of local communities in forest resource management To further efficiently promote available ecosystem services for improved livelihoods and sustained forest resources, a package of solutions includes: (1) further improvement of the efficiency of agricultural production in the elevated- and low-land sub-ecosystems for reduced pressures
of exploiting hilly sub-ecosystems as well as for increased market values of agro-forestry farming systems, medicinal herbs and natural water resources in the hilly sub-ecosystems; (2) enhancement of human capacity of local households for their increased perceptions of all available ecosystem services
in relevance to local livelihoods, and hence sustainable uses of ecosystem services, both availably and potentially, as well as increased opportunities for diversified livelihoods and poverty reduction of resource-poor households; (3) effective policies and efficient investments given from local government to further increase values of ecosystem services to local communities and to
Trang 8TRANG CAM KET KET QUA
cfru cua toi va cac k€t qua cua nghien cfru nay chua duqc dung cho bfit cu lu~n
Trang 9viii
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iv
TRANG CAM KẾT KẾT QUẢ vii
MỤC LỤC viii
DANH SÁCH BẢNG xi
DANH SÁCH HÌNH xii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xiii
Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu chung 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Nội dung nghiên cứu 4
1.5 Giới hạn của luận án 5
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 5
1.7 Những điểm mới của luận án 6
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
2.1 Tổng quan hệ sinh thái rừng trên thế giới và ở Việt Nam 8
2.1.1 Khái niệm hệ sinh thái rừng 8
2.1.2 Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái rừng 9
2.1.3 Sự thay đổi và nguy cơ xuống cấp của hệ sinh thái rừng 12
2.2 Dịch vụ và giá trị dịch vụ hệ sinh thái rừng 14
2.2.1 Dịch vụ hệ sinh thái rừng 14
2.2.2 Giá trị dịch vụ hệ sinh thái rừng 15
2.2.3 Phương pháp tiếp cận và lượng giá giá trị dịch vụ hệ sinh thái 19
2.3 Sinh kế và mối quan hệ với dịch vụ hệ sinh thái 22
2.3.1 Sinh kế hộ hưởng lợi dịch vụ hệ sinh thái rừng 22
2.3.2 Sinh kế tác động đến hệ sinh thái rừng 23
2.4 Yếu tố chi phối và phương pháp quản lý hệ sinh thái rừng 24
Trang 10ix
2.4.1 Yếu tố chi phối 24
2.4.2 Phương pháp tiếp cận và quản lý hệ sinh thái rừng 28
2.5 Tổng quan vùng nghiên cứu 31
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Cơ sở lý luận 36
3.2 Chọn điểm và mô tả điểm nghiên cứu 38
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 38
3.2.2 Mô tả điểm nghiên cứu 40
3.3 Phương pháp thu thập số liệu 41
3.3.1 Tiến trình thu thập số liệu 41
3.3.2 Các bước thu thập số liệu 42
3.4 Phương pháp phân tích số liệu 48
3.4.1 Phương pháp tính toán giá trị dịch vụ hệ sinh thái 48
3.4.2 Phân tích thống kê 50
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 55
4.1 Dịch vụ hệ sinh thái và giá trị dịch vụ hệ sinh thái rừng 55
4.1.1 Sự thay đổi và hình thành dịch vụ hệ sinh thái rừng 55
4.1.2 Dịch vụ hệ sinh thái rừng cư dân hưởng lợi 57
4.1.3 Giá trị dịch vụ hệ sinh thái rừng hộ hưởng lợi 70
4.2 Mối quan hệ sinh kế với dịch vụ hệ sinh thái rừng 74
4.2.1 Đặc điểm sinh kế cư dân địa phương 74
4.2.2 Nguồn lực sinh kế hộ 76
4.2.3 Mối quan hệ giữa sinh kế hộ và dịch vụ hệ sinh thái 79
4.3 Yếu tố chi phối và giải pháp nâng cao giá trị dịch vụ hệ sinh thái 86
4.3.1 Động lực chi phối giá trị dịch vụ hệ sinh thái 86
4.3.2 Trở lực chi phối giá trị dịch vụ hệ sinh thái 88
4.3.3 Giải pháp nâng cao giá trị dịch vụ hệ sinh thái 90
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 94
5.1 Kết luận 94
5.2 Đề xuất 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Phụ lục A Nội dung các bảng câu hỏi 106
Phụ lục B Kết quả số liệu thô 126
Trang 11x Phụ lục C Kết quả phân tích 130 Phụ lục D Kết quả thống kê 133
Trang 12xi
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội các xã điểm nghiên cứu 41
Bảng 3.2: Các cơ quan đại diện được phỏng vấn 43
Bảng 3.3: Thông tin về các ấp đại diện bốn xã nghiên cứu 44
Bảng 3.4: Hộ được chọn thảo luận nhóm dựa vào hoạt động sinh kế 45
Bảng 3.5: Hộ được chọn phỏng vấn hộ dựa vào tỷ lệ hoạt động sinh kế 47
Bảng 3.6: Phương pháp phân tích số liệu tương ứng với nội dung 48
Bảng 3.7: Diễn giải các biến nguồn lực sinh kế hộ 51
Bảng 3.8: Diễn giải các nhóm biến Y và nhóm biến X trong phân tích 53
Bảng 4.1: Sự thay đổi và suy giảm dịch vụ hệ sinh thái rừng 56
Bảng 4.2: Dịch vụ hệ sinh thái theo tiểu hệ sinh thái và đối tượng hưởng lợi 61 Bảng 4.3: Tỷ lệ hộ hưởng lợi trực tiếp dịch vụ canh tác nông nghiệp theo tiểu hệ sinh thái ở các xã nghiên cứu 63
Bảng 4.4: Tỷ lệ các lợi ích từ sản phẩm tự nhiên theo nhận định của hộ 67
Bảng 4.5: Tỷ lệ hộ khai thác sản phẩm tự nhiên ở các xã nghiên cứu 67
Bảng 4.6: Tỷ lệ hộ tham gia phục vụ du lịch ở các xã nghiên cứu 69
Bảng 4.7: Giá trị dịch vụ canh tác nông nghiệp theo tiểu hệ sinh thái 71
Bảng 4.8: Giá trị kinh tế từ khai thác các sản phẩm rừng phân theo xã 73
Bảng 4.9: Giá trị từ dịch vụ phục vụ du lịch phân theo xã 74
Bảng 4.10: Đặc điểm sinh kế của ba nhóm hộ theo tiêu chuẩn địa phương 74
Bảng 4.11: Đặc điểm nhận biết các nhóm hộ hưởng lợi dịch vụ hệ sinh thái 75 Bảng 4.12: Thông tin lao động ở các nhóm hộ 77
Bảng 4.13: Trình độ của người lao động theo nhóm hộ 77
Bảng 4.14: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của ba nhóm hộ 78
Bảng 4.15: Thu nhập từ dịch vụ hệ sinh thái rừng phân theo nhóm hộ 79
Bảng 4.16: Mục đích và tỷ lệ vay vốn của ba nhóm hộ 79
Bảng 4.17: Tỷ lệ hộ hưởng lợi dịch vụ canh tác nông nghiệp theo nhóm hộ 80
Bảng 4.18: Tỷ lệ hộ khai thác các lợi ích từ sản phẩm tự nhiên 81
Bảng 4.19: Tỷ lệ hộ tham gia các hoạt động phục vụ du lịch 81
Bảng 4.20: Hệ số tương quan của các biến số tương ứng với bốn cặp tương quan có ý nghĩa 82
Bảng 4.21: Phân tích yếu tố chi phối và giải pháp nâng cao giá trị dịch vụ 91
Trang 13xii
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Thu nhập bình quân đầu người ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên 35 Hình 3.1: Khung lý thuyết mối quan hệ dịch vụ hệ sinh thái rừng và sinh kế 36
Hình 3.2: Bản đồ vị trí các xã nghiên cứu 38
Hình 3.3: Sơ đồ phân nhóm xã/thị trấn ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên 39
Hình 3.4: Sơ lược tiến trình thu thập số liệu 42
Hình 4.1: Sơ đồ lát cắt sinh thái vùng núi tỉnh An Giang 58
Hình 4.2: Trồng bưởi, và trồng xoài kết hợp nghệ ở đồi núi - xã Lê Trì 59
Hình 4.3: Trồng bắp và chăn nuôi bò ở ruộng trên - xã Lương Phi 59
Hình 4.4: Trồng lúa hai vụ ở ruộng dưới – xã Lương Phi 60
Hình 4.5: Nước cấp canh tác nông nghiệp ở núi Dài xã Lê Trì 65
Hình 4.6: Dân dư địa phương thu hoạch củi ở núi Dài xã Lê Trì 66
Hình 4.7: Tỷ lệ hộ tham gia hoạt động sinh kế chính ở ba nhóm hộ 75
Hình 4.8: Tỷ lệ hộ thay đổi kết quả sinh kế theo nhóm hộ ở các xã 76
Hình 4.9: Phân bố giá trị trung bình trọng số tương quan của nhóm biến Y và nhóm biến X của tương quan 1 theo nhóm hộ (a), dân tộc (b) và xã (c) 83
Hình 4.10: Tương quan 2 theo nhóm hộ (d), dân tộc (e) và xã (f) 84
Hình 4.11: Tương quan 3 theo nhóm hộ (g), dân tộc (h) và xã (i) 85
Hình 4.12: Tương quan 4 theo nhóm hộ (j), dân tộc (k) và xã (l) 86
Trang 14PTNT : Phát triển nông thôn
Trang 151
Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1 Giới thiệu
Hệ sinh thái rừng là một hệ sinh thái (HST) có tính đa dạng sinh học cao
và giữ vai trò quan trọng đối với đời sống con người Hệ sinh thái rừng cung cấp cho con người nhiều dịch vụ HST quan trọng như: thực phẩm, dược phẩm,
gỗ, điều hoà khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, điều tiết nước, ổn định đất, hấp thụ carbon, và giải trí (MEA, 2005) Các dịch vụ HST đó góp phần nâng cao
chất lượng đời sống của con người (Close et al., 2009)
