1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ đánh giá thực trạng điều kiện làm việc và đề xuất giải pháp an toàn vệ sinh lao động tại dự án xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến s

114 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 533,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “Đánh giá thực trạng điều kiện làm việc và đề xuất giải pháp an toàn vệ sinh lao động tại dự án xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ v

Trang 1

TRẦN ĐÀO LINH TRANG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP AN

TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI

DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU NHÀ Ở CÁN BỘ CHIẾN SĨ CỤC CẢNH SÁT BẢO VỆ VÀ

Trang 2

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “Đánh giá thực trạng điều kiện làm việc và đề xuất giải pháp an toàn vệ sinh lao động tại dự án xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an” là công trình nghiên cứu độc lập do tác giả thực hiện dưới sự

hướng dẫn của PGS.TS Tạ Thị Tuyết Bình Luận văn chưa được công bố

trong bất cứ công trình nghiên cứu nào Các số liệu, nội dung được trình bàytrong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, hợp lệ và đảm bảo tuânthủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Tôi xin chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung của luận văn thạc sĩ

Tác giả

Trần Đào Linh Trang

Trang 3

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn tới:

Ban giám hiệu cùng toàn thể các thầy, cô giáo Trường Đại học CôngĐoàn, đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trongsuốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường

Tôi xin cảm ơn lãnh đạo cùng các thầy cô giáo khoa Sau Đại học vàkhoa Bảo hộ lao động đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốtquá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới

Cô giáo PGS TS Tạ Thị Tuyết Bình đã luôn tận tình định hướng, hướng dẫn tôi làm luận văn và luôn dộng viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn.

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới

Lãnh đạo Công ty Cổ phần CDC Hà Nội

Ông Nguyễn Thanh Bình – Giám đốc điều hành dự án Khu nhà ở cán bộchiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an

Cùng toàn thể cán bộ công nhân viên công ty nói chung, dự án nói riêng

đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tìm hiểu và hoàn thành luậnvăn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục bảng biểu, sơ đồ

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Nội dung nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu 3

6 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC Ở CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 5

1.1 Tổng quan các nghiên cứu của nước ngoài về điều kiện làm việc ở các công trình xây dựng 7

1.1.1 Tại Mỹ 10

1.1.2 Tại Ấn Độ 11

1.1.3 Tại Malaysia 11

1.1.4 Tại Hàn Quốc 12

1.1.5 Tại các nước EU 14

1.2 Tổng quan các nghiên cứu của Việt Nam về điều kiện làm việc ở các công trình xây dựng 16

Tiểu kết chương 1 19

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC TẠI DỰ ÁN KHU NHÀCÁN BỘ CHIẾN SĨ CỤC CẢNH SÁT BẢO VỆ VÀ HỖ TRỢ TƯ PHÁP – BỘ CÔNG AN 20

2.1 Giới thiệu về dự án 20

2.2 Đặc điểm lao động tại dự án 22

Trang 5

2.2.2 Độ tuổi lao động 22

2.3 Thực trạng điều kiện làm việc tại dự án 23

2.3.1 Thời gian làm việc 24

2.3.2 Kết quả quan trắc môi trường lao động 25

2.3.3 Thực trạng tâm sinh lý của người lao động tại dự án 27

2.3.4 Thực trạng sức khỏe người lao động 27

2.3.5 Thực trạng máy thiết bị, vật tư tại dự án 30

2.3.6 Thực trạng cấp phát và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân 30

2.3.7 Tình hình tai nạn lao động 31

2.4 Đánh giá điều kiện làm việc trong các hoạt động thi công chính 36

2.4.1 Phương pháp nhận diện mối nguy và đánh giá rủi ro 36

2.4.2 Thực trạng điều kiện làm việc trong công tác thi công cốt thép 40

2.4.3 Thực trạng điều kiện làm việc trong công tác thi công coppha 42

2.4.4 Thực trạng điều kiện làm việc trong công tác thi công đổ bê tông 44

2.4.5 Thực trạng điều kiện làm việc trong công tác thi công xây trong và trát mặt ngoài 46

2.4.6 Thực trạng điều kiện làm việc trong công tác thi công lắp đặt thiết bị máy 47

2.5 Đánh giá ưu điểm và những tồn tại về điều kiện lao động tại dự án 48

Tiểu kết chương 2 51

Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG NHẰM CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC TẠI DỰ ÁN KHU NHÀCÁN BỘ CHIẾN SĨ CỤC CẢNH SÁT BẢO VỆ VÀ HỖ TRỢ TƯ PHÁP – BỘ CÔNG AN 52

3.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, huấn luyện an toàn lao động 52

3.2 Nâng cao vai trò của mạng lưới an toàn vệ sinh viên 52

3.3 Tăng cường công tác kiểm tra giám sát 53

3.4 Cải thiện tình hình tổ chức lao động tại dự án 54

Trang 6

3.6 Giải pháp về y tế, sức khỏe 74

3.7 Cải thiện công tác cấp phát của phương tiện bảo vệ cá nhân 74

KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC

Trang 7

An toàn vệ sinh lao động

An toàn vệ sinh viênBệnh nghề nghiệpCán bộ an toànCông nhânĐiều kiện lao độngĐiều kiện làm việcDanh mục

Người lao độngPhòng cháy chữa cháyPhương tiện bảo vệ cá nhânTai nạn lao động

Trang 8

Bảng 2.1 Độ tuổi người lao động làm việc tại dự án 23

Bảng 2.2 Thống kê giờ làm việc trong ngày của người lao động 25

Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả quan trắc môi trường lao động năm 2020 25

Bảng 2.4 Khảo sát về tình trạng cấp phát phương tiện bảo vệ cá nhân 31

Bảng 2.5: Thống kê sự cố tai nạn lao động tại dự án 32

Bảng 2.6 Nguyên nhân khiến điều kiện làm việc mất an toàn tại tự án 35

Bảng 2.7 Khả năng xảy ra rủi ro 38

Bảng 2.8 Thang điểm đánh giá hậu quả 38

Bảng 2.9: Bảng đánh giá mức độ rủi ro 39

Bảng 2.10: Thang điểm khả năng nhận biết mối nguy hại 39

Bảng 2.11: Quy định mức độ rủi ro 40

Bảng 2.12: Nhận diện mối nguy và ánh giá mức độ rủi ro của công tác thi công cốt thép 41 Bảng 2.13: Nhận diện mối nguy và đánh giá mức độ rủi ro của công tác thi công coppha43 Bảng 2.14: Nhận diện mối nguy và đánh giá mức độ rủi ro của công tác thi công đổ bê tông 45 Bảng 2.15: Nhận diện mối nguy và đánh giá mức độ rủi ro của công tác thi công xây trong và trát mặt ngoài 46 Bảng 3.1: Biện pháp kiểm soát và giảm thiểu rủi ro 58

Trang 9

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ về độ tuổi người lao động tại dự án 23

Biểu đồ 2.2: % người lao động báo cáo phơi nhiễm với yếu tố có hại 29

Biểu đồ 2.3: Biểu đồ về tình hình sức khỏe của người lao động tại dự án 29

Hình 2.1: Vị trí dự án 20

Hình 2.2: Tổng quan dự án 21

Sơ đồ 2.1 Phương pháp nhận diện mối nguy 37

Sơ đồ 3.1: Các bước nhận diện mối nguy và đánh giá rủi ro 55

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Điều kiện lao động (ĐKLĐ) nắm giữ một vai trò quan trọng, có tácđộng không nhỏ đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường cũng như sựphát triển bền vững của một quốc gia ĐKLĐ bất lợi là nguyên nhân gây tổnthương, suy giảm khả năng làm việc của rất nhiều người lao động ảnh hưởngnghiêm trọng đến khả năng tái sản xuất sức lao động của con người, cũng làmột trong những nguyên nhân làm rất nhiều người phải nghỉ hưu trước tuổi

do thương tật, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế Theo ước tính chung của Tổchức lao động quốc tế (ILO), ĐKLĐ không an toàn, kém vệ sinh làm cho 160triệu người mắc bệnh nghề nghiệp, 270 triệu vụ tai nạn lao động trong đó cókhoảng gần 310.000 người chết do những tổn thương liên quan đến lao động

và 146.000 người chết vì bệnh ung thư liên quan đến lao động mỗi năm, làmthiệt hại khoảng 4% GDP của toàn thế giới gây ảnh hưởng không nhỏ đếncộng đồng xã hội

