Tu Lý một xã vùng thấp của huyện Đà Bắc. Các trung tâm huyện khoảng 4km về phía Bắc. Xã có diện tích tự nhiên là 4.516 ha. Trong đó, 776 ha là đất trồng lúa và cây màu, còn lại là đất trồng lâm nghiệp, núi cao, khe sâu. Có đường giao thông tương đối thuận lợi.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do
Hiện này, các hoạt động kinh tế - xã hội và văn hoá có mục tiêu hướng vào nhiều cộng đồng hưởng lợi, thông qua các dự án phát triển cộng đồng do Nhà nước, các tổ chức xã hội, các cá nhân tài trợ Đây thực chất là các hoạt động phát triển với những triết lý phương pháp tiếp cận khá mới mẻ, đem lại một số thành công nhất định trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội và văn hoá
Phát triển cộng đồng là một lĩnh vực hoạt động khoa học và thực tiễn còn khá mới mẻ ở nước ta Thông qua các dự án viện trợ phát triển, nhiều tại liệu lý thuyết về phát triển cộng đồng đã được phổ biến trong giới nghiên cứu và hoạt động thực tiễn
Xuất phát từ tinh thần của Nghị quyết Trung ương 5(khoá 8) về xây dựng
và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó nội dung hướng vào việc xây dựng các chương trình hoạt động văn hoá cơ sở là
ưu tiên trọng tâm
Từ thực tiễn trên, chúng tôi đưa ra dự án về phát triển văn hoá cộng đồng tại xóm Tràng, xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình mang tên “Phát triển tủ sách tri thức tại xóm Tràng, xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình”
2 Mục tiêu
Hiểu rõ thêm về cộng đồng cư dân nói chúng và văn hoá cộng đồng nói riêng để từ đó biết được nhu cầu cấp thiết của cộng đồng tại địa phương
3 Đối tượng
Người dân xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
4 Bố cục
Chương 1 Hồ sơ cộng đồng xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
Trang 2Chương 2 Các giá trị văn hoá cộng đồng xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
Chương 3 Nhận diện các vấn đề trong cộng đồng xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
Chương 4 Phác thảo kế hoạch dự án phát triển văn hoá cộng đồng “ Xây dựng tủ sách tri thức tại xóm Tràng, xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình”
Trang 3Chương 1 Hồ sơ cộng đồng xã Tu lý,huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình 1.1 Vị trí địa lý
Tu Lý một xã vùng thấp của huyện Đà Bắc Các trung tâm huyện khoảng 4km về phía Bắc Xã có diện tích tự nhiên là 4.516 ha Trong đó, 776 ha là đất trồng lúa và cây màu, còn lại là đất trồng lâm nghiệp, núi cao, khe sâu Có đường giao thông tương đối thuận lợi
1.2 Dân số
Toàn xã có 13 thôn ( có 2 xóm thuộc vùng 135 theo quy định của chính phủ ) xóm đông nhất là 212 hộ dân, xóm ít nhất là 70 hộ dân
Có 5 dân tộc Tày, Mường, Kinh, Dao, Thái cùng chung sống với nhau từ lâu đời
Tổng số xã có 6.264 khẩu tính đến năm 2014
1.3 Kinh tế
Nhìn chung kinh tế của xã phát triển, phân bố không đồng đều vì khu dân
cư phân bố rải rác, địa hình đồi núi hiểm trở Đời sống chú yếu làm thuần nông, kết hợp với trồng rừng, chăn nuôi, làm dịch vụ nhỏ lẻ
* Trồng trọt
Lúa nước: tổng diện tích là 391,74 ha đạt 102% kế hoạch, năng suất bình quân 52,3/ tạ
Trang 4Ngoài ra, ngô trồng 344,3 ha, đạt 91,31% kế hoach, mía 7,5 ha đạt 31,25 kế hoạch,…
* Chăn nuôi