Dịch vụ HST rừng là nguồn sinh kế, sức khỏe và giảm nghèo cho nhiều
nhóm cư dân có liên quan (De Groot et al., 2012) Tuy nhiên, việc khai thác
tài nguyên để đáp ứng nhu cầu ngắn hạn đã tạo áp lực cho HST rừng và ảnh hưởng đến chất lượng đời sống con người (De Clercke, 2014) Việc tăng cường thâm canh nông nghiệp để cải thiện sinh kế người dân trong HST rừng
đã làm giảm giá trị dịch vụ của HST và mức độ thâm canh càng cao thì sự suy
giảm này xảy ra càng nhanh (Borner et al., 2007) Vì vậy, đây là thách thức
đối với nhà quản lý liên quan đến việc lựa chọn hay ra quyết định đánh đổi giữa bảo tồn tài nguyên rừng và phát triển kinh tế - xã hội Do đó, các quyết định mang lại lợi ích cho nhiều bên liên quan được quan tâm Cách tiếp cận đòi hỏi phải có cái nhìn hệ thống, quan hệ nhân quả từ nhiều góc độ và ở các
thứ bậc khác nhau trong quá trình ra quyết định (Rodríguez et al., 2005) Mối
quan hệ giữa HST, lợi ích tiềm năng của dịch vụ HST, quản lý và hưởng lợi từ HST cho sinh kế của các nhóm cư dân khác nhau trong bối cảnh môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội bên ngoài luôn thay đổi là quan tâm cốt lõi cho việc
ra quyết định Những nghiên cứu khoa học và ứng dụng cách tiếp cận như thế thì rất hạn chế ở các nước khác, Việt Nam và đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
Việc tận khai tài nguyên của HST rừng như khai thác gỗ, canh tác nông nghiệp thâm canh, phát triển thủy điện làm giảm dịch vụ HST Cụ thể, mất rừng xảy ra chủ yếu ở các nước Đông Nam Á, đã làm mất đi nguồn tài nguyên rừng, giảm đa dạng sinh học, mất khả năng phòng hộ đầu nguồn, giảm điều hòa vi khí hậu, cung cấp nước, chống xói mòn và hạn chế lũ (Nguyễn Xuân
Cự và Đỗ Đình Sâm, 2010) Bên cạnh đó, thâm canh hai – ba vụ lúa trong năm, sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật đã gây tác hại đến môi trường và sự bền vững của hệ thống canh tác Canh tác nông nghiệp không bền vững làm biến đổi dịch vụ HST do giảm đa dạng sinh học, tăng dịch bệnh và giảm độ
phì của đất (Thiaw et al., 2011) Có lẽ đó là chỉ chú trọng giá trị dịch vụ HST
rừng mà thiếu mối liên hệ giữa giá trị dịch vụ HST rừng và sinh kế của các
Trang 16so với thâm canh lúa và đang được nhân rộng Mô hình luân canh như một lúa – hai màu, hai lúa – một màu và một lúa – một màu (Nguyễn Duy Cần, 2009) Vùng núi tỉnh An Giang có nhiều điều kiện thuận lợi khai thác nông lâm kết hợp, có tiềm năng về dược liệu, có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, nhưng khai thác chưa hiệu quả
Hệ sinh thái rừng vùng núi tỉnh An Giang thuộc hạ lưu sông Mekong, là một HST rừng phòng hộ đồi núi đặc trưng của Việt Nam với khí hậu nhiệt đới
ẩm gió mùa nên chứa đựng đa dạng sinh học cao, là trung tâm cung cấp dịch
vụ HST (Close et al., 2009) Năm 1989 - 1991, HST rừng tự nhiên tỉnh An
Giang suy giảm mạnh do việc khai phá đất đồi núi để trồng trọt, săn bắt động vật hoang dã, khai thác rừng lấy củi, gỗ, đốt than và dược liệu, diện tích rừng
tự nhiên chỉ còn 5.470 ha năm 1991, giảm 68,3% sau hai năm khai thác Sau năm 1999, áp dụng chính sách trồng mới năm triệu ha rừng và giao khoán đất rừng cho cư dân địa phương quản lý, HST rừng đã phục hồi trở lại, diện tích rừng năm 2019 là 11.590 ha, trong đó diện tích rừng trồng chiếm 67,8% (Cục Thống kê tỉnh An Giang, 2019) Sự thay đổi diện tích rừng tự nhiên sang rừng trồng đã làm thay đổi các lợi ích của HST rừng, nhiều lợi ích từ tự nhiên dường như không còn nữa và được thay thế bằng các hệ thống canh tác nông nghiệp Nhiều loài thực vật quý hiếm, loài đặc hữu, và loài bị đe dọa có tên trong danh mục thực vật nguy cấp, quý, hiếm của Nghị định 32/2006/NĐ-CP của chính phủ Diện tích đất canh tác nông nghiệp của hai huyện là 73.372 ha, chiếm 76,8% diện tích đất tự nhiên Canh tác nông nghiệp chủ yếu là trồng rừng, cây ăn trái, rau màu, lúa thâm canh hai – ba vụ trong năm Trước năm
2000, canh tác lúa mùa trên một vụ và lúa thần nông hai vụ trong năm là chủ yếu, sau năm 2000, chính sách bao đê tăng vụ nên diện tích trồng lúa hai vụ và
ba vụ trong năm đã tăng lên (Nguyễn Duy Cần, 2009; Nguyễn Văn Minh, 2011)
Trang 173
Hệ sinh thái rừng vùng núi tỉnh An Giang thuộc hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, có 11.400 ha đất rừng phòng hộ đồi núi, là vùng có đông người nghèo và người dân tộc Khmer sinh sống Dân số hai huyện 257.064 người, sinh kế cư dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo các xã ven chân núi chiếm tỷ lệ cao, xã Lê Trì ven chân núi Dài 29,7%, xã Núi Tô ven chân núi Cô Tô 31,1%, so với bình quân chung của hai huyện là 9,7% và so với tỉnh An Giang là 6,7% Người Khmer ở hai huyện chiếm 32% dân số, sống tập trung ở các xã ven chân núi (Cục Thống kê tỉnh An Giang, 2019) Nghèo trong khi sinh kế dựa vào canh tác nông nghiệp là yếu tố quan trọng dẫn đến thâm canh nông nghiệp hoặc phá rừng để canh tác nông nghiệp, là nguy cơ đe dọa công tác bảo tồn đa dạng sinh học và môi trường, dẫn đến suy giảm dịch vụ HST rừng Đây là mối quan hệ nhân quả của nghèo và quản lý tài nguyên thiên nhiên không bền vững Ở tỉnh An Giang, ngành lâm nghiệp vẫn chưa có giải pháp đồng bộ để cải thiện sinh kế cho cư dân trong HST rừng vùng núi, công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng không tiến triển và còn nhiều khó khăn (Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang, 2018)
Trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, việc khai thác có hiệu quả dịch
vụ HST và giảm tác động đến tài nguyên rừng, thông qua phương pháp tiếp cận dịch vụ HST gắn với sinh kế cư dân địa phương là rất cần thiết Qua đó, giúp đánh giá các lợi ích và định lượng được tầm quan trọng của dịch vụ HST rừng đối với đời sống cư dân địa phương, để đưa ra các quyết định tốt hơn cho việc quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và cải thiện sinh kế người dân Kết quả đề tài có ý nghĩa lớn về khoa học và ứng dụng ở bốn lĩnh vực chính: (1) cải tiến giá trị dịch vụ HST rừng núi An Giang trong bối cảnh thay đổi môi trường và kinh tế - xã hội, (2) cải tiến cơ hội hưởng lợi từ dịch vụ HST rừng
và cải tiến sinh kế của các nhóm cư dân và giảm nghèo bền vững, (3) bảo tồn
đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường – sinh thái đặc trưng bản địa, và (4) bảo tồn giá trị văn hóa – lịch sử, an ninh và quốc phòng tiểu vùng biên giới Tây Nam
Nghiên cứu áp dụng phương pháp tiếp cận gắn kết dịch vụ HST và sinh
kế cư dân địa phương Đây là phương pháp tiếp cận mới chưa được áp dụng trong nghiên cứu và ứng dụng cho HST rừng núi tỉnh An Giang nói riêng và rất hạn chế ở các nơi khác của Việt Nam và các nước khác nói chung Kết quả của đề tài góp phần vào việc triển khai thành công ở địa phương các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, tái cơ cấu lại nông nghiệp, và phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu
Trang 181.2.2 Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu có ba mục tiêu cụ thể sau:
- Xác định các loại dịch vụ HST rừng và giá trị dịch vụ HST rừng mà hộ dân địa phương hưởng lợi tại bốn xã nghiên cứu ở hai huyện miền núi Tri Tôn
1.3 Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu của luận án là dịch vụ HST rừng vùng núi tỉnh An Giang có mối liên quan chặt chẽ với sinh kế của cư dân sống trong HST đó
Do đó, các giải pháp cải tiến nâng cao giá trị dich vụ HST và phân bố lợi ích hợp lý cho cư dân có thể giúp cải thiện sinh kế của họ và từ đó góp phần quản
lý bền vững tài nguyên rừng
Để kiểm định giả thuyết trên, đề tài nghiên cứu tập trung trả lời hai câu hỏi nghiên cứu sau: (1) giá trị dịch vụ HST rừng vùng núi tỉnh An Giang có mối liên quan như thế nào đến sinh kế của cư dân sống trong HST đó? (2) các
cơ hội và giải pháp nào có thể giúp phát huy giá trị dịch vụ HST và phân bổ lợi ích hợp lý tài nguyên đó để nâng cao sinh kế của cư dân địa phương?
1.4 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung trả lời câu hỏi nghiên cứu trên với ba nội dung chính như sau: (1) mô tả đặc điểm các loại dịch vụ HST và xác định giá trị dịch vụ HST mà sinh kế hộ hưởng lợi ở bốn xã nghiên cứu; (2) phân tích mối quan hệ giữa dịch vụ HST rừng mà hộ dân hưởng lợi và sinh kế hộ ở bốn xã nghiên cứu; và (3) phân tích các yếu tố trở ngại, hỗ trợ và đề xuất giải pháp
Trang 195
kinh tế-xã hội cải tiến nhằm nâng cao giá trị dịch vụ HST rừng và cải thiện sinh kế dân cư
1.5 Giới hạn của luận án
Về đối tượng nghiên cứu, nghiên cứu tập trung vào hai nhóm đối tượng chính: (1) dịch vụ HST rừng và giá trị dịch vụ HST rừng mà sinh kế hộ hưởng lợi, và (2) sinh kế hộ hưởng lợi dịch vụ HST rừng
Về nội dung nghiên cứu, chỉ tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa dịch
vụ HST rừng và sinh kế cư dân sống trong HST rừng Đối với dịch vụ HST rừng, nghiên cứu chỉ đo lường giá trị các loại dịch vụ HST rừng mà sinh kế hộ hưởng lợi trực tiếp, nó có giá trị và được giao dịch thị trường Các loại dịch vụ
đó chủ yếu là dịch vụ cung cấp và dịch vụ văn hoá như lợi ích thu được từ canh tác nông nghiệp; lợi ích từ khai thác tài nguyên rừng; và lợi ích từ hoạt động dịch vụ phục vụ du lịch Các loại dịch vụ điều tiết và dịch vụ hỗ trợ như điều hoà tiểu khí hậu, phòng chống xói mòn đất và bảo vệ nguồn gen quý không được quan tâm trong nghiên cứu này Lợi ích từ các dịch vụ HST này không được giao dịch và không có giá trên thị trường, ở cấp hộ dựa vào cảm tính để lượng giá dễ xảy ra sai số Đối với sinh kế cư dân, nghiên cứu dựa vào tham vấn chính quyền địa phương để phân loại kết quả sinh kế và xác định đối tượng hưởng lợi trực tiếp, gián tiếp dịch vụ HST rừng và đối tượng khác
Về không gian, nghiên cứu chọn bốn xã đại diện HST rừng vùng núi tỉnh
An Giang để thu thập số liệu, đó là xã Núi Tô, xã Lê Trì, xã Lương Phi và xã
An Hảo Đây là nơi có HST rừng phòng hộ đồi núi chiếm tỷ trọng lớn, có diện tích đất lâm nghiệp và đất nông nghiệp cung cấp nhiều dịch vụ HST cho sinh
kế hộ, và là nơi sinh kế hộ hưởng lợi dịch vụ HST rừng như canh tác nông nghiệp, khai thác tài nguyên rừng và các hoạt động phục vụ du lịch Hệ sinh thái rừng núi nhạy cảm đối với môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội, an ninh
và quốc phòng nhiều hơn so với các HST đất ngập nước khác ở ĐBSCL Do
đó, HST này khó quản lý và cần ưu tiên quan tâm nghiên cứu nhiều hơn
Về thời gian, sự thay đổi trong việc quản lý HST của cư dân và yếu tố chi phối của sự thay đổi đó được khảo sát từ năm 2000 trở lại đây tương ứng với các mốc sự kiện liên quan Luận án thực hiện thu thập số liệu năm 2019, việc tính toán giá trị dịch vụ HST rừng và tình trạng kinh tế - xã hội của hộ cư dân dựa vào số liệu năm 2018
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu giúp cung cấp thông tin cơ bản, là cơ sở khoa học để đánh giá các giá trị dịch vụ HST rừng vùng núi tỉnh An Giang, góp phần phát
Trang 206
triển kiến thức về cách tiếp cận sinh kế bền vững dựa trên dịch vụ HST rừng
và có sự tham gia các nhóm người có liên quan Bên cạnh đó, kết quả luận án còn là nguồn cơ sở dữ liệu khoa học giúp người ra quyết định và các nhóm người có liên quan nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của dịch vụ HST rừng đối với sinh kế dân cư địa phương và mối quan hệ giữa sinh kế và việc sử dụng dịch vụ HST, từ đó làm cơ sở nâng cao giá trị dịch vụ HST và phân bổ hợp lý lợi ích từ dịch vụ HST Ngoài ra, kết quả luận án còn phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học liên quan đến dịch vụ HST trên cơ sở bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng và phát triển sinh kế bền vững
Bên cạnh đó, kết quả luận án còn cung cấp thông tin, số liệu hữu ích giúp các cơ quan nghiên cứu, các chương trình dự án và các nhà quản lý hoạch định nhận định các vấn đề liên quan đến việc quản lý bền vững HST rừng, chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho người dân sống trong HST rừng (đặc biệt là người nghèo), các chính sách phát triển du lịch sinh thái, bảo vệ và phát triển rừng vùng núi trong bối cảnh thay đổi môi trường như hiện nay
1.7 Những điểm mới của luận án
Đa số các nghiên cứu dựa vào phương pháp tiếp cận dịch vụ HST để lượng giá giá trị dịch vụ HST rừng nhằm mục tiêu quản lý bền vững HST rừng Trong nghiên cứu này, đo lường giá trị dịch vụ HST đưa yếu tố con người làm trọng tâm, vì mục tiêu cải thiện sinh kế hộ và đồng thời quản lý bền vững HST rừng Đây là phương pháp tiếp cận mới trong nghiên cứu phát triển nông thôn nhằm nhận ra mối quan hệ giữa dịch vụ HST rừng với sinh kế của
cư dân địa phương, từ đó đưa ra giải pháp sử dụng hợp lý dịch vụ HST và giúp nâng cao giá trị dịch vụ HST, cải thiện sinh kế cư dân địa phương và quản lý HST rừng bền vững
Bên cạnh đó, nghiên cứu còn phát triển khung lý thuyết mới nghiên cứu
về mối quan hệ giữa dịch vụ HST và sinh kế Dựa vào khung đánh giá thiên niên kỷ thể hiện mối quan hệ dịch vụ HST và đời sống con người, khung lý thuyết về thể hiện giá trị của HST và đa dạng sinh học, và khung sinh kế bền vững, khung lý thuyết mới được hình thành Vì vậy, luận án có nghĩa khoa học
về mặt lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển nông thôn, và
có giá trị trong việc gia tăng kiến thức khoa học
Mặt khác, nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tương quan chính tắc là phương pháp đánh giá được toàn diện và khách quan về mối quan hệ giữa sinh kế và giá trị dịch vụ HST rừng hộ hưởng lợi, thể hiện tính vượt trội hơn hẳn so với phân tích tương quan đơn biến thường được sử dụng trước đây Phương pháp này phân tích mối quan hệ giữa hai nhóm biến, mỗi nhóm biến
Trang 217
gồm nhiều biến; trong đó, nhóm biến sinh kế gồm 26 biến liên quan yếu tố nguồn lực và kết quả sinh kế, và nhóm biến thu nhập gồm 04 biến tương ứng với các nguồn thu nhập khác nhau; trong đó có nguồn thu từ dịch vụ HST rừng Đây là phương pháp tập hợp tuyến tính nhiều biến cùng lúc, mỗi nhóm biến bao gồm nhiều biến số, nên có thể khai thác hết toàn bộ các số liệu trong nghiên cứu về kinh tế - xã hội, kết quả phân tích có độ tin cậy cao và tránh việc lãng phí số liệu Vì vậy, kết quả của nghiên cứu của luận án có tính khoa học cao và khách quan khi đề ra giải pháp nâng cao giá trị dịch vụ HST và cải tiến sinh kế hộ
Kết quả nghiên cứu đã chứng minh được dịch vụ cung cấp và dịch vụ văn hoá có quan hệ mật thiết với sinh kế hộ Hệ sinh thái rừng luôn ở trạng thái động, nó luôn chịu tác động bởi hoạt động sinh kế và các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội Qua đó cho thấy, sinh kế hộ là một một phần không thể tách rời khỏi HST rừng, do vậy, các nghiên cứu về dịch vụ HST rừng phải bao gồm
cả sinh kế hộ và các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan
Bên canh đó, kết quả nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, trong trường hợp vùng núi tỉnh An Giang, hộ khá có nhiều đất canh tác nông nghiệp là hưởng lợi dịch vụ HST rừng nhiều hơn hộ nghèo ít đất Đây là điểm mới được phát hiện trong nghiên cứu đối với HST rừng Kết quả trước kia cho rằng, người nghèo phụ thuộc nhiều vào HST rừng và là nguy cơ đe doạ HST rừng Kết quả nghiên cứu này làm cơ sở đó giúp người ra quyết định có cái nhìn khác hơn về mối quan hệ giữa HST rừng và sinh kế hộ, từ đó làm cơ sở nâng cao vai trò cải thiện sinh kế và giữ rừng tập trung ở nhóm khá hơn tập trung ở nhóm nghèo,
và để giảm nghèo cần có chính sách hỗ trợ khác Vì vậy, kết quả luận án có ý nghĩa ứng dụng rất cao trong việc hỗ trợ thực thi thành công các chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn, giảm nghèo và thích ứng biến đổi khí hậu
Trang 228
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan hệ sinh thái rừng trên thế giới và ở Việt Nam
2.1.1 Khái niệm hệ sinh thái rừng
Hệ sinh thái là một đơn vị thống nhất bao gồm quần xã sinh vật và môi trường tự nhiên xung quanh có tác động qua lại với nhau (Odum, 1978) Luật lâm nghiệp Việt Nam năm 2017 xác định: “Rừng là một HST bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên” Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT quy định: “Rừng mới trồng các loài cây thân gỗ và rừng mới tái sinh sau khai thác rừng trồng có chiều cao trung bình trên 1,5 m đối với loài cây sinh trưởng chậm, trên 3,0 m đối với loài cây sinh trưởng nhanh và mật độ
từ 1.000 cây/ha trở lên được coi là rừng” Rừng gồm có rừng trồng và rừng tự nhiên, dựa vào chức năng và mục đích sử dụng của con người mà rừng được phân loại thành rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng
Dịch vụ HST là khái niệm mới ra đời gần đây, khi con người khai thác quá mức HST tự nhiên vì các mục đích khác nhau Nghiên cứu về dịch vụ HST nhằm để hiểu rõ hơn về vai trò của HST rừng đối với đời sống con người Theo Chương trình Đánh giá Thiên niên Kỷ, dịch vụ HST là những sản phẩm và dịch vụ từ thiên nhiên, đem lại lợi ích cho con người (MEA, 2005) Các lợi ích đó được phân thành bốn nhóm chức năng hay bốn loại dịch vụ: (1) cung cấp, (2) điều tiết, (3) văn hóa và (4) hỗ trợ Nó được mô tả cụ thể như sau:
(3) Dịch vụ văn hóa là những nguồn lợi phi vật chất mà con người có được từ các HST thông qua sự làm giàu về tinh thần, phát triển nhận thức, suy nghĩ, sáng tạo, và trải nghiệm về mỹ học Những dịch vụ này bao gồm đa dạng