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa có tốc độ phát triển nhanh và vững chắc, đồngthời cũng làm tăng tính linh hoạt, đa dạng của nền sản xuất hàng hóa Điềunày góp phần ảnh hưởng đến việc làm và điều kiện làm việc của người laođộng trong các doanh nghiệp, các khu công nghiệp

Xây dựng dân dụng- một ngành kỹ thuật lâu đời của ngành xây dựng,bao gồm xây dựng nhà ở (nhà chung cư, nhà riêng lẻ) và các công trình côngcộng (công trình văn hóa, công trình giáo dục, công trình y tế ) đã có nhữngthành tựu rất quan trọng, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế và ổn địnhchính trị của đất nước Lĩnh vực xây dựng hiện nay chiếm tỷ trọng lớn trongthu nhập kinh tế quốc dân Việc xây dựng các nhà máy, các doanh nghiệpcũng như các công trình tổ hợp, các công trình dân dụng có xu hướng giatăng, đa dạng về số lượng và chủng loại đã ảnh hưởng thu hút hàng trăm ngànngười lao động trong nước và quốc tế Lực lượng lao động trong lĩnh vực này

Trang 11

có trình độ rất khác nhau, công nhân chủ yếu có trình độ thấp, làm việc vớicác thiết bị thủ công, điều kiện lao động nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại gâybất lợi cho người lao động.

Cũng giống như hầu hết các dự án xây dựng khác ở Việt Nam, mặc dùđiều kiện lao động tại dự án xây dựng Khu nhà ở cho cán bộ chiến sĩ CụcCảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an đã được quan tâm đầu tưxong vẫn tồn tại nhiều yếu tố nguy hiểm, có hại liên quan đến môi trường laođộng, điều kiện tâm sinh lý, điều kiện đời sống, sinh hoạt của người laođộng… Với mục tiêu đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện điều kiện lao động,giảm thiểu các rủi ro cho người lao động trong quá trình làm việc tại chính

đơn vị đang công tác, tôi xin thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng điều kiện làm việc và đề xuất giải pháp an toàn vệ sinh lao động tại dự án xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an” làm luận văn thạc sĩ.

2 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng điều kiện làm việc của người lao động tại dự án

- Đề xuất các giải pháp an toàn vệ sinh lao động nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động tại dự án

2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Hồi cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nội dung của

đề tài Sử dụng số liệu thống kê điều tra về an toàn vệ sinh lao động của công tynhằm xem xét các yếu tố của điều kiện lao động ảnh hưởng

đến người lao động

Điều tra, khảo sát: Lập 01 bảng khảo sát và điều tra các thông tin về antoàn, vệ sinh lao động tại dự án xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnhsát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an

Số phiếu khảo sát: 100 phiếu

Trang 12

- Phỏng vấn: Phỏng vấn người sử dụng lao động và người lao động vềđiều kiện lao động tại dự án xây dựng khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an.

- Phân tích, đánh giá: Thực hiện phân tích, đánh giá các yếu tố liên quanđến điều kiện lao động của người lao động tại dự án xây dựng khu nhà ở cán bộchiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Điều kiện lao động và người lao động tại dự án

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ đề cập đến nội dung điều kiện laođộng trong thi công xây dựng nhà cao tầng tại dự án Đầu tư xây dựng khu nhà

ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an

Địa chỉ: Lô N02, ô đất D12 khu đô thị mới Cầu Giấy, Phường Dịch Vong, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội

4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về điều kiện làm việc ở các công trình xây dựng của Việt Nam và trên thế giới

- Đánh giá thực trạng điều kiện làm việc tại dự án Khu nhà ở cán bộchiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an

- Đề xuất các giải pháp an toàn vệ sinh lao động nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động tại dự án

5 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu

- Đánh giá được thực trạng điều kiện làm việc tại dự án Khu nhà ở cán

bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an nhằm góp phầnlàm rõ nét thêm bức tranh về điều kiện lao động tại các công trình xây dựng nhà ởcao tầng của Việt Nam

- Giúp các cơ quan quản lý Nhà nước tham khảo các giải pháp đảm bảo

an toàn vệ sinh lao động, phòng chống TNLĐ, BNN và đảm bảo an toàn cho

người lao động; Là tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác ATVSLĐ trong lĩnh vực xây dựng ở Việt Nam

Trang 13

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương chính:

Chương 1: Tổng quan về điều kiện làm việc ở các công trình xây dựng Chương 2: Thực trạng điều kiện làm việc tại dự án Khu nhà ở cán bộ chiến sĩ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an.

Chương 3: Đề xuất các giải pháp an toàn vệ sinh lao động nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động tại dự án.

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC

Ở CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

Điều kiện làm việc là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh

tế, xã hội, tự nhiên, môi trường và văn hoá xung quanh con người nơi làmviệc Điều kiện làm việc thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động,đối tượng lao động, năng lực của người lao động và sự tác động qua lại giữacác yếu tố trên tạo nên điều kiện làm việc của con người trong quá trình laođộng sản xuất

Các yếu tố của điều kiện làm việc rất đa dạng, phong phú, có thể kể đến: Các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động: máy, thiết bị, công cụ, nhà xưởng, năng

-lượng, nguyên nhiên vật liệu, đối tượng lao động, người sử dụnglao động

- Các yếu tố liên quan đến lao động: các yếu tố tự nhiên có liên quan đếnnơi làm việc, các yếu tố kinh tế, xã hội, quan hệ, đời sống hoàn cảnh gia đình liênquan đến người lao động, quan hệ đồng nghiệp - đồng nghiệp, quan hệ của cấpdưới với cấp trên, chế độ thưởng - phạt, sự hài lòng với công việc

- Tính chất của quá trình lao động: lao động thể lực hay trí óc, lao động thủ công, cơ giới, tự động

- Các yếu tố về tổ chức bố trí lao động: bố trí vị trí lao động, phươngpháp hoạt động, thao tác, chế độ lao động nghỉ ngơi, chế độ ca kíp, thời gian laođộng

- Yếu tố tâm - sinh lý lao động: gánh nặng thể lực, căng thẳng thần kinh

- tâm lý, thần kinh - giác quan

- Đặc điểm của lao động: cường độ lao động, chế độ lao động, tư thế laođộng không thuận lợi và đơn điệu trong lao động không phù hợp với hoạt độngtâm sinh lý bình thường và nhân trắc của cơ thể người lao động trong lao động…

Trang 15

Do yêu cầu của công nghệ và tổ chức lao động mà người lao động có thểphải lao động ở cường độ lao động quá mức theo ca, kíp, tư thế làm việc gò

bó trong thời gian dài, ngửa người, vẹo người, treo người trên cao, mang vácnặng, động tác lao động đơn điệu buồn tẻ hoặc với trách nhiệm cao gây căngthẳng về thần kinh tâm lý Điều kiện lao động trên gây nên những hạn chế chohoạt động bình thường, gây trì trệ phát triển, gây hiện tượng tâm lý mệt mỏi,chán nản dẫn tới những biến đổi ức chế thần kinh Cuối cùng gây bệnh tâm lýmệt mỏi uể oải, suy nhược thần kinh, đau mỏi cơ xương, làm giảm năng suất

và chất lượng lao động, có khi dẫn đến tai nạn lao động

- Các yếu tố môi trường lao động: vi khí hậu, tiếng ồn và rung động, bức

xạ và phóng xạ, chiếu sáng không hợp lý, bụi, các hoá chất độc, các yếu tố vi sinhvật có hại… Các yếu tố vi khí hậu: bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạnhiệt và tốc độ vận chuyển của không khí Các yếu tố này phải đảm bảo ở giới hạnnhất định, phù hợp với sinh lý của con người Nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn tiêuchuẩn cho phép làm suy nhược cơ thể, làm tê liệt sự vận động, do đó làm tăng mức

độ nguy hiểm khi sử dụng máy móc thiết bị

Nhiệt độ quá cao sẽ gây bệnh thần kinh, tim mạch, bệnh ngoài da, say nóng,say nắng, đục nhãn mắt nghề nghiệp Nhiệt độ quá thấp sẽ gây ra các bệnh về

hô hấp, bệnh thấp khớp, khô niêm mạc, cảm lạnh Độ ẩm cao có thể dẫn đếntăng độ dẫn điện của vật cách điện, tăng nguy cơ nổ do bụi khí, cơ thể khó bàitiết qua mồ hôi Các yếu tố tốc độ gió, bức xạ nhiệt nếu cao hoặc thấp hơntiêu chuẩn vệ sinh cho phép đều ảnh hưởng đến sức khoẻ, gây bệnh tật vàgiảm khả năng lao động của con người Tiếng ồn, rung động: Làm việc trongđiều kiện có tiếng ồn và rung sóc quá giới hạn cho phép dễ gây các bệnh nghềnghiệp như: điếc, viêm thần kinh thực vật, rối loạn cảm giác, rối loạn phátdục, tổn thương về xương khớp và cơ; hoặc làm giảm khả năng tập trungtrong lao động sản xuất, giảm khả năng nhạy bén Người mệt mỏi, cáu gắt,buồn ngủ Tiếp xúc với tiếng ồn lâu sẽ bị giảm thính lực, điếc nghề nghiệphoặc bệnh thần kinh Tình trạng trên dễ dẫn đến tai nạn lao động Nguồn bức

Trang 16

xạ: Mặt trời phát ra bức xạ hồng ngoại, tử ngoại Lò thép hồ quang, hàn cắtkim loại, nắn đúc thép phát ra bức xạ tử ngoại Người ta có thể bị say nắng,giảm thị lực (do bức xạ hồng ngoại), đau đầu, chóng mặt, giảm thị lực, bỏng(do bức xạ tử ngoại) và dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Phóng xạ

là dạng đặc biệt của bức xạ Tia phóng xạ phát ra do sự biến đổi bên trong hạtnhân nguyên tử của một số nguyên tố và khả năng iôn hoá vật chất Nhữngnguyên tố đó gọi là nguyên tố phóng xạ Các tia phóng xạ gây tác hại đến cơthể người lao động dưới dạng: gây nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính; rối loạnchức năng của thần kinh trung ương, nơi phóng xạ chiếu vào bị bỏng hoặc rộp

đỏ, cơ quan tạo máu bị tổn thương gây thiếu máu, vô sinh, ung thư, tử vong.Chiếu sáng: Trong đời sống và lao động, con mắt người đòi hỏi điều kiện ánhsáng thích hợp Chiếu sáng thích hợp sẽ bảo vệ thị lực, chống mệt mỏi, tránhtai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, đồng thời tăng năng suất lao động Khicường độ và kỹ thuật chiếu sáng không đảm bảo tiêu chuẩn quy định, (thường

là quá thấp) ngoài tác hại làm tăng phế phẩm, giảm năng suất lao động vềmặt kỹ thuật an toàn còn thấy rõ: khả năng gây tai nạn lao động tăng lên dokhông nhìn rõ hoặc chưa đủ thời gian để mắt nhận biết sự vật (thiếu ánhsáng); do lóa mắt (ánh sáng chói quá) [15]

1.1 Tổng quan các nghiên cứu của nước ngoài về điều kiện làm việc ở các công trình xây dựng

Các nghiên cứu về điều kiện lao động trên các công trường xây dựng ởhầu hết các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận điều kiện làm việc đặc thù, khókhăn, phức tạp, nguy hiểm và độc hại, người lao động phải làm việc ngoài trời,trên cao, dưới sâu, sản phẩm đa dạng, địa bàn lao động luôn thay đổi có nhiềuyếu tố rủi ro gây chấn thương và bệnh nghề nghiệp cho người lao động

Người lao động làm việc trên công trường xây dựng thường phải đối mặtvới điều kiện làm việc khắc nghiệt như làm việc trên cao, trong các hố sâu,không gian kín dẫn đến các nguy cơ rủi ro về ngã cao, vật rơi, đổ, sập, thiếukhí hoặc làm việc ngoài trời với điều kiện thời tiết khắc nghiệt như nắng nóng

Trang 17

hoặc lạnh buốt; làm việc với các máy thiết bị lớn có nguy cơ bị cán, kẹp cuốn,

va chạm Đồng thời, người lao động còn phải thường xuyên tiếp xúc với điệngây rủi ro điện giật, điện phóng; các yếu tố tiếng ồn lớn, hàm lượng bụi, hơikhí độc hại vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, ánh sáng không đảm bảo lànhững yếu tố của điều kiện làm việc gây ra các rủi ro đối với người lao độngtrên công trường xây dựng

Theo kết quả điều tra của Bộ Lao động Mỹ (USDL), người lao độngtrong ngành xây dựng thường xuyên phải làm việc ở điều kiện trên cao, trongnhiều năm (từ 1995- 2015), ngã cao là nguyên nhân gây tử vong hàng đầutrong ngành xây dựng Trung bình có 362 vụ ngã chết người xảy ra mỗi năm,với xu hướng gia tăng Những nguy cơ gây ra nhiều chấn thương liên quanđến ngã cao nhất có thể kể đến: các mặt không được bảo vệ, khe hở trêntường và lỗ trên sàn, xây dựng giàn che không đúng cách, các thanh thép nhô

ra không được bảo vệ, sử dụng sai thang di động [16]

Báo cáo của Khoa Môi trường và sức khỏe nghề nghiệp, đại họcWashington (Mỹ) cho thấy, người lao động làm việc trên các công trình xâydựng thường xuyên tiếp xúc với tiếng ồn có cường độ trung bình là 115dB,trong khi đó, giới hạn cường độ tiếng ồn cho làm việc 8 tiếng là 85dB Nghiêncứu của Joseph A.Lamonica và cộng sự cũng cho kết quả tương tự về cường

độ tiếng ồn tại vị trí máy khoan bằng khí nén trong hầm: 112 – 121 dBA; Xevận chuyển chạy dầu Diesel: 88 – 100 dBA; Gầu xúc chạy dầu Diesel 91 –

107 dBA; Xe tải (trọng tải 15 tấn) 89 – 101 dBA

Phơi nhiễm tiếng ồn đủ lớn và đủ lâu có thể làm tổn thương các dây thầnkinh ở tai trong, gây ra vĩnh viễn và không thể phục hồi mất thính lực Thiệthại này có thể do tiếp xúc nhiều lần với các mức trên 85 dBA (chẳng hạn nhưnhiều năm làm việc xung quanh tiếng ồn xây dựng không có thiết bị bảo vệthính giác), hoặc chỉ từ một lần tiếp xúc ở trên 140 dBA Người lao động bịkhiếm thính thường trở nên xã hội bị cô lập vì họ không thể giao tiếp dễ dàngvới người khác Họ cũng có thể không nghe thấy tín hiệu cảnh báo, có thể dẫn

Trang 18

đến tai nạn và chấn thương Các kết quả đo cho thấy rằng hầu hết các nhiệm

vụ xây dựng và các công cụ tạo ra mức độ tiếng ồn yêu cầu sử dụng thiết bịbảo vệ thính giác Tuy nhiên, trong nhiều tình huống người lao động hiếm khihoặc không bao giờ sử dụng thiết bị bảo vệ thính giác [17]

Tam et al (2004), Haslam và cộng sự (2005), Aksorn và Hadikusumo(2008), Cheng và cộng sự (2010), Ismail và cộng sự (2012), và Leung et al.(2012) đã phân nhóm và phân loại nguyên nhân dẫn đến các rủi ro tai nạntrong lĩnh vực xây dựng bao gồm:

- Hành vi không an toàn của người lao động

- Điều kiện làm việc không an toàn

- Người lao động tiếp xúc với các nguồn thương tích nguy hiểm

Theo Heinrich, tai nạn dẫn đến thương tích trên công trường xây dựngkhi người lao động thực hiện các hành vi không an toàn hoặc có các nguy cơtrực tiếp về cơ học hoặc vật lý liên quan đến công việc Ông cho rằng cáchành vi và điều kiện không an toàn có thể được quản lý bởi các hỗ trợ của tổchức và xã hội như đào tạo về an toàn, và số vụ tai nạn có thể được giảm thiểubằng cách nhận thức và loại bỏ các hành vi không an toàn (ví dụ các yếu tốliên quan đến con người) và các điều kiện không an toàn (ví dụ: môi trường -các yếu tố liên quan) Dựa trên sự công nhận này, đã có nhiều nghiên cứuđáng kể khám phá các yếu tố con người, môi trường và cơ học góp phần gây

ra tai nạn xây dựng Hinze và cộng sự (1998) nhấn mạnh rằng bước đầu tiên

để phòng ngừa tai nạn là sự hiểu biết về các yếu tố nguy cơ góp phần gây ratai nạn, phân tích sự phân bố của các trường hợp tử vong chính bao gồm ngã,

va chạm, điện giật và cán, kẹp, cuốn, đổ sập công trình, vùi lấp

Choudhry và Fang (2008) điều tra lý do tại sao công nhân xây dựng thamgia vào hành vi không an toàn trong ngành xây dựng và xác định các lý dokhác nhau dẫn đến hành vi không an toàn của người lao động thông qua mộtloạt các cuộc phỏng vấn Các yếu tố được xác định bao gồm sự thiếu hiểu biết

và thiếu kiến thức về an toàn, không tuân thủ các quy trình an toàn và thái

Trang 19

độ đối với an toàn bao gồm không trang bị bảo hộ cá nhân (PPE), điều kiệnlàm việc không an toàn, thiếu kỹ năng hoặc đào tạo an toàn và người lao độngkhông nhận biết được tình trạng mất an toàn trong quá trình làm việc.

Garrett và Teizer (2009) đã nghiên cứu tương tự về các yếu tố tổ chức vàgiám sát của con người cũng như tình trạng tinh thần và thể chất của ngườilao động mà cuối cùng dẫn đến lỗi của con người trên công trường, đề xuấtmột khuôn khổ đào tạo nhận thức lỗi của con người và thảo luận về tiềm năngkiểm soát an toàn tại công trường

Suraji và cộng sự (2001) nhấn mạnh sự tương tác phức tạp của các yếu tốtrong nguyên nhân tai nạn và đề xuất một mô hình nhân quả tai nạn thựcnghiệm Họ đã xác định các nhóm yếu tố lân cận khác nhau và đặc điểm sựkiện trong nguyên nhân tai nạn, bao gồm quy hoạch xây dựng không phù hợp,vận hành hoặc kiểm soát xây dựng không phù hợp, điều kiện địa điểm khôngphù hợp, điều kiện mặt bằng không phù hợp, môi trường ồn ào hoặc đông đúckhông thể chấp nhận được và hành động vận hành không phù hợp Tầm quantrọng của PPE và các thiết bị an toàn, kiểm tra địa điểm thích hợp, môi trườnglàm việc an toàn, văn hóa an toàn, đào tạo an toàn và giám sát cũng đã đượcchứng minh qua nhiều nghiên cứu

Điều kiện làm việc của người lao động trên các công trình xây dựng ởmỗi quốc gia có đặc điểm khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó cócác yếu tố về quy định pháp luật, quản lý và sự tuân thủ

1.1.1 Tại Mỹ

Mỹ thành lập Cục quản lý sức khỏe và an toàn lao động (OHSA) đểquản lý về An toàn vè sức khỏe nghề nghiệp cho người lao động OSHA liênbang có 10 văn phòng khu vực và 85 văn phòng khu vực địa phương Về quản

lý an toàn trên các công trình xây dựng, họ có khoảng 2.100 thanh tra viênchịu trách nhiệm về sức khỏe và an toàn của 130 triệu công nhân, làm việc tạihơn 8 triệu công trường trên toàn quốc - tức là cứ 59.000 công nhân thì cókhoảng một thanh tra viên Điều kiện lao động khắc nghiệt trên các công trình

Trang 20

xây dựng là yếu tố cơ bản đưa lĩnh vực này là một trong những lĩnh vực có tỉ lệtai nạn lao động cao chiếm 21,1% tổng số vụ tai nạn lao động năm 2018 Cácyếu tố gây chấn thương cao nhất có thể kể đến là ngã cao (33,5%), điện giật(8,5%), va đập (11,1%) và cuốn, cán hoặc thiết bị, vật liệu đổ sập (5,5%) [19].

1.1.2 Tại Ấn Độ

Nhiều lĩnh vực công nghiệp xây dựng ở Ấn Độ đang gặp phải các vấn

đề kinh niên như quản lý lực lượng lao động kém, điều kiện lao động, công cụ

và phương pháp làm việc không phù hợp Nhiều nhà nghiên cứu đã xác địnhnhững vấn đề này là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất xây dựng và hiệu suấtlàm việc tổng thể của công nhân Một nghiên cứu xác định mức độ ảnh hưởngcủa 30 yếu tố đến hiệu suất công việc xây dựng ở Ấn Độ đã được triển khaithực hiên và được phân loại theo ba cách phân loại chính sau: (a) các yếu tốliên quan đến con người / lao động; (b) các yếu tố liên quan đến nhiệm vụ; và(c) các yếu tố liên quan đến thiết bị / dụng cụ dựa trên các nhóm tuổi và nghềnghiệp khác nhau của công nhân xây dựng từ đó phát triển các hệ thống nhằmnâng cao và cải thiện sức khỏe, an toàn cho công nhân xây dựng nhằm quản

lý hiệu quả lực lượng lao động xây dựng và đạt được mức chất lượng cạnhtranh và một dự án hiệu quả về chi phí [18]

1.1.3 Tại Malaysia

A Ayob và các công sự trong một nghiên cứu về Chấn thương nghềnghiệp gây tử vong trong ngành xây dựng đã nhận định lĩnh vực xây dựng cónhiều tai nạn và thương tích chết người Những vụ tai nạn lao động này donhiều yếu tố gây ra, chẳng hạn như thiếu sự giám sát; thiếu tuân thủ kỹ thuậtlàm việc an toàn; không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân; và không tuânthủ việc sử dụng an toàn các công cụ, phương tiện và máy móc Các tác giả đã

sử dụng dữ liệu thứ cấp 2013–2016 từ Cục An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp

và Tổ chức An sinh Xã hội, nghiên cứu này đã thực hiện một cuộc khảo sátthăm dò mô tả để xác định các thương tích nghề nghiệp gây tử vong phổ biếnliên quan đến lĩnh vực xây dựng Malaysia, cũng như các nguyên nhân và tác

Trang 21

nhân ngẫu nhiên của chúng Kết quả chỉ ra rằng xây dựng, tiếp theo là sảnxuất, nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác gỗ và ngư nghiệp, là những ngànhnghề rủi ro nhất ở Malaysia Tỷ lệ thương vong nghề nghiệp cao nhất đượcbáo cáo ở Sarawak, Johor và Selangor Các bang này chiếm khoảng 13,33%đến 18,18% tổng số vụ tai nạn lao động chết người Ở những bang này, việcthiếu các quy định về an toàn và sức khỏe và việc thực hiện quản lý rủi rokém đã làm tăng nguy cơ tai nạn lao động Ngã từ độ cao chiếm 46,28% số cachấn thương nghề nghiệp chết người Hơn nữa, bị đè bởi các đồ vật, vật liệuhoặc phương tiện giao thông chiếm từ 9,09% đến 17,36% các trường hợpthương tích nghề nghiệp chết người.

Thực tiễn xây dựng hiện tại trong ngành xây dựng Malaysia đóng mộtvai trò quan trọng trong thành công của các dự án Các thách thức thường xảy

ra trong lĩnh vực năng suất, hiệu quả, chất lượng và việc phân phối công việc,việc thiết lập quy hoạch tổng thể ngành xây dựng (CIMP) đã dẫn đến các sángkiến trong việc thực hiện cách tiếp cận sáng tạo thông qua Hệ thống Tòa nhàCông nghiệp hóa (IBS) hướng tới môi trường xây dựng bền vững Theo Isnin

và cộng sự, (2012), môi trường xây dựng bền vững đòi hỏi trình độ cao về kỹnăng và kỹ thuật kỹ thuật Vì vậy, IBS là một chiến lược chuyển đổi ngànhxây dựng thành một ngành công nghiệp hóa liên quan đến các cấu kiện đúcsẵn với các kỹ năng và kỹ thuật cao Điều này đòi hỏi cần phải cải thiện điềukiện lao động và hiện đại hóa máy thiết bị cũng như nâng cao trình độ, sự hiểubiết của người lao động

1.1.4 Tại Hàn Quốc

Trong những thống kê mới đây, tỷ lệ tai nạn lao động và bệnh nghềnghiệp nói chung ở Hàn Quốc đang giảm, điều này có mối liên hệ đáng kể vớiviệc quốc gia này triển khai các hoạt động nghiên cứu cải thiện ĐKLV đểphòng chống các rủi ro nghề nghiệp

