1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài điều kiện Môn: Tổ chức sự kiện văn hóa vùng dân tộc thiểu số

13 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 531,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Na Hang là huyện miền núi xa nhất so với các huyện khác trong toàn tỉnh.Yên Hoa là một xã vùng cao thuộc huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang. Trong toàn xã người Tày có số dân đông nhất chiếm 66,7%. Con người nơi đây với những giá trị văn hóa phong phú, độc đáo, chứa đựng tính nhân văn cao cả. Dân tộc Tày có vốn truyền thống văn hóa lâu đời cũng như vốn văn hóa dân gian phong phú, nó đã gắn bó với sự hình thành tộc người được nuôi dưỡng trong môi trường sinh thái tự nhiên kinh tế xã hội.

Trang 1

1

Bài điều kiện Môn: Tổ chức sự kiện văn hóa vùng dân tộc thiểu số

Na Hang là huyện miền núi xa nhất so với các huyện khác trong toàn tỉnh.Yên Hoa là một xã vùng cao thuộc huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang Trong toàn xã người Tày có số dân đông nhất chiếm 66,7% Con người nơi đây với những giá trị văn hóa phong phú, độc đáo, chứa đựng tính nhân văn cao cả Dân tộc Tày có vốn truyền thống văn hóa lâu đời cũng như vốn văn hóa dân gian phong phú, nó đã gắn bó với sự hình thành tộc người được nuôi dưỡng trong môi trường sinh thái tự nhiên- kinh tế xã hội Trong kho tàng ấy chứa đựng vô vàn những trò chơi mang tính dân gian và tính cố kết cộng đồng cao,

cụ thể là“tung còn” – 1 nét văn hóa đậm chất

Nếu được một lần đặt chân đến vùng đất này hãy đến với chúng tôi Với những giá trị văn hóa từ ngàn đời xưa để lại, nay vẫn còn được duy trì Với những nét văn hóa đó tạo nên cho đời sống con người nơi đây ngày càng phong phú,đậm đà bản sắc dân tộc Xã Yên Hoa một xã nghèo thuộc huyện

Na hang, nơi đây vẫn còn giữ được những nét văn hóa từ lâu đời Ngững nền văn hóa đó tạo nên những bản sắc riêng với những xã thuộc cùng khu vực Những nền văn hóa truyền thống vẫn còn được giữ vững đến bây giờ

1.Điều kiện tự nhiên

1.1Địa hình đất đai

Địa hình núi cao: Chủ yếu là các đồi núi có độ dốc lớn, phân làm hai loại: đồi núi đất và đồi núi đá vôi Đặc điểm của địa hình này là độ dốc lớn, địa hình chia cắt, đi lại và canh tác khó khăn

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 6.008,7 ha được phân bố sử dụng như sau: Nhóm đất nông nghiệp (gồm cả diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp, đất thuỷ sản) có 5376,59 ha, chiếm 89,48 % tổng diện

Trang 2

2

tích tự nhiên Nhóm đất phi nông nghiệp có diện tích 471,72 ha, chiếm 7,85 % tổng diện tích tự nhiên

1.2 Sông ngòi và khí hậu

Sông ngòi:

Xã Yên Hoa có 3 con suối (Suối Bản Thác, Suối Nặm Mường, Suối Bản Cuôn) và các khe nước từ núi chảy ra là nguồn nước chủ yếu để dùng cho sinh hoạt và tưới nước cho cây trồng Ngoài ra còn có một diện tích mặt nước lớn của hồ thuỷ điện Tuyên Quang Tuy nhiên về mùa khô lượng nước suối, khe giảm không đủ nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt

Nguồn nước mặt của xã Yên Hoa được cung cấp chủ yếu từ 3 con suối chảy qua xã, diện tích mặt nước của hồ thuỷ điện Tuyên Quang và nước mưa tự nhiên Đây là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất.Nguồn nước ngầm có nhiều từ các khe núi chảy ra; việc khai thác sử dụng nguồn nước ngầm phục vụ cho nhân dân trong xã còn hạn chế, đến nay trên địa bàn xã có 5 công trình nước sạch trong đó: CT Nà Khuyến đã hỏng do bị nước ngập, Bản Va đã hỏng còn lại 3 công trình (Bản Cuôn, Cốc Khuyết, và trạm máy bơm khu trung tâm) cung cấp nước cho 218 hộ vì vậy trong thời gian tới cần phải xây dựng thêm một số công trình mới đủ nước sạch phục vụ cho nhu cầu đời sống của nhân dân trong xã

Khí hậu:

Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, mùa mưa thường từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, khí hậu nóng

ẩm, lượng mưa cả năm thường tập trung vào mùa này (Chiếm khoảng 75% đến 80% lượng mưa cả năm) Mùa khô khí hậu khô hanh và kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa thấp, nhiệt độ có thể xuống thấp hơn 4oC Nhiệt độ trung bình năm 23,40C, độ ẩm không khí 80-86%, lượng mưa trung bình 1.800 – 2.200 mm, số giờ nắng bình quân 1.436 giờ/năm, tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 6,7,8,9

2 Điều kiện kinh tế, xã hội

2.1 Dân tộc, dân số và sự phân bố dân cư

Trang 3

3

Tính đến năm 2013, xã Yên Hoa có 1046 hộ, cư trú trên địa bàn 14 thôn với số dân là 4.893 Trong đó có 2.749 lao động (lao động nam có 1.322 người;

nữ có 1.427 người) Tỷ lệ tăng dân số bình quân 1,2 nghìn/năm Có mật độ dân

số là 81người/km2

Trên địa bàn xã chủ yếu có 4 dân tộc anh em sinh sống Trong đó: Tày 3.171 người (chiếm 66,7%), Dao 1.287 người (chiếm 27,1%), Kinh 59 người (chiếm 1,2 %) và các dân tộc khác 234 người (chiếm 4,9 %)

2.2 Người Tày ở xã Yên Hoa

a.Đời sống kinh tế và phương thức canh tác

Dân tộc Tày cùng với các dân tộc khác đã cư trú và tồn tại lâu đời trên mảnh đất Yên Hoa Trong đó tính đến nay, tộc người tày chiếm 66,7% dân số trong toàn xã Họ sống hòa thuận cũng các dân tộc khác và có đời sống kinh tế tương đối ổn định Xã Yên Hoa có vị trí địa lý khá thuận lợi, do có tuyến đường

ĐT 190 đi qua; xã có vị trí nằm ở trung tâm cụm xã khu C nên người Tày ở đây

có điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hóa

Với đặc điểm sinh sống ở thung lũng, ven sông suối, người Tày nơi đây chủ yếu làm nghề nông là chính làm ruộng nước, làm nương rẫy, thâm canh, xen canh gối vụ với các giống khác như ngô, khoai, sắn, lạc, đậu tương….Họ biết đắp đập khai mương đưa nước vào ruộng

Trên những chân ruộng sâu sẵn nước thường được cấy 2 vụ lúa mùa, ở đám ruộng cạn thì tranh thủ trồng ngô Đồng bào Tày có kinh nghiệm trồng xen canh gối vụ trên các loại đất xen canh với ngô ở trên nương với các loại đậu nhất là đậu tương

Trước kia cũng như ngày nay mỗi gia đình người Tày đều có một mảnh vườn nhỏ quanh nhà để trồng rau sạch và trồng cây ăn quả

Chăn nuôi của người Tày thì họ nuôi cả gia súc để lấy sức kéo, gia cầm nhằm phục vụ cho kinh tế và tăng khẩu phần cho bữa ăn Ngoài ra họ còn có thể đánh

Trang 4

4

bắt thêm cá, tôm ở sông suối.Ngày nay nhờ có hệ thống đắp đập thủy điện Na Hang mà người Tày còn có thể nuôi trồng thủy hải sản để tăng thêm thu nhập Công nghiệp và Thủ công nghiệp: Trước đây người Tày ở đây thường có nghề rèn dao, búa, đúc nồi, đóng gạch, nhưng hiện nay không còn tồn tại các ngành nghề đó nữa Nghề dệt thổ cẩm của người Tày không ai rõ có từ bao giờ, mà chỉ biết những tấm vải thổ cẩm do hộ dệt ra từ lâu đã nổi tiếng với những hoa văn đặc sắc mang đậm nét tộc người Săn bắt hái lượm để làm bữa

ăn thếm phong phú thì người Tày cũng lên rừng bẫy chim, lợn, rắn…hái một số loại rau rừng như ngót, rớn, măng

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước từ các chương trình mục tiêu, cơ

sở hạ tầng kinh tế xã hội của xã được đầu tư xây dựng, nâng cấp, xây mới đã làm thay đổi diện mạo bộ mặt nông hôn của xã, bước đầu tạo cơ sở cho thực hiện các chi tiêu trong xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống của người Tày cũng như các dân tộc khác cùng sinh sống nơi đây

2.3 Đời sống văn hóa xã hội

Văn hóa vật chất:

Nhà của người Tày ở Yên Hoa thường là những ngôi nhà sàn độc lập, có khuôn viên bao bọc xung quanh bằng rào nứa đan thành phên buộc vào cọc tre hay dùng những đoạn nứa cắm sát vào nhau, cũng có nhà trồng một số loại cây, hoa làm hàng rào Sát cạnh khuôn viên nhà lại có một mảnh vườn nhỏ trồng các loại rau xanh, bầu bí, cây gia vị, cây thuốc, cũng dùng nứa cây rào dậu cẩn thận

để dùng để tránh gia súc, gia cầm trong nhà phá hoại; Nhiều nhà còn có ao thả

cá, xung quanh nhà trồng các loại cây ăn quả như mận, hồng, lê, táo Gầm sàn mở ra không gian xung quanh, được sử dụng để buộc trâu bò, quây chuồng lợn, chuồng gà, chứa củi, đặt cối giã gạo, để quạt hòm, cối xay, cối giã,

để cày bừa và các loại nông cụ, xe đạp, xe máy Nhà của người Tày ở Yên Hoa có bố cục mặt bằng hình chữ nhật, hai đầu hồi còn được mở rộng, kéo dài thêm bằng những sàn phơi, sàn rửa Diện tích trung bình 150 - 200m2, chiều cao trung bình 7 - 9m tính từ nền lên đến nóc

Trang 5

5

Phổ biến là loại nhà kiểu 4 gian 2 chái có chiều dài khoảng 18 - 20m, rộng khoảng 8 - 10m Nhà có hai mái chính có độ dốc vừa phải, mái trước và mái sau bằng nhau hợp thành một hình tam giác cân, khác với kiểu nhà 7 hàng cột ở vùng Chiêm Hóa có mái sau dài hơn mái trước do có thêm một hàng cột ở phía sau Phía hai đầu nhà còn có hai mái phụ để che mưa nắng cho phần hiên, cầu thang phía trước và phần sàn rửa, cầu thang phía sau Hai mái phụ này không gặp nhau với mái chính ở bờ nóc mà được làm thấp hơn, ở phía dưới mái chính, những rui mè liên kết với nhau bằng cách buộc với một thân vầu, hay gỗ đặt cao hơn vị trí câu đầu của bộ vì nóc đầu tiên và cuối cùng một chút Nhìn bên ngoài vẫn thấy đây là một ngôi nhà 4 mái cân xứng Vật liệu lợp mái là lá cọ rất sẵn ở những rừng cọ trong vùng, cách lợp cũng như hầu hết ở các nơi khác: tách tàu lá

cọ làm 2 mắc lên thanh mè, cứ mỗi hàng mè lại trở mặt xếp từ phải qua trái rồi đến từ trái qua phải Do nguồn lá cọ tại địa phương sẵn có nên mái được lợp rất

Kết cấu khung nhà sàn của người Tày ở Yên Hoa tương đối thống nhất về tổng thể nhưng rất phong phú về chi tiết ở phần kết cấu vì nóc Hầu hết là loại vì kèo 4 hàng cột, gồm 2 kèo, 2 cột cái, 2 cột quân Cũng có loại nhà theo kiểu 6 hàng cột, thêm 2 hàng cột hiên Các cột được liên kết với nhau bằng câu đầu, thanh ngang, các bộ vì liên kết với nhau bằng thanh xuyên dọc Kết cấu vì nóc đơn giản nhất chỉ gồm một thân cột đỡ chỏm kèo đứng chân lên một thanh ngang liên kết hai đầu cột cái Kết cấu phức tạp hơn được làm như kiểu vì nóc giá chiêng của người Việt: cột trốn đỡ chỏm kèo đứng chân trên một thanh ngang ngắn, thanh ngang này liên kết hai cột trốn khác đỡ kèo ở vị trí hoành mái hai bên lại đứng chân lên một thanh ngang dài liên kết hai cột cái Kiểu kết cấu này khiến cho lòng nhà được mở rộng Hai bộ vì ở hai đầu hồi nhà thường được đan phên che chắn hay bưng ván trổ thủng thành những hình hoa văn, những bộ vì trong nhà được để trống giữa các gian Hệ thống cột này xuyên suốt

từ mặt nền lên đến tận mái, các cột thường được kê trên những chân tảng bằng

đá, chân tảng thường không có hình dạng nhất định mà phụ thuộc vào hình dáng

Trang 6

6

của những tảng đá trong tự nhiên ở Nà Hang hiện vẫn còn bảo lưu những nhà sàn có hệ thống cột được chôn xuống nền đất, nhiều cột bị ẩm, mục, đã đứt hẳn chân nên phải kê lại bằng đá tảng, bằng gỗ hay bất cứ vật liệu gì mà chủ nhà có thể kiếm được Điều đó chứng minh những nhà sàn truyền thống trước kia có kiểu chân cột được chôn xuống đất, nhưng những ngôi nhà được dựng trong khoảng 20 - 30 năm trở lại đây đều có kiểu chân cột kê đá tảng nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ của các chân cột bằng các loại gỗ đang dần ngày một hiếm đi Nguyên liệu dùng để làm khung nhà thường là những loại gỗ sẵn có tại địa phương, phổ biến là gỗ trò, trâm, nghiến, có khi cũng dùng cả thân vầu, tre, diễn, gỗ cọ để làm những chi tiết phụ Trước đây, khi dựng nhà, để làm bộ khung, đồng bào thường phải mất từ 1 đến 3 năm để đi tìm gỗ trên rừng, tìm được một cây gỗ ưng ý đốn xuống rồi cho trâu kéo về vứt ở ngoài trời mưa nắng, đến khi đủ gỗ dựng nhà thì những cây gỗ này cũng đã tương đối khô, những cây nào bị mối mọt thì bỏ luôn không dùng Sau khi kiếm gần đủ nguyên liệu là đã có thể dựng nhà, nếu thiếu có thể vay mượn thêm của bà con trong bản Nguyên liệu lá cọ lợp mái cũng thường được khai thác ở những rừng cọ gần nhà, ai làm nhà hay sửa nhà thì được ưu tiên khai thác lá cọ, người khác

Thợ dựng nhà của người Tày ở Yên Hoa thường ở ngay trong bản và là những người biết kĩ thuật dựng nhà chứ không phải là thợ chuyên nghiệp, những người này bình thường vẫn làm công việc nông nghiệp khác, khi có người dựng nhà mới thì được mời đến và cũng được trả công để đảm nhiệm những công việc chủ yếu, còn lại các công việc khác do mọi người trong bản cùng đến giúp, ai biết việc gì thì giúp việc ấy, ngoài việc giúp công, bà con còn giúp nhau cả về nguyên liệu dựng nhà, tiền, gạo Về kĩ thuật xây dựng, chủ yếu sử dụng các kĩ thuật đẽo, bào, đục mộng, chốt, buộc, néo Theo tập quán, khi dựng nhà người ta xếp hết các vì liên kết theo hàng ngang các cột trước rồi mới dựng các bộ vì lên để chia thành gian, bộ vì xếp đầu tiên bao giờ cũng được dựng lên cuối cùng và bộ vì xếp cuối cùng (vì thứ 5) lại được dựng lên đầu tiên