về văn hóa, các giá trị tinh thần và tôn giáo, hệ thống trí thức, các giá trị giáo
Trang 23Hệ sinh thái rừng là một hệ thống phức tạp bao gồm các quần xã sinh vật
và môi trường sống của chúng tương tác với nhau như một đơn vị chức năng Trong đó, con người là một phần không thể tách rời của HST (MEA, 2005)
Hệ sinh thái tự nhiên chịu tác động bởi con người thông qua quá trình lao động để tăng năng suất của HST, và bị chi phối bởi các yếu tố tự nhiên, kinh
tế - xã hội (Bouahom, 2006) Một phương thức canh tác nông nghiệp làm giảm sức ép của con người vào HST tự nhiên và giảm tốc độ phá rừng đó là canh tác nông lâm kết hợp (NLKH) Theo Lundgren and Raintree (1983), nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất bền vững làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai Trong đó, các cây thân gỗ lâu năm (cây gỗ, cây bụi,
cọ, tre, hay cây ăn trái, cây công nghiệp,…) được trồng có suy tính trên cùng một đơn vị diện tích đất với cây thân thảo và/hoặc với vật nuôi, được kết hợp đồng thời hoặc kế tiếp nhau theo thời gian và không gian
Qua đó cho thấy, HST rừng cung cấp cho con người nhiều lợi ích và luôn chịu tác động bởi yếu tố con người thông qua các hoạt động sinh kế Do vậy, nghiên cứu về dịch vụ HST rừng phải bao gồm cả sinh kế của nhóm người có liên quan Hệ sinh thái rừng vùng núi tỉnh An Giang là một HST điển hình
2.1.2 Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái rừng
Cấu trúc của HST rừng cũng giống như các HST khác, nó gồm hai bộ phận cấu thành, đó là sinh vật (thực vật và động vật) và phi sinh vật Sinh vật gồm có sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân huỷ Phi sinh vật gồm có ánh sáng, nhiệt độ, nước, đất, đá, xác động thực vật và môi trường mà sinh vật sống tại đó Hai bộ phân này có tính lưu động là luôn luôn trao đổi năng lượng và vật chất với nhau để sinh ra năng lượng và vật chất mới trong HST Khi HST rừng giữ được sự lưu động này, các chức năng của HST sẽ phát huy và ngược lại (Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan, 2005)
Thực vật rừng là thành phần chủ yếu được quan tâm nhiều nhất trong nghiên cứu Nó bao gồm năm thành phần cơ bản là cây gỗ, cây tái sinh, cây bụi, thảm tươi và thực vật ngoại tầng, trong đó cây gỗ được xem là thành phần
Trang 2410
chính của HST rừng bởi sự đa dạng về cấu trúc và các chức năng chuyên biệt của nó (Thái Văn Trừng, 1978) Do đó, dựa vào sự đa dạng về thành phần loài của quần xã thực vật rừng có thể đánh giá chức năng của HST rừng
Mỗi HST rừng có sự khác nhau về thành phần loài cây gỗ, tuổi, mật độ
và các đặc trưng khác Cây gỗ thường được phân thành rừng thuần hay rừng hỗn giao dựa vào thành phần và tỷ lệ giữa các loài cây gỗ Trên thực tế, rừng thuần loài là rừng chỉ có một loài và các loài khác không vượt quá 10%, còn lại là rừng hỗn giao khác loài Ngoài ra, người ta còn phân chia các loài cây gỗ thành cây phù trợ và cây gỗ chính Cây phù trợ có chức năng hỗ trợ cây gỗ chính sinh trưởng và phát triển Rừng giàu là rừng có trữ lượng gỗ trên 201
m3/ha, rừng trung bình 101 – 200 m3/ha và rừng nghèo dưới 100 m3/ha Mặt khác, cấp tuổi là một chỉ số thường được quan tâm khi phân loại các loài cây
Ở HST tự nhiên, các loài cây rừng thường có cấp tuổi khác nhau Cấp tuổi của rừng có năm cấp, nó thể hiện khả năng sản xuất của rừng từ thấp đến cao Đối với cây mọc chậm thì cấp tuổi là 20 năm, đối với cây mọc nhanh thì không quá 05 năm Dựa vào cấp tuổi rừng để phân thành rừng đồng tuổi hay rừng khác tuổi Bên cạnh đó, mật độ rừng là một đặc trưng quan trọng của HST rừng, nó ảnh hưởng đến sản lượng, quá trình tỉa thưa và quá trình đào thải tự nhiên của HST rừng Mật độ rừng thường được xác định dựa vào số cây trên một đơn vị diện tích Khi mật độ không đều có thể làm giảm sản lượng của rừng và ảnh hưởng không tốt đến sự tỉa thưa tự nhiên của rừng (Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan, 2005)
Ngoài ra, cây tái sinh, cây bụi, thảm tươi và thực vật ngoại tầng cũng đóng vai trò quan trọng trong HST rừng Cây tái sinh sống và phát triển dưới tán rừng và là đối tượng thay thế tầng cây gỗ phía trên khi tầng cây này được khai thác Cây bụi và thảm tươi không có cấu tạo gỗ, sống dưới tán rừng Nó mang lợi các lợi ích phi gỗ (NTFPs) cho con người và góp phần bảo vệ đất, chống xói mòn, giữ độ ẩm cho đất, tham gia vào quá trình hình thành và cải tạo đất Tuy nhiên, nó cũng ảnh hưởng đến tái sinh rừng, tranh giành chất dinh dưỡng và nước trong đất Thực vật ngoại tầng gồm có các loài dây leo và thực vật phụ sinh, chúng mọc không theo trật tự nào Tầng này có thể che phủ mặt đất, cung cấp thực phẩm, dược liệu, nhưng nó cũng có thể ngăn cản sự sinh trưởng của cây rừng hoặc làm tăng nguy cơ cháy rừng (Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan, 2005)
Khi HST rừng có cấu trúc càng đa dạng thì HST rừng có tính ĐDSH
càng cao và tiềm năng cung cấp cung cấp dịch vụ HST cũng cao (Close et al., 2009; Sukhdev et al., 2010) Thật vậy, chức năng và cấu trúc HST rừng có
mối quan hệ biện chứng với nhau, cấu trúc hợp lý thì chức năng mới phát huy
Trang 2511
được tốt nhất và ngược lại Do vậy, cải thiện và bố trí cấu trúc HST rừng hợp
lý thì mới phát huy tính đa dạng sinh học của HST, sản sinh ra các sản phẩm
và chức năng HST nhiều hơn (Thái Văn Trừng, 1978)
Trên thế giới, HST rừng mưa nhiệt đới là HST có cấu trúc đa dạng gồm nhiều loài cây sống hỗn giao, nhiều tầng dày rậm, thành phần và tuổi cây không đồng nhất Trong rừng thường có nhiều loài cây gỗ quý có ý nghĩa kinh
tế và giá trị sử dụng cao Do điều kiện khí hậu thuận lợi, sự sinh trưởng và phát triển của thực vật diễn ra quanh năm đã làm cho thành phần loài cây và quá trình tái sinh rừng mưa nhiệt đới diễn ra phức tạp (Nguyễn Xuân Cự và
Đỗ Đình Sâm, 2010) Người ta đã phát hiện ra được khoảng 1,75 triệu loài sinh vật trên thế giới, tuy nhiên con số này chỉ chiếm khoảng 13% số lượng
sinh vật thực tế hiện có (Stork et al., 1999) Trong đó, rừng mưa nhiệt đới có
tính đa dạng sinh học cao nhất, nó phân bố nhiều nhất ở những vùng gần xích đạo Rừng mưa nhiệt đới có thể được tìm thấy ở Châu Á, Châu Úc, Châu Phi, Nam Mỹ, Trung Mỹ và trên nhiều hòn đảo ở Thái Bình Dương, vùng Caribe,
Ấn Độ Dương Mặc dù, diện tích rừng mưa nhiệt đới chỉ chiếm khoảng 7% diện tích bề mặt trái đất nhưng đây là môi trường sống cho hơn 50% loài sinh vật trên trái đất (Nguyễn Xuân Cự và Đỗ Đình Sâm, 2010) Ở Việt Nam, phần lớn diện tích rừng mang đặc trưng của rừng mưa nhiệt đới nên có tính đa dạng sinh học cao và có nhiều loại động, thực vật quý Việt Nam có khoảng 20.000 – 30.000 loài sinh vật, được xếp vào hạng thứ 16 trên thế giới về mới độ đa dạng sinh học Trong đó, HST rừng có tính đa dạng sinh học cao nhất với khoảng 15.986 loài thực vật và có hơn 10% trong số đó là thực vật đặc hữu (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2015) HST rừng đã tạo môi trường sống cho khoảng 10% số loài chim và thú trên toàn cầu (Vũ Tấn Phương, 2007)
Mỗi HST rừng có các chức năng cụ thể tương ứng, tùy theo mục đích sử dụng của mà nhiều quốc gia trên thế giới đã phân loại rừng theo nhiều cách khác nhau Ở Việt Nam, để thuận tiện cho công tác quản lý và quy hoạch lâm nghiệp, chính phủ đã sử dụng hệ thống phân loại rừng và đất sản xuất trong lâm nghiệp theo các chức năng: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất Theo Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT có quy định, rừng phòng hộ
là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu và bảo vệ môi trường Rừng đặc dụng là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn HST của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ bảo vệ môi trường Rừng sản xuất là rừng được sử
Trang 2612
dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, các lâm sản ngoài gỗ và kết hợp
phòng hộ bảo vệ môi trường Nhìn chung, các HST rừng đều có chức năng
phòng hộ, bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai
Ngoài chức năng phòng hộ, HST rừng phòng hộ Việt Nam còn giữ nhiều chức năng quan trọng khác Theo Quyết định số 3135/QĐ-BNN-TCLN, Việt Nam có diện tích rừng phòng hộ là 4,56 triệu ha năm 2014; trong đó, rừng phòng hộ đầu nguồn chiếm 92,5% Thực tế, Việt Nam có ba phần tư diện tích đất đồi núi, HST rừng trải dài từ Bắc đến Nam và tiếp giáp với Trung Quốc (1.281 km), Lào (2.130 km) và Campuchia (1.228 km) Do vậy, HST rừng phòng hộ đồi núi biên giới giữ chức năng quan trọng là phòng hộ đầu nguồn
và an ninh biên giới
Ở ĐBSCL, có HST rừng phòng hộ đồi núi thuộc hai huyện miền núi biên giới là huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, HST rừng có tính đa dạng sinh học cao và là nguồn sinh kế quan trọng của cư dân địa phương Hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên tiếp giáp với Campuchia 95 km, diện tích đất lâm nghiệp là 13.394 ha, chiếm 97,6% diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh, trong đó diện tích đất rừng phòng hộ đồi núi là 11.400 ha (Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang, 2018) Hệ thực vật rừng đa dạng, có 815 loài thực vật rừng bậc cao thuộc 84 bộ, 145 họ chính và 2 họ phụ, 501 chi thuộc 5 ngành thực vật như: ngành Thạch Tùng (Lycopodiophyta), ngành Dương Xỉ (Polydiophyta), ngành Thông (Pinophyta), ngành Tuế (Cyadophyta) và ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) (Nguyễn Đức Thắng, 2003) Bên cạnh đó, sinh kế dân cư ven chân núi phụ thuộc nhiều vào canh tác nông lâm nghiệp, khai thác các sản phẩm lâm nghiệp từ HST rừng Diện tích đất canh tác nông nghiệp là 69.325
