Theo thống kê Việt Nam có khoảng 5.400 làng nghề, trong đó khoảng 2.000 làng nghề truyền thống với hơn 50 nhóm nghề như: sơn mài, gốm sứ, vàng bạc, thêu ren, mây tre đan, dệt, giấy, tran
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Làng nghề và ô nhiễm do làng nghề [1]
Trong những năm gần đây, với các chính sách và cơ chế mới về kinh tế, nhiều ngành nghề truyền thống được phục hồi, nhiều ngành nghề mới được hình thành và phát triển, hình thành các làng nghề tạo tiền đề cho nền sản xuất hàng hóa, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi thay rõ rệt
Vậy, như thế nào là một làng nghề? Một làng được gọi là làng nghề khi hội tụ
- Có một số lượng tương đối các hộ cùng sản xuất một nghề
- Thu nhập do sản xuất nghề mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của làng
Hiện nay toàn quốc có khoảng 5400 làng nghề (số liệu bộ TN&MT), trong đó có hơn 2000 làng nghề truyền thống, giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn, hoạt động ngành nghề ở nông thôn đang phát triển và có tác dụng giải quyết công ăn việc làm tạo ra nguồn thu nhập cho nhiều tầng lớp dân cư
Cũng như đối với các lĩnh vực sản xuất khác, hệ thống chỉ tiêu về hoạt động làng nghề gồm:
- Yếu tố sản xuất (lao động, vốn, nguyên liệu, nhiên liệu, trang bị công nghệ)
- Bảo vệ môi trường sinh thái
- Tác động của ngành nghề đối với các ngành sản xuất khác
Tuy nhiên, có một thực trạng hiện nay là hơn 90% làng nghề trên cả nước vi phạm pháp luật về môi trường, 100% làng nghề Việt Nam bị ô nhiễm ở nhiều mức cấp độ đang trở thành mối hiểm họa tới sức khỏe người dân, tạo áp lực nặng nề cho xã hội
Có giải quyết được bài toán ô nhiễm môi trường thì các làng nghề mới có thể phát triển bền vững, tạo thêm nhiều việc làm cũng như đóng góp cho nền kinh tế đất nước, đồng thời cũng góp phần giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam.
Làng nghề sản xuất giò, chả và các vấn đề môi trường liên quan
1.2.1 Giới thiệu về nghề giò, chả
Nghề làm giò chả là nghề truyền thống vốn có từ lâu và đến nay vẫn tiếp tục duy trì, phát triển Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, nghề làm giò chả ngày càng được các cơ sở cải tiến quy trình sản xuất, tăng năng suất và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, tạo sự yên tâm cho người tiêu dùng
Giò chả là tên gọi của món ăn được làm từ hai nguyên liệu cơ bản là thịt nạc thăn lợn giã nhuyễn kết hợp với nước mắm ngon, gói trong lá chuối và luộc chín Thịnh hành trong ẩm thực Việt Nam từ Bắc xuống Nam như một món ăn vừa phổ thông vừa sang trọng, giò lụa giòn và thơm đậm mùi thịt tươi luộc cộng với mùi đặc trưng của lá chuối tươi được luộc chín
1.2.2 Các vấn đề ô nhiễm môi trường do làng nghề sản xuất giò chả
Trong quá trình sản xuất giò, lượng nước thải từ các công đoạn ướp, nấu… là rất lớn Trong khi đó, phần lớn hộ sản xuất giò ở các làng nghề chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải, việc các hộ làng nghề xả trực tiếp nước thải chưa qua xử lý ra môi trường ngoài việc gây ô nhiễm môi trường sống thì nó còn làm ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nước ngầm, khiến nguồn nước ngầm đang bị dần ô nhiễm Từ đó gây ra những bệnh về da Chưa kể đó, một số nơi còn thêm các chất phụ da độc hại như hàn the gây nên các bệnh về xương Ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất giò chả, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước, là một trong những vấn đề bức thiết cần phải giải quyết hiện nay.