Trang 7

7

Nhà của người Tày ở Yên Hoa cũng như ở một số nơi khác, có các mặt xung quanh được che bằng liếp hoặc bưng bằng ván Trước đây chủ yếu là sử dụng nứa đan thành liếp, hoặc đầu tiên khi mới dựng nhà dùng liếp, ở một thời gian, khi có điều kiện mới thay dần các tấm liếp bằng ván gỗ Tuy vậy, xung quanh nhà vẫn để rất nhiều cửa sổ bằng những tấm liếp được chống lên vào mùa

hè và đóng lại khi trời lạnh, do vậy những ngôi nhà này thường rất sáng sủa, thoáng mát Gần đây đồng bào ưa làm loại cửa sổ bằng ván gỗ hai cánh có ổ quay và then cài cũng bằng gỗ có thể đóng mở dễ dàng Những cửa sổ này cũng được chắn bằng những loại chấn song đơn giản bằng những đoạn tre, vầu hay

gỗ được đẽo gọt tạo thành hoa văn trang trí Đầu hồi phía sau thường được bưng kín, chỉ có một cửa duy nhất đi ra phía cầu thang phụ Trong nhà rất ít khi được ngăn thành các buồng nhỏ, nếu có cũng chỉ có khoảng 1 - 2 buồng dành cho con

Mặt sàn cách nền đất phía dưới khoảng trên dưới 2 m, nền đất thường được đầm kĩ Sàn nhà được làm bằng các loại mai, vầu được đập dập, chẻ nhỏ lát theo chiều ngang nhà và khi hỏng đâu được sửa, thay đến đấy rất dễ dàng, nhanh chóng Cũng giống như hệ thống vách tường bao quanh nhà, mặt sàn cũng được lát cả bằng ván gỗ theo chiều ngang nhà hoặc khi mới làm nhà thì lát theo kiểu trên, qua một thời gian gia chủ có điều kiện kinh tế thì dần được thay bằng ván gỗ

Sàn phơi và sàn rửa cùng một mặt bằng với sàn nhà nhưng có tính chất như một công trình phụ gá vào với tòa nhà chính, hệ thống cột chống phía dưới sàn không có liên kết gì với nhà chính, thường được dùng những đoạn cây nhỏ dễ kiếm hay nguyên vật liệu thừa trong quá trình làm nhà, cách bố trí các cột cũng không theo quy luật nào, chỗ nào yếu thì chống thêm cột, phía dưới các sàn này không sử dụng để chứa gì Thực tế sử dụng chỉ một thời gian dưới trời mưa nắng, hay thường xuyên bị dội nước, những sàn phơi, sàn rửa này thường nhanh chónh bị hỏng phải gia cố thêm hoặc làm mới

Bố trí không gian sử dụng trong ngôi nhà của người Tày ở Yên Hoa cũng có

Trang 8

8

điểm khác biệt so với một số địa phương khác: Trước nhà đối diện với cầu thang thường là một máng nước bằng gỗ, thân vầu hoặc bằng đá dùng để dựng nước rửa chân trước khi lên nhà Cầu thang lên nhà bằng gỗ thường gồm 9 bậc,

có một số ít nhà làm 7 bậc, không có tay vịn Lên hết cầu thang tới một hiên rộng nhìn ra phía trước nhà Toàn bộ phần này nằm ở phía dưới mái phụ phía đầu hồi để tránh mưa nắng Qua hiên vào cửa chính của nhà ở phía đầu hồi phía trước, cánh cửa thường được làm bằng liếp hay gỗ tấm có hai cánh Gian thứ nhất là gian khách, khách đến chơi nhà hoặc ngủ lại chỉ có thể ở phần không gian này Gian thứ hai có đặt bàn thờ tổ tiên trên gác xép (phần không gian sát mái đua ra), phía dưới hai bên đều có kê sập, bếp giành cho khách có thể ở ngay gian thứ nhất hoặc gian thứ hai Bàn thờ bao giờ cũng đặt ở phía đối diện chéo góc với cửa chính ra vào, nếu cửa ở bên trái thì bàn thờ ở bên phải gian thứ hai

và ngược lại, cách bài trí bàn thờ cũng khá đơn giản chỉ gồm: bát hương, đèn, đĩa đựng hoa quả, chai rượu Ông chủ nhà nếu lớn tuổi cũng thường ở gian thứ hai này ngay phía dưới bàn thờ để tiện hương khói, tiếp khách Gian thứ 3 thường có một đố ngăn cách với gian thứ hai là nơi dành cho chủ nhà hoặc vợ chủ nhà, cũng ở gian này giữa nhà là bếp của gia đình, chạn bát, phía sau nhà ở gian này có thể mở thêm ra một sàn rửa để rửa bát đũa, đồ ăn Phía trên bếp gia đình có gác bếp hai tầng dùng để xông khói một số loại thực phẩm hoặc những

đồ đan lát nhằm mục đích bảo quản, gác bếp được treo lên bằng những đoạn tre gác giữa các vì kèo Gian thứ tư là nơi dành cho các con, cũng có gia đình sử dụng 1 bên để lương thực, chạn bát hoặc nơi rửa bát Đầu hồi phía sau thường là một chái có cửa mở ra cầu thang phụ, sàn rửa, nơi rửa ráy, tắm giặt, nơi đại tiểu tiện xuống chuồng lợn phía dưới Có gia đình dùng không gian ở phần chái này làm bếp để tiện việc rửa ráy, nấu nướng, chăm sóc lợn gà Những nghi lễ liên quan đến quá trình dựng nhà của người Tày ở Yên Hoa ngoài việc xem hướng, xem ngày giờ, như đã nói, quan trọng nhất khi bắt đầu tiến hành dựng nhà phải có nghi thức xin một lá bùa trấn trạch (gọi là "Biên") Bùa này là một tấm vải đỏ kích thước khoảng 30 - 40cm do các thầy cúng sau

Trang 9

9

những nghi lễ viết, trên đó dùng chữ Hán:Sắc lệnh, Khương Thái Công tại thử niên nguyệt nhật, có nơi ghi thêm chữ Phúc như Đông Hải, thọ tỉ Nam Sơn, lễ để xin lá bùa này dứt khoát phải có 12 chiếc bánh dày, thịt lợn Khi dựng

vì kèo lên thì lấy bùa dán lên câu đầu để cho ngôi nhà có sinh khí và vững bền Sau khi nhà đã dựng xong cũng phải có những nghi lễ thì mới được phép ở, hôm về nhà mới, người chồng đi trước tay cầm một bó đuốc để xua đuổi tà ma,

vợ tay cầm chạc trâu, gánh vài cum lúa và một ống nứa đựng nước Khi vào nhà hai vợ chồng khấn thổ công, thổ thần xin cho được tạm trú Lúc đó trong nhà đã

có một vị già làng, trưởng bản đứng đợi sẵn lên tiếng trả lời đồng ý cho vào ở (giả làm tiếng thổ thần)

Trang phục: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như ko thêu thùa trang trí, cả nam và nữ đều mặc áo nhuộm chàm màu đen Ngày thường bà con con vẫn mặc quần áo như người Kinh, đến ngày hội hè hay vào dịp quan trọng họ mới mặc trang phục truyền thống cụ thể như: Nữ mặc áo dài 5 thân dài xuống mắt cá chân có thắt đai ở giữa, mặc váy rộng bên trong Áo nữ may hẹp, hơi thắt eo ống tay nhỏ, cổ tròn Khi mặc bó sát khoe được vẻ đẹp của cơ thể Trên đầu họ chít khăn màu đen, cổ đeo vòng tròn bằng bạc Đàn ông mặc áo chàm thân ngắn cài khuy, sẻ tà hai bên, khăn đội đầu và đi giày vải Quần nam giới được may bằng vải sợi bông màu chàm theo kiểu quần đũng chân què, ống rộng vừa phải Phần cạp may rộng và không có đường luồn dải rút Khi mặc vấn mối về phía trước, buộc dây vải ra ngoài

Ăn uống: Cuộc sống của người Tày thường gắn bó với thiên nhiên, do đó, nguồn lương thực, thực phẩm chính của người Tày là những sản phẩm thu được

từ hoạt động sản xuất ở vùng có rừng, sông, suối, đồi núi bao quanh Đó là thóc, gạo, ngô, khoai, sắn, đậu, đỗ cùng các loại rau quả do trồng trọt trong vườn hoặc hái lượm trong rừng, các loại thuỷ sản như cá, tôm, cua do nuôi thả và đánh bắt ở sông suối, các loại gia súc, gia cầm như trâu, bò, gà, vịt hoặc chim, thú săn bắt ở trong rừng Thường ngày, người Tày ăn hai bữa: bữa trưa và bữa

Trang 10

10

tối Cơm hàng ngày là cơm gạo tẻ Gạo nếp thường dùng làm bánh, đồ xôi Trong những ngày giáp hạt ngô thường là lương thực chính Trong mỗi bữa ăn, phổ biến nhất là rau Bên cạnh đó ở một số vùng đồng bào còn ưa ăn đồ nướng trên than hồng hay gói lá vùi vào tro nóng Ngoài rau, đậu, thức ăn còn có cá, trứng và đôi khi có cả thịt

Về đồ uống họ có các loại nước uống hàng ngày được nấu từ các loại lá cây như nhân trần, chè, hạt muồng, lá vối… Các loại rượu gồm rượu ngô, rượu sắn nấu rất ngon và có bí quyết riêng Phụ nữ là người già thường ăn trầu cau, đàn ông hút thuốc lào

Phương tiện vận chuyển trước đây của người Tày chủ yếu là các thức dùng để gánh gồng, những vùng xa xôi hẻo lánh thifdungf sức người, xe trâu được dùng tại vùng có đường xá thuận tiện Hiện nay, ở khắp mọi nơi hệ thống giao thông cũng được mở mang ít nhiều nên việc đi lại của bà con cũng dễ dàng hơn, vì vậy xe đạp và xe máy là phương tiện giao thông phổ biến nhất

Văn hóa tinh thần:

Đời sống tinh thần của người Tày ở Yên Hoa rất phong phú, đa dạng , thể hiện qua các phong tục, tập quán như : lễ cưới, lễ hội dân gian, lễ cơm mới, lễ cầu phúc,…tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo Phong phú hơn là thể loại hát then, hát cọi, xli, lượn với cây đàn tính độc đáo

Đám cưới: Nghi lễ cưới truyền thống của người Tày Yên Hoa gồm: lễ

“thông tin”, lễ "khớp số", lễ "ăn hỏi", lễ “mjều mác”, lễ “khát cằm”, lễ “nhăm phạc lườn”

Lễ “thông tin” giống như lễ dạm hỏi, đại diện nhà trai mang rượu sang nhà gái để thưa chuyện với gia đình nhà gái Lễ "khớp số", hay còn gọi là lễ “khả cáy”, nhà trai mang rượu, gà sang nhà gái Trong lễ này, nhà gái mổ gà để xem chân gà, khớp số mệnh cho đôi trai gái Lễ "ăn hỏi", nhà trai mang rượu, đôi gà trống thiến, bánh dầy, bánh chưng, gạo đến nhà gái để hỏi xin cưới Lễ “mjều mác” tức là lễ trầu cau, là lễ to nhất trước khi cưới Trong lễ này, nhà gái tổ chức ăn uống, đãi anh em hàng xóm Lễ “khát cằm”, còn gọi là lễ thách cưới,

Ngày đăng: 02/06/2021, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w