Năm 2015, Seokho Chi và các cộng sự đã nói rằng Các hành vi không

an toàn của người lao động (ví dụ: đánh giá sai, vận hành không phù hợp) trở

Trang 22

thành nguyên nhân chính gây ra tai nạn xây dựng khi họ kết hợp với điều kiệnlàm việc không an toàn (ví dụ có các mối nguy cháy, nổ, thời tiết,…) trêncông trường Mục tiêu bao quát của nghiên cứu được trình bày trong bài báonày là khám phá các cách để ngăn chặn các hành vi mất an toàn của người laođộng và giảm thiểu khả năng xảy ra tai nạn xây dựng Nghiên cứu đặc biệtnhằm mục đích tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố rủi ro liên quan đếnhành vi của con người và điều kiện lao động, xác định các yếu tố hành vi vàtình trạng đáng kể và tác động của chúng đối với các loại tai nạn lao động cáctác giả đã phân tích tác động của các điều kiện lao động khác nhau và hành vicủa người lao động đối với loại tai nạn và mức độ thương tích hầu hết cácyếu tố nguy cơ có liên quan đến loại tai nạn và mức độ thương tích Các giátrị này được sử dụng để lọc ra các yếu tố rủi ro ít quan trọng hơn không liênquan đến loại tai nạn và mức độ nghiêm trọng của thương tích Hành độnglàm việc bắt buộc, các vật thể hoặc cấu trúc xung quanh, các công cụ hoặcthiết bị cần thiết, PTBVCN hoặc thiết bị an toàn, hoạt động và kiểm tra cóliên quan chặt chẽ đến cả loại tai nạn và mức độ thương tích Các yếu tố này

có các đặc điểm cụ thể về hoạt động (ví dụ: công việc lợp mái và công việcđiện có các hành động làm việc khác nhau, điều kiện làm việc, các công cụ vàthiết bị cần thiết và quy trình kiểm tra) và do đó có thể liên quan chặt chẽ đếnloại tai nạn và mức độ thương tích Ví dụ, công việc lợp mái có thể liên quanđến nhiều cú ngã do tai nạn độ cao và công việc điện có thể liên quan đếnnhiều cú sốc điện hơn Công việc điện có thể có khả năng tử vong cao hơn sovới ngã do tai nạn trên cùng độ cao do điện áp cao dẫn đến tử vong Thứ hai,các điều kiện làm việc bên dưới môi trường làm việc, bao gồm tiếp xúc vớikhí / lỏng / rắn, nhiệt độ / áp suất / mức độ tiếng ồn và thời tiết hoặc ánh sáng,

có mối liên hệ chặt chẽ với loại tai nạn vì những yếu tố này có thể liên quanchặt chẽ hơn đến các tai nạn liên quan đến sức khỏe con người, chẳng hạn nhưcác vấn đề về đường hô hấp, nuốt hoặc hấp thụ; suy hô hấp; và đốt cháy Phánđoán hoặc nhận thức của con người cũng được xác định là một yếu tố

Trang 23

rủi ro chính góp phần vào các loại tai nạn khác nhau, có lẽ do đặc tính của nóquyết định hành vi và quy trình làm việc Tuy nhiên, phân tích thống kêkhông cho thấy mối quan hệ của nó với mức độ nghiêm trọng của chấnthương Ngược lại, thông tin phân công nhiệm vụ là yếu tố duy nhất ảnhhưởng đến mức độ thương tật chứ không phải loại tai nạn Những nhân viênlàm những công việc được giao không thường xuyên có xu hướng bị thươngnặng hơn những công nhân làm những công việc thường xuyên (miễn lànhững công nhân đó không đánh giá thấp những mối nguy hiểm trong môitrường làm việc xung quanh).

1.1.5 Tại các nước EU

Khái niệm điều kiện làm việc đã được mở rộng khi một số khía cạnhcủa cuộc sống lao động trở nên rõ ràng hơn, được loại bỏ khỏi “tính tự nhiêncủa công việc” và được xem xét Các nước Châu Âu có cam kết mạnh mẽ đốivới cải thiện ĐKLV đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng Các hoạt động cải thiệntập trung vào các ĐKLĐ có tác động tiêu cực đến sức khỏe, an toàn, sự hàilòng trong công việc, các điều kiện hỗ trợ cho việc tạo lập một công việc tốt,chất lượng cao cũng được quan tâm ĐKLV và chất lượng công việc được đềcao trong chương trình nghị sự chính sách của Châu Âu Hiệp ước về chứcnăng của Liên minh Châu Âu (TFEU) nhấn mạnh các mục tiêu “Thúc đẩyviệc làm, cải thiện điều kiện sống và làm việc” Các chính sách về sức khỏe

và an toàn của các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu từ lâu đã tìm cáchloại bỏ hoàn toàn hoặc thay thế những rủi ro, đặc biệt là những rủi ro về vật

lý, hóa học có khả năng gây hại đến sức khỏe NLĐ Tuy nhiên những tiến bộ

về kĩ thuật và công nghệ mới đã không loại bỏ được những rủi ro này khỏimôi trường làm việc

Theo nghiên cứu của hiệp hội cải thiện điều kiện sống và làm việc(EUROFOUND) năm 2016, trong 10 năm tỉ lệ người lao động mắc các chứngrối loạn cơ xương khớp tăng cao, giờ đây chúng ảnh hưởng đến hàng triệuNLĐ và tiêu tốn của NSDLĐ hàng tỷ euro Trong nghiên cứu có thống kê

Trang 24

khoảng một nửa số nhà quản lý, chuyên gia và kỹ thuật viên (Phân loại nghềnghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế ISCO) nói rằng họ thực hiện các công tác lặp đilặp lại với bàn tay hoặc cánh tay trong ít nhất một phần tư thời gian làm việc.ngoài ra hơn 25% trong số họ nói rằng phải chấp nhận những vị trí đau đớn hoặcmệt mỏi trong ¼ thời gian làm việc Trong khi đó, NLĐ trong lĩnh vực dịch vụ

có mức độ tương đương hoặc cao hơn trung bình ở châu Âu Nghiên cứu cũng đãchỉ ra sự gia tăng khối lượng công việc và đặc biệt là cường độ làm việc Đặcbiệt trong thời gian dài, những ràng buộc mới này có những hậu quả bất lợi chosức khỏe và tinh thần của người lao động Theo khảo sát của EWCS, 37% nhânviên làm việc 'đúng thời hạn' và 34% làm việc 'với tốc độ cao' trong hơn 3/4 thờigian làm việc của họ (con số không giảm kể từ năm 2005) Ngoài ra, nhiềunghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng những người lao động phải làm việc vớicường độ cao có nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe (bệnh tim mạch, rối loạn cơxương khớp, trầm cảm, v.v.), đặc biệt là khi họ phải đáp ứng nhiều nhu cầu trongkhi khả năng tự chủ hạn chế và ít được hỗ trợ

Tại Anh, một điều tra chỉ ra mức độ nhận biết của NLĐ về mối nguyhiện tại trên ba dự án xây dựng của Vương quốc Anh Chỉ tối đa 6,7% cáctuyên bố phương pháp được phân tích trong các dự án này được quản lý đểxác định tất cả các mối nguy đáng lẽ đã được xác định, dựa trên kiến thứchiện tại Mức độ nhận dạng nguy hiểm tối đa được tìm thấy là 0,899 89,9%đối với dự án xây dựng trong ngành công nghiệp hạt nhân, 0,728 72,8% đốivới dự án trong ngành đường sắt và 0,665 66,5% đối với dự án trong cả ngànhđường sắt và ngành xây dựng nói chung Kết quả chỉ ra rằng mức độ nhận biếtmối nguy còn xa lý tưởng Một cuộc thảo luận về lý do của mức độ nhận dạngnguy cơ thấp chỉ ra các rào cản chính Điều này dẫn đến việc trình bày mộtcông cụ CNTT Công nghệ thông tin để quản lý an toàn dự án xây dựng Total-Safety và đặc biệt, một mô-đun trong Total-Safety được thiết kế để giúp nhânviên xây dựng phát triển các tuyên bố phương pháp với mức độ nhận dạngmối nguy được cải thiện

Trang 25

Tại Đức, nhiều nghiên cứu chỉ ra những tương tác phức tạp giữa điều kiệnlao động và việc làm và sức khỏe Căng thẳng về thể chất và tâm lý tại nơi làmviệc có liên quan mật thiết với sự xuất hiện của bệnh tật, tai nạn tại nơi làm việc,mất khả năng lao động nghỉ hưu sớm, và cũng có thể là nguyên nhân gây tửvong Vì hậu quả sức khỏe của họ mà nghỉ tại nơi làm việc và các chi phí kinh tếliên quan, việc cải thiện điều kiện lao động trong khuôn khổ an toàn và vệ sinhlao động quản lý sức khỏe nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng.

Các số liệu thống kê tại Cộng đồng Châu Âu cho thấy trong số 115triệu người lao động của Cộng đồng Châu Âu đã có hơn 10 triệu người bị tainạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp hằng năm Số người chết vì tai nạn laođộng là hơn 8000 người/năm Thiệt hại kinh tế khoảng 26 tỉ euro/năm Ở Đức,ĐKLĐ xấu gây tổn thất trị giá 52 tỉ đê mác/năm Ở Anh, chi phí cho người bịtai nạn bằng 4-8% tổng lợi nhuận của các công ty thương mại và công nghiệpAnh

Như vậy, các nghiên cứu về điều kiện làm việc ở các công trình xâydựng trên thế giới đã được triển khai thực hiện Nhìn chung, hầu hết điều kiệnlàm việc ở các công trình xây dựng có nhiều yếu tố nguy hiểm, có hại có thểgây rủi ro cho người lao động

1.2 Tổng quan các nghiên cứu của Việt Nam về điều kiện làm việc

Trang 26

27%), cơ xương (14-19%), bệnh bụi phổi silic (0,9%), điếc nghề nghiệp(0,3%) Tai nạn lao động (TNLĐ) trong nghề thi công xây lắp chiếm 4,8-6,3% Mức độ tổn thương chung loại rất nhẹ chiếm cao nhất 40-80%, mức độrất nặng có tỷ lệ 8,3-11,1% [9].

Theo khảo sát của Viện Khoa học An toàn và vệ sinh lao động về tìnhhình sức khỏe và bệnh nghề nghiệp (BNN) của 550 CN tại 28 công trườngxây dựng ở 3 miền Bắc, Trung và Nam, kết quả cho thấy: Dù thời gian làmviệc trung bình 8,19 giờ/người/ngày, nhưng có đến 24,5% CN cảm thấy căngthẳng trong giờ làm việc Các triệu chứng đau mỏi thường gặp trong khi làmviệc là mỏi mệt (40,79%), đau đầu (28,57%), đau thắt lưng (19,25%) vàchóng mặt (17,06%) Tỉ lệ CN cảm thấy mệt mỏi sau giờ làm việc chiếm23,96% CN, đặc biệt có 23,03% cảm thấy nhanh mệt hơn so với vài nămtrước Các triệu chứng trên không chỉ bắt nguồn từ cường độ làm việc căngthẳng, mà còn do CN cùng lúc phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại như: bụi(70,3%), tiếng ồn (70,1%) và nóng (66,2%), chưa kể các yếu tố khác nhưphóng xạ, hóa chất

Nghiên cứu của Trần Như Phong và cộng sự (2017) đã nhận địnhngành xây dựng là ngành có ĐKLĐ đặc thù, khó khăn, phức tạp, nguy hiểm

và độc hại, người lao động phải làm việc trên cao, dưới sâu, sản phẩm đadạng, địa bàn lao động luôn thay đổi Đó là nguyên nhân gây ảnh hưởngkhông nhỏ đến sức khỏe người lao động, đặc biệt gây tai nạn lao động vàbệnh nghề nghiệp cho người lao động, ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả laođộng Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp phỏng vấn; hồi cứu tổng hợp vàphân tích số liệu 23 cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng và thi công xây lắp trên

6 tỉnh và thành phố để đánh giá được thực trạng điều kiện lao động ngành xâydựng dân dụng Kết quả cho thấy các cơ sở có tỷ lệ mẫu đo môi trường lao

động vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) khá cao Các mẫu đo vi khí hậu đềuvượt TCCP với tỷ lệ trung bình như sau: Nhiệt độ 0,5-1,5%, độ ẩm 8,7-33,3%

và tốc độ gió 25-38,7% Tư thế lao động gò bó, đơn điệu cộng thêm sự nặng

Trang 27

nhọc, căng thẳng trong công việc khiến cho NLĐ cảm thấy mệt mỏi, đau nhức

cơ, gây giảm năng suất lao động, ảnh hưởng tới sức khỏe

Năm 2018, Nguyễn Anh Tuấn cùng các cộng sự đã nghiên cứu và xây

dựng “Bộ công cụ đánh giá và đề xuất giải pháp kiểm soát nguy cơ tai nạn lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng” để đáp ứng những đổi mới

trong công tác xây dựng nhà cao tầng ở Việt Nam ngày nay Nhìn chung côngtác quản lý ATVSLĐ nói chung, kiểm soát ĐKLĐ nói riêng tại các cơ sở sảnxuất cũng như các công trường xây dựng còn nhiều bất cập Việc xây dựngđược phương pháp nhận dạng và đánh giá nguy cơ tai nạn lao động còn nhiềuhạn chế Áp dụng công nghệ kết hợp với những kết quả nghiên cứu thông quaphương pháp phù hợp điều kiện thực tế đã góp phần vào công cuộc bảo vệ sứckhỏe, an toàn cho NLĐ, góp phần ổn định và phát triển hoạt động sản xuất[4]

Trang 28

Tiểu kết chương 1

Các nghiên cứu về điều kiện làm việc trên các công trường xây dựng đãđược nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam Hầu hết các nghiên cứuđều chỉ ra rằng, điều kiện làm việc của người lao động trên các công trình xâydựng rất khó khăn, phức tạp, nguy hiểm và độc hại và đặc thù Người laođộng phải làm việc ngoài trời, trên cao, dưới sâu, sản phẩm đa dạng, địa bànlao động luôn thay đổi có nhiều yếu tố rủi ro gây chấn thương và bệnh nghềnghiệp cho người lao động

Các điều kiện làm việc khắc nghiệt như làm việc trên cao, trong các hốsâu, không gian kín, làm việc ngoài trời, làm việc với các máy thiết bị lớn,tiếng ồn cao, độ rung lớn, ánh sáng không đảm bảo, nồng độ bụi và hơi khíđộc luôn lớn hơn tiêu chuẩn cho phép là những đặc trưng của ngành xâydựng Do vậy, tai nạn lao động trong lĩnh vực xây dựng luôn chiếm tỉ lệ caonhất trong các lĩnh vực

Mỗi quốc gia có đặc trưng riêng về điều kiện làm việc trong ngành xâydựng Tuy nhiên trong xu thế toàn cầu hóa, hầu hết các quốc gia đều hướngtới việc cải thiện thiện điều kiện lao động trong lĩnh vực xây dựng để giảmthiểu các rủi ro tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động

Trang 29

Chương 2

THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC TẠI DỰ ÁN KHU NHÀ Ở CÁN BỘ CHIẾN SĨ CỤC CẢNH SÁT BẢO VỆ VÀ HỖ TRỢ TƯ PHÁP

– BỘ CÔNG AN 2.1 Giới thiệu về dự án

Dự án “Khu nhà ở cán bộ chiến sỹ Cục Cảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tưpháp -Bộ Công an” với tên thương mại là “Dự án The Park Home ” ở địa chỉ ôđất D12 Khu đô thị mới Cầu Giấy, Phường Dịch Vọng, Quận Cầu Giấy,Thành phố Hà Nội Chủ đầu tư dự án là công ty cổ phần Đầu tư và Phát triểnNhà Hà Nội số 52 – Handico 52 Tổng diện tích dự án khoảng 4.073m2 Dự

án có quy mô gồm tòa căn hộ chung cư 29 tầng (2 tầng thương mại + 27 tầngcăn hộ) với 2 tầng hầm

Hình 2.1: Vị trí dự án

(Nguồn: [1])

Trang 30

Hình 2.2: Tổng quan dự án

(Nguồn: [1])

Sản phẩm của dự án là công trình xây dựng nhà cao tầng nên hầu hếtkết cấu trên mặt đất được cấu tạo bằng thép Các cấu kiện vật tư được giacông tại nhà máy và vận chuyển đến dự án để thi công và lắp đặt Trong phạm

vi nghiên cứu cứu luận văn, tác giả chỉ đánh giá công tác thi công Bê tông cốtthép phần thân thô và trát mặt ngoài, hạng mục chính của quá trình xây dựng nàybao gồm:

Trang 31

Thời điểm hiện tại dự án đang đi vào giai đoạn thi công cao điểm để kịptiến độ bàn giao cho chủ đầu tư đúng thời hạn Tổng số NLĐ làm việc tại dự

án khoảng 200 người Công việc được tiến hành chủ yếu vào ban ngày từ 6hsáng đến 17h hàng ngày

2.2 Đặc điểm lao động tại dự án

2.2.1 Lực lượng lao động

Tại dự án hiện có khoảng 200 công nhân làm việc trên công trường baogồm cả nam và nữ ở nhiều độ tuổi khác nhau Trong đó, nam giới chiếm 73%

và nữ giới chiếm 27% Công việc chủ yếu cho lao động nữ chủ yếu là dọn dẹp

vệ sinh, sắp xếp vật tư, một số công việc liên quan đến gia công, gia công lắpdựng thép xây dựng Tuy nhiên dự án hiện đang có xu hướng gia tăng sốlượng lao động nữ, họ còn được phân công làm các công việc cho nam giới.Các công việc này có độ khó cao hơn và cần nhiều kĩ năng hơn như làm việctrên cao, làm việc các khu vực mép biên sàn thao tác, thường tiếp xúc với hóachất công nghiệp độc hại… Điều này không hề tốt cho sức khỏe và còn ảnhhưởng đến khả năng sinh sản của phụ nữ

2.2.2 Độ tuổi lao động

Độ tuổi của người lao động làm việc tại dự án nằm trong khoảng từ

18-60 tuổi chiếm 69% Dự án có sử dụng một số lao động cao tuổi (trên 60 tuổi)chiếm 5% Tuy nhiên, qua điều tra, tại dự án có sử dụng lao động vị thành

niên (lao động chưa đủ 18 tuổi) chiếm 10% Đây là việc làm sai quy định củaPháp luật Tuy biết rõ là làm trái pháp luật nhưng NSDLĐ lại bỏ qua vì lúctiến độ khi được đẩy lên cao, nhân sự là hết sức cần thiết Mặt khác NLĐcũng muốn được làm việc nên đã tự nguyện, sẵn sàng cam kết bằng lời nóivới NSDLĐ mà không cần đến hợp đồng lao động Chính điều này đã dẫn đếnngười lao động không có được ĐKLV phù hợp sức khỏe, thể trạng, khôngđược hưởng những quyền lợi đáng có

Trang 32

Bảng 2.1 Độ tuổi người lao động làm việc tại dự án

Trong độ tuổi lao động đối với

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ về độ tuổi người lao động tại dự án

(Nguồn: Tác giả xây dựng)

2.3 Thực trạng điều kiện làm việc tại dự án

Các dự án xây dựng nói chung và dự án Khu nhà ở cán bộ chiến sĩ CụcCảnh sát bảo vệ và Hỗ trợ tư pháp – Bộ Công an nói riêng đều có điều kiệnlàm việc khắc nghiệt Lực lượng trực tiếp tham gia làm việc và tạo ra sảnphẩm là công nhân Điều kiện làm việc mà tác giả đề cập đến trong luận văndành cho người lao động, cụ thể là công nhân là chính

Trang 33

Trên công trường dự án có rất nhiều hạng mục công việc khác nhau Vìmỗi công việc lại có tính chất và vị trí làm việc riêng nên NLĐ được trang bịcác công cụ và phương tiện lao động cho phù hợp Đó có thể là các công cụcầm tay (búa, xẻng, đuôi chuột, máy cắt cầm tay, máy khoan, máy mài ) đếncác máy móc hạng nặng, từ thô sơ đến phức tạp (Máy dập, máy uốn sắt, máycán tôn, máy cắt sắt ) Hầu hết các loại máy dùng tại dự án thường là máymua lại cũ, được sửa chữa nhiều lần nhằm mục đích hạn chế chi phí cho sảnxuất nên đã được tân dụng tối đa Ở các máy thiết bị có mối nguy hiểm từ bộphận truyền động, chuyển động Bên cạnh đó còn có mối nguy đến từ dòngđiện khi làm việc với máy, thiết bị sử dụng điện, hóa chất công nghiệp độc hại(Chất tẩy rửa – CN vệ sinh công nghiệp), vật liệu gây cháy nổ (oxy, khígas ) Các mối nguy hiểm còn đến từ vật rơi, lỗ mở, hố sâu, sàn trơn trượt…Đối với NLĐ như lắp dựng coppha, lắp đặt kết cấu thép, lắp đặt vận hànhmáy, thiết bị phải làm việc trên cao có không gian chật hẹp, tư thế làm việcbất lợi NLĐ làm việc liên quan đến cơ khí, vận hành máy thiết bị hạng nặngchịu sức ép về tiếng ồn lớn thường xuyên Công việc của NLĐ chủ yếu diễn

ra ngoài trời nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các điều kiện khí hậu có đặcđiểm nắng nóng nhiệt độ cao vào mùa hè và buốt lạnh mưa phùn mùa đông

Vấn đề tâm sinh lý của NLĐ cũng là yếu tố của điều kiện lao động cầnđược quan tâm

2.3.1 Thời gian làm việc

Tiến độ thi công của công trường rất gấp rút vậy nên luôn có sự thúc épcác nhà thầu phụ, tổ đội làm việc nhằm đạt được tiến độ theo kế hoạch Vậynên việc tăng ca tối, tăng ca đêm, tăng cường độ làm việc và giảm khả nănggiám sát ATVSLĐ để đạt tiến hộ của một số hạng mục đã tạo nên khó khăncho các yêu cầu phải đảm bảo ATVSLĐ trong công việc Đồng nghĩa đó, đẩyngười lao động vào điều kiện làm việc bất lợi, ảnh hưởng trực tiếp đến antoàn, sức khỏe Trong 100 người được khảo sát, chỉ có 23 người (23%) xácnhận là làm việc 8 tiếng 1 ngày Đa phần đều làm trên 9 tiếng và có những

Trang 34

người phải làm đến 12 tiếng cho những ngày đổ bê tông, còn thời gian trung

bình phần đa số công nhân phải làm là 10 tiếng/ngày

Bảng 2.2 Thống kê giờ làm việc trong ngày của người lao động Thời gian

làm việc trung bình trong ngày (Số phiếu khảo sát: 100)

(Nguồn: Điều tra của tác giả)

2.3.2 Kết quả quan trắc môi trường lao động

Do NLĐ làm việc tại dự án phải thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố

có hại trong quá trình làm việc nên hằng năm dự án đều tổ chức quan trắc môi

trường lao động (sau đây sẽ viết tắt là ĐTMLĐ) để định kì đo kiểm các yếu tố

có hại phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất Kết quả được thể hiện ở

Bảng 2.3:

Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả quan trắc môi trường lao động năm 2020

Số mẫu Số mẫu

không Yếu tố quan Giới hạn cho Tổng số đạt giới

hạn cho phép

Trang 35

Số mẫu Số mẫu

không Yếu tố quan Giới hạn cho Tổng số đạt giới

hạn cho phép

- Bụi hữu cơ và

7 Bụi toàn phần vô cơ: 8 mg/m

3

- Bụi oxit sắt:

4mg/m3

- Bụi hữu cơ và

8 Bụi hô hấp vô cơ: 4 mg/m

3

- Bụi oxit sắt: 2mg/m3

(Nguồn: [2])

Công tác quan trắc môi trường lao động định kì được dự án thực hiện

nhằm mục đích đáp ứng theo đúng yêu cầu của pháp luật cũng như là để phát

hiện ra các yếu tố có khả năng tác động xấu đến NLĐ, từ đó đề ra các giải

pháp khắc phục kịp thời Tuy nhiên công tác đo chỉ được tiến hành đo kiểm

Trang 36

nhà cao tầng, thì tầng nào cũng cần ĐTMLĐ Việc thực hiện khắc phục sauĐTMLĐ để cải thiện môi trường lao động cho công nhân không được thực

Trang 37

hiện triệt để Rất nhiều người lao động gặp các vấn đề về sức khỏe sau mộtthời gian làm việc.