Nước thải và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước
Hiến chương Châu Âu đã định nghĩa nước ô nhiễm như sau: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã”
Theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5980-1995 và ISO 6107/1-1980: nước thải là nước đã được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó
Người ta còn định nghĩa nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng Đó cũng là cơ sở trong việc lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lý
- Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác
- Nước thải công nghiệp (hay còn gọi là nước thải sản xuất): là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu
- Nước thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí
- Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng
- Nước thải đô thị: nước thải đô thị là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã; đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên Đặc trưng của nước thải:
Bằng trực giác, con người có thể nhận thấy được các chất hoà tan trong nước thải có hàm lượng tương đối cao Nước thải có những biểu hiện đặc trưng sau:
Nước thải không trong suốt Các chất rắn không tan tạo ra các huyền phù lơ lửng Các chất lỏng không tan tạo dạng nhũ tương lơ lửng hoặc tạo váng trên mặt nước Sự xuất hiện của các chất keo làm cho nước có độ nhớt
Nước tinh khiết không màu Sự xuất hiện màu trong nước thải rất dễ nhận biết Màu xuất phát từ các cơ sở công nghiệp nói chung và các sơ sở tẩy nhuộm nói riêng Màu của các chất hoá học còn lại sau khi sử dụng đã tan theo nguồn nước thải Màu được sinh ra do sự phân giải của các chất lúc đầu không màu Màu xanh là sự phát triển của tảo lam trong nước Màu vàng biểu hiện của sự phân giải và chuyển đổi cấu trúc sang các hợp chất trung gian của các hợp chất hữu cơ Màu đen biểu hiện của sự phân giải gần đến mức cuối cùng của các chất hữu cơ
Nước không có mùi Mùi của nước thải chủ yếu là do sự phân huỷ các hợp chất hữu cơ trong thành phần có nguyên tố N, P và S Xác của các vi sinh vật, thực vật có Prôtêin là hợp chất hữu cơ điển hình tạo bởi các nguyên tố N, P, S nên khi thối rữa đã bốc mùi rất mạnh Các mùi: khai là Amôniac (NH3), tanh là các Amin (R3N, R2NH-), Phophin (PH3) Các mùi thối là khí Hiđrô sunphua (H2S) Đặc biệt, chất chỉ cần một lượng rất ít có mùi rất thối, bám dính rất dai là các hợp chất Indol và Scatol được sinh ra từ sự phân huỷ Tryptophan, một trong 20 Aminoaxit tạo nên Prôtêin của vi sinh vật, thực vật và động vật
Nước tinh khiết không có vị và trung tính với độ pH = 7 Nước có vị chua là do tăng nồng độ Axít của nước (pH7) Các cơ sở công nghiệp dùng Bazơ thì lại đẩy độ pH trong nước lên cao Lượng Amôniac sinh ra do quá trình phân giải Prôtêin cũng làm cho pH tăng lên Vị mặn chát là do một số muối vô cơ hoà tan, điển hình là muối ăn (NaCl) có vị mặn
Các tính chất đặc trưng của nước thải và nguồn gốc của chúng
Nhiệt độ của nước sẽ thay đổi theo từng mùa trong năm Nước bề mặt ở Việt Nam dao động từ 14,3 - 33,5 oC Nguồn gốc gây ô nhiễm nhiệt độ chính là nhiệt của các nguồn nước thải từ bộ phận làm mát của các nhà máy, khi nhiệt độ tăng lên còn làm giảm hàm lượng Ôxy hoà tan trong nước
Các muối tan trong nước phân li thành các ion làm cho nước có khả năng dẫn điện Độ dẫn điện phụ thuộc vào nồng độ và độ linh động của các ion Do vậy, độ dẫn điện cũng là một yếu tố đánh giá mức độ ô nhiễm nước
- DO (lượng Ôxy hoà tan):
DO là lượng Ôxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật sống dưới nước (cá, lưỡng thể, thuỷ sinh, côn trùng…) DO thường được tạo ra do sự hoà tan từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo Nồng độ Ôxy tự do trong nước nằm khoảng 8-10 mg/l và dao động mạnh phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, sự phân huỷ hoá chất, sự quang hợp của tảo… Khi nồng độ DO thấp, các loài sinh vật trong nước giảm hoạt động hoặc chết Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của các thuỷ vực
- Chỉ tiêu vi sinh vật:
Các phương pháp xử lý nước thải giò, chả
1.4.1 Xử lý nước thải bằng phương pháp cơ học [4]