Trâu có 629 con, bò có 318 con, lợn có 3.711 con, gia cầm 19.763 con,… chính quyền rất chú trọng đến việc phòng chống bệnh dịch tại địa phương Tổng diện tích ao hồ nuôi thuỷ sản là 16,5 ha
* Lâm nghiệp
Thực hiện kế hoạch trồng rừng hàng năm, cho đến năm 2013 xã đã trồng đc 106,5 ha đạt 197% kế hoạch Công tác bảo vệ, phòng trống chữa cháy rừng được tăng cường
1.4 Văn hoá - giáo dục
- Giáo dục các trường thực hiện nghiêm túc kế hoạch tổng kết năm học
2013 -2014, trong thời gian tháng 9/2013 trường THCS Tu Lý đã đón bằng công nhận trường đạt chuẩn quốc gia
- Văn hoá
Hoạt động văn hoá – nghệ thuật, TD – TT giữa các xóm được duy trì thường xuyên, tạo không khí vui tươi, phấn khởi , đẩy mạnh tình đoàn kết cộng đồng
1.5 Xã hội
Y tế công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình: bảo vệ và chăm sóc tốt sức khoẻ ban đầu cho nhân dân Công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện
vệ sinh, phòng bệnh được duy trì thường xuyên
Đối với chị em phụ nữ độ tuổi sinh đẻ đã tham gia thực hiện các biện pháp tránh thai Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trong năm 2014 là 0,75%
Công tác thương binh – xã hội: thực hiện tốt việc chi trả chế độ hàng tháng cho các đối tượng nghèo và các gia đình chính sách, đồng thời trích nguồn ngân sách xã để hỗ trợ cho các hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn
Trang 51.6 Cơ sở hạ tầng
Các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, giao thông, giáo dục được Đảng và Nhà nước đầu tư có hiệu quả.Đời sống vật chất tinh thần nhân dân ngày càng được cải thiện
Đường liên xã thuận tiện, nhưng đường liên thôn còn nhiều nơi bị hạn chế bởi núi, đồi
Quốc phòng luôn được tăng cường và củng cố.An ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn giữ vững và ổn định
1.7 Sự thay đổi của cộng đồng trong thời gian 5 năm trở lại
Đẩy mạnh phát triển kinh tế, tiếp tục dịch chuyển cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển; xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện Nghị quyết của HĐND các cấp về phát triển kinh tế, xã hội; tập trung mọi nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ Các chỉ tiêu tăng trưởng trong vòng 5 năm vừa qua( từ năm 2010 đến năm 2015):
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: 14%
- Tổng giá trị sản phẩm giá cố định 86 tỷ VNĐ
- Thu nhập bình quân đầu người trong năm 2014: 13,5 triệu VNĐ
- Tổng sản phẩm cây lương thực có hạt: 3.650 tấn
- Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn: 140 triệu VNĐ
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1,0%
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn: 30%
- Làng văn hoá đạt: 80%; Cơ quan Văn hoá: 100%; Gia đình Văn hoá: 75%
- Duy trì trường chuẩn Quốc gia: 03 trường
- Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm còn 15%
- Xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh
- Quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội giữ vững và ổn định
Trang 6Chương 2 Các giá trị văn hoá cộng đồng xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
2.1 Văn hoá vật thể, phi vật thể
a Văn hoá vật thể
Di tích lịch sử cách mạng tại căn cứ Tu Lương
Trong quá trình cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, ở tỉnh Hoà Bình đã lần lượt hình thành 4 khu căn cứ địa cách mạng, nằm trong hệ thống chiến khu Hoà – Ninh – Thanh, bao gồm:
- Khu căn cứ mường Khói và “ Trường Sơn du kích kháng Nhật học hiệu” tại huyện Lạc Sơn
- Khu căn cứ Cao Phong - Thạch Yên ở huyện Kỳ Sơn (cũ) nay thuộc huyện Cao Phong
- Khu căn cứ Tu Lý - Hiền Lương ở huyện Đà Bắc
- Khu căn cứ Mường Diềm ở huyện đà Bắc
Cùng với hoạt động ở các khu căn cứ là phong trào đấu tranh cách mạng
mà dấu ấn còn để lại đến ngày nay, gồm các di tích lịch sử cách mạng
Bia tưởng niệm tại căn cứ Tu Lương
Trang 7Động Hương Lý – xã Tu Lý đang được các nhà nghiên cứu khai thác, bảo tồn, phát triển thành du lịch
b Văn hoá phi vật thể
* Văn hoá cồng chiêng của dân tộc Mường
Có thể nói, cồng chiêng có mặt ở mọi lúc, mọi nơi trong lao động, sinh hoạt đời thường; trong quyền lực của lang đạo xưa và trong lễ nghi tín ngưỡng phong tục, trong suốt cuộc đời người Mường từ khi sinh ra đến khi về với Mường ma Không gian văn hóa cồng chiêng Mường bắt nguồn từ truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời, được khẳng định trong quá trình lao động, sáng tạo nghệ thuật và được kế tục qua nhiều thế hệ Dù chưa có công trình nghiên cứu về việc chế tác chiêng của người Mường nhưng từ xa xưa, họ đã biết thổi hồn cho cồng chiêng, sáng tác được các bản nhạc và tạo ra những phương thức đánh chiêng phù hợp với tính cách, tâm lý đặc trưng của dân tộc
Một bộ cồng chiêng hoàn chỉnh có 12 chiếc, chia đều ra làm 3 bộ (chiêng dàm, chiêng bồng, chiêng tlé), ngoài ý nghĩa âm nhạc còn biểu hiện cho 12 tháng trong năm Chiêng có mặt ở mọi lúc, mọi nơi trong lao động, sinh hoạt đời thường; trong quyền lực của lang đạo xưa và trong lễ nghi tín ngưỡng phong tục, trong suốt cuộc đời người Mường từ khi sinh ra đến khi về với Mường ma Chiêng còn là dụng cụ thông tin liên lạc, báo hiệu, phát lệnh khi bản làng có cướp bóc, giặc giã để tập hợp nhân dân cùng đoàn kết bảo vệ sự bình yên
Cồng chiêng gắn bó với người Mường không chỉ để thỏa mãn nhu cầu thưởng thức âm nhạc mà có vai trò lớn trong lao động, sản xuất Trong khi trống đồng là loại vật linh được coi là quyền sở hữu của tầng lớp lang đạo lớn xưa thì cồng chiêng chiếm lĩnh, lan tỏa trong không gian rộng lớn, in sâu, hòa đậm trong mỗi bản làng, gia đình một cách dung dị
Người Mường có tới 24 lễ hội có sử dụng cồng chiêng như lễ mừng nhà mới, thành hôn, khai hạ Nếu cồng chiêng Tây Nguyên người đánh chủ yếu là nam giới thì với người Mường là nữ giới Nhiều tài liệu ghi lại, trước đây, người Mường đã sử dụng tới trên 1.000 cô gái với phương thức hòa tấu, trình diễn trên
Trang 81.000 chiếc chiêng Âm nhạc nền nếp, sôi động, giai điệu hòa thanh chuẩn mực, động tác, đội hình chuyển động thướt tha, giàu mỹ cảm
Ngày nay, với phương thức trình diễn linh hoạt, cởi mở, từ dàn chiêng nhỏ tới dàn chiêng hoành tráng hàng ngàn chiếc phối hợp với nhiều hình thức khác tạo nên nền âm nhạc, không gian văn hóa cồng chiêng đương đại
Văn hoá cồng chiêng của dân tộc Mường
* Múa sạp của dân tộc Thái
Trên khoảng đất rộng, người múa cứ múa, người vỗ nhịp chầy theo một tiết
Trang 9tấu rộn ràng và rất khí thế Thuở xưa, chưa có nhạc nền, chỉ có múa chưa có hát, từng đôi, từng đôi nam nữ phải nhảy thế nào để không va vào chân nhau Dưới những hàng chày gỗ đặt song song là những đôi chân đẹp của từng đôi nam thanh nữ tú Ngày xuân, phụ nữ Thái mặc váy thêu, lưng đeo xà tích, quả táo bạc, đội piêu, trang sức đầy mình để nhảy với người bạn khác giới Nhảy sạp không chỉ vui mà còn luyện cơ thể dẻo dai, khỏe mạnh
Ngày nay, điệu múa sạp trở thành một hình thức giao lưu cởi mở của người Thái với du khách Với mỗi cuộc giao lưu, các cô gái Thái trong bộ trang phục truyền thống mở màn bằng điệu múa xòe, sau đó, lần lượt từng cô gái sẽ mời gọi từng vị khách cùng nắm tay nhảy những bước chân trầm bổng theo tiếng nhạc
và tiếng hát của người cầm chày, tạo nên những hình ảnh, điệu múa vô cùng ấm tình của người Thái Điệu múa sạp độc đáo của người Thái đã lan rộng ra rất nhiều cuộc giao lưu, lễ hội của người Việt, được mọi người vô cùng thích thú, đặc biệt là các du khách quốc tế
Múa sạp của dân tộc Thái
2.2 Văn hoá truyền thống
Trang 10Đà Bắc là huyện vùng cao của tỉnh Hoà Bình, có nhiều dân tọc anh em cùng chung sống nơi có sự giao thoa của nhiều nền văn hoá khác nhau tạo nên
sự đặc sắc quyến rũ này
Khi mùa bội thu, xuân về với bản làng thì lúc đó người dân tổ chức tiệc mừng cúng lễ tạ ơn trời đất, tổ tiên che chở để việc trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm được thuận lợi tạo ra nhiều của cải trao đổi và buôn bán Xuất phát từ dọc Sông Đà hùng vĩ có nhiều Bản làng người Dao, người Tày và người Thái sinh sống, những nét văn hoá đặc trưng của người Dao có 2 nhánh đó là Dao đỏ
và Dao quần chẹt, lễ hội của người Dao chỉ có tết nhảy đó là phong tục tập quán cấp sắc đặt tên và mừng cơm mới vào tháng 10 và 11 hàng năm, người Tày và người Thái thì chỉ có tập quán mừng cơm mới (Khau mờ) sau khi thu hoạch vụ mùa xong các làn điệu dân ca của người Tày phong phú và tình tứ như khắp giao duyên của những đôi trai gái hoặc những cuộc vui mừng hạnh phúc họ cùng hát và không phụ thuộc theo lứa tuổi
Nhà ở của dân tộc Dao thường hay làm thấp và lợp bằng lá cọ, gianh, gồm
3 đến 6 gian, có gian bếp cùng dãy nhà để phục vụ cho gia đình
Người Tày và người Thái thì thường làm nhà sàn cao ráo, được phân chia thành gian ngăn vách bếp đun nấu sinh hoạt được đặt giữa nhà sàn
Các món ăn ẩm thực của người dân tộc Dao có đặc sản là thị chua và rượu hoãng làm bằng gạo nếp, hương vị rất thơm và ngon
Người Tày và Thái có cơm lam, cá mương hay thịt gà nấu măng chua hạt dổi rất ngon và mùi vị cũng rất hấp dẫn
Về trang phục người Dao có 2 nhánh khác nhau vì thế mà trang phục của
họ cũng khác nhau, cầu kỳ và hình thức rất phong phú, còn người Tày và Thái thi gần giống nhau, không cầu kỳ lắm nhưng có đặc trưng riêng tinh tế và các nét hoa văn của mỗi dân tộc đều đẹp và bản sắc riêng
Đặc trưng của người dân tộc Mường Đà Bắc và nét văn hoá cổ truyền có trong dịp lễ, đón xuân mới và mừng hạnh phúc đôi lứa, những cuộc vui hát, nhảy sạp, ném còn, vui xuân hội, đánh cồng chiêng, mừng tiệc vui và đón xuân
Trang 11uống rượu cần, ẩm thực của người Mường gồm có xôi đồ, cơm lam, cá mường, thịt gà nấu măng chua Các món ăn đó ngon miệng và hấp dẫn, nhà sàn của người mường được lập bằng tranh, lá cọ, cao ráo và ngăn cách thành gian trong nhà
Tết Nhảy, nét văn hóa độc đáo của dân tộc Dao ở Hòa Bình.