2.3.3 Thực trạng tâm sinh lý của người lao động tại dự án

Tác giả đã tiến hành khảo sát 100 NLĐ làm việc tại dự án về tình hìnhtâm lý, sức khỏe NLĐ Kết quả cho thấy yếu tố tâm lý, sức khỏe NLĐ khithường xuyên phải làm việc tăng ca cũng không tốt Có đến 58% NLĐ đượcphỏng vấn nói rằng luôn cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức, thao tác công việc cũngkém chính xác đẫn đến một số lần gây chấn thương phần mềm như đứt tay, vaquệt, một số trường hợp ngất xỉu do làm việc quá sức Bên cạnh đó hầu hếtcông việc của NLĐ là làm ngoài trời nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các điềukiện khí hậu Với đặc điểm khí hậu của miền bắc là nóng ẩm mưa nhiều vàomùa hè, rất lạnh và khô, thường có mưa phùn vào mùa đông do ảnh hưởngcủa gió mùa đông bắc, NLĐ sẽ cảm thấy mệt mỏi khi làm việc nhiều giờ liền.Tuy đã bố trí cho NLĐ có thời gian nghỉ giữa ca nhưng thời gian không đáng

kể và NLĐ cũng không được phụ cấp tăng ca Người lao động làm việc nặngnhọc độc hại như lái cẩu tháp, thợ hàn chưa được hưởng chế độ theo quy địnhcủa pháp luật (không được khám sức khỏe định kì, bồi dưỡng hiện vật,…).Các sổ sách ghi chép hiện tại chỉ mang tính chất phục vụ công tác thanh tra,kiểm tra của các cơ quan chức năng nhưng không được làm trong thực tế

2.3.4 Thực trạng sức khỏe người lao động

Theo kết quả khảo sát, có đến 1/3 NLĐ cho rằng mình không được bốtrí công việc phù hợp với khả năng và sức khỏe Chỉ vì cần việc làm nên họchấp nhận làm những công việc được giao Chỉ có 83% NLĐ được khám sứckhỏe đầu vào, những NLĐ còn lại không tham gia khám vì không biết côngtrường dự án tổ chức hoặc cảm thấy việc này không cần thiết Tại dự án hiệnnay, công nhân trước khi vào làm việc được dự án tổ chức khám sức khỏe.Công tác khám sức khỏe đầu vào tiến hành muộn do nhiều thủ tục công ty yêucầu cần thông qua, thường khi công nhân vào được 10-15 ngày mới đượckhám Công tác tổ chức không sát sao, chỉ mang tính hình thức Số lượng

Trang 38

người khám đông và thời gian eo hẹp, điều kiện cơ sở vật chất không đầy đủnên NLĐ chỉ được khám lâm sàng một cách sơ sài Bên cạnh đó, khi tổ chứckhám có rất nhiều người không đến và ban chỉ huy không quản lý được hết.Vậy nên việc tầm soát những người đủ sức khỏe mới được cho vào côngtrường làm việc không hiệu quả Trên thực tế có nhiều công nhân sức khỏekhông tốt vẫn làm việc trên công trường Và phân công lao động cũng khôngđạt hiệu quả cao.

Trong cuộc khảo sát, đa số NLĐ cho biết họ phải thực hiện lặp đi lặp lạichuyển động tay (56%), thường xuyên phải mang vác vật nặng (45%), đẩyhoặc kéo phải dùng nhiều lực (64%), làm việc với tư thế cơ thể cúi về phíatrước và ngồi xổm hoặc quỳ trong khi làm việc ở mọi lúc mọi nơi (58%).NLĐ cũng cho biết họ thường xuyên mệt mỏi, 1/3 trong số đó báo cáo đaulưng hoặc cổ, đau vai hoặc cánh tay, cổ tay hoặc bàn tay, đau ở hông, chân,đầu gối hoặc ở bàn chân của họ

18/100 người lao động phải tiếp xúc thường xuyên với hóa chất (33%).Các loại hóa chất đó bao gồm chất khử trùng và dung dịch kháng khuẩn, ximăng, chất tẩy rửa, chất tẩy dầu mỡ, sơn và dung môi

Tiếp xúc với nguy cơ gây bệnh phổ biến nhất là các nguy cơ từ không khí(69%) Các tác nhân nguy hiểm trong không khí bao gồm bụi (66% - bụi từmáy móc, bụi nhôm, bụi gạch, bụi bê tông, bụi bẩn, thạch cao, cát) và khí, hơihoặc khói (24% - khói thải, khói sơn, khói xăng/ dầu diesel)

Tiếng ồn lớn cũng là nguy cơ gây bệnh phổ biến Độ ồn trong dự ánthường xuyên vượt quá yêu cầu cho phép, nguồn là từ máy móc vận hành,hoạt động tháo dỡ lắp dựng coppha 53/100 người cảm thấy khó chịu với tiếng

ồn khi làm việc tại dự án và 9% người trong số đó đã gặp các vấn đề liên quanđến thính giác

Theo khảo sát thực tế về tình hình phơi nhiễm hiện tại trên dự án, NLĐcho biết họ phải thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố có hại: Rung động – 15;Tiếng ồn - 53; Hóa chất – 18, Vi khí hậu – 55; Gánh nặng lao động – 56;

Trang 39

Ánh sáng yếu – 34; Bụi – 35 Con số thống kê cụ thể được tác giả trình bày ở Biểu đồ 2.2.

Biểu đồ 2.2: % người lao động báo cáo phơi nhiễm với yếu tố có hại

(Nguồn: Tác giả xây dựng)

Tác giả đã tiến hành khảo sát trên 100 NLĐ tại dự án về tình trạng sứckhỏe gặp phải sau một thời gian làm việc đã có một số ghi nhận, kết quả đượcthể hiện ở Biểu đồ 2.3:

Biểu đồ 2.3: Biểu đồ về tình hình sức khỏe của người lao động tại dự án

(Nguồn: Tác giả xây dựng)

Trang 40

2.3.5 Thực trạng máy thiết bị, vật tư tại dự án

Ngoài việc phải chịu tác động của các yếu tố có hại, NLĐ cũng chịu sựtác động bởi ĐKLV tiềm ẩn các mối nguy hiểm mà nguyên nhân lại đên từcon người (67%), từ máy móc thiết bị (37%)

Tại dự án sử dụng rất nhiều các loại vật tư, thiết bị Trong đó các cácloại máy được xếp vào loại máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt (cần trụctháp, vận thăng, máy nén khí, máy hàn) Để tiết kiệm chi phí, dự án sử dụngmột số loại máy đã quá hạn sử dụng, có tuổi đời lên đến gần 20 năm, không

có đầy đủ hồ sơ Máy nén khí là hàng trôi nổi trên thị trường không có nguồngốc xuất xứ, không có giấy tờ hợp pháp Vận thăng lồng được kiểm địnhkhông chính xác, nhà sản xuất niêm yết trọng tải 1800kg, tuy nhiên bên kiểmđịnh lại dán kiểm định với trọng tải 2000kg Đã có sự cố chở gạch quá tảitheo kiểm định khiến vận thăng rung lắc, vận hành không bình thường, rấtmay không có hậu quả đáng tiếc xảy ra Các máy, thiết bị cầm tay không sửdụng dây điện công nghiệp, dây điện chằng chịt mối nối và không thay mới,NLĐ thường xuyên ngâm dây dưới nước mà không treo nên móc mà dự áncung cấp Khi sử dụng máy hàn không trang bị bình chữa cháy kèm theo

Hiện nay tại dự án chưa triển khai được mạng lưới an toàn vệ sinh viên

để có thể triển khai các nội dung ATVSLĐ, nhận diện đánh giá rủi ro ngay từbên trong tổ đội

2.3.6 Thực trạng cấp phát và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân

Công tác cấp phát phương tiện bảo vệ cá nhân do bộ phận an toàn phụtrách cũng chưa đạt hiệu mong đợi Trong dự án có nhiều hạng mục công việckhác nhau nên đối với công nhân từng tổ đội việc cấp phát PTBVCN là tùy vịtrí và tính chất công việc Trong 100 người tham gia khảo sát về vấn đề cấpphát PTBVCN thì có tới 52 NLĐ có kiến nghị về việc cấp phát bảo hộ khôngphù hợp kích thước - 23, phương tiện cũ -12, chất lượng kém - 07; Khi hỏngkhông được thay thế -10 (Có những NLĐ có 02 đề xuất, kiến nghị) Số liệuđiều tra được tổng hợp trong Bảng 2.4

Ngày đăng: 02/06/2021, 07:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w