Phương pháp này được sử dụng để tách các tạp chất không hòa tan và một phần các chất ở dạng keo ra khỏi nước thải Các công trình xử lý bao gồm:
- Thiết bị chắn rác có thể là song chắn rác hoặc lưới chắn rác, có chức năng giữ những rác bẩn thô (bao, gói nilon,giấy.…).nhằm đảm bảo cho máy bơm và các thiết bị xử lý đằng sau hoạt động ổn định Song chắn rác và lưới chắn rác được cấu tạo bằng các thanh song song, các tấm lưới đan bằng thép hoặc tấm thép có đục lỗ… tùy theo kích cỡ các mắt lưới hay khoảng cách giữa các thanh mà ta phân biệt chắn rác thô, trung bình, hay rác tinh Theo cách thức làm sạch thiết bị chắn rác có thể chia làm 2 loại: làm sạch bằng tay và sạch bằng cơ giới
- Thiết bị nghiền rác: Là thiết bị có nhiệm vụ cắt và nghiền vụn rác thành các hạt, các mảnh nhỏ lơ lửng trong nước thải để không làm tắc ống, không gây hại cho bơm Trong thực tế cho thấy việc sử dụng thiết bị nghiền rác thay cho thiết bị chắn rác đã gây nhiều khó khăn cho các công đoạn xử lý tiếp theo do lượng cặn tăng lên như làm tắc nghẽn hệ thống phân phối khí và các thiết bị làm thoáng trong các bể (đĩa, lỗ phân phối khí và dính bám vào các tuabin…) Do vậy phải cân nhắc trước khi dùng
- Bể điều hòa: là bể dùng để khắc phục các vấn đề sinh ra do sự biến động về lưu lượng và tải lượng dòng vào, đảm bảo hiệu quả của các công trình xử lý sau, đảm bảo đầu ra sau xử lý, giảm chi phí và kích thước của các thiết bị sau này Vị trí tốt nhất để bố trí bể điều hòa trong hệ thống xử lý cần được xác định cụ thể cho từng hệ thống xử lý, phụ thuộc vào phương pháp xử lý, đặc tính của hệ thống thu gom cũng như đặc tính của nước thải
- Bể lắng cát: Nhiệm vụ của bể lắng cát là loại bỏ cặn thô, nặng như: cát, sỏi, mảnh thủy tinh, mảnh kim loại, tro, than vụn… nhằm bảo vệ các thiết bị cơ khí dễ bị mài mòn, giảm cặn ở các công đoạn xử lý sau Bể lắng cát gồm có 2 loại là: bể lắng cát ngang và bể lắng cát đứng
- Bể lọc: Lọc được ứng dụng để tách các tạp chất phân tán có kích thước nhỏ và lơ lửng ra khỏi nước thải mà các bể lắng không thể loại được chúng Người ta tiến hành quá trình lọc nhờ các lớp vật liệu lọc, nước thải đi qua các lớp vật liệu lọc này thì những tạp chất lơ lửng được giữ lại còn phần nước tiếp tục đi qua Vật liệu lọc được sử dụng thường là cát thạch anh, than cốc, sỏi, thậm chí cả than nâu, than bùn hoặc than gỗ Việc lựa chọn vật liệu lọc tùy thuộc vào loại nước thải và điều kiện địa phương
1.4.2 Xử lý nước thải bằng phương pháp hóa học và hóa lý [5]
Phương pháp hóa học: đây là phương pháp sử dụng một hoặc vài hóa chất nào đó cho phản ứng với nước thải Chất này tác dụng với các tạp chất bẩn trong nước thải và có khả năng loại bỏ chúng dưới dạng bay hơi, kết tủa hay hòa tan không độc hại hoặc ít độc hại hơn
Phương pháp hóa lý: Là phương pháp xử lý chủ yếu dựa trên các quá trình vật lý gồm các quá trình cơ bản như trung hòa, tuyển nổi, keo tụ, tạo bông, ly tâm, lọc.chuyển khí, hấp phụ, trích ly, cô bay hơi… Tùy thuộc vào tính chất của tạp chất và mức độ cần thiết phải làm sạch mà người ta sử dụng một hoặc một số phương pháp kể trên
- Trung hòa: nước thải thường có pH khác nhau, pH cũng ảnh hưởng một phần tới hiệu quả xử lý nước thải Nếu muốn hệ thống xử lý nước thải hoạt động tốt và ổn định thì ta cần phải tiến hành trung hòa nước thải về khoảng 6.6 – 6.7 Trung hoà bằng cách dùng các dung dịch acid hoặc muối acid, các dung dịch kiềm hoặc oxit kiềm để trung hoà dịch nước thải
- Trao đổi ion: Thực chất là sự trao đổi ion của một quá trình trong đó các ion trên bề mặt của chất rắn trao đổi ion với ion cùng điện tích trong dung dịch khi tiếp xúc với nhau Các chất này gọi là ionit (chất trao đổi ion), chúng hoàn toàn không tan trong nước.Các chất trao đổi ion có thể là các chất vô cơ hoặc hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp
- Hấp phụ: Phương pháp hấp phụ được dùng để loại các tạp chất bẩn hoà tan vào nước mà phương pháp xử lý sinh học cùng các phương pháp khác không loại bỏ được với hàm lượng rất nhỏ Thông thường, đây là các hợp chất hoà tan có độc tính cao hoặc chất có màu, mùi, vị rất khó chịu Các chất hấp phụ thