1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần mọt hại ngô sau thu hoạch và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến sự phát triển của loài mọt Sitophilus zeamais Motschulsky trong kho bảo quản ở Sơn La.

179 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thành phần mọt hại ngô sau thu hoạch và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến sự phát triển của loài mọt Sitophilus zeamais Motschulsky trong kho bảo quản ở Sơn La
Tác giả Nguyễn Văn Dương
Người hướng dẫn PGS.TS. Khuất Đăng Long, PGS.TS. Lê Xuân Quế
Trường học Học Viện Khoa Học Và Công Nghệ
Chuyên ngành Sinh thái học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 17,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thành phần mọt hại ngô sau thu hoạch và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến sự phát triển của loài mọt Sitophilus zeamais Motschulsky trong kho bảo quản ở Sơn La. Nghiên cứu thành phần mọt hại ngô sau thu hoạch và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến sự phát triển của loài mọt Sitophilus zeamais Motschulsky trong kho bảo quản ở Sơn La. Nghiên cứu thành phần mọt hại ngô sau thu hoạch và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến sự phát triển của loài mọt Sitophilus zeamais Motschulsky trong kho bảo quản ở Sơn La. Nghiên cứu thành phần mọt hại ngô sau thu hoạch và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến sự phát triển của loài mọt Sitophilus zeamais Motschulsky trong kho bảo quản ở Sơn La.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-NGUYỄN VĂN DƯƠNG

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN MỌT HẠI NGÔ SAU THU HOẠCH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH

THÁI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LOÀI MỌT Sitophilus zeamais Motschulsky TRONG KHO BẢO QUẢN Ở SƠN LA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Hà Nội – 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-NGUYỄN VĂN DƯƠNG

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN MỌT HẠI NGÔ SAU THU

HOẠCH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH

THÁI ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LOÀI MỌT Sitophilus

zeamais Motschulsky TRONG KHO BẢO QUẢN Ở SƠN LA

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 9 42 01 20

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Khuất Đăng Long

2 PGS.TS Lê Xuân Quế

Hà Nội – 2021

Trang 3

Để đảm bảo tính trung thực của luận án, tôi xin cam đoan: Luận án “Nghiên cứu thành phần mọt hại ngô sau thu hoạch và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến sự phát triển loài mọt Sitophilus zeamais Motschulsky trong kho bảo quản

ở Sơn La” Là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học

của PGS.TS Khuất Đăng Long và PGS.TS Lê Xuân Quế, các tài liệu tham khảođều được trích nguồn Các kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưatừng được công bố ở bất kì công trình nào trước đây./

Hà Nội, ngày 09 tháng 04 năm 2021

Tác giả luận án

NCS Nguyễn Văn Dương LỜI CAM ĐOAN

Trang 4

Để hoàn thành luận án này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tớiPGS.TS Khuất Đăng Long và PGS.TS Lê Xuân Quế, những người đã hết lòng tậntình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoànthành luận án, tạo cơ hội cho tôi được nâng cao kiến thức trong nghiên cứu lĩnh vựcSinh thái học.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Đào tạo Sau đại học và Lãnh đạo Học ViệnKhoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; phòngSinh thái Côn trùng Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã nhiệt tình giúp đỡ vàtạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi quá trình học tập và nghiên cứu tại cơ sở đào tạo.Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Viện Sinh thái và Tàinguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tạo điều kiện

về mặt cơ sở vật chất, tài liệu chuyên môn cũng như chia sẻ, động viên để tôi hoànthành tốt nghiên cứu của mình

Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Tây Bắc, tập thể cán bộ vàgiảng viên nhà trường đã giúp đỡ, tạo điều kiện về thời gian để tôi tập trung học tập,hoàn thành Luận án

Cuối cùng, tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân trong gia đình,đồng nghiệp, những người bạn đã bên cạnh, chia sẻ, ủng hộ trong suốt thời gian họctập của tôi./

Hà Nội, ngày 09 tháng 04 năm 2021

Tác giả luận án

NCS Nguyễn Văn Dương LỜI CẢM ƠN

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục tiêu nghiên cứu 2

3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

4.Điểm mới của luận án 3

5.Cấu trúc của luận án 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4

1.1.Nghiên cứu côn trùng gây hại nông sản bảo quản trong kho trên thế giới 4

1.1.1 Nghiên cứu về thành phần loài côn trùng gây hại nông sản trong kho bảo quản 4

1.1.2 Nghiên cứu về sinh học, sinh thái học của các loài hại chính cho nông

sản trong kho bảo quản 6

1.1.3 Nghiên cứu về thiệt hại do côn trùng gây hại nông sản trong kho bảo quản 7

1.1.4.Các biện pháp phòng chống côn trùng gây hại nông sản trong kho bảo quản 8

1.1.5 Nghiên cứu về mọt ngô Sitophilus zeamais Motschulsky trên thế giới 15

1.2.Nghiên cứu côn trùng hại nông sản bảo quản trong kho ở Việt Nam 24

1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài côn trùng gây hại nông sản trong kho 24

1.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài hại chính

cho nông sản trong kho bảo quản 27

1.2.3.Nghiên cứu về thiệt hại do côn trùng gây hại nông sản trong kho bảo quản 29

1.2.4.Các biện pháp phòng chống côn trùng gây hại nông sản trong kho bảo quản 30 1.2.5 Nghiên cứu về mọt ngô Sitophilus zeamai s Motschulsky ở Việt Nam 34

CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 39

2.1.1 Thời gian nghiên cứu . 39

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu . 39

MỤC LỤC

Trang 6

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 41

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 41

2.3 Nội dung nghiên cứu 42

2.4 Dụng cụ thí nghiệm 42

2.4.1 Vật liệu nghiên cứu 42

2.4.2 Dụng cụ, thiết bị, hóa chất thí nghiệm 42

2.5 Phương pháp nghiên cứu 45

2.5.1 Phương pháp điều tra thành phần mọt hại ngô hạt trong kho bảo quản 45

2.5.2 Phương pháp điều tra thành phần và hoạt động của tập hợp ong ký sinh đến mọt hại kho và loài mọt ngô Sitophilus zeamais 46

2.5.3.Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái của mọt ngô Sitophilus zeamais 47 2.5.4.Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học của mọt ngô Sitophilus zeamais 48 2.5.5 Phương pháp nghiên cứu tập tính đẻ trứng của Sitophilus zeamais 49

2.5.6 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến sự phát triển của Sitophilus zeamais 50

2.5.7.Phương pháp xử lý mẫu vật và số liệu 55

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56

3.1 Thành phần mọt hại ngô hạt trong kho bảo quản ở Sơn La 56

3.1.1.Thành phần và tỷ lệ các loài mọt hại ngô hạt trong kho bảo quản ở Sơn La 56

3.1.2 Vị trí theo phân loại học các loài mọt hại ngô hạt trong kho bảo quản ở Sơn La 57

3.1.3 Khóa định loại bằng hình ảnh các loài mọt hại ngô hạt trong kho bảo quản ở Sơn La 60

3.2 Đặc điểm hình thái và sinh học của mọt ngô Sitophillus zeamais 78

3.2.1 Đặc điểm hình thái ấu trùng của Sitophillus zeamais 78

3.2.2 Kích thước và hình thái các pha phát triển của Sitophillus zeamais 80

3.2.3 Thời gian các pha phát triển của Sitophillus zeamais 83

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 41

Trang 7

3.2.4 Thời gian sống của trưởng thành và sức đẻ trứng của mọt cái Sitophillus zeamais

86

3.2.5 Tập tính đẻ trứng của mọt trưởng thành Sitophilus zeamais 87

3.3 Đặc điểm sinh thái học của mọt ngô Sitophillus zeamais 93

3.3.1.Diễn biến số lượng trưởng thành Sitophillus zeamais trong hai kiểu kho . 93

3.3.2 Ảnh hưởng của ẩm độ đến sự phát triển mọt ngô Sitophillus zeamais 96

3.3.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của mọt ngô Sitophillus zeamais 98

3.3.4 Ảnh hưởng của nồng độ ôxy đến mọt ngô Sitophillus zeamais 100

3.3.5 Đặc điểm lựa chọn thức ăn của mọt ngô Sitophillus zeamais 107

3.3.6.Thành phần và hoạt động của tập hợp ong ký sinh đến mọt ngô Sitophilus zeamais 114

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 119

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 121

TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

PHỤ LỤC 134

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Địa điểm điều tra nghiên cứu ở Sơn La 39

Bảng 3.1 Thành phần và tỷ lệ các loài mọt trong các kho bảo quản ngô ở Sơn La 56

Bảng 3.2 Kích thước chiều ngang đầu của ấu trùng S zeamais 79

Bảng 3.3 Kích thước các pha phát triển của mọt ngô S zeamais 81

Bảng 3.4 Thời gian các pha phát triển của S zeamais 85

Bảng 3.5 Thời gian sống và sức đẻ trứng của S zeamais 86

Bảng 3.6 So sánh tỷ lệ (%) trứng tích lũy trung bình trong 10 ngày của mọt ngô S zeamais mô tả theo thực nghiệm và lý thuyết 88

Bảng 3.7 Thời gian các pha phát triển của S zeamais 96

Bảng 3.8 Tỷ lệ sống sót các pha phát triển của S zeamais ở ba điều kiện ẩm độ và nhiệt độ 25 o C 97

Bảng 3.9 Thời gian các pha phát triển của Sitophillus zeamais ở hai điều kiện nhiệt độ 98

Bảng 3.10 Tỷ lệ sống sót của các pha phát triển của S zeamais ở nhiệt độ khác nhau 99

Bảng 3.11 Theo dõi sự xuất hiện mọt trưởng thành S zeamais ở các nồng độ ôxy khác nhau 100

Bảng 3.12 Mô tả hoạt động sống của trưởng thành S zeamais theo thời gian

trong môi trường không có ôxy 101

Bảng 3.13 Thời gian sống sót của mọt trưởng thành S zeamais trong môi trường không có độ ôxy 104

Bảng 3.14 So sánh số lượng cá thể các loài mọt trên 3 loại thức ăn (Mai Sơn, Sơn La 3–5/2019) 108

Bảng 3.15 So sánh số lượng cá thể các loài mọt trên 3 loại thức ăn trong kho bảo quản ngô bắp (Mai Sơn, Sơn La 3–5/2019) 113

Bảng 3.16 Thành phần loài ong ký sinh thường gặp của các loài mọt hại ngô hạt được bảo quản trong kho ở Sơn La 2015–2016 115

Bảng 3.17 So sánh số lượng trưởng thành các loài ong ký sinh từ mọt hại ngô hạt bảo quản trong kho ở Sơn La theo các tháng năm 2016 117

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Hình ảnh X - quang về sự di chuyển và tương tác của nhiều ấu trùng

Sitophilus zeamais Motschulsky trong một hạt ngô 19

Hình 2.1 Điểm điều tra thu mẫu tập trung ở Sơn La 41

Hình 2.2 Một số thiết bị sử dụng trong quá trình nghiên cứu 43

Hình 2.3 Sơ đồ cấu tạo hệ thống đo ôxy, ẩm độ, nhiệt độ, điểm sương MSI 44

Hình 2.4 Hệ thống đo nhiệt ẩm, điểm sương ôxy kết nối với máy tính 44

Hình 2.5 Phân tích mẫu vật trong phòng thí nghiệm, Trường Đại học Tây Bắc tháng 12/2017 45

Hình 2.6 Hình ảnh bình môi trường PET được thiết kế trong phòng thí nghiệm 53

Hình 3.1 Mọt cà phê Araecerus fasciculatus 65

Hình 3.2 Hình thái ngoài của Anthicus floralis 65

Hình 3.3 Hình thái ngoài của Họ Bostrychidae 66

Hình 3.4 Hình thái ngoài của loài Murmidius ovalis 67

Hình 3.5 Hình thái ngoài của mọt thuộc giống Cryptolestes 67

Hình 3.6 Hình thái phần vòi kéo dài của giống Sitophilus 68

Hình 3.7 Hình thái ngoài của 2 loài mọt thuộc giống Sitophilus a– Sitophilus oryzae ; b– Sitophilus zeamais 69

Hình 3.8 Hình thái ngoài của loài Typhaea stercorea 72

Hình 3.9 Một số đặc điểm hình thái ngoài 72

Hình 3.10 Hình thái ngoài 2 loài thuộc 2 giống 74

Hình 3.11 Hình thái ngoài của 2 loài thuộc giống Lophocateres và Tenebroides .77

Hình 3.12 Tương quan giữa tuổi và chiều ngang đầu 80

Hình 3.13 Hình thái mọt ngô Sitophilus zeamais trưởng thành 82

Hình 3.14 Trứng của mọt ngô Sitophilus zeamais 82

Hình 3.15 Hình thái ngoài của ấu trùng và nhộng 83

Hình 3.16 Diễn biến tỷ lệ trứng trung bình thực tế tích lũy trong 10 ngày 89

Trang 10

Hình 3.17 Mô tả tỷ lệ (%) trứng trung bình được tích lũy trong 10 ngày vào

khoảng thời gian trứng đẻ cao nhất (từ 55 đến 95 ngày) 90

Hình 3.18 Mô tả tỷ lệ (%) trứng trung bình tích lũy trong 10 ngày của mọt ngô S zeamais trong khoảng thời gian từ 10–35 ngày 90

Hình 3.19 Mô tả tỷ lệ (%) trứng trung bình tích lũy trong 10 ngày của mọt ngô S zeamais trong khoảng thời gian từ 45–85 ngày 91

Hình 3.20 Mô tả tỷ lệ (%) trứng trung bình tích lũy trong 10 ngày của mọt ngô S zeamais trong khoảng thời gian từ 105–145 ngày 92

Hình 3.21 Diễn biến số lượng trưởng thành mọt ngô S zeamais 94

Hình 3.22 So sánh số lượng mọt trưởng thành xuất hiện 101

Hình 3.23 Tỷ lệ mọt ngô S zeamais chết theo thời gian 104

Hình 3.24 So sánh tỷ lệ chết của mọt ngô S zeamais 106

Hình 3.25 So sánh tỷ lệ hao hut ngô hạt bảo quản 107

Hình 3.26 So sánh tỷ lệ các loài mọt trên 3 loại thức ăn (Mai Sơn, Sơn La 3– 5/2019) 109

Hình 3.27 So sánh tỷ lệ (%) các loài mọt trên ngô hạt 110

Hình 3.28 So sánh tỷ lệ (%) các loài mọt trên gạo hạt dài 110

Hình 3.29 So sánh tỷ lệ (%) các loài mọt trên hạt đậu tương 111

Hình 3.30 So sánh vị trí số lượng (%) các loài mọt hại ngô hạt trong kho ở Sơn La, 2016 114

Hình 3.31 Các loại loài ong ký sinh mọt hại ngô và loài Sitophilus zeamais 116

Hình 3.32 So sánh vị trí số lượng ong ký sinh trên các loài mọt hại ngô hạt 117

Hình 3.33 So sánh số lượng ong ký sinh vũ hóa từ mọt hại ngô hạt bảo quản trong kho ở Sơn La theo thời gian 118

Trang 11

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam, trong

đó, lúa và ngô là hai cây lương thực quan trọng không thể thiếu trong chiến lượcphát triển nông nghiệp Hai cây lương thực chủ yếu này đảm bảo nhu cầu trongnước và xuất khẩu

Ở Việt Nam, cây ngô có vị trí quan trọng được xếp sau cây lúa Cây ngô đượccoi là cây chủ đạo trong chương trình xoá đói giảm nghèo cho các tỉnh miền núi.Ngoài phục vụ nhu cầu lương thực, các sản phẩm từ cây ngô còn được sử dụng đểchế biến thành nhiều sản phẩm có giá trị cao hơn như sản xuất bánh kẹo, rượu, bia,thức ăn gia súc,… Theo Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm

2013, tổng sản lượng lương thực có hạt ước tính đạt 49,3 triệu tấn, tăng 558,5 nghìntấn so với năm trước Trong đó, sản lượng lúa cả năm ước đạt 44,1 triệu tấn, tăng338,3 nghìn tấn, sản lượng ngô ước đạt 5,2 triệu tấn, tăng 8,3% [1] Với số lượnglương thực lớn như vậy, việc bảo quản sản phẩm nông nghiệp sau thu hoạch làmột yêu cầu cấp thiết, trong khi phần lớn người sản xuất chủ yếu bảo quản sảnphẩm lương thực sau thu hoạch theo phương thức truyền thống, điều này không chỉlàm hao hụt một lớn về số lượng mà còn làm giảm đáng kể chất lượng của nông sản

trong các kho bảo quản docác loài côn trùng gây hại cho nông sản sau thu hoạch

Để duy trì được chất lượng và giảm tổn thất nông sản trong kho bảo quản, cầntìm ra được những biện pháp hiệu quả phòng chống các loài côn trùng hại nông sảnnói chung và hại ngô hạt nói riêng sau thu hoạch và bảo quản trong kho

Trong bảo quản các nông sản, ngoài mục đích làm giảm sự thất thoát về sốlượng và chất lượng (giá trị dinh dưỡng), việc áp dụng những biện pháp phòngchống cần đảm bảo không độc cho sản phẩm được bảo quản mà còn không gây ônhiễm cho môi trường trong kho

Đối với nông sản như ngô hạt, một số loài côn trùng phát sinh và gây hại ngaytrong kho bảo quản; một số loài xâm nhiễm từ ngoài đồng ruộng, đi theo sản phẩmsau thu hoạch để phát triển và tiếp tục gây hại trong kho Đối với một số nông sản

11

Trang 12

được bảo quản sau thu hoạch ở dạng hạt như lúa, ngô và đậu đỗ, trong điều kiệnthuận lợi, một số loài mọt phát triển mạnh, sinh sản nhanh gây thất thoát một lượnglớn, làm giảm đáng kể chất lượng của các loại hạt, đặc biệt đối với hạt giống, mọthại làm giảm hoặc mất hẳn khả năng nẩy mầm của hạt giống.

Trong số các loài côn trùng hại ngô hạt bảo quản trong kho, nhóm mọt hạichiếm ưu thế và gây tổn thất rất lớn Cho đến nay, ở Việt Nam, đã có một số côngtrình nghiên cứu về sâu hại nông sản trong kho bảo quản Đối với tỉnh Sơn La, chưa

có công trình nào đề cập một cách đầy đủ về nhóm côn trùng hại nông sản sau thuhoạch đặc biệt là ngô hạt cũng như các biện pháp phòng chống chúng

Hiện nay, trong số những biện pháp phòng chống sâu mọt hại nông sản trong khobảo quản, biện pháp truyền thống vẫn chỉ là phơi hoặc sấy khô trước khi được đưa vàokho bảo quản, biện pháp xông hơi hoá học thường hạn chế sử dụng nhằm đảm bảo antoàn và vệ sinh thực phẩm, biện pháp sinh học gần như rất ít được sử dụng do ít đạthiệu quả như mong muốn Chính vì vậy, đến nay vẫn chưa có biện pháp phòng chốngnào tối ưu để giảm những tổn thất do côn trùng hại nông sản bảo quản trong kho gâyra

Từ yêu cầu của bảo quản nông sản sau thu hoạch, chúng tôi chọn đề tài

“Nghiên cứu thành phần mọt hại ngô sau thu hoạch và ảnh hưởng của một số

yếu tố sinh thái đến sự phát triển của loài mọt Sitophilus zeamais Motschulsky trong kho bảo quản ở Sơn La” làm cơ sở khoa học đề xuất biện pháp phòng chống

mọt hại ngô hạt trong kho bảo quản sau thu hoạch

2.Mục tiêu nghiên cứu

Xác định thành phần mọt hại ngô hạt trong kho bảo quản ở Sơn La; ảnhhưởng của một số yếu tố sinh thái đến đặc điểm phát triển của loài mọt ngô

Sitophilus zeamais Motschulsky làm cơ sở khoa học cho các biện pháp thích hợp

bảo quản ngô hạt trong các kho bảo quản

3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Trang 13

học của mọt ngô Sitophilus zeamais Motschulsky

+ Cung cấp dẫn liệu mới về ảnh hưởng của điều kiện nghèo ôxy đến mọt ngô

Sitophilus zeamais Motschulsky

- Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp bảoquản ngô hạt trong kho, giảm thiểu thất thoát do mọt ngô gây ra và bảo vệ môitrường kho bảo quản nông sản

4.Điểm mới của luận án

- Lần đầu xác định thành phần loài và xây dựng khóa định loại bằng hình ảnhcho 24 loài côn trùng hại trong kho bảo quản ngô hạt ở Sơn La

-Bổ sung một số dẫn liệu cơ bản về đặc điểm sinh học và sinh thái học của

mọt ngô Sitophilus zeamais Motschulsky.

- Lần đầu cung cấp dẫn liệu về ảnh hưởng của điều kiện nghèo ôxy trong bảo

quản ngô hạt đến tập tính hoạt động và sự phát triển của mọt ngô Sitophilus zeamais

Motschulsky ở Sơn La

5.Cấu trúc của luận án

Luận án gồm 117 trang, ngoài phần mở đầu 3 trang, kết luận và đề nghị 2trang, nội dung chính của luận án được trình bày trong 3 chương: Chương 1 Tổngquan các vấn đề nghiên cứu 35 trang; Chương 2 Đối tượng, nội dung và phươngpháp nghiên cứu 17 trang; Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 60 trang Có

17 bảng, 33 hình

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Nghiên cứu côn trùng gây hại nông sản bảo quản trong kho trên thế giới

1.1.1.Nghiên cứu về thành phần loài côn trùng gây hại nông sản trong kho bảo quản

Côn trùng vượt qua tất cả các loài sinh vật hại khác về số lượng cá thể và sốlượng loài, chúng cạnh tranh với con người về nguồn lương thực, lan truyền bệnhcho con người, cho cây trồng và gia súc Đặc điểm nổi bật của côn trùng gây hại là

sự thích nghi cao với các điều kiện sống trên trái đất, chúng có thể tồn tại và hoạtđộng trong cả điều kiện khô hạn [2]

Những nghiên cứu về côn trùng gây hại cây trồng nông nghiệp đã có từ khásớm, cũng từ kết quả nghiên cứu về côn trùng, con người mới tìm được những biệnpháp phòng chống côn trùng gây hại

Côn trùng không chỉ gây hại cho cây trồng trên đồng ruộng, nhiều loài còngây hại nông sản sau thu hoạch được bảo quản trong kho Côn trùng hại nông sảntrong kho làm giảm hoặc mất hoàn toàn giá trị sử dụng Trong nhiều trường hợp,chúng gây mục nát hạt ngũ cốc dự trữ hoặc làm cho hạt giống mất khả năng nẩymầm

Trên thế giới đã những nghiên cứu về côn trùng hại kho, thường tập trungvào những thống kê thành phần loài Có thể tìm thấy trong các công trình về hạt dựtrữ (Cotton, 1937); về dịch hại sản phẩm bảo quản của Cotton & Wilbur (1974);

thành phần côn trùng ở Australia (Snelson et al., 1987) [3]; côn trùng hại hạt và sản

phẩm hạt dự trữ của Cotton (1963) [4]; thành phần côn trùng trên thóc và gạo dự trữ

ở Thái Lan của Nakakita et al., (1991) [5]; thành phần côn trùng gây hại trên thóc

gạo ở Indonesia của Hall & McFatane, (1961) [6] Ngoài ra, có thể kể đến các côngtrình nghiên cứu về thành phần loài và sinh thái học côn trùng trên hạt đóng bao(Graham, 1970; Smith, 1963; Prevett, 1964), công trình nghiên cứu về sinh thái họccôn trùng trong các kho ngũ cốc (Richards & Woodroffe, 1968), về côn trùng hạikho của nông dân (Markham, 1981: dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [7]

Trang 15

Theo Cotton & Wilbur (1974), côn trùng gây hại cho hạt dự trữ trong khotrên thế giới gồm 43 loài được chia làm 2 nhóm: nhóm côn trùng gây hại chủ yếugồm 19 loài và 24 loài thuộc nhóm côn trùng gây hại thứ yếu nhưng thường xuyên

xuất hiện trên hạt dự trữ (dẫn theo Snelson et al., 1987) [3].

Ở Indonesia, trên thóc và gạo dự trữ đã thống kê được 17 loài thuộc 12 họ và 2

bộ (Hall & Mcfarlane, 1961 [6]; Prakash, 1980 [8]) Film & Hagstrum (1990) [9] đãghi nhận được 41 loài côn trùng trong sản phẩm lương thực dự trữ ở một số nước trên

thế giới Nakakita et al., (1991) [5] đã ghi nhận được 36 loài côn trùng thuộc 17 họ và

2 bộ gây hại trong thóc và gạo bảo quản ở Thái Lan năm 1991

Theo kết quả điều tra phối hợp giữa các nhà khoa học Indonesia thuộc Trung

tâm sinh học nhiệt đới vùng Đông Nam Á (Seameo–Biotrop) và Viện Tài nguyên

thiên nhiên (NRI) cũng như các tác giả Sukprakarn & Tauthong (1998), Nilpanit &Sukprakarn (1990) Nakakita (1994), thành phần côn trùng hại kho nông sản thuộc

bộ cánh cứng (Coleoptera) và bộ cánh vảy (Lepidoptera) ở Indonesia, Thái Lan,Malaysia, Philippines và một số nước khác thuộc khu vực Đông Nam Á có 174 loàithuộc 38 họ, trong đó bộ cánh cứng (Coleoptera) có 153 loài thuộc 34 họ, chiếm87,93%; bộ cánh vảy (Lepidoptera) có 21 loài thuộc 4 họ khác nhau, chiếm 12,07%.Kết quả trên cho thấy, khu vực Đông Nam Á có thành phần côn trùng hại kho nôngsản tương đối phong phú và đa dạng hơn nhiều so với Mỹ cũng như các nước kháctrên thế giới (theo Hà Thanh Hương, 2007) [10] Reichmuth (2000) đã ghi nhậnđược 55 loài côn trùng trên sản phẩm lưu trữ ở Đức [11]

Theo Olsson Christian (1999) [12], côn trùng gây hại trên sắn gồm các loài

mọt răng cưa (Oryzaephilus surinamensis), mọt ngô (Sitophilus zeamais), mọt nhỏ đục hạt (Rhizopertha dominica), mọt cà phê (Araecerus fasciculatus), mọt tre (Dinoderus minutus).

Đối với ngô được bảo quản đã có khá nhiều nghiên cứu về thành phần côntrùng gây hại, đáng chú ý hơn cả là ở Mexico (Rojas, 1998) [13], tác giả đã tiếnhành điều tra và xác định được 17 loài côn trùng gây hại cho ngô bảo quản, thuộc 9

họ và 2 bộ Trong số đó, các loài chính gây hại là mọt ngô (Sitophilus zeamais), ngài mạch (Sitotroga cerealella) và mọt nhỏ đục hạt (Rhyzopertha dominica).

Trang 16

Snelson (1987) [14] phát hiện ở Australia những côn trùng gây hại chính

ngô, lúa, lúa mì gồm mọt đục hạt (Rhyzopertha dominica), mọt bột đỏ (Tribolium castaneum), mọt gạo (Sitophilus oryzae), mọt ngô (Sitophilus zeamais), mọt răng cưa (Oryzaephilus surinamensis) Theo Arbogast & Throne (1997) [15] có 43 loài

côn trùng thuộc 26 họ và 4 bộ gây hại trong kho ngô ở Nam Carolina (Hoa Kỳ)

Olsson Christian (1999) [12] đã thống kê được côn trùng chính gây hại trú

ngụ chủ yếu là mọt ngô (Sitophilus zeamais), mọt bột đỏ (Tribolium castaneum), mọt tre (Dinoderus minutus) và ngài mạch (Sitotroga cerealella).

Khi nghiên cứu sản phẩm lương thực dự trữ ở một số nước trên thế giới,Freeman (1980) đã ghi nhận được 41 loài côn trùng Sau đó, một nghiên cứu khác

của Bengstong (1997) đã chỉ rõ các loài côn trùng gây hại kho chủ yếu là Sitophilus spp., Rhizopertha dominica, Tribolium castaneum, Sitotroga cerealella và Ephestia cautella phân bố khắp thế giới và đặc biệt các vùng khí hậu ấm áp, trong đó có 200

loài dịch hại ngũ cốc cất giữ trong kho [16]

Theo Bolin (2001), kết quả điều tra cơ bản của trường Đại học Oklahoma chỉ

ra các loại côn trùng chiếm ưu thế gây hại kho gồm Rhizopertha dominica, Cryptolestes spp., Tribolium castaneum và ngài Ấn Độ Plodia interpunctella [17]

Cho đến nay, trên thế giới đã có những thành công trong việc việc bảo quảnnông sản sau thu hoạch, điều này đã giảm được thiệt hại về cả số lượng và chấtlượng do côn trùng gây ra và kiểm soát được sự phát triển của chúng trong kho bảoquản Tuy nhiên, với sự thay đổi điều kiện môi trường và nguồn thức ăn, để thíchnghi, các loài côn trùng hại kho cũng có sự thay đổi về thành phần, mật độ và hìnhthức gây hại Ngoài ra, do sự thông thương và trao đổi hàng hóa ngày càng tănggiữa các nước, khả năng du nhập các loài côn trùng từ các sản phẩm nông nghiệpngày càng cao Vì vậy, việc nghiên cứu về thành phần loài côn trùng gây hại trongcác kho nông sản vẫn luôn được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm

1.1.2 Nghiên cứu về sinh học, sinh thái học của các loài hại chính cho nông sản trong kho bảo quản

Đã có những nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các loài mọt côntrùng hại chính trong kho nông sản Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của côn trùng

hại kho như: mọt gạo (Sitophilus oryzae), Prvett (1960) cho biết, khi đẻ trứng, mọt

Trang 17

gạo dùng vòi khoét lỗ trên bề mặt hạt rồi đẻ trứng sau đó chúng tiết ra chất nhầy bịtmiệng lỗ để bảo vệ trứng Mỗi lần đẻ một trứng, có khi từ 2–3 trứng (dẫn theo VũQuốc Trung, 1978) [18] Zacher (1964) cho biết, trung bình một cá thể cái có thể đẻđược 380 trứng, cao nhất là 576 trứng Thời gian phát triển của mọt gạo chủ yếuphụ thuộc vào nhiệt độ Từ trứng đến trưởng thành ở nhiệt độ 27,2 ºC là 25,5 ngày;

ở nhiệt độ 17 ºC là 92 ngày, tuổi thọ của mọt gạo kéo dài khoảng 8 tháng (dẫn theoBùi Công Hiển, 1995) [7]

Đối với mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica), kết quả nghiên cứu của

Potter & Brich cho thấy, mọt đục hạt nhỏ đẻ trứng trực tiếp vào hạt và dùng chấtnhầy để bảo vệ trứng Sâu non lột xác 3 lần, thời gian phát triển của ấu trùngkhoảng 28– 71 ngày (dẫn theo Vũ Quốc Trung, 1978) [18] Theo Zacher (1964), ởđiều kiện 29 oC thời gian hoàn thành một vòng đời chỉ kéo dài 4 tuần; ở nhiệt độ 21

oC, chúng hoạt động kém hơn và hầu như không có khả năng sinh sản (dẫn theo BùiCông Hiển, 1995) [7]

Đối với mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica F.) khó phân biệt trưởng

thành đực cái một cách rõ ràng, con cái có những đốm mờ trên mặt đốt bụng thứ 3

và thứ 4, đốt thứ 5 đồng màu Con đực có tất cả các đốt bụng màu như nhau và đậmhơn con cái (Stemley & Wilbur, 1966) [19]

Như vậy, có thể nói, cho đến nay, những nghiên cứu về sinh học, sinh tháihọc của các loài côn trùng hại kho nông sản chưa nhiều, thường có những nghiêncứu sâu về một số loài hại quan trọng đối với nông sản trong kho

1.1.3 Nghiên cứu về thiệt hại do côn trùng gây hại nông sản trong kho bảo quản

Nông sản bảo quản bị sâu mọt tấn công gây thiệt hại lớn về số lượng và chấtlượng Đó cũng là một trong số những nguyên nhân dẫn đến tình trạng giảm và thấtthoát một lượng lớn lương thực ở một số nơi trên thế giới Subrahmanyan (1962) đãchỉ ra rằng, tổng lương thực của thế giới đã có thể tăng lên đến 25–30% nếu tránhđược mất mát nông sản sau thu hoạch (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [7]

Tổn thất sau thu hoạch của các loại nông sản thường ít được đánh giá mộtcách đầy đủ Số liệu công bố thường tập trung về tổn thất về khối lượng, trong khihầu như rất ít số liệu thiệt hại về mặt chất lượng của các nông sản được lưu trữ

Trang 18

Sắn khô là một trong các loại nông sản rất khó dự trữ do dễ bị tấn công bởicác loài côn trùng gây hại trong kho và yếu tố khí hậu làm cho số lượng và chấtlượng sắn bảo quản bị giảm nhanh Lượng mất mát của sắn khô trong quá trìnhbảo quản đã được đánh giá lên đến 16% về khối lượng sau 2 tháng dự trữ ởMalaysia [20].

Ở Ấn Độ đã có báo cáo cho rằng đem nhúng nước ấm nông sản trước bảo quản

có thể bảo quản trong 9 tháng mà chỉ mất đi 3% khối lượng, so với mất 5% nếu dự trữnơi bình thường Tuy nhiên, đối với sắn lát phơi khô, sự mất mát khoảng 12–14% khi

dự trữ trong kho Tổn thất khối lượng sắn lưu trữ ở Ghana khoảng 8% ở hộ nông dân

và 21% ở các kho tập trung sau 8 tháng bảo quản (Stumpf, 1998) [21]

Những con số thống kê của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liênhợp quốc (FAO) năm 1973 đã chỉ ra rằng không lâu nữa, nguồn cung cấp lươngthực của thế giới sẽ không đủ để chống lại nạn đói do thiệt hại mùa màng Trong đó,con số cụ thể đã chỉ ra ít nhất có 10% lương thực sau thu hoạch bị mất mát do dịchhại kho, và thiệt hại có thể tới 30% phổ biến ở nhiều khu vực trên thế giới (Hall,

1970) (dẫn theo Snelson et al., 1987) [3].

Tại Hoa Kỳ, theo Pawgley (1963) tổn thất hạt bảo quản mỗi năm được báo cáokhoảng 15–23 triệu tấn, trong đó, từ 9–16 triệu tấn do côn trùng, gần 7 triệu tấn dochuột Ở các nước thuộc châu Mỹ-Latinh, theo đánh giá, ngũ cốc và đậu đỗ đã thuhoạch bị tổn thất tới 25–50%; ở một số nước châu Phi, khoảng 30% tổng sản lượngnông nghiệp bị mất đi hàng năm (dẫn theo Vũ Quốc Trung và nnk., 1991) [22]

Đối với thóc và gạo, tổn thất sau thu hoạch tại một số nước châu Á nhưMalaysia là 17%, Nhật Bản là 5% và Ấn Độ là 11 triệu tấn/năm (dẫn theo Vũ QuốcTrung và nnk., 1991) [22]

1.1.4.Các biện pháp phòng chống côn trùng gây hại nông sản trong kho bảo quản

Đã có rất nhiều biện pháp được áp dụng trên thế giới để phòng chống côntrùng gây hại nông sản trong kho bảo quản, trong đó điều chỉnh các yếu tố về khíhậu (điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, thông khí, phơi khô,…), từ đó chọn lựa khu vực xâydựng kho tàng, dạng kho, hướng kho, loại hình bảo quản, biện pháp phòng chống,thời gian phòng chống cho hợp lý sẽ giúp phòng chống côn trùng hại kho

Trang 19

Một số biện pháp có liên quan đến kiểm dịch thực vật, biện pháp sinh học,

cơ học vật lý và hóa học

Biện pháp kiểm dịch thực vật là biện pháp mang tính bắt buộc, có sự thỏathuận trên cơ sở khoa học Đó là việc ban hành và thực hiện các quy định mang tínhpháp lý về điều kiện nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp, giống cây trồng và vật thểkhác thuộc diện kiểm dịch thực vật nhằm hạn chế sự du nhập và lây lan của các loàicôn trùng gây hại nguy hiểm đối với hạt ngũ cốc nói riêng và sản xuất nông nghiệpnói chung Việc ban hành danh mục đối tượng kiểm dịch thực vật để ngăn chặn sự

du nhập và lây lan của các loài dịch hại nguy hiểm rất cần thiết đối với mỗi quốc giatrong hoạt động thương mại quốc tế hoặc thương mại trong nước

Biện pháp sinh học là hướng nghiên cứu đang được ưu tiên khuyến khíchnhờ những ưu điểm của nó Theo định nghĩa của tổ chức đấu tranh sinh học quốc tế(IOBC, 1971), biện pháp sinh học là sử dụng những sinh vật sống hay các sản phẩmhoạt động sống của chúng nhằm ngăn ngừa hoặc làm giảm bớt tác hại do các sinhvật hại gây ra” (dẫn theo Phạm Văn Lầm, 1995) [23]

Trong phạm vi rộng hơn, phòng chống sinh học cũng bao gồm việc sử dụngcác hoạt tính sinh học có nguồn gốc tự nhiên, các chất xua đuổi hoặc dẫn dụ, nhữngchất có thể được sử dụng trong quản lý phòng chống tổng hợp côn trùng gây hạitrong kho, trong một số trường hợp, những kỹ thuật này còn được gọi là các kỹthuật công nghệ sinh học (Reichmuth, 2000) Cũng theo Reichmuth (2000) [11],biện pháp sinh học có tính chọn lọc cao và có ưu điểm phòng chống hiệu quả mộtloài dịch hại mà không ảnh hưởng đến các loài côn trùng có ích khác

Một số các kết quả nghiên cứu về biện pháp sinh học phòng chống côntrùng gây hại trong kho có thể tìm thấy trong các công trình của một số tác giả

như Nakakita et al., (1991) [5] đã ghi nhận được ba loài ong ký sinh ở côn trùng hại trong các kho lương thực ở Thái Lan, đó là Theocolax elegans (Westwood), Proconus sp và Bracon hebetor (Say); một số loài bắt mồi như kiến (4–5 loài), bọ xít Xylocoris flavipes Reuter, Scenopinus fenestralis (Linnaeus) và bọ cạp giả Chelifer sp.

Reichmuth (2000) [11] cho biết bọ xít Xylocoris flavipes ăn trứng, ấu trùng và

Trang 20

nhộng nhiều loài côn trùng gây hại trong kho như: Plodia interpunctella, Corcyra cephalonica, Ephestia cautella, Acanthoscelides obtectus, Dermestes maculatus, Sitophilus zeamais, Cryptolestes ferrugineus, Sitophilus granarius, Tribolium confusum, Tribolium castaneum, Lasioderma serricorne và Sitotroga cerealella.

Cũng theo Reichmuth (2000) [11], ong Trichogramma evanescens ký sinh trứng

nhiều loài côn trùng gây hại trong kho như Plodia interpunctella, Ephestia kuehniella, Corcyra cephalonica, Ephestia cautella, Acanthoscelides obtectus, Dermestes maculatus.

Các công trình nghiên cứu về ong ký sinh ở côn trùng gây hại trong kho trênthế giới còn nhiều hạn chế do thường chỉ tập trung vào việc điều tra, ghi nhận thànhphần loài hoặc nhân nuôi trong phòng thí nghiệm

Kết quả nghiên cứu tại Frankfort (Mỹ), Sedlacek et al., (1998) [24] ghi nhận

có 7 loài ong ký sinh của côn trùng hại kho, trong đó có 3 loài thuộc họPteromalidae, 3 loài thuộc họ Bethylidae và 1 loài thuộc họ Braconidae

Cũng như những nghiên cứu về ong ký sinh ở côn trùng gây hại trong kho.Các nghiên cứu về sinh vật gây bệnh cho côn trùng hại kho cũng có nhiều hạnchế Phần lớn các loài côn trùng gây hại trong kho thuộc bộ cánh Cứng(Coleoptera), chúng thường bị các loài sinh vật gây bệnh như nấm, tuyến trùng,

vi khuẩn, virus … gây bệnh Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu mới chỉ tập trungvào nhóm vi khuẩn gây bệnh

Nghiên cứu về sử dụng vi khuẩn Bacillus thuringensis để phòng chống sâu

hại kho cũng được đề cập khá sớm (Berliner, 1911; McGaughey, 1980; Subramanyan

& Culkomp, 1985; Sukprakarn, 1990) (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995 và Phạm VănLầm, 1995) [7], [23]

Berliner (1911) đã phân lập được vi khuẩn Bacillus thuringiensis từ ấu trùng của Ephestia kuehniella Zeller tại Thuringia Người ta đã phát hiện được 525 loài thuộc 13 bộ côn trùng bị nhiễm vi khuẩn Bacillus thuringiensis, trong đó nhiều nhất

là bộ cánh vảy (318 loài), sau đó là bộ hai cánh (59 loài), bộ cánh cứng (34 loài) và

Trang 21

còn lại là các bộ khác (khoảng 1–12 loài), (dẫn theo Phạm Văn Lầm, 1995) [23].

McGaughey (1980) cho biết việc xử lý trên lớp hạt bề mặt (khoảng 10cm)

với một lượng nhỏ chế phẩm Bacillus thuringiensis đã hạn chế khoảng 81% quần thể ngài Ấn Độ (Plodia interpunctella) và ngài bột (Ephestia cautella) và kết quả đã hạn

chế sự ăn hạt của chúng tới hơn 92% (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [7]

Subramanyan & Cutkomp (1985) báo cáo về vai trò của Bacillus thuringiensis trong phòng chống các loài ngài thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera) gây

hại trong kho Hầu hết các nghiên cứu được tiến hành tại Hoa Kỳ với các loài như

Plodia interpunctella, Ephestia cautella, E kuehniella và Sitotroga cerealella Kết

quả cho thấy chỉ cần sử dụng chế phẩm này với liều lượng dưới 10mg/kg đã hạn chếđược sự gây hại của chúng trong kho ngũ cốc (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [7]

Sukprakarn (1990) báo cáo về việc sử dụng Bacillus thuringiensis để phòng chống ngài gạo (Corcyra cephalonica) trong các kho bảo quản gạo ở Thái Lan (dẫn

theo Bùi Công Hiển, 1995) [7]

Có nhiều quan điểm khác nhau về biện pháp cơ học và vật lý Theo quan niệmcủa Banks (1981), sử dụng yếu tố vật lý làm thay đổi môi trường trong kho làm bất lợiđối với sự phát triển của côn trùng gây hại hoặc không cho chúng tiếp cận được vớihàng hóa bảo quản (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [7]

Golob & Webley (1980) đã tổng kết các kết quả nghiên cứu thử nghiệm và ápdụng thuốc thảo mộc ở nhiều nơi trên thế giới với các loài thực vật khác nhau, trong

đó đáng kể nhất là việc tạo ra các chế phẩm thuốc thảo mộc từ cây xoan Ấn Độ

(Azadirachta india), cỏ mạt (Acorus calamus), cây ruốc cá (Derris spp.), cây thuốc lá,

thuốc lào… Các tác giả đã nêu lên những sản phẩm cụ thể được dùng để ngăn ngừacôn trùng gây hại từ 47 loài thực vật khác nhau, trong đó có 40 loài đã được sử dụngdưới dạng các chiết xuất (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [7]

Ở Philipin, các sản phẩm từ cây xoan Ấn Độ cũng được sử dụng trong bảoquản thóc trong các kho dự trữ thu được kết quả đáng khả quan ở nồng độ 1–2%,trộn lá xoan Ấn Độ với thóc, xử lý 20% dịch chiết trong các túi bảo quản hoặc sửdụng lá xoan Ấn Độ khô đặt giữa nền kho và trong các túi bảo quản cũng cho kếtquả tương

Trang 22

tự Xử lý khối hạt với 5% dịch chiết từ hạt xoan Ấn Độ hoặc 20% dịch chiết lá xoan

có tác dụng phòng chống côn trùng phá hại trong 6 tháng [25]

Đã có rất nhiều tài liệu ghi nhận tác dụng gây ngán ăn của các dẫn xuất từcây xoan Ấn Độ đối với các bộ côn trùng khác nhau Những thí nghiệm đầu tiên

được tiến hành tại Ấn Độ với Schistocera gregaria và kết quả thu được rất khả quan

ở nồng độ 10–40µg/l Ở Ấn Độ và Pakistan đã dùng cây xoan Ấn Độ để trừ sâu hại,hơn 60% nông dân ở các nước này đã trộn lá xoan Ấn Độ với hạt ngũ cốc để bảoquản và hơn 80% những người trồng cây bạch đậu khấu dùng hạt cây xoan Ấn Độbón vào đất trừ tuyến trùng [25]

Những chất có trong một số loài thực vật có khả năng tác động làm thay đổitập tính của côn trùng Có thể là có mùi vị xua đuổi côn trùng; mùi vị hấp dẫn côntrùng (bẫy bả) hoặc có độc tố đối với côn trùng nên được sử dụng trong phòngchống tổng hợp Các nghiên cứu còn kết luận rằng, các hợp chất cũng có hiệu quảnhư các tác nhân phòng chống và một số chất còn có thể được sử dụng như thuốcxông hơi Hiệu quả của các chất chiết xuất từ thực vật đối với côn trùng hại kho làhóa chất tổng hợp Các loài dịch hại khác nhau và các pha phát triển khác nhau củacùng một loài dịch hại có phản ứng không giống nhau đối với một chất chiết xuấtnhất định Lượng hợp chất tinh khiết trong một chất chiết xuất từ thực vật có thểkhác nhau phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, địa lý và giống cây

Ở Trung Quốc, thuốc thảo mộc Gu Chong Jing (GCJ) đã được sản xuất vàđưa vào sử dụng rộng rãi trong các kho bảo quản lương thực dự trữ tại tỉnh Quảng

Tây, Quảng Đông và nhiều tỉnh khác đạt hiệu quả tốt (Lin et al., 2003) [26].

Các biện pháp kỹ thuật được xử lý trong việc bảo quản lưu trữ nông sảntrong kho có tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của chúng Vệ sinhkho tàng sạch sẽ trước khi nhập hàng, sắp xếp và bố trí hàng hóa bảo quản trongkho gọn gàng, ngăn nắp và giữ cho kho sạch trong suốt quá trình bảo quản có tácdụng loại bỏ nguồn lây nhiễm côn trùng gây hại cho các lô hàng lưu trữ tiếp theo

Côn trùng trong kho thường sống trong các phần hàng hóa còn sót lại sau khi

Trang 23

xuất hàng hoặc ẩn nấp trong các kẽ nứt của sàn tường kho, trong các phương tiệnchế biến, vận chuyển Vì vậy, giữ cho kho tàng luôn được sạch trong quá trình bảoquản kết hợp với kiểm tra định kỳ giúp phát hiện sớm sự xuất hiện của côn trùnggây hại để có biện pháp xử lý kịp thời Theo những nghiên cứu của Evans (1981),biện pháp vệ sinh kho lưu trữ có giá trị trước tiên khi áp dụng các biện pháp phòngchống côn trùng gây hại (sinh học, hóa học và vật lý) (dẫn theo Bùi Công Hiển,1995) [7]

Thủy phần của hàng hóa trong bảo quản là một trong những yêu cầu rất quantrọng Hàng hóa bảo quản phải đủ độ khô cần thiết sẽ hạn chế sự bốc nóng trongkhối hàng cũng như hạn chế sự xâm nhiễm và gây hại của côn trùng Côn trùng hạikho thường có khả năng gây hại bởi chúng có bộ hàm khỏe, tuy nhiên với nhữngnông sản có thủy phần thấp cộng với điều kiện bảo quản thích hợp, việc gây hại vàphát triển của côn trùng sẽ khó khăn hơn rất nhiều

Davey & Elcoata (1996) đã kết luận, thủy phần an toàn đối với hạt ngũ cốckhoảng 12-13%; với lạc là 8%; với hạt cọ dầu là 6% Hyde (1969) cho rằng nấmmốc và côn trùng chỉ phát triển khi ẩm độ tương đối của không khí trong kho lớnhơn 70– 75% (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [7]

Desmarchelier et al., (1979) đã ghi nhận việc phối hợp làm lạnh hay khôcùng với việc sử dụng hợp lý thuốc bảo vệ thực vật sẽ nâng cao hiệu quả phòngchống và giá thành rẻ hơn so với việc xử lý từng biện pháp riêng rẽ Quinlan (1980)

đã công bố kết quả sử dụng Malathion (dạng khói) với việc làm khô để phòngchống côn trùng Việc xử lý 100 tấn hạt trong máy sấy hồi lưu có dòng khíMalathion đã giết chết hầu hết côn trùng và giảm sức sinh sản tới 99% (dẫn theoBùi Công Hiển, 1995) [7]

Việc bảo quản kín đã có từ rất lâu đời Con người đã biết sử dụng nhiềuphương tiện với các vật liệu khác nhau để đóng gói, chứa đựng hàng hóa bảo quảnnhư các loại hòm, thùng gỗ, chum, vại sành… Hiện nay các phương tiện hiện đạihơn được thiết kế đồng bộ với các chất liệu khác nhau như chất dẻo, kim loại hoặccác xylô đã mang lại hiệu quả tốt hơn rất nhiều

Spart (1979) đã báo cáo kinh nghiệm ở Ôxtrâylia trong việc bảo quản kín khi

Trang 24

lượng ôxy đạt 5% thì mọt đục hạt nhỏ (Rhizopertha dominica ) vẫn tồn tại và sinh

sản được Nhìn chung, phương pháp bảo quản kín chỉ thích hợp với điều kiện hạtkhô và nồng độ ôxy đạt từ 5–10% và cácbonic cũng chiếm tỷ lệ tương tự (dẫn theoBùi Công Hiển, 1995) [7] Việc bảo quản hạt ngũ cốc ở Ôxtrâylia và Trung Quốchiện nay chủ yếu sử dụng các loại kho silô với hệ thống thông gió hiện đại có sứcchứa 50.000–

70.000 tấn Với các loại kho này, côn trùng rất khó xâm nhiễm từ bên ngoài vào bên

trong kho để gây hại (Lin et al., 2003 [26]; Qin et al., 2003 [27]) Còn ở Ôxtrâylia,

đã áp dụng biện pháp bảo quản kín dưới đất bằng việc đào các hố sâu khoảng 1–2mdưới đất, trải bạt xuống dưới để cách nhiệt và ẩm, rồi đổ rời hạt lúa mì xuống; sau

đó chùm lên trên bằng một tấm bạt che khác và ghép kín các mép bạt lại với nhau(không cần đến nhà và mái che cho loại kho này) Phương pháp này kết hợp với sửdụng thuốc Phosphine xông hơi để trừ côn trùng gây hại trên hạt lúa mì Bảo quảntheo phương pháp này có thể kéo dài trong thời gian 6 tháng Bảo quản dưới mặt đấtcũng rất phổ biến ở các nước châu Phi hiện nay, nơi có điều kiện thời tiết khô vànóng Phương pháp bảo quản dưới mặt đất có chi phí thấp hơn nhiều so với bảoquản trong các xylô Tuy nhiên, phẩm chất hạt bảo quản cũng giảm đi nhanh hơn

nên thời gian bảo quản thường chỉ là 6 tháng (Collins et al., 2002) [28].

Burrell (1967–1974); Sutherland et al., (1970); Evans (1977–1979), đều nhấn

mạnh đến việc sử dụng kỹ thuật hiện đại bằng các máy điều hòa không khí để làmlạnh tới 12 ºC là giới hạn nhiệt độ có thể hạn chế sự phát triển của nhiều loài côntrùng gây hại quan trọng Ở Ôxtrâylia, khoảng 25% khối lượng của 20 triệu tấn lúa

mì đã được bảo quản bằng các thiết bị làm lạnh, trong điều kiện khí hậu ở đây rấtnóng (30–40 ºC) (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [7]

McFarlane, (1970) việc đóng gói thực phẩm để ngăn chặn sự tấn công củacôn trùng gây hại đã có lịch sử từ lâu đời Những phát triển gần đây chỉ là sử dụng

rộng rãi các loại chất dẻo (Wilkin & Green, 1970; Rao et al., 1972) hay tráng một

lớp bột thiếc mỏng để sử dụng cho vùng nhiệt đới (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995)[7]

Nhiều loại thuốc xông hơi đã được sử dụng trong việc phòng chống côn trùng

Trang 25

gây hại trong kho như: Methyl bromide (CH3Br), phosphine (PH3), chloropicrin(CCL3.NO2), dichlorvos–DDVP (loại có hàm lượng hoạt chất 98%), ethylenedichloride (CH2Cl.CH2Cl), cacbon disulphide (CS2), cacbon tetrachloride (CCl4),sulphuryl fluoride (SO2F2), acrylonitrile (CH2:CH.CN),… Tuy nhiên, hiện chỉ cònhai loại thuốc được sử dụng rộng rãi là methyl bromide và phosphine Những loạithuốc khác hầu hết đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng do tính độc cao, gây nguy hiểmcho người sử dụng, hàng hóa và môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến hàng hóabảo quản sau khi xông hơi Trong hai loại thuốc xông hơi trên, methyl bromide bịkiểm soát nhập khẩu và sử dụng bởi Nghị định thư Montrean do có tiềm năng pháhủy tầng ozon của khí quyển (hệ số 0,6), còn lại thuốc phosphine đã được xác định

là có nhiều loài côn trùng gây hại trong kho thể hiện tính kháng thuốc cao, đặc biệt

là mọt nhỏ đục hạt (Rhizopertha dominica) (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [7].

1.1.5 Nghiên cứu về mọt ngô Sitophilus zeamais Motschulsky trên thế giới

1.1.5.1 Vị trí phân loại học, phân bố của mọt ngô Sitophilus zeamais

Theo CABI (2010) [29], mọt ngô Sitophilus zeamais Motschulsky xếp theo trật tự sau:

Giới (King dom): Animalia

Ngành (Phylum): ArthropodaPhân ngành (Subphylum): Uniramia

trên thế giới, gây hại đáng kể ở những vùng ấm, nhất là ở châu Á, vùng Địa Trung Hải(châu Âu) và Bắc Mỹ [7]

Sitophilus zeamais là loài gây hại phổ biến và là loài nguyên phát Mọt gây

hại trên bắp và hạt ngô ngay giai đoạn ngô chín sáp ngoài đồng, chúng theo ngô vàokho và gây hại liên tục trong suốt quá trình bảo quản Tính ăn của loài mọt này kháphức

Trang 26

tạp vì mọt ngô thuộc loại đa thực, nó có thể ăn hầu hết các loại ngũ cốc thô hoặc chếbiến như lúa mì, yến mạch, lúa mạch, lúa miến, lúa mạch đen, các loại đậu, hạt códầu, hạt bông và nhiều sản phẩm thực phẩm khác Nhưng thức ăn thích hợp nhất với

nó là ngô hạt Trong kho mọt hoạt động nhanh nhẹn, hay bay, bò và có tính giả chết,chúng thích bò lên các vị trí cao trong đống hạt Khi gặp điều kiện nhiệt độ cao, mọtthường tập trung vào kẽ kho, mép bao… để ẩn nấp [30]

1.1.5.2.Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học của mọt ngô Sitophilus zeamais

Trên thế giới, đã có một số nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học về

loài mọt S zeamais Theo Hall (1970); Sinha & Muir (1977); Pakash (1987) môi

trường môi trường vô sinh ảnh hưởng trực tiếp gia tăng số lượng, quá trình sinhtrưởng, phát triển và các đặc tính sinh vật khác của các loài côn trùng trong kho

Thời gian phát triển hoàn chỉnh cho chu kỳ sống của S zeamais trung bình 36

ngày (khoảng 33–45) ở 27 ± 1 ºC, và 69 ± 3% RH (Sharifi & Mills, 1971) [30] Thờigian phát triển này hầu như giống hệt với S oryzae và nhanh hơn khoảng 7 ngày sovới

S granarius trong điều kiện tương tự Phần nhiều trứng được đẻ vào trong nội nhũ của

hạt, chỉ khoảng 28% số trứng được đẻ bên ngoài nội nhũ của hạt [30]

Longstaff (1981) [31] đã chỉ ra rằng mọt trưởng thành sống lâu (vài thángđến một năm) Trứng được đẻ trong suốt thời gian sống của mọt trưởng thành cái,mặc dù 50% có thể được đặt trong 4–5 tuần đầu; Mỗi con cái có thể đẻ tới 150 quảtrứng Trứng được đặt riêng lẻ trong các khoang nhỏ của hạt ngũ cốc; Mỗi khoangđược lấp kín bằng một lớp dịch nhầy, do đó trứng bảo vệ, bằng cách tiết ra chất sáp(thường được gọi là 'trứng-plug') của các mọt cái Các mọt trưởng thành cái, khoanmột lỗ vào hạt, trứng được đẻ vào lỗ đó, sau đó tiết ra chất đậy (chất nhầy) để đậykín lỗ Chất đậy nhanh chóng cứng lại, để lại một vùng nhỏ ở trên bề mặt hạt, đây làbằng chứng bên ngoài duy nhất cho thấy hạt bị nhiễm khuẩn Trứng có thể được đẻvào bất cứ đâu trong hạt, nhưng chỉ có một ít được đẻ trong phôi Đôi khi, có nhiềutrứng được đẻ vào trong một hạt, nhưng rất hiếm khi có nhiều hơn một ấu trùngphát triển đến trưởng thành vì ấu trùng mọt ngô có thể ăn thịt đồng loại của chúng(Longstaff, 1981) [31]

Trang 27

Sau khi nở từ trứng, ấu trùng bắt đầu ăn bên trong hạt, đào một đường hầmkhi nó phát triển Ấu trùng có 4 tuổi, trong hạt lúa mì ở 25 ºC và ẩm độ 70%, pháttriển khoảng 25 ngày, mặc dù thời kỳ phát triển kéo dài ở nhiệt độ thấp (98 ngày ở

18 ºC và ẩm độ 70%); Mọt trưởng thành mới phát triển chui ra, để lại một lỗ lớn.Vòng đời dao động từ khoảng 35 ngày trong điều kiện tối ưu tới hơn 110 ngày trongđiều kiện không thuận lợi (Birch, 1944) [32], (Howe, 1952) [33] Vòng đời còn phụthuộc vào loại giống và chất lượng hạt: ví dụ ở các giống ngô khác nhau, vòng đời

trung bình của S zeamais ở 27 ºC và ẩm độ 70% thay đổi từ 31 đến 37 ngày.

Thời kỳ phát triển của trứng khoảng 6 ngày ở 25 °C (Howe, 1952) [33].Howe (1965) [34] cho rằng đối với mọt ngô S zeamais chúng thường ưanóng,

sự phát triển của mọt ban đầu thấp ở 18 °C (64.4 °F) Ngưỡng phát triển tối ưa củamọt ngô là 25–35 °C (77–95 oF) (Fields, 1992), nhưng ở nhiệt độ 3–4 °C chúng vẫn

có khả năng tồn tại

Do giai đoạn trưởng thành mọt ngô rất giống mọt gạo (S oryzae), vì thế

trong phân loại trước đây đã có nhiều ý kiến khác nhau Có người cho rằng mọt ngô

và mọt gạo là cùng loài nhưng khác tên, nhiều người khác cho rằng mọt ngô và mọtgạo là 2 loài độc lập với nhau [35] Cho đến nay, mọt ngô được xem như một loàiriêng biệt, rất gần với mọt gạo Giai đoạn trưởng thành, hình dạng ngoài mọt ngôrất giống mọt gạo, nhưng kích thước cơ thể lớn hơn (3,5–5mm) Cánh trước trơnbóng và các điểm màu đỏ tròn ở cánh khá rõ Các lỗ chấm trên tấm lưng ngựctrước thô và dày ở phía trước Việc phân biệt mọt ngô và gạo chủ yếu dựa vào hìnhdạng cơ quan sinh dục đực (penis) ở mọt gạo có hình bán nguyệt, còn ở mọt ngô làhình 3 góc Bề mặt phía trên của penis ở mọt gạo đơn giản, không có lông dài, còn ởmọt ngô thì có 2 lông dài Đầu máng đẻ trứng của con cái mọt gạo có hình chữ Y,còn của mọt ngô là hình móc nhọn [36] Mọt ngô có cánh màu nâu, đen bóng Cácđiểm vá màu vàng đỏ hình bán nguyệt trên cánh rất rõ [37]

Đặc điểm dễ phân biệt mọt ngô và mọt gạo là mọt ngô có màu nâu, có bốnđốm màu nâu đỏ trên cánh cứng Nó có một vòi dài, mảnh và đôi râu đầu (anten)hình khủy tay [36], [38] Mọt ngô đực và cái có hình dạng giống nhau, chúng phânbiệt nhau bởi hình dạng của bụng Con đực có bụng thuôn dài, hơi cong xuống trênmặt phẳng ngang,

Trang 28

cánh che kín gần hết bụng Con cái, bụng hình bầu hơn, nằm ngang trên mặt phẳng

và cánh dài hơn, chùm hết phần bụng [38]

Khả năng sinh trưởng và phát triển của mọt ngô trong ngô hạt lớn nhất, sau

đó mới đến thóc và các ngũ cốc khác Kết quả nghiên cứu ở Nhật Bản xác nhận mọtngô chịu lạnh tốt hơn mọt gạo [39] Khi gây hại nó thường tấn công vào phôi trước

vì ở đây tập trung các chất dinh dưỡng của khối hạt Một mọt cái trưởng thành cókhả năng đẻ 300–400 trứng và trưởng thành sống 5–8 tháng Chu kỳ sống khoảng 5tuần ở 30 ºC và ẩm độ 70%; điều kiện tối ưu cho sự phát triển là 27–31 ºC và ẩm độhơn 60%; dưới 17 ºC ngừng phát triển [39], [40], [41]

Thức ăn có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của mọt, trong cùng một điềukiện nhiệt độ và ẩm độ như nhau, nuôi mọt ngô bằng thức ăn khác nhau đã thu đượckết quả khác nhau: Khi nuôi bằng ngô hạt, thời gian vòng đời của mọt là 34 ngày;khi thay bằng loại thức ăn khác là gạo, thời gian vòng đời sẽ là 47 ngày; thóc là 53ngày Ở nhiệt độ 0 ºC, mọt có thể sống được 37 ngày, ở (-)5 ºC mọt chết sau 23ngày, còn ở (-)10 ºC tất cả các giai đoạn phát triển của mọt chết sau 13 ngày Ở 55

ºC, mọt chết sau 6 giờ, ở 60 ºC chết sau 2 giờ Trong điều kiện nhiệt độ 25 ºC mọt

có thể sống không có thức ăn 18–26 ngày [42]

Thời gian phát triển hoàn chỉnh cho chu kỳ sống của các mọt trung bình 36ngày Giai đoạn trứng có đặc điểm: dài 0,5–0,7mm, rộng 0,25–0,3mm, hình bầu dụchơi dài màu trắng sữa [38]

Giai đoạn ấu trùng khi đã thành thục (tuổi cuối) lớn dài 3–3,2 mm, rất mập,lưng cong lại như hình bán nguyệt, mặt bụng tương đối bằng, chân không phát triển;toàn thân màu sữa đến màu nâu nhạt (hình 1.1), chúng nằm trong hạt [36]

Giai đoạn nhộng: Có chiều dài khoảng 3–4 mm, hình bầu dục, cân đối 2 đầu,lúc đầu màu vàng sữa sau chuyển sang màu vàng nâu [43] Chúng cắn một lỗ nhỏ từtrong hạt và vũ hoá bay ra ngoài thành mọt trưởng thành [36]

Mọt trưởng thành có thể sống từ 5 đến 8 tháng Khi mọt trưởng thành chui rakhỏi hạt ngô, những con cái di chuyển đến vị trí cao và tiết ra pheromone tình dục.Con đực sau đó được thu hút bởi pheromone này sẽ tìm đến chỗ con cái để giaophối [44] Khi đẻ trứng, mọt cái dùng vòi khoét một lỗ sâu vào hạt, rồi đẻ một quảtrứng

Trang 29

vào những lỗ này, sau đó tiết ra một thứ dịch nhầy để bịt kín lỗ đó lại Ấu trùng nở

ra ăn hại ngay trong hạt và lớn lên, làm hạt chỉ còn lại một lớp mỏng, nhìn bề ngoàigiống như vẫn còn nguyên vẹn [36], [41]

Mỗi con cái đẻ một quả trứng vào một hạt ngô, nhưng trong một hạt ngô có thể

có nhiều quả trứng khác nhau Trong trường hợp này, do lượng thức ăn trong một hạtngô có hạn nên ấu trùng mọt ngô có tập tính cạnh tranh nhau Thường cuối cùng chỉ

có một ấu trùng được phát triển thành nhộng và trưởng thành (hình 1.1) [45]

Hình 1.1 Hình ảnh X - quang về sự di chuyển và tương tác của nhiều ấu trùng

Sitophilus zeamais Motschulsky trong một hạt ngô

(Nguồn: Nelsa et al., (2010) [45] (L: ấu trùng; P: nhộng; A: trưởng thành; hình (A) cho thấy sự thống trị của một ấu trùng lớn hơn (L 1 ), kết quả chỉ có ấu trùng đó trưởng thành (A 1 ); hình (B) cho thấy

sự giao thoa giữa các ấu trùng, sự cạnh tranh về thức ăn đã giết chết đối thủ và chỉ một ấu trùng (L 1 ) được phát triển; hình (C) cho thấy sự kết dính sớm của 3 ấu trùng cùng một vị trí trong hạt, kết quả ấu trùng L 3 di chuyển vào trung tâm của hạt, duy nhất còn sống sót).

Theo James Adebayo Ojo and Adebayo Amos Omoloye (2016), nuôi mọt ngô

S zeamais trong điều kiện nhiệt độ 24–30 oC, ẩm độ 60 ± 10% với 20 gam thức ăn

Trang 30

mỗi loại ngô hạt và lúa; nuôi trên lúa số trứng được đẻ của một mọt trung bình là 57,3

± 4,68 (quả/con cái); tuổi thọ trung bình 120,3 ± 3,24 ngày; nuôi trên thức ăn làngô, số trứng một mọt cái đẻ được trung bình là 67,2 ± 3,16 (quả/con cái); tuổi thọtrung bình 122,3 ± 1,87 ngày [46]

Sitophilus zeamais lây nhiễm và gây hại ngoài đồng do mọt trưởng thành đẻ

trứng trong hạt ngô từ trước khi thu hoạch vì vậy, nhiều ngô bắp đã bị ăn rỗng trướckhi đưa vào bảo quản, đặc biệt là những giống ngô cho năng suất cao và lá bắpkhông che phủ được hết bắp ngô [47]

1.1.5.3 Tác hại của mọt Sitophilus zeamais

Cây ngô (Zea mays L.) là cây lương thực quan trọng, là nguyên liệu cho

ngành chế biến thức ăn chăn nuôi, dược liệu, công nghiệp…[48 ] Tongjura et al.,

(2010) cho rằng ngô cung cấp cho các gia đình nhiều chất dinh dưỡng cần thiết nhưcarbohydrate, protein, chất béo, vitamin B và các khoáng chất [49] Mặc dù diệntích trồng ngô thấp hơn lúa và lúa mì nhưng ngô cho năng suất trung bình cao hơn(5,5tấn / ha) do đó ngô có vai trò quan trọng trong an ninh lương thực của toàn cầu[47]

Sitophilus zeamais là loài gây hại chính của ngô hạt trong kho lưu trữ và ngoài đồng ruộng Sitophilus zeamais xâm nhập vào trong hạt ngô và tấn công phôi

ngô trước rồi đến các bộ phận khác, hạt ngô sau đó trở thành rỗng và giá trị dinhdưỡng giảm, tỷ lệ nảy mầm thấp hoặc mất khả năng nẩy mầm và ảnh hưởng lớn đếngiá thành các sản phẩm trên thị trường [50]

Ở châu Phi, đã cảnh báo biện pháp để đảm bảo an ninh lương thực là giảmthiểu thiệt hại của các loại ngũ cốc do côn trùng gây ra, theo ước tính ở châu Phimỗi năm thiệt hại 4 tỷ USD (FAO, 2010) [48] Tác hại của Sitophilus zeamaisMotsch là một vấn nạn gây thiệt hại nghiêm trọng với ngô và ngũ cốc ở châu Phi[51] Sản lượng ngô bị giảm trầm trọng bởi Sitophilus zeamais trong các kho lưu trữvới các mức độ khác nhau gây ra những cú sốc về thực phẩm [52] Thiệt hại trên

toàn thế giới do loài mọt ngô Sitophilus zeamais gây ra dao động từ 20–90%, tuỳ

thuộc vào giống ngô khác nhau, vùng miền khác nhau và biện pháp bảo quản khácnhau [50]

Trang 31

Bergvinson (2004) nhận thấy tỷ lệ hao hụt ngô trong kho bảo quản là 20%,trong đó do mọt ngô gây thiệt hại lên đến 15% của một vụ thu hoạch trong vài tháng

và làm giảm chất lượng ngô hạt [39] Một số tác giả đã nghiên cứu tỷ lệ thiệt hại domọt ngô gây ra cũng cho biết mọt làm giảm 20% khối lượng ngô lai được lưu trữtrong các kho bảo quản tốt, giảm 40% trong các kho dự trữ thường và 80% thiệt hại

ở các nông trại ở vùng nhiệt đới [35], [42], [53]

Những thiệt hại do mọt hại ngô gây ra bao gồm giảm khối lượng, giảm dinhdưỡng và tổn thất kinh tế do phải bán giá thấp… [54] Tổn thất do mọt hại gây raliên quan chặt chẽ đến thời gian bảo quản ngô trong kho và mật độ của mọt Tadele

et al., (2011) [55] đã tiến hành sàng sạch, sấy khô (12% ẩm độ) và đã phun vớiphostoxin trong 7 ngày để tiêu diệt hết trứng, ấu trùng các loại sâu hại trong ngôhạt Sau đó các mẫu ngô này dùng để nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ mọt và thờigian bảo quản đến sự giảm khối lượng ngô hạt do mọt gây ra Sự giảm khối lượng

do mọt gây ra được Tadele et al., (2011) xác định theo phương pháp của Gwinner

et al., (1996) [56]

Phân tích kết quả thí nghiệm, Tadele et al., (2011) đã khẳng định sự giảm

khối lượng của ngô hạt chịu ảnh hưởng lớn bởi thời gian lưu trữ và mật độ của mọtgây hại Với mật độ 50 con/200g ngô hạt sau 30, 60 và 90 ngày lưu trữ khối lượngngô hạt giảm tương ứng là 1,4%, 1,5% và 6,9% Mật độ côn trùng có xu hướng ratăng sau các ngày bảo quản và có sự khác biệt về số lượng côn trùng đáng kể khimật độ đầu tiên là 5 con/200 gam ngô hạt và 45–50 con/200 gam ngô hạt sau 90ngày bảo quản [55]

Khảo sát tại Togo (Tây Phi) cho thấy có sự gia tăng tỷ lệ hao hụt do mọthại gây ra ở ngô hạt lưu trữ trong kho bảo quản từ 7 đến hơn 30% trong thời gian6–9 tháng bảo quản [57 ] Còn theo nghiên cứu của Keil (1988) tổn thất ngô domọt hại ngô từ 17,9% sau 6 tháng bảo quản và lên đến 41,2% sau 8 tháng bảo quản[58 ] Kết quả nghiên cứu tổn thất trong kho sau 3 tháng lưu trữ của Boxall (2002),tổn thất sau thu hoạch của ngô do côn trùng trong thời gian bảo quản khoảng từ

Trang 32

20 đến 30%, tổn thất khối lượng lên đến 34– 40% và 10–20% là do Sitophilus

1.1.5.4 Thiên địch của mọt ngô Sitophilus zeamais

Kết quả nghiên cứu của Visarathanonth et al., (2010) đã phát hiện ong ký sinh Anisopteromalus calandrae tại Thái Lan từ mọt ngô Nhóm tác giả đã cung cấp thêm một số đặc điểm sinh học của ong ký sinh A calandrae và xác định khả năng

kiểm soát sâu mọt gây hại thóc dự trữ của loài ong ký sinh này Thí nghiệm đượctiến hành theo dõi giữa ong ký sinh và vật chủ mọt ngô trên thức ăn là gạo xay ởnhiệt độ 32,5 oC, ẩm độ 70% Kết quả cho thấy giai đoạn trứng nở là 1 ngày; ấutrùng 4,1 ± 0,7 ngày; nhộng 6,3 ± 0,9 ngày và trưởng thành có tuổi thọ là 9,6 ± 1,0ngày Thời gian từ trứng đến trưởng thành là 11,4 ngày Một ong cái sản sinh ra thế

hệ con trung bình 37 ± 14 cá thể cái và 42 ± 14 cá thể đực với tổng số 79 ± 13 cáthể Thời gian đẻ trứng là 11 ngày với đỉnh cao 12 ± 5 quả trứng vào ngày thứ 5 Tỷ

lệ giới tính của ong ký sinh (cái: đực) là 0,88: 1 Ấu trùng mọt ngô nuôi trên gạonâu vào 21 ngày tuổi cho năng suất đẻ trứng của ong cao nhất (65 ± 17 quả trứng)

Ở các lứa tuổi ấu trùng là 19, 23, và 25 ngày tuổi, sức đẻ trứng của ong cái giảm lầnlượt tương ứng còn 57 ± 17, 56 ± 21 và 40 ± 22 quả trứng [61]

1.1.5.5 Các biện pháp phòng chống mọt ngô Sitophilus zeamais

Các nguồn dự trữ ngũ cốc có thể được khử trùng bằng phosphine để loại bỏ

sự lây nhiễm hiện có, nhưng những phương pháp xử lý này không chống lại sự táinhiễm của mọt ngô

Guedes & Heyde (1996) [62] ước tính độc tính của deltamethrin đối với một

số quần thể S zeamais kháng thuốc và mẫn cảm trong các cửa hàng ngô truyền

thống

Trang 33

ở Togo Trong một nghiên cứu khác, phương pháp xử lý bằng pirimiphos-methyl vàdeltamethrin có hiệu quả nhất ở các kho thóc truyền thống sau khi pirimiphos-methyl, deltamethrin và permethrin được áp dụng trong nhiều cách kết hợp khácnhau ( Richter et al , 1997) [63] Srinivasacharayulu & Yadav (1997) [ 64 ] đãđánh giá độc tính của deltamethrin, fluvalinate, chlorpyrifos-methyl, etrimfos vàmalathion đối với

S zeamais, và các thử nghiệm sinh học ứng dụng tại chỗ của malathion, methyl, deltamethrin và permethrin được thực hiện S zeamais, được thu thập từ

pirimiphos-chín bang ở Mexico ( Perez-Mendoza, 1999 ) [65]

Guedes et al., (1996) [62] báo cáo 20% carbon dioxide đã kiểm soát S zeamais trong 5 ngày Xử lý với 15% carbon dioxide và 5% oxy đã kiểm soát côn

trùng trong 10 ngày Santos et al., (1997) [66] mô tả việc sử dụng bầu không khí

được kiểm soát carbon dioxide ở Brazil để kiểm soát S zeamais trên ngô và lúa mì.

Điôxít cacbon ở nồng độ 50% và 60% đã giết chết tất cả các giai đoạn sống của mọtsau 10 ngày tiếp xúc Trong một nghiên cứu khác với thời gian hun khoang 15 và 20ngày, nồng độ 40%, 50% và 60% đã loại bỏ tất cả các giai đoạn của côn trùng

(Santos et al., 1998) [67].

Nghiên cứu của Li et al., (1998) [68] sử dụng loài ký sinh L distinguendus

để kiểm soát hay nghiên cứu của Helbig, (1998) [69] cũng đã được ghi nhận

Theocolax elegans tấn công S zeamais.

Độc tính của một số lượng lớn các loại tinh dầu và các bộ phận thực vật của

các loại gia vị và thảo mộc khác nhau đã được đánh giá chống lại S zeamais Một số loại dầu cam quýt có hơi độc đối với S zeamais trưởng thành; vôi, quýt và

tinh dầu vỏ bưởi làm giảm sự xuất hiện của trứng và ấu trùng (Don-Pedro, 1996 )[70] Dầu tỏi độc đối với người lớn (Ho et al , 1997) [71], và dầu dừa, hướngdương, vừng và mù tạt kết hợp với eucalyptol, eugenol hoặc long não đã được phát

hiện có độc tính đối với S zeamais (Obeng-Ofori & Reichmuth, 1999) [72].

Abebe et al., (2009) đã nghiên cứu khả năng kháng mọt của 13 giống ngô

khác nhau thông qua khả năng gây hại của thế hệ F1 của mọt Sitophilus zeamais

trên các

Trang 34

giống ngô Sau 60 ngày thí nghiệm ông thu được kết quả, khối lượng ngô giảm sauthí nghiệm của giống có khả năng kháng mọt tốt nhất (BHQP–542) giảm 3,2%, tỷ lệthiệt hại 3,3% và giống có khả năng kháng mọt thấp nhất (Melkasa–III) thì giảm8,3% và tỷ lệ thiệt hại của giống này là 18% [73].

1.2.Nghiên cứu côn trùng hại nông sản bảo quản trong kho ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài côn trùng gây hại nông sản trong kho

Những nghiên cứu và kết quả điều tra thành phần loài côn trùng gây hại trongkho ở Việt Nam không nhiều và ít được cập nhật Trong số đó có thể kể đến là kết quảđiều tra côn trùng hại kho ở miền Bắc Việt Nam của Đinh Ngọc Ngoạn (1965) [74];kết quả điều tra côn trùng trong kho lương thực ở các tỉnh miền Bắc và miền Nam saugiải phóng 1975 của Bùi Công Hiển và nnk (1975) [75], côn trùng hại thóc đổ rờicủa Dương Minh Tú (2005) [76]; kết quả điều tra côn trùng là đối tượng kiểm dịchthực vật của Dương Quang Diệu và Nguyễn Thị Giáng Vân (1976) [77]; thành phầncôn trùng gây hại trong kho lương thực của Vũ Quốc Trung (1978) [78]; thành phầncôn trùng kho ở Việt Nam của Nguyễn Thị Giáng Vân và nnk (1996) [79]

Lê Trọng Trải (1980) [80] điều tra kho thóc dự trữ đổ rời tại Hoài Đức, HàTây đã xác định được 12 loài côn trùng gây hại trong kho thuộc 7 họ và 2 bộ côntrùng khác nhau; trong đó có 3 loài thuộc nhóm gây hại sơ cấp, 9 loài thuộc nhómgây hại thứ cấp

Nguyễn Thị Bích Yên (1998) [81] điều tra thành phần côn trùng hại thóc dựtrữ tại Hà Nội đã ghi nhận được 9 loài côn trùng gây hại thuộc 8 họ và 3 bộ côntrùng khác nhau; trong đó có 3 loài thuộc nhóm gây hại sơ cấp và 6 loài thuộc nhómgây hại thứ cấp

Vũ Quốc Trung và nnk (1999) [82] đã ghi nhận được 7 loài côn trùng gâyhại trong kho thóc dự trữ đóng bao ở đồng bằng sông Cửu Long là mọt gạo, mọtđục hạt nhỏ, mọt bột đỏ, mọt thóc Thái Lan, mọt râu dài, mọt răng cưa và mọt gạodẹt

Nguyễn Thị Giáng Vân và nnk (1996) [79] đã ghi nhận được 23 loài côn trùng gây hại trong kho thóc dự trữ đổ rời thuộc 14 họ và 3 bộ Trong đó có 4 loài thuộc

Trang 35

nhóm gây hại sơ cấp và 19 loài thuộc nhóm gây hại thứ cấp.

Thành phần côn trùng hại kho ở Việt Nam năm 1996–2000 do Phòng Kiểmdịch thực vật, Cục Bảo vệ thực vật tổng hợp (2003) Kết quả điều tra thành phần loàicôn trùng hại kho của ngành Kiểm dịch Thực vật từ 1996 đến 2000 cho thấy, tổng

số loài côn trùng trong kho là 115 loài của 44 họ, thuộc 8 bộ và 1 lớp nhện Nghiêncứu tương tự cũng được đánh giá bởi Nguyễn Quang Hiếu và nnk (2000), kết quảđiều tra thành phần côn trùng hại kho trong kho thóc dự trữ đổ rời ở Hà Nội và HảiPhòng, số loài thu được là 10 loài sâu mọt thuộc 3 bộ [83]

Theo Nguyễn Kim Vũ (2003) khi điều tra thành phần và mức độ phổ biếncủa côn trùng hại kho trong bảo quản ngô tại vùng ngoại thành Hà Nội cho thấy có

18 loài thường gặp trong đó có các loài như mọt ngô (Sitophilus zeamais), mọt gạo (Sitophilus oryzae), mọt đục hạt (Rhyzopertha dominica), mọt cà phê (A.fasciculatus), mọt răng cưa (Oryzaephilus surinamensis), xuất hiện với tần suất

lớn [84]

Bùi Minh Hồng và Hà Quang Hùng (2004) đã điều tra thành phần loài sâumọt và thiên địch trên thóc bảo quản đổ rời tại kho cuốn của Cục dự trữ quốc giavùng Hà Nội và phụ cận Kết quả thu được 15 loài sâu mọt của 11 họ, thuộc 2 bộ và

4 loài thiên địch của 3 họ, thuộc 3 bộ [85]

Thành phần côn trùng, nhện trong kho và độ thường gặp của quần thể mọt bột

đỏ Tribolium castaneum (Herbst) tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam cũng được điều

tra bởi Hà Thanh Hương (2004) [86] Nghiên cứu này đã thu được 57 loài của 26 họ,thuộc 4 bộ và 2 lớp (lớp côn trùng và lớp nhện) Trong kết quả nghiên cứu, nhóm tác

giả ghi nhận các loài côn trùng xuất hiện với tần suất bắt gặp trên 50% như: R dominica, Cryptolestes pusillus, S oryzae, T castaneum, Lophocateres pusillus Trong

đó tỷ lệ bắt gặp T castaneum chiếm 55,64% trong tổng số 57 loài côn trùng và nhện

thu thập được

Trần Bất Khuất và Nguyễn Quý Dương (2004) đã điều tra thành phần sâumọt hại lạc nhân trong kho bảo quản tại một số vùng và thu được kết quả có 20 loài,của 13 họ, thuộc 3 bộ [87] Cũng trong khoảng thời gian này, Dương Minh Tú(2005) đã nghiên cứu về thành phần loài côn trùng trong kho thóc dự trữ đổ rời ởmiền Bắc Việt

Trang 36

Nam và xác định được 32 loài thuộc 20 họ của 5 bộ trong đó có 25 loài côn trùnggây hại và 7 loài có ích [76].

Trần Văn Hai và nnk (2008), điều tra sinh vật hại được thực hiện trong kho bảoquản gạo, bắp và thức ăn gia súc ở Cần Thơ và An Giang trong hai năm, từ năm 2002đến 2003 Nghiên cứu cho thấy rằng, có 23 loài đã được xác định trong kho bảo quản ở

Cần Thơ, trong đó có 7 loài xuất hiện với mật độ cao như Tribolium castaneum Herbst, Sitophilus oryzae L., Ahasverus advena Waltl., v.v Ở An Giang, nhóm tác giả đã được xác định 27 loài, trong đó có 6 loài xuất hiện với mật độ cao như Tribolium castaneum Herbst, Latheticus oryzae Waterhouse, Cryptolestes minutus Oliv., v.v Hầu hết các sinh

vật hại kho đều thuộc bộ cánh Cứng Coleoptera [88]

Nguyễn Kim Hoa và nnk., (2008), thành phần mọt hại ngô bảo quản tại hộ giađình ở cùng Bắc Hà, Lào Cai gồm 10 loài thuộc 9 họ của 2 bộ côn trùng

(Coleoptera và Lepidoptera) và 1 họ thuộc bộ nhện Acarina Mọt ngô S zeamais là loài gây hại nguy hiểm nhất, tiếp đó là mọt bột sừng G cornutus [89] Trung tâmKiểm dịch thực vật sau nhập khẩu I, Cục BVTV (2006–2010) đã tiến hành điều trasinh vật hại trên ngô bảo trong cả nước Kết quả thu được đã phát hiện được 57 loàidịch hại trên ngô sau thu hoạch, trong đó có 49 loài côn trùng gây hại, 1 loài rệpsách, 7 loài nấm bệnh Các loài côn trùng đã được phát hiện thuộc 18 họ trong 2 bộColeoptera, Lepidoptera, trong đó chủ yếu thuộc bộ Coleoptera [90]

Khi nghiên cứu thành phần mọt hại đậu bảo quản ở Việt Nam, Nguyễn QuýDương (2010) đã xác định được 28 loài côn trùng gây hại và 7 loài thiên địch củachúng trên hạt đậu đỗ bảo quản, trong đó bổ sung thêm 19 loài cho danh sách côn

trùng gây hại trên đậu đỗ Lần đầu tiên phát hiện thấy loài mọt Đậu Callosobruchus analis có mặt ở Việt Nam [91]

Theo nghiên cứu của Trần Đăng Hòa và nnk (2015) [92], kết quả điều trathành phần côn trùng gây hại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu tại cảng QuyNhơn đã ghi nhận có 35 loài côn trùng hại Trong đó, có 30 loài côn trùng hại bãngô từ Mỹ, 29 loài gây hại trên cám gạo từ Ấn độ, 13 loài gây hại trên khô dầu đậutương từ Trung Quốc Nghiên cứu cũng đã ghi nhận có 33 loài côn trùng hại nguyênliệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu trong kho bảo quản Các loài côn trùng gây hại rấtphổ biến được xác

Trang 37

định trong nghiên cứu này như: Lasioderma serricorne, Cryptolestes minutus, Sitophilus oryzae, Sitophilus zeamais, Cryptophilus integer, Ahasverus advena, Tribolium castaneum, Plodia interpunctella và Liposcelis bostrychophila.

Kết quả gần đây nhất (Nguyễn Thị Oanh và nnk., 2016) với dẫn liệu ban đầu

về thành phần loài sâu mọt và thiên địch của chúng trong kho tại tỉnh Đồng Tháp

Số liệu nghiên cứu ghi nhận, có 24 loài sâu mọt thuộc 15 họ ở 6 bộ gây hại nông sản

trong kho tại tỉnh Đồng Tháp Trong đó có 11 loài bắt gặp phổ biến như Acarus siro , Lasioderma serricorne, Callosobruchus maculatus, Sitophilus oryzae, Thorictodes heydeni, Ahasverus advena, Oryzaephilus surinamensis, Alphitobius diaperinus, Tribolium castaneum, Liposcelis sp và Acrotelsa collaris [93]

1.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài hại chính cho nông sản trong kho bảo quản

Đã có một số công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái học của côn trùnggây hại trong kho đã được công bố đề cập đến đặc điểm sinh học và sinh thái học

của mọt gạo Sitophilus oryzae L của Bùi Công Hiển, (1965) [94]; một số dẫn liệu

về côn trùng gây hại trong kho thóc của Lê Trọng Trải (1980) [80]; nghiên cứu một

số đặc điểm sinh học và biện pháp phòng chống côn trùng lạ Tenebrio molitor L.

của Dương Minh Tú (1997) [95]; tìm hiểu khả năng sinh trưởng phát triển của mọt

bột tạp Tribolium confusum Duval ở Việt Nam của Hà Thanh Hương và nnk.,

(1998) [86] Đặc điểm sinh học của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica, mọt bột

đỏ Tribolium castaneum Herbst và biện pháp phòng chống chúng của Nguyễn Thị

Bích Yên (1998) [79]

Theo tài liệu của Vũ Quốc Trung (1978), mọt đục hạt nhỏ, Rhizopertha dominica thuộc bộ cánh Cứng Coleoptera, họ Bostrichidae Cũng theo tài liệu của

Vũ Quốc Trung (1978) trưởng thành của Rhizopertha dominica có chiều dài 2,3–3

mm, rộng 0,6–1mm thường chiều dài gấp 3 chiều rộng Thân nhỏ hình ống dài,màu nâu tối Trứng dài 0,4–0,6 mm; rộng 0,1–0,2mm, hình bầu dục dài, màu trắng ởgiữa hơi cong, một đầu lớn, một đầu bé Ấu trùng khi lớn dài khoảng 3mm, mìnhhơi cong, thân màu trắng sữa, râu đầu có 2 đốt Nhộng dài khoảng 2,5–3mm, đầucủa nhộng

Trang 38

gần giống đầu của trưởng thành Đoạn cuối bụng thu nhỏ lại (con cái có phần phụ

để phân biệt giữa cá thể đực và cái) [18]

Theo Dương Minh Tú (2005), mọt gạo Sitophilus oryzae L và mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica nuôi trên gạo ở nhiệt độ 25, 30, 35 oC và ẩm độ tươngđối 70% có kích thước các pha phát triển ở các ngưỡng nhiệt độ trên là như nhaunhưng thời gian phát triển hoàn toàn khác nhau Ở các mức nhiệt độ này, thời gian

hoàn thành vòng đời của mọt đục hạt nhỏ Rhizopertha dominica lần lượt là: 80,03

± 1,6; 64,9 ± 1,1 và 45,9 ± 0,76 ngày [76]

Theo Hà Thanh Hương (2007), khi nghiên cứu các nhóm cá thể mọt bột đỏ

(Tribolium castaneum Herbst) có nguồn gốc từ các địa phương khác nhau thuộc ba

vùng sinh thái nông nghiệp nông nghiệp Bắc Việt Nam không có sự khác nhau vềkích thước và đặc điểm hình thái; song sức sinh sản trung bình của mọt cái có sựchênh lệch đáng kể ở 30 oC lớn hơn ở 25 °C khoảng 1,02–2,9 lần Trong đó, mọt bột