ha, chiếm 72,3% diện tích tự nhiên của hai huyện (Cục Thống kê tỉnh An Giang, 2019) Qua đó cho thấy, ngoài chức năng phòng hộ đầu nguồn và an ninh biên giới, HST rừng vùng núi tỉnh An Giang còn có tính đa dạng sinh học cao và giữ vai trò quan trọng đối với sinh kế cư dân địa phương
2.1.3 Sự thay đổi và nguy cơ xuống cấp của hệ sinh thái rừng
HST rừng luôn ở trạng thái động và thay đổi theo thời gian và không gian Theo thời gian, cùng với các tác động của yếu tố tự nhiên, HST rừng không ngừng biến đổi từ kết cấu đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao và cuối cùng đi đến một giai đoạn tương đối ổn định Hướng biến đổi định hướng này gọi là quá trình diễn thế rừng Việc tìm hiểu diễn thế rừng từ hiện tại, quá khứ và tương lai để thấy mối quan hệ giữa chúng Do vậy, nghiên cứu diễn thế của rừng và mối quan hệ giữa các sự vật nhằm làm cơ sở cải thiện một cách hợp lý kết cấu và chức năng của HST và phát huy đầy đủ chức năng của HST
Trang 27và lấy đất sản xuất, diện tích rừng trên thế giới và ở Việt Nam thời gian qua có
xu hướng giảm Trên thế giới, tổng diện tích rừng gần 4 tỷ ha, chiếm khoảng một phần ba diện tích đất liền Nạn phá rừng đã làm diện tích rừng tự nhiên giảm từ 16 triệu ha mỗi năm vào những năm 1990 đến 13 triệu ha mỗi năm từ
sau năm 2000 (Keenan et al., 2015) Bốn loại rừng bị khai thác nhiều nhất là
rừng hỗn hợp và ôn đới lá rộng 60%, rừng lá kim khoảng 30%, rừng ẩm nhiệt đới khoảng 45% và rừng khô nhiệt đới khoảng 70% Sự mất rừng lớn nhất xảy
ra ở các vùng nhiệt đới và châu Á là nơi mất rừng nguyên sinh lớn nhất, khoảng 70% Ở Việt Nam, diện tích rừng cũng giảm mạnh, từ 14,3 triệu ha năm 1943 còn lại 9,3 triệu ha năm 1993 Đến năm 2010, do trồng mới diện tích rừng đã tăng lên 13,4 triệu ha, độ che phủ của rừng đạt 39,5%, đã cơ bản phủ xanh đất trống đồi núi trọc (Nguyễn Xuân Cự và Đỗ Đình Sâm, 2010) Tuy nhiên, cấu trúc và chức năng của rừng trồng hoàn toàn khác với rừng tự nhiên, chức năng cung cấp gỗ của HST rừng suy giảm và các chức năng khác cũng suy giảm, nên thường tác động tiêu cực đối với HST rừng và con người Đối với HST rừng tự nhiên ở Việt Nam, diện tích rừng gỗ giàu và gỗ trung bình chiếm tỷ lệ ít 13,6% (1,4 triệu ha), còn lại là diện tích rừng gỗ nghèo và non Đối với HST rừng trồng, tỷ lệ thành rừng thấp (60% – 75%) và chất lượng gỗ cũng thấp Bên canh đó, những loài cây phù trợ mọc nhanh như bạch đàn, keo và thông các loại chiếm khoảng 54% so với tổng diện tích rừng trồng (Nguyễn Xuân Cự và Đỗ Đình Sâm, 2010) Sự thay đổi này là nguyên nhân làm giảm chức năng cung cấp gỗ và các chức năng khác của HST rừng
Hệ sinh thái rừng núi ở tỉnh An Giang thời gian qua có nhiều thay đổi, diện tích rừng tự nhiên giảm và rừng trồng tăng Trước năm 1945, toàn bộ diện tích rừng vùng đồi núi tỉnh là rừng tự nhiên được che phủ bởi rừng rậm nguyên sinh Khi dân định cư và khai thác trồng cây màu trên đồi núi, diện tích rừng tự nhiên bắt đầu suy giảm, từ 17.233 ha năm 1989 giảm còn 5.470 ha năm 1991 Nhờ thực hiện các chính sách trồng và bảo vệ rừng, cụ thể là Quyết định 327-
CT ngày 15/9/1992 và Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998, nên diện tích rừng tỉnh đã tăng trở lại, năm 2017 là 13.600 ha, đã góp phần tăng độ che phủ của rừng lên 14,2% Trong đó, rừng trồng chiếm tỷ lệ 66%, rừng tự nhiên 4,4
%, còn loại là đất chưa có rừng (Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang, 2018) Khi
đó, rừng tự nhiên được thay bằng rừng trồng đã làm HST rừng thay đổi cấu trúc, các loài cây phù trợ là chủ yếu Kết quả là, lợi ích từ khai thác sản phẩm
Trang 2814
tự nhiên giảm, các loài cây nông nghiệp bắt đầu hình thành và phát triển Từ chân núi trở lên đỉnh núi, người dân trồng cây rừng và cây ăn trái, từ chân núi trở xuống đồng bằng, các loài cây nông nghiệp được trồng đó là lúa và rau màu các loại; trong đó, có một loài cây trồng đặc trưng như đậu xanh, đậu phộng, bắp và dưa leo (Nguyễn Duy Cần, 2009; Nguyễn Văn Minh, 2011) Tuy nhiên, HST nông nghiệp ứng thường với giai đoạn đầu của quá trình diễn thể của HST, là HST trẻ cho năng suất cao nhưng lại không ổn định, dễ bị thiên tai hay sâu bệnh phá hoại (Đào Thế Tuấn, 1984)
2.2 Dịch vụ và giá trị dịch vụ hệ sinh thái rừng
2.2.1 Dịch vụ hệ sinh thái rừng
Đa số các loại dịch vụ HST rừng chủ yếu cung cấp các lợi ích cho cộng đồng, tương ứng mỗi HST khác nhau các lợi ích này khác nhau Ở Mỹ, đồng bằng Rio Grande cung cấp nguồn nước ngọt, môi trường sống cho động vật hoang dã, di sản văn hoá và hoạt động giải trí cho người dân ở các Bang Colorado, New Mexico và Texas Người dân địa phương quan tâm chủ yếu là dịch vụ cung cấp nguồn nước ngọt (84%) và bảo tồn môi trường sống cho động vật hoang dã (54%), họ sẳn sàng chi trả khoảng 62 USD mỗi năm cho mục tiêu bảo tồn tất cả các dịch vụ HST trên (Jadwiga and Jianhong, 2019) Ở khu vực hạ lưu sông Mekong, HST rừng cung cấp cho con người các lợi ích như: gỗ, lâm sản ngoài gỗ, bảo vệ đầu nguồn và hấp thụ carbon (Emerton, 2013) Ở ĐBSCL, VQG Tràm Chim là nơi thực hiện chức năng bảo tồn đa dạng sinh học (Do Nam Thang and Bennett, 2009) và là điểm du lịch sinh thái tiềm năng trong và ngoài nước để khách du lịch tham quan, nghiên cứu, học
tập và giải trí (Đào Văn Thắng và ctv., 2019)
Bên cạnh đó, dịch vụ cung cấp của HST rừng là sinh kế, sức khoẻ và
giảm nghèo cho nhiều nhóm người khác nhau (De Groot et al., 2012) Do vậy,
ở gốc độ nông hộ, các lợi ích từ dịch vụ HST đóng vai trò rất quan trọng đối với sinh kế hộ, chủ yếu là dân cư ở vùng đệm Ở ĐBSCL, VQG U Minh Hạ, ngoài các lợi ích bảo vệ môi trường, cung cấp nơi ở và thức ăn cho các loài động thực vật, HST rừng còn là nguồn sinh kế quan trọng cho người dân sống trong vùng đệm như trồng tràm, trồng keo lai, lúa 2 vụ, và lúa – tôm (Lê Văn
Dũ và ctv., 2019) VQG U Minh Thượng, vùng đệm của vùng có 94% hộ đang
có đất canh tác nghiệp, thu nhập từ canh tác nông nghiệp chiếm 20- 80% thu nhập hộ, các nguồn thu chủ yếu từ canh tác chuối, rau màu (khoai các loại,
gừng, củ lùn, hành lá và rau các loại), lúa và nuôi thủy sản (Trần Văn Kiệt và ctv., 2020)
Trang 2915
Ở ĐBSCL, các lợi ích từ canh tác nông nghiệp được coi là dịch vụ HST quan trọng đối với người dân ĐBSCL (MEA, 2007) Trong đó, canh tác lúa là dịch vụ HST quan trọng nhất đối với sinh kế người dân thông qua hệ thống
canh tác lúa thâm canh và luân canh lúa – cá (Berg et al., 2016) Canh tác lúa
ở các vùng của ĐBSCL tiếp tục theo hướng thâm canh, đặc biệt ở vùng có điều kiện đất và nước thuận lợi (Đặng Kiều Nhân, 2009) Theo Quyết định số 1898/QĐBNN-TT của Bộ Nông nghiệp và PTNT, diện tích thâm canh lúa ba
vụ ĐBSCL chiếm khoảng 45% tổng diện tích canh tác nông nghiệp, chủ yếu ở
Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016) Tuy nhiên, canh tác lúa ba vụ tăng là nguyên nhân làm suy giảm các dịch vụ HST khác như chất lượng nước, động vật thuỷ sinh, thực vật, môi trường sống
và thiên địch (Berg et al., 2016) Bên cạnh đó, hoạt động nuôi cá chuyên canh
và khai thác thuỷ sản cũng cung cấp nhiều lợi ích quan trọng đối với sinh kế người dân ĐSCSL Hệ sinh thái sông Hậu cung cấp cá tra thương phẩm khoảng 328,0 tấn cá tra/ha/vụ, thuỷ sản khác 54,0 tấn/m3/năm và 2,6 tấn/hộ/năm Ngoài ra, dịch vụ HST còn thể hiện vai trò ở các mặt xã hội như tạo công ăn việc làm, nguồn nước sinh hoạt và các giá trị sinh thái và văn hoá (Nguyễn Thị Kim Quyên và Yakupitiyage, 2016)
Ở tỉnh An Giang, HST rừng núi chủ yếu thuộc hai huyện miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên, khai thác rừng để canh tác nông nghiệp nên các lợi ích từ sản phẩm rừng giảm, canh tác nông lâm nghiệp tăng lên Vùng trên núi, rừng
tự nhiên được thay thế bằng rừng trồng với các loài cây chủ yếu cây phù trợ như trồng cây rừng (keo lai và tràm bông vàng) và cây ăn trái (chủ yếu xoài) Vùng chân núi nhiều cát chủ yếu trồng củ sắn, khoai mì, gừng và tầm vong Vùng ruộng trên không chủ động nước tưới, chủ yếu trồng các loại rau màu (củ sắn, khoai các loại, đậu các loại, gừng, mè và rau các loại) và chăn nuôi
bò Vùng ruộng dưới chủ yếu là độc canh cây lúa như lúa hai vụ và lúa ba vụ Vùng này trước năm 1945 chỉ trồng các giống lúa mùa (Nàng Tây Đùm, Nàng Nhen, Nàng Môn, Ba Sào) có năng suất từ 01 – 02 tấn/ha Từ năm 1970 bắt đầu trồng lúa hai vụ, 1996 - 2000 canh tác lúa hai vụ là chủ yếu với hai giống
là IR50404 và IB64B, năng suất khoảng 04 tấn/ha (Nguyễn Văn Minh, 2011) Theo Nguyễn Duy Cần (2009), canh tác lúa ở huyện Tri Tôn có sự chuyển dịch rõ rệt, sau năm 2000 diện tích lúa mùa giảm từ 34,9% hộ trồng đến năm
2006 còn 10,2% hộ trồng, diện tích lúa hai vụ và ba vụ tăng
2.2.2 Giá trị dịch vụ hệ sinh thái rừng
Để đánh giá vai trò của HST đối với đời sống con người, người ta thường đánh giá các lợi ích mà dịch vụ HST mang lại cho con người Các lợi ích con người hưởng lợi chủ yếu là các dịch vụ và sản phẩm hàng hoá được
Trang 3016