Hát Then của người Tày
Trang 12Trang phục truyền thống người Dao Đỏ
Ẩm thực người Mường
Trang 13Chương 3 Nhận diện các vấn đề trong cộng đồng xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình
3.1 Giải quyết nhu cầu cơ bản của người dân địa phương tại địa phương
Nhu cầu tâm sinh lý của một cộng đồng là rất quan trọng Theo quá trình đi thực trạng, ở đấy có 3 cách giải quyết rất cụ thể:
1 Giải quyết nhu cầu theo hướng tự phát: Trong cộng đồng người dân
có nhu cầu, từ đó bản thân cộng đồng sẽ tự phát bù đắp nhu cầu đấy cho nhau Cách giải quyết này cần có một cộng đồng đoàn kết, tương trợ lẫn nhau để giải quyết vấn đề của mình
2 Giải quyết nhu cầu theochính sách Đảng và Nhà nước: Khi được Đảng và Nhà nước phê duyệt thì cộng đồng được hưởng từ phúc lợi nhà nước
3 Giải quyết nhu cầu theo các nhà bảo trợ, tài trợ bằng vốn đầu tư nước ngoài (ngoài Nhà nước): Các quỹ bảo trợ, tài trợ nước ngoài đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho cộng đồng; cải thiện, phát triển cộng đồng theo dự án cụ thể nhằm duy trì cộng động phát triển theo đúng hướng
3.2 Nhu cầu văn hoá của tầng lớp cư dân trong cộng đồng
Văn hóa là nét đặc trưng của loài người, không thấy ở bất kỳ một sinh vật nào khác Các nền văn hóa của các dân tộc khác nhau trên thế giới được duy trì, phổ biến và phát huy thông qua giáo dục và các phuơng tiện, như tiếng nói, chữ viết và các ký hiệu khác
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
Trang 14Cho nên nhu cầu văn hoá của người dân ở đây khá cao và được người dân chú trọng, đặc biệt là những người dân tộc thiểu số Họ là những người tới từ những dân tộc khác nhau ở chung lẫn với nhau, nên họ hiểu được tính cấp thiết của việc giữ gìn bản sắc dân tộc để không lẫn lội với những dân tộc khác trên địa phương
Họ còn rất quan tâm đến việc lưu giữ và truyền đạt văn hoá của mình không những cho thế hệ sau này, mà còn chia sẽ cho những cán bộ văn hoá công tác tại địa phương
Họ đánh giá cao công tác quản lý văn hoá tại địa phương, vì có thể giúp đỡ
họ bảo tồn được nét cũ và phát huy được những nét mới mà không làm mai một
đi cái cũ của dân tộc mình
Trang 15Chương 4 Phác thảo kế hoạch dự án phát triển văn hoá cộng đồng “ Xây dựng tủ sách tri thức tại xóm Tràng, xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình”
Tên dự án: Xây dựng tủ sách tri thức
Đơn vị hưởng dự án: xóm Tràng, xã Tu Lý, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình Đơn vị chủ trì dự án: Trường Đại học Văn hoá Hà Nội
Nhóm thực hiện dự án: Nhóm Sức Sống
Địa chỉ: 418 Đê La Thành – Đống Đa – Hà Nội
Điện thoại: 043.123.4567
Thời gian thực hiện: kể từ khi được duyệt đến hoàn thành là 2 tháng
I Lý do xây dựng dự án
Trong vài năm trở lại đây do sự chuyển biến cơ cấu kinh tế thị trường, sự phát triển của công nghệ thông tin đã ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu đọc sách của con người không chỉ địa bàn xã mà còn ảnh hưởng đến toàn quốc
Hơn nữa, người dân ở đây và nhất là trẻ nhỏ, trẻ mới đến trường không có nhiều sách để đọc trong thời gian rảnh rỗi.Nên công tác xây dựng tủ sách văn hoá cho cộng đồng rất cần được chú trọng vừa phát huy truyền thống đọc sách, vừa cải thiện được tri thức của người dân
II Nội dung dự án
Kế hoạch chuẩn bị dự án và thực hiện dự án sẽ trong vòng 2 tháng kể từ ngày phê duyệt, kế hoạch cụ thể như sau:
- Giai đoạn 1(1 tuần): Lập nhóm thực hiện dự án
- Giai đoạn 2(3 tuần): Tổ chức nguồn lực
+ Lên kế hoạch thực hiện
+ Làm hồ sơ tài trợ
+ Tìm kiếm nguồn lực hỗ trợ, tình nguyện viên
- Giai đoạn 3(3 tuần): Thực hiện kế hoạch, kiểm tra giám sát thực tiễn + Phát động phong trào đọc sách tại địa phương