đỏ thu tại vùng sinh thái 3 (Duyên Hải Bắc Trung bộ) có sức đẻ trên ngày lớn nhất(3,72 quả/ngày) ở cả 25 oC và 30 oC [10]

Theo Nguyễn Kim Hoa và nnk (2008) [96], vòng đời của mọt ngô kéo dàitrung bình từ 32,34 ngày ở điều kiện nhiệt độ 28,2 °C và ẩm độ 87,6% đến 49,56ngày ở nhiệt độ 22,35 °C, ẩm độ 80,75%

Nguyễn Quý Dương (2010), mọt đậu cô ve trưởng thành tăng khi nhiệt độtăng từ 20 oC đến 30 oC Khi thủy phần hạt tăng lên từ 12–18%, sức đẻ trứng củamọt đậu cô ve cũng tăng lên Mọt đậu cô ve đẻ nhiều hơn trong điều kiện tối hoàntoàn [91]

Nguyễn Thị Oanh và nnk., (2016) nghiên cứu về mọt thuốc lá cho thấy, kích

thước chiều rộng đầu của ấu trùng mọt L.serricorne có mối tương quan với các giai đoạn phát triển Thời gian vòng đời trung bình của mọt L.serricorne là 41,53 ± 6,21

ngày ở điều kiện nhiệt độ 30,00 ± 1,07 oC, ẩm độ 74,64 ± 3,17% [93]

Theo Bùi Minh Hồng, Nguyễn Thị Huyền (2016) Mọt khuẩn đen nuôi trên 4loại thức ăn: cám gà, bột ngô, hỗn hợp (76% bột ngô + 17% cám gà + 7% men bia),phân gà trong điều kiện nhiệt độ 25 oC và ẩm độ 75% ở tủ nuôi côn trùng được nghiêncứu Nghiên cứu này đã xác định được đặc điểm sinh học, sinh thái, tốc độ gia tăngquần thể,

Trang 39

và hàm lượng protein của ấu trùng Mọt khuẩn đen có kích thước các pha phát triểnlớn nhất nuôi thức ăn là bột ngô và nhỏ nhất thức ăn phân gà Nuôi bằng thức ăn hỗnhợp: Vòng đời của mọt khuẩn đen dài nhất là 58,5 ngày, khả năng đẻ trứng cao nhất

là 318,17 quả/cặp, tỷ lệ trứng nở cao nhất 89,41%, tốc độ gia tăng quần thể lớn nhất r

= 0,118 Nuôi bằng thức ăn phân gà: Vòng đời của mọt khuẩn đen ngắn nhất là 44ngày, khả năng đẻ trứng thấp nhất là 201,03 quả/cặp, tỷ lệ trứng nở thấp nhất 68,94%,tốc độ gia tăng quần thể thấp nhất r = 0,09 Xác định được hàm lượng protein của ấutrùng mọt khuẩn đen dao động từ 38,66–45,99% Ấu trùng tuổi 7 có hàm lượngprotein cao nhất là 45,99% [97]

1.2.3.Nghiên cứu về thiệt hại do côn trùng gây hại nông sản trong kho bảo quản

Không giống như các loài gây hại trên các giống cây trồng ngoài đồng ruộng

có thể đánh giá được những thiệt hại một cách trực tiếp Những tổn thất của nôngsản trong công tác bảo quản thường không thể hiện ngay và thường ít thấy, để đánhgiá được mức độ thiệt hại do sâu mọt hại kho gây ra cho nông sản lưu trữ rất phứctạp Tập đoàn sâu mọt hại kho có khả năng thích nghi cao thường xuyên gây ra các

vụ “cháy ngầm” trong kho, gây nên những thiệt hại rất lớn [7]

Những công trình nghiên cứu về thiệt hại do côn trùng gây ra cho hạt ngũcốc dự trữ ở nước ta còn rất hạn chế Những kết quả thu được chỉ phản ánh thiệt hại

về mặt khối lượng mà không thể phản ánh được thiệt hại về mặt chất lượng của sảnphẩm dự trữ

Theo Vũ Quốc Trung (1978) [78], thiệt hại đáng kể do sâu mọt hại kho gây

ra rất đáng chú ý như ở gạo tẻ sau 3 tháng bảo quản với mật độ sâu hại 100 con/kg

và thủy phần 13,5%, mọt làm hao mất 3,5% khối lượng và phát triển thêm 106%.Bột mỳ có thủy phần 12%, mật độ sâu hại là 10 con/kg, sau 3 tháng bảo quản chúngtiêu thụ 8% khối lượng và phát triển thêm 190% Một kho thóc sau 8 tháng khôngtiến hành các biện pháp phòng chống sâu hại, mật độ sâu hại còn sống lên đến 32con/kg Khi tiến hành kiểm tra lớp thóc bề mặt tới độ sâu 0,5 m, tỷ lệ trung bình hạt

bị hại là 13,7% Đem cân 1000 hạt thóc không bị sâu hại nặng 23,2 g, còn 1000 hạt

bị sâu hại

Trang 40

chỉ nặng có 16,9 g Sau khi xay xát, từ 100 kg thóc không bị sâu hại có thể thu hồiđược 70–73 kg gạo trắng, trong khi đó với mật độ sâu hại 100 con/kg, chỉ thu hồiđược cao nhất 66 kg gạo Đó là chưa kể tới chất lượng gạo rất kém, giá trị thươngphẩm thấp và không đảm bảo về mặt vệ sinh.

Theo Lê Doãn Diên (1990) [98], tổn thất sau thu hoạch đối với ngũ cốc bảoquản trong kho ở Việt Nam là 10% Số liệu điều tra tại một số huyện ngoại thành HàNội của Nguyễn Kim Vũ (2003) [84] cho thấy, tổn thất sau thu hoạch do côn trùnggây ra cho lúa gạo trung bình là 6,4%, mức độ thiệt hại cao nhất có thể lên đến11,8%/năm; đối với thóc bảo quản trong thời gian 6 tháng là 2,8% về khối lượng vàgiảm tới 20% về giá bán Kết quả nghiên cứu về tổn thất ngô sau thu hoạch củaTrần Văn Chương và nnk (2003) cho thấy ở quy mô hộ nông dân, ngô dự trữ bị tổnthất trung bình là 15%, cá biệt có nơi đến 20%

Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới ẩm, là điều kiện thích hợp với sựphát sinh phát triển của sâu hại kho, do đó thiệt hại do chúng gây ra không phải nhỏ

Vì vậy, phòng chống sâu mọt hại kho có một tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt,nếu làm tốt sẽ mang lại lợi ích kinh tế rất lớn

1.2.4.Các biện pháp phòng chống côn trùng gây hại nông sản trong kho bảo quản

Hiện nay trong bảo quản nông sản có nhiều biện pháp phòng chống côntrùng hại kho khác nhau Những biện pháp thường được áp dụng bao gồm: Biệnpháp cơ học và vật lý hầu như chỉ sử dụng với việc bảo quản ở quy mô nhỏ bằngcác phương pháp cơ học như: sàng để loại bỏ côn trùng ra khỏi nông sản ở nhữngnơi chúng tập trung với mật độ cao; phơi sấy tiêu diệt côn trùng bằng tác dụng củanhiệt độ cao; bẫy đèn thu hút các loài côn trùng có tính hướng quang …

Cũng như các nước trên thế giới, thuốc hóa học sử dụng trong bảo quản kho tạiViệt Nam cũng gồm 2 loại chính là methyl bromide và phosphine Với ngưỡng phòngchống của các loại sâu mọt gây hại chính (mọt gạo, mọt đục hạt nhỏ, mọt bột đỏ vàmọt thóc Thái Lan) là 20 con/kg nông sản có thể tiến hành sử dụng thuốc hóa học đểdiệt trừ Ngoài ra, còn có nhóm thuốc sát trùng mà chủ yếu là sumithion 50EC sửdụng để sát trùng kho, vật dụng trong kho khi đã xuất hết lô hàng cũ và chuẩn bị đưa

lô hàng mới

Ngày đăng: 02/06/2021, 08:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. P.A. Van der Lann, The pests of crop in Indonesia, P.T. Ichtia Baru-Van Hoever, Jakarta, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The pests of crop in Indonesia
3. J.T. Snelson, Scholler, Matthias, Forager in the rye: Biological control of Ephestia elutella in bulk grain, integrated protection of stored products, IOBC Bulletin, 2000, Vol.23 (10), 149–159, (1987), Grain protectants, Printed by Ruskin Press, Melb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forager in the rye: Biological control ofEphestia elutella in bulk grain, integrated protection of stored products
Tác giả: J.T. Snelson, Scholler, Matthias, Forager in the rye: Biological control of Ephestia elutella in bulk grain, integrated protection of stored products, IOBC Bulletin, 2000, Vol.23 (10), 149–159
Năm: 1987
4. R.T. Cotton, Insect pests of stored grain and grain products. Identification, habits and methods of control, (out of print) Burhress pub. Co. Minneapolis MN, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Insect pests of stored grain and grain products
5. Hiroshi Nakakita et al., Study on quality preservation of rice grain by prevention of infestation by stored product insects in Thailand, Printed by Funny Publishing Limited Partnership, Bangkok, Thailand, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Study on quality preservation of rice grain byprevention of infestation by stored product insects in Thailand
6. P.W. Hall, J.A. McFatane, Post-harvest problems with paddy and rice in British overseas territories, Proc. IX Meeting FAO-US., IRC., working party on rice production and protection, 1961, 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ost-harvest problems with paddy and rice inBritish overseas territories
8. A. Prakash, Influence of age on fecundity and fertility of losser grain borer Rhizopretha dominica Fabr. and rice weevil Shitophilus oryzae L. in stored rice, Bull. Grain technology, 1980, 18 (201), 119–121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influence of age on fecundity and fertility of losser grain borerRhizopretha dominica Fabr. and rice weevil Shitophilus oryzae L. in storedrice
9. P.W. Film, D.W. Hagstrum, Simulations comparing the effectiveness of various stored grain management pratices used to control Rhyzopertha dominica, Queensland Department of Primary Industry, Australia, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Simulations comparing the effectiveness ofvarious stored grain management pratices used to control Rhyzoperthadominica
10. Hà Thanh Hương, Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của loài mọt bột đỏ Tribolium castaneum Herbst ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam và khả năng phòng chống chúng bằng biện pháp sinh học, Luận án tiến sỹ nông nghiệp, 2007, Trường Đại học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái họccủa loài mọt bột đỏ Tribolium castaneum Herbst ở một số tỉnh miền Bắc ViệtNam và khả năng phòng chống chúng bằng biện pháp sinh học
11. Reichmuth Christoph, biological control in stored product protection, integrated protection of stored product, IOBC bulletin, 2000, 23 (10), 11–23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: biological control in stored product protection, integratedprotection of stored product
12. Olsson Christian, Stored product insects, Stored Product Insect Research Group, Thailand, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stored product insects
13. J.C. Rojas Lenon, Notes on the insect that cause damage to stored maize in La Frailesca, Chiapas, Mexico, Folia Entomologica, Mexico, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Notes on the insect that cause damage to stored maize in LaFrailesca, Chiapas, Mexico
14. J.T. Snelson, Grain Protectants, Australian Centre for Internationnal Agricultural Research, Canberra, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Grain Protectants
15. R.T. Arbogast, J.E. Throne, Insect infestation of farm-stored maize in south Carolina: Towards characterization of a habitat, Journal of Stored Products Research, July 1997, (33) (No.3), 187–198, Elsevier Science Ltd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Insect infestation of farm-stored maize in southCarolina: Towards characterization of a habitat
16. P. Freeman, Common insect pests of stored food product, British Museum (Natural History), printed in Great Britain by Butler & Tanner Ltd. Frome &London, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Common insect pests of stored food product
17. P. Bolin, Stored Products, Intro to OSU Stored Products, 2001, www.ento.okstate.edu /ipm /stored products Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stored Products, Intro to OSU Stored Products
19. P.G. Stemley, D.A. Wilbur, A color characteristic for sexing live adult lesser grain borers, Journal of Economic Entomology, 1966, 59, 760–761 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A color characteristic for sexing live adult lessergrain borers
20. C. Balagopalan, W. Azalekor, Some aspects of the biology and control using botanicals of the coffee – bean weevil on some pulses, Journal of Stored Products Research, 1997, 33 (1), 178–184 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Some aspects of the biology and control usingbotanicals of the coffee – bean weevil on some pulses
21. Elke Stumpf, Post–harvest loss due to pests in dried cassava chips and comparative methods for its assessment–a case study on small scale farm househlod in Ghana, D-65726 Eschbom, Germany, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Post–harvest loss due to pests in dried cassava chips andcomparative methods for its assessment–a case study on small scale farmhousehlod in Ghana
22. Vũ Quốc Trung, Nguyễn Trọng Hiển, Vũ Kim Dung, Xử lý và bảo quản hạt lương thực ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý và bảo quản hạt lươngthực ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
48. FAO (2010); http://siteresources.world bank.org/INTARD/Resources/ Missing Foods10_web.pdf Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w