giao dịch trên thị trường, nó có giá trị và có thể đo lường được Các lợi ích thường gắn với các lợi ích cộng đồng, có thể được phân chia thành các lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường
Xét về mặt kinh tế, HST rừng cung cấp cho con người các lợi ích kinh tế thiết thực, chủ yếu là các sản phẩm hữu hình và có giá trị ở nhiều cấp độ Giá trị gỗ và lâm sản mà rừng cung cấp cho nền kinh tế thị trường trên thế giới nói chung là hơn 450 tỷ USD mỗi năm, trong đó giá trị lâm sản thương mại quốc
tế từ 150 tỷ đến 200 tỷ USD (Munang et al., 2011) Ở Campuchia, giá trị của
rừng tập trung chủ yếu là giá trị từ lâm sản ngoài gỗ và tổng giá trị thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ của người dân Campuchia trung bình là 280 – 345 USD/hộ/năm (Bladen, 2013) Tuy nhiên, giá trị trên thị trường hiện tại chỉ là
một phần của toàn bộ giá trị mà HST đó cung cấp (Close at el., 2009) Theo
MEA (2005), ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, các giá trị thị trường của các HST như sản xuất gỗ và gỗ nhiên liệu ít hơn một phần ba tổng giá trị kinh tế
mà HST rừng mang lại
Xét về mặt môi trường, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng đã xác định được giá trị của một số dịch vụ HST rừng như: chống xói mòn, cung cấp nước sạch, đa dạng sinh học, hấp thu carbon, giải trí,… Về giá trị chống xói mòn, ở những nơi phát rừng làm rẫy, giá trị này cao gấp 10 lần so với những khu vực có rừng bảo vệ Khi rừng được bảo vệ, lợi ích về chống xói mòn, rửa trôi và kiểm soát dòng chảy có giá trị tương đương 80 USD/ha/năm Về cấp nước sạch, hiện nay trên thế giới có hơn 1/5 dân số bị thiếu nước sạch để uống
và 1/2 dân số thiếu nước cho nhu cầu vệ sinh Về giá trị đa dạng sinh học, ở các khu rừng nhiệt đới, giá trị này được xác định là rất cao, khoảng 7.418 USD/ha/năm Về giá trị hấp thu carbon của các khu rừng tự nhiên nhiệt đới khoảng từ 500 – 2.000 USD/ha/năm (quy đổi 5 USD/tấn carbon) Về giá trị dịch vụ giải trí, hằng năm tại các khu vực có rừng nhiệt đới ở Trung Quốc dao động từ 27,6 – 1.320 USD/ha/năm (Vũ Tấn Phương, 2007)
Xét về mặt xã hội, HST rừng là nguồn sinh kế, sức khỏe và giảm nghèo
cho nhiều nhóm người có liên quan Theo Fisher et al (2009), các lợi ích từ
HST rừng đã trực tiếp hay gián tiếp tạo ra sự thịnh vượng của con người Trên thực tế, dịch vụ HST đã và đang đóng góp quan trọng trong việc phát triển kinh tế và tạo việc làm cho con người Ước tính tổng giá trị của các dịch vụ HST trên thế giới là rất đáng kể và dao động khoảng 490 tỷ USD/năm cho
tổng các dịch vụ HST (De Groot et al., 2010) Trong đó, các dịch vụ HST
rừng đã đóng góp hơn 10% trong GDP của nhiều quốc gia nghèo nhất thế giới
Và trong tất cả các nước đang phát triển, ngành lâm nghiệp cung cấp việc làm chính thức cho hơn 10 triệu người, việc làm phi chính thức khoảng 30 triệu tới
Trang 31Theo Munang et al (2011), tuỳ theo cấp độ khác nhau mà các lợi ích từ
dịch vụ HST được thể hiện khác nhau Ở cấp độ địa phương, HST rừng cung cấp hàng hoá và dịch vụ như thực phẩm, dược liệu, củi, gỗ và chất đốt Hơn nữa, rừng cung cấp cho nhiều cộng đồng với lợi ích từ thị trường chính thức
Ở cấp độ vùng, rừng là một công cụ cung cấp những lợi ích từ các dịch vụ HST chính như là điều chỉnh nước, ổn định đất, giảm lũ và điều hòa không khí Ở cấp độ toàn cầu, rừng đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế, đa dạng sinh học và điều hòa khí hậu
Thực tế, giá trị dịch vụ HST mà con người hưởng lợi từ HST chỉ là một phần nhỏ các lợi ích mà dịch vụ HST mang lại con người, nó phụ thuộc vào
bối cảnh, cách thức và thời gian sử dụng của con người (Fisher et al., 2009; Bateman et al., 2011) Giá trị dịch vụ HST phát huy khi con người khai thác
hợp lý các lợi ích dịch vụ HST Mặt khác, giá trị dịch vụ HST rừng không gắn với lợi ích sinh kế thường gây bất lợi trong công tác quản lý HST
Ở ĐBSCL, việc lượng giá giá trị của dịch vụ HST rừng hay từng loại dịch vụ HST rừng đã được nhiều nghiên cứu xác định, nhưng chủ yếu gắn với lợi ích cộng đồng Có 34% người dân ĐBSCL sẳn sàng chi trả tiền cho các hoạt động quản lý bảo tồn đa dạng sinh học ở địa phương, chấp nhận trả 913 đồng mỗi tháng để tăng 1% thảm thực vật khoẻ mạnh, 360 đồng để tăng một loài thú được bảo tồn và 2.440 đồng để tránh thiệt hại cho 100 người dân địa
phương (Huynh Viet Khai and Yabe, 2014) Ở VQG U Minh hạ ở tỉnh Cà
Mau, tổng giá trị dịch vụ HST rừng được ước ượng bằng cách sử dụng viễn thám và điều tra hộ, kết quả cho thấy các dịch vụ HST rừng cung cấp cho con người bao gồm thuỷ sản, gỗ, hấp thụ carbon và phòng chống bão, có giá trị tổng cộng khoảng 600 triệu USD/năm cho 187.533 ha diện tích rừng (Vo
Quoc Tuan et al., 2015) Ở HST rừng bần ở huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc
Trăng, dịch vụ du lịch mang lại cho toàn xã hội được xác định giá trị dựa vào phương pháp chi phí du hành, giá trị ước lượng khoảng 327 tỷ đồng, trong đó các công ty du lịch hưởng lợi 291 tỷ đồng (Mai Văn Nam và Nguyễn Văn Hoà, 2020) Ở VQG Tràm chim, để làm cơ sở cho việc thực hiện bảo tồn đa dạng sinh học, giá trị dịch vụ bảo tồn đa dạng sinh học của VQG cũng đã được ước lượng khoảng 2,54 triệu đến 3,15 triệu USD (Do Nam Thang and Bennett, 2009) Bên cạnh đó, VQG Tràm Chim còn có giá trị dịch vụ du dịch đang có
xu hướng gia tăng, năm 2018 có hơn 150.000 khách đến tham quan, học tập,
Trang 32(Berg et al., 2016) Khi nông dân trồng lúa không sử dụng thuốc BVTV, ước
tính giá gạo khoảng 6.200 đồng, cao hơn 62% so với giá gạo tại thời điểm nghiên cứu (Huynh Viet Khai and Yabe, 2015) Khi nông dân tham gia câu lạc
bộ giống và sử dụng giống lúa đạt tiêu chuẩn, đã giúp họ giảm chi phí phân thuốc, tăng năng suất và giá lúa bán được cao hơn so với những nông dân không tham gia câu lạc bộ giống Cụ thể, mỗi ha giảm 66 kg lúa giống, 16 kg phân đạm, 0,64 lít thuốc trừ cỏ, 0,28 lít thuốc trừ sâu và 3,93 lít thuốc trừ bệnh, năng suất tăng 0,6 tấn và giá bán lại cao hơn 1.000 đ/kg, giúp lợi nhuận cao hơn 80 % so với nông dân ngoài câu lạc bộ Do vậy, chuỗi giá trị gạo xuất khẩu hiệu quả hơn chuỗi giá trị gạo tiêu thụ nội địa, lợi ích của người nông
dân/mỗi kg gạo cao hơn so với những tác nhân khác (Vũ Anh Pháp và ctv.,
2015)
Mặt khác, canh tác kết hợp lúa - màu giúp nông dân tăng thêm lợi nhuận
mà còn giúp tạo việc làm cho lao động địa phương hơn so với mô hình chuyên lúa Tổng thu nhập và lợi nhuận của hệ thống canh tác lúa – màu cao hơn canh tác lúa ba vụ gấp hai lần Thu nhập của hệ thống canh tác lúa – màu là 86,8 triệu/ha, lợi nhuận là 57,5 triệu đồng/ha, trong khi đó, canh tác lúa ba vụ thu nhập và lợi nhuận lần lượt là 42,4 triệu đồng/ha và 25,0 triệu đồng (Đặng Thị Kim Phượng và Đỗ Văn Xê, 2011)
Ngoài ra, hoạt động nuôi trồng thuỷ sản cũng là dịch vụ cung cấp quan trọng đối với sinh kế người dân ĐSBCL Hoạt động nuôi cá chuyên canh và khai thác thuỷ sản ở ven sông Hậu đã tạo thu nhập cho nhiều nhóm người có liên quan như: hộ nuôi cá tra khoảng 775 triệu đồng/năm/hộ; hộ nuôi cá lồng
bè khoảng 602 triệu đồng/năm/hộ; và hộ khai thác khoảng 32,8 triệu đồng/năm/hộ (Nguyễn Thị Kim Quyên và Yakupitiyage, 2016) Qua đó cho thấy, giá trị từ lợi ích canh tác nông nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế hộ ở ĐBSCL
Qua đó cho thấy, giá trị từ canh tác nông nghiệp gia tăng có phải là giải pháp phát triển bền vững trong có mối quan hệ nhân quả giữa phát triển sinh
kế không gây hại HST rừng Ở hai huyện miền núi tỉnh An Giang chưa có nghiên nào xác định được mối quan hệ nhân quả này Do vậy, việc lượng giá
Trang 33Để xác định đầy đủ các chi phí và lợi ích trong phát triển rừng, định giá phải được thực hiện dựa trên tất cả các dịch vụ HST cho vị trí và hoàn cảnh cụ
thể (Kenter et al., 2011) Khi giá trị một số dịch vụ HST không được giao dịch
trên thị trường, giá trị của nó sẽ không được thể hiện Do đó, ngoài các dịch vụ
có giá trên thị trường, các dịch vụ không có giá trên thị trường cần phải được ước tính bằng một số phương pháp và được so sánh với các giá trị khác về tiền
tệ (Mullan, 2014) Về mặt lý thuyết, tổng giá trị kinh tế của các dịch vụ HST bao gồm giá trị nội tại của đa dạng sinh học, cũng như giá trị thị trường của hàng hóa và dịch vụ Tổng giá trị kinh tế của HST rừng bao gồm tổng giá trị
sử dụng và giá trị không sử dụng (Pearce et al., 1994; Cork et al., 2007)
Giá trị sử dụng bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp và sử dụng gián tiếp Giá trị sử dụng trực tiếp là giá trị của những nguyên liệu thô, những sản phẩm vật chất sử dụng trực tiếp trong hoạt động sản xuất, tiêu dùng và mua bán của con người Nó bao gồm các dịch vụ cung cấp và dịch vụ văn hóa như thực phẩm, củi, gỗ, lâm sản ngoài gỗ, thuốc, du lịch, di sản, giáo dục và khoa học Giá trị sử dụng gián tiếp là giá trị kinh tế của các dịch vụ HST và chức năng sinh thái mà rừng tạo ra, chủ yếu từ dịch vụ điều tiết như duy trì chất lượng nước, điều tiết dòng chảy, điều tiết lũ lụt, kiểm soát xói mòn, phòng hộ đầu nguồn, hấp thụ carbon và điều tiết tiểu khí hậu Giá trị không sử dụng bao gồm giá trị lựa chọn, giá trị để lại và giá trị tồn tại Nó là những giá trị nằm trong cảm nhận, tri thức và độ thỏa mãn của cá nhân hoặc tập thể về lợi ích của dịch
vụ đang tồn tại hoặc được lưu truyền cho thế hệ tiếp sau ở một trạng thái nhất định
Đối với kinh tế học, đo lường giá trị dịch vụ HST rừng thường thông qua giá trị sử dụng trực tiếp, dựa vào nguyên liệu và các sản phẩm hữu hình mà
Trang 3420
chúng tạo ra cho nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của con người được trao đổi trên thị trường chính thức Trong khi đó, giá trị không sử dụng rất khó đo lường được và rất chủ quan trong nhiều tình huống đo lường Kết quả là thường các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các giá trị dịch vụ HST sử dụng được quan tâm (Emerton, 2013)
Thực tế, giá trị dịch vụ thay đổi tùy theo vị trí, thời gian và bối cảnh Khi nguồn tài nguyên có cơ hội tiếp cận sử dụng được, có nhu cầu sử dụng, trở nên hiếm và không có dịch vụ thay thế thì giá trị tăng lên Bên cạnh đó, giá trị dịch
vụ cho lợi ích cá nhân thường định giá cao hơn giá trị dịch vụ phục vụ cho
cộng đồng (Close et al., 2009)
Các phương pháp tiếp cận thường được sử dụng để xác định giá trị dịch
vụ HST được chia làm ba loại phương pháp: (1) xác định giá trị thị trường, (2)
tiết lộ sở thích và (3) phát biểu sở thích (Chenery et al., 2013) Theo đó, đối
với từng loại giá trị khác nhau người ta sử dụng các cách tiếp cận khác nhau
để lượng giá giá trị dịch vụ HST
Phương pháp xác định giá trị thị trường là định giá dựa trên thị trường gồm có ba cách tiếp cận: (1) giá trị trường, (2) chức năng sản xuất, và (3) chi phí thay thế hoặc thiệt hại tránh được Phương pháp này thường được dùng để xác định giá trị đối với các dịch vụ cung cấp đã được giao dịch trên thị trường như: thực phẩm, cung cấp nước, củi, gỗ, mật ong, dược liệu và động vật hoang
dã Phương pháp tiếp cận tiết lộ sở thích là định giá phi thị trường, có hai cách tiếp cận là (1) giá hưởng thụ và (2) chi phí du hành Phương pháp này thường được áp dụng đối với các dịch vụ không có giá trên thị trường như: điều hòa khí hậu, du lịch và chống xói mòn Điển hình như bao nhiêu người sẵn sàng chi tiêu cho chuyến du lịch tới thăm vùng sinh thái tự nhiên Phương pháp tiếp cận sở thích là định giá phi thị trường dựa vào hai cách tiếp cận là (1) đánh giá ngẫu nhiên và (2) mô hình lựa chọn, điển hình như khảo sát để đánh giá sự sẵn sàng của người dân phải trả tiền cho việc cung cấp một dịch vụ gia tăng của HST (Kumar, 2010)
Ở cấp độ địa phương, để tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong việc thực thi chính sách, luận án sử dụng cách tiếp cận từ dưới lên, trong đó sinh kế hộ được xác định là chủ thể chính được quan tâm trong nghiên cứu Các lợi ích đối với sinh kế hộ chủ yếu là nguồn thu nhập của hộ nên nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá dựa vào thị trường để xác định giá trị dịch
vụ HST
Trang 3521
2.2.3.2 Phương pháp lượng giá giá trị dịch vụ hệ sinh thái
Sự lựa chọn phương pháp lượng giá phụ thuộc vào các loại dịch vụ HST (Emerton, 2013) Trên thế giới, có 314 nghiên cứu có sử dụng phương pháp lượng giá giá trị dịch vụ HST cho thấy, phương pháp giá thị trường thông qua giá trị hàm sản xuất và phương pháp đánh giá ngẫu nhiên thông qua giá trị kỳ vọng các mức sẳn lòng trả thường được sử dụng trong lượng giá giá trị một số dịch vụ HST rừng đầu nguồn (Kumar, 2010)
Đối với phương pháp giá thị trường, để đo lường giá trị các dịch vụ HST
có giá trên thị trường như sản lượng và năng suất cây trồng, vật nuôi, mật ong, củi, gỗ, và nước ngọt, được lượng hóa giá trị bằng cách sử dụng hàm sản xuất
để ước lượng thặng dư sản xuất từ việc khai thác, sản xuất và nuôi trồng các sản phẩm từ HST (Kumar, 2010) Về bản chất, giá trị sản xuất là sự chênh lệch giữa giá bán của sản phẩm và chi phí để sản xuất sản phẩm đó và thể hiện phần đóng góp của dịch vụ cung cấp trong việc tạo ra giá trị sản phẩm
(Glover, 2003) Nghiên cứu của Vo Quoc Tuan et al (2015), sử dụng phương
pháp tiếp cận giá thị trường và chi phí thay thế để xác định giá trị từ các lợi ích thuỷ sản, gỗ, hấp thụ carbon và phòng chống bão mà HST rừng ngập mặn
Cà Mau đem lại cho con người
Đối với phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, để đo lường giá trị các dịch
vụ HST phi thị trường như lưu trữ carbon hay bảo tồn đa dạng sinh học, nhiều nghiên cứu đã sử dụng phương pháp này để xác định giá sẳn lòng trả (WTP) Đánh giá ngẫu nhiên dựa trên một giả định rằng mọi người sẽ làm những gì họ nói, nên giả định này có thể không vững chắc Tuy nhiên, đây là một phương pháp rất linh hoạt có thể được áp dụng để xác định giá trị của hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ, không phân biệt thị trường hay không thị trường Giá sẳn lòng trả là một trong những cách nhằm để đo lường phần lợi ích tăng thêm hoặc thiệt hại mất đi dựa vào sự lựa chọn của người dân thông qua cuộc trưng cầu dân ý (Kumar, 2010) Ngoài ra, một số nghiên cứu còn sử dụng công cụ đánh giá tổng hợp dịch vụ môi trường và phân tích đánh đổi để lượng giá các dịch vụ HST Đây là một công cụ có khả năng định lượng giá trị các dịch vụ HST mà nó cung cấp cho một vùng cảnh quan hiện tại hoặc theo các kịch bản
ở tương lai (Tallis et al., 2011)
Ở Việt Nam, phương pháp phân tích đánh đổi được ứng dụng để ước tính lượng carbon được lưu trữ trên một vùng đất hoặc lượng các-bon được tích tụ theo thời gian, bằng cách tập hợp số lượng carbon được lưu trữ trong, trên, dưới mặt đất sinh khối, đất và các chất hữu cơ đã bị phân hủy theo bản đồ sử dụng đất và phân loại sản xuất (Hoàng Việt và Kim Thị Thúy Ngọc, 2013) Ở
Trang 3622
ĐBSCL, để hoạch định chính sách đưa ra quyết định đúng đắn về bảo tồn và phát triển, nghiên cứu đã phân tích chi phí - lợi ích để giảm sự đánh đổi giữa
bảo tồn đa dạng sinh học và kinh tế (Huynh Viet Khai and Yabe, 2014)
2.3 Sinh kế và mối quan hệ với dịch vụ hệ sinh thái
2.3.1 Sinh kế hộ hưởng lợi dịch vụ hệ sinh thái rừng
Sinh kế bao gồm khả năng, tài sản (bao gồm cả nguồn lực vật chất và xã hội) và hoạt động cần thiết cho cuộc sống Kết quả sinh kế là thành tựu mà nông hộ đạt được do việc thực hiện các chiến lược sinh kế hay hoạt động kiếm sống của hộ (DFID, 1999) Thông thường để đánh giá kết quả sinh kế hộ, các chỉ số thường được sử dụng như tài sản, nhà cửa, đất đai, đồ dùng phục vụ cho sinh hoạt, thu nhập hoặc chi tiêu Trong đó, thu nhập là một trong những chỉ tiêu quan trọng thường được sử dụng để đánh giá sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội (Nguyễn Thị Huệ, 2016; Hoàng Thị Phương, 2017) Các nghiên cứu về sinh kế thường dựa vào phương pháp tiếp cận khung nghiên cứu sinh
kế bền vững (Nguyễn Đăng Hiệp Phố, 2016; Brown et al., 2018) và tập trung
vào việc xác định các yếu tố tác động đến kết quả kinh kế và từ đó đề ra giải pháp cải thiện sinh kế và giảm nghèo (Trần Công Kha, 2018; Phạm Mỹ Duyên, 2015) Kết quả sinh kế hộ có chiều hướng tốt hơn khi nông hộ đa dạng chiến lược sinh kế của họ, bao gồm cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp (Võ Văn Tuấn và Lê Cảnh Dũng, 2015)
Kết quả một số nghiên cứu cho thấy, sinh kế hộ phụ thuộc vào dịch vụ cung cấp của HST rừng, đặc biệt là người nghèo có nguồn thu nhập bị hạn chế
(Persson et al., 2010; Kumar et al., 2013) Ở các nước Nam Á, các hộ gia đình
nghèo nông thôn ven có sinh kế phụ thuộc vào thực phẩm, nhiên liệu và nước ngọt (Kumar, 2010) Ở xã O’Som, tỉnh Pursat, Campuchia, sinh kế người dân ven HST rừng chủ yếu là trồng lúa, trồng bắp và khai thác tài nguyên rừng Tuy nhiên, do trình độ sản xuất nông nghiệp thấp nên tài nguyên rừng đóng
góp đáng kể vào sinh kế hộ (Sophat et al., 2012) Ở HST rừng East Mau,
Kenya, có hơn 90% các hoạt động sinh kế của hộ dựa vào canh tác nông nghiệp không chủ động được nước tưới và chăn nuôi gia súc Thu nhập từ
rừng đóng góp 33% vào tổng thu nhập của hộ (Langat el at., 2016) Ở HST
rừng U Minh Thượng tỉnh Cà Mau, thu nhập của hộ dân vùng đệm phụ thuộc vào canh tác nông nghiệp, chiếm 20% – 80% tổng thu nhập hộ Ngoài các yếu
tố tự nhiên như đất phèn, thiếu nước ngọt vào mùa khô và dễ nhiễm mặn, các yếu tố nguồn lực hộ như hạn chế về học vấn, thiếu vốn và kỹ thuật cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận canh tác nông nghiệp và nguồn thu nhập của hộ (Trần
Văn Kiệt và ctv., 2020) Qua đó cho thấy, thu nhập của hộ dân ven các HST
Trang 3723
rừng phụ thuộc chủ yếu vào khai thác tài nguyên rừng có đóng góp sinh kế thấp hơn so với HST nông nghiệp do thuận lợi về nước tưới Do vậy, quan tâm yếu tố tác động đến HST rừng núi là cơ hội để nâng cao giá trị dịch vụ HST Dịch vụ HST rừng núi ngoài phạm vi về mặt tự nhiên mà còn có giá trị
về mặt xã hội Ở ĐBSCL, sản xuất và dịch vụ nông nghiệp là sinh kế chính của người dân và kết quả sinh kế của họ phụ thuộc vào nguồn lực hộ Đa dạng sinh kế nông nghiệp của hộ có tương quan thuận với hầu hết các nguồn lực
của hộ (Brown et al., 2018) Ở tỉnh An Giang, hộ nghèo khác biệt với hộ
không nghèo, trình độ học vấn thấp trung bình lớp 03, diện tích đất khoảng 0,62 ha, họ thường canh tác lúa trung bình hai vụ/năm với năng suất thấp 5,86 tấn/ha, so với hộ không nghèo trình độ học vấn lớp 07, diện tích lúa 2,58 ha và năng suất lúa 6,36 tấn/ha Hơn nữa, đa số hộ nghèo không tham gia các lớp tập huấn và không áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, hiệu quả phân phối và hiệu quả chi phí thấp hơn nhóm hộ không nghèo (La Nguyễn Thuỳ Dung và Mai Văn Nam, 2016)
Bên cạnh đó, sự thay đổi các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội gây ra các tác động cả tích cực và tiêu cực cho nông hộ trong việc xây dựng và thực hiện các chiến lược sinh kế nhằm đạt được các kết quả sinh kế kỳ vọng (Võ Văn Tuấn và Lê Cảnh Dũng, 2015) Khi đời sống khó khăn, HST rừng tiềm ẩn nhiều rủi ro do việc đánh bắt trái phép, làm tác động trở lại và ảnh hưởng tính
đa dạng sinh học của HST rừng (Trần Văn Kiệt và ctv., 2020) Đối với những
hộ có đất nông nghiệp dưới một hecta có năng lực tài chính thấp, rất dễ bị tác động bởi biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn (Le Canh
Dung et al., 2019) Ngược lại, khi các tài sản và hoạt động sinh kế đa dạng thì
khả năng phục hồi của sinh kế đối với các tác động bất lợi của các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội sẽ tăng lên (Adger, 1999; Ellis, 2000)
2.3.2 Sinh kế tác động đến hệ sinh thái rừng
Việc khai thác rừng phòng hộ đầu nguồn của con người không hợp lý chẳng những gây thiệt hại tài nguyên rừng, giảm đa dạng sinh học mà còn làm suy giảm các dịch vụ HST khác Trong chương trình đánh giá HST thiên niên
kỷ, nhiều nhà nghiên cứu đã kết luận rằng hơn 60% dịch vụ HST suy giảm với tốc độ nhanh hơn tốc độ tự phục hồi của HST (MEA, 2005) Ở Việt Nam, có hơn 144 loài cây dược liệu quý hiếm được ghi vào danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (Nguyễn Tập, 2006) Các loài dược liệu thường xuyên sử dụng ở các hội đông y trong tỉnh An Giang chủ yếu là lăng vàng, hậu phác và huỳnh bá Các loài dược liệu này chủ yếu khai thác từ tự nhiên bởi nhóm thiện nguyện (Trương Ngọc Thuý, 2016) Một số loài dược liệu đang sử dụng còn tồn tại rất
Trang 38Bên cạnh đó, việc sử dụng nhiều thuốc BVTV và thâm canh nông nghiệp trong thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và tác động trở lại dịch vụ HST Trong canh tác lúa, dư lượng do sử dụng thuốc BVTV ở hệ thống canh tác lúa ba vụ cao hơn so với lúa hai vụ Cụ thể là để phòng trừ nấm bệnh và dưỡng cây nông dân đã sử dụng hoạt chất propiconazole với liều lượng cao hơn khuyến cao Hoạt chất propiconazole thuộc nhóm thuốc BVTV
có tiềm năng tích lũy sinh học cao, có thể đi vào chuỗi thức ăn, tích lũy ở những loài động vật bậc cao (cá) và ảnh hưởng đến sức khỏe con người
(Nguyễn Phan Nhân và ctv, 2016) Ngoài ra, việc thâm canh lúa trong 15 năm
qua đã giúp tăng sản lượng lúa nhưng đã làm giảm các dịch vụ HST khác như chất lượng nước, động thực vật thuỷ sinh, môi trường sống và thiên địch (Berg
et al., 2016) Từ những lý do trên đã làm mất cân bằng sinh thái, là nguyên
nhân làm giảm dịch vụ HST và làm giảm giá trị mà dịch vụ HST mang lại cho con người
2.4 Yếu tố chi phối và phương pháp quản lý hệ sinh thái rừng
2.4.1 Yếu tố chi phối
2.4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Biến động bất thường của tự nhiên trong ngắn hạn và dài hạn là yếu tố chính tác động đến dịch vụ HST và từ đó tác động đến sinh kế nông hộ, thường tác động bất lợi Cụ thể các hiểm họa tự nhiên như nhiệt độ cao, mưa bất thường, thiếu nước ngọt, xảy ra thường xuyên tùy theo vùng sinh thái, gây thiệt hại đáng kể đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và sinh kế của nông hộ
(Brown et al., 2018) Đối với hộ có nguồn lực tự nhiên và tài chính kém hơn,
thường dễ rất dễ bị tổn thương hơn từ các yếu tố bất thường của tự nhiên (Le
Canh Dung et al., 2019)
Hai yếu tố thời tiết quan trọng là nhiệt độ và lượng mưa có tác động đến canh tác nông nghiệp Trong đó, canh tác lúa bị tác động nhiều nhất, đặc biệt ở giai đoạn đầu sinh trưởng, ra hoa và giai đoạn chín của lúa (Dang Kieu Nhan
et al., 2011) Ở An Giang, nhiệt độ đang có xu hướng tăng, lượng mưa giảm vào những tháng mùa khô và tăng vào những tháng mùa mưa (Lê Hải Trí và ctv., 2020) Nhiệt độ trung bình ở tỉnh An Giang trong 50 năm qua tăng
Trang 3925
khoảng 0,62 0C, lượng mưa ở trạm Châu Đốc bắt đầu thiếu hụt nhiều so với trung bình nhiều năm, chỉ đạt khoảng 75% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016) Khi nhiệt độ cao và lượng mưa ít, làm cho mực nước trên kênh mương, đồng ruộng giảm xuống, tình trạng khô hạn bắt đầu thì quá trình phèn hóa bốc lên tầng mặt rất mạnh làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng (Ngô Ngọc Hưng, 2010)
Bên canh đó, thiếu nước vào mùa khô được xem là thách thức lớn đối với hoạt động canh tác nông nghiệp ở ĐBSCL từ năm 2014 đến nay, cụ thể hạn hán và xâm nhập mặn năm 2016 đã gây thiệt hại hơn 339 ngàn ha lúa Đông Xuân Hiện tượng nắng nóng kéo dài kết hợp với thời tiết không mưa có thể dẫn đến hạn hán, nắng nóng kém theo nhiệt độ tăng cao gây ra hiện tượng bốc hơi nước cao gây thiếu nước cho ngành sản xuất nông nghiệp (Lê Anh Tuấn, 2020)
Sự biến động thời tiết đã làm suy giảm dịch vụ cung cấp của HST, sản xuất nông nghiệp và tác động đến sinh kế nông hộ Trên 70% dân số nông thôn ĐBSCL có đời sống phụ thuộc nhiều vào diễn biến của thời tiết và nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp Biến đổi khí hậu tác động đến toàn bộ HST, làm suy giảm cả chất lượng môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội Diện tích canh tác nông nghiệp như lúa, màu, cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản
bị thu hẹp, năng suất và sản lượng nông nghiệp bị suy giảm Khi đó, nông dân
là đối tượng chịu tổn thương nặng nề do thiếu hụt nguồn tài nguyên, thiếu khả năng tài chính, thiếu điều kiện tiếp cận thông tin để có thể đối phó kịp thời với
sự thay đổi thời tiết, khí hậu Đây là một trong những nguyên nhân làm dịch chuyển dòng di cư ở nông thôn (Lê Anh Tuấn, 2020)
2.4.1.2 Kinh tế - xã hội
Khai thác rừng là nguyên nhân chính tác động đến dịch vụ HST rừng trên thế giới và ở Việt Nam nói chung Việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu sản xuất lương thực là nguyên nhân quan trọng nhất, với hơn 60% rừng nhiệt đới bị chặt phá hàng năm Vì lợi nhuận mà nhiều quốc gia đã phá rừng để trồng cây công nghiệp và cây đặc sản như: trồng khoai mì và côca ở Thái Lan, trồng côca ở Peru hay trồng cao su và cọ dầu ở Malaysia Bên cạnh đó, việc mở rộng đồng cỏ để chăn nuôi gia súc, chủ yếu ở rừng Amazone với tốc độ mở rộng 2 triệu ha/năm Ngoài ra, việc khai thác gỗ và các sản phẩm rừng cũng đã xảy ra rất mạnh mẽ ở vùng Đông Nam
Á, chủ yếu xảy ra nhiều ở Malaysia và Philippine Mặt khác, nhu cầu chặt phá rừng làm chất đốt cũng đã là làm cạn kiệt tài nguyên rừng trên thế giới, có khoảng 1,5 tỷ người sống chủ yếu dựa vào nguồn củi gỗ để nấu ăn (Nguyễn
Trang 4026
Xuân Cự và Đỗ Đình Sâm, 2010) Ở ĐBSCL, việc phát triển kinh tế và thay đổi mục đích sử dụng đất đã gây áp lực đến dịch vụ cung cấp của HST như
các hệ thống canh tác lúa và nuôi trồng thuỷ sản (De Araujo Barbosa et al.,
2016) Bên cạnh đó, chính sách phát triển kinh tế cũng làm suy giảm dịch vụ HST Cụ thể là việc thay thế cây tràm bản địa bằng cây keo lai ở HST rừng tràm ở VQG U Minh Hạ đã làm giảm cá tự nhiên, sản lượng và chất lượng
mật ong giảm (Lê Văn Dũ và ctv., 2019)
Ngoài ra, giá cả thị trường là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị dịch vụ HST và sinh kế hộ Trong canh tác lúa ở ĐBSCL, giá đầu vào gia tăng đã làm năng suất lúa và chi phí sản xuất lúa tăng, trong khi lợi tức và hiệu quả đầu tư có khuynh hướng giảm trong giai đoạn 1995-2006 (Đặng Kiều Nhân, 2009) Đối với hệ thống canh tác lúa – màu, giá cả thị trường đầu vào như chi phí giống, nông dược và phân bón là các yếu tố chính ảnh hưởng đến lợi nhuận Trong khi đó, hệ thống canh tác lúa ba vụ chịu tác động của các yếu
tố chi phí nông dược, chăm sóc và thu hoạch Kết quả là tổng thu nhập và lợi nhuận của hệ thống canh tác lúa – màu cao hơn canh tác lúa ba vụ gấp hai lần (Đặng Thị Kim Phượng và Đỗ Văn Xê, 2011) Đối với nuôi trồng thuỷ sản, những khó khăn chủ yếu trong đời sống cộng đồng thủy sản là bất ổn trong giá
cả thị trường đầu ra, làm tác động đến sinh kế cộng đồng (Nguyễn Thị Kim Quyên và Yakupitiyage, 2016) Các yếu tố hạ tầng kinh tế - xã hội như giao thông, điện, trường, thông tin và các dịch vụ thương mại khác chưa có nghiên cứu ảnh hưởng đến dịch vụ HST rừng
Trước thực trạng dịch vụ HST rừng bị suy giảm, chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm quản lý bền vững HST rừng Thời gian qua, nhiều chính sách liên quan để quản lý rừng đã được ban hành như: Luật đất đai và các chính sách giao đất lâm nghiệp; Luật bảo vệ và phát triển rừng (năm
1991, năm 2004) và các thể chế về tăng cường quản lý bảo vệ rừng; Qui chế quản lý 3 loại rừng; Nghị định của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp Đặc biệt là sự ra đời của Quyết đinh 327-CT và Quyết định 661/QĐ-TTg, diện tích rừng của nước ta đã tăng lên đáng kể, từ 9,3 triệu ha năm 1985 (Nguyễn Xuân Cự và Đỗ Đình Sâm, 2010) tăng lên 13,4 triệu ha năm 2010, độ che phủ của rừng đạt 39,5%, trong đó rừng tự nhiên chiếm 77% (10,3 triệu ha) tổng diện tích rừng (Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2020) Ở tỉnh An Giang, diện tích rừng của tỉnh tăng lên 11.326 ha, chiếm hơn 60% diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh, trong đó rừng phòng hộ là 8.225 ha (Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang, 2018) Nhờ các chính sách quản lý rừng HST rừng được phục hồi, diện tích rừng nước ta đã tăng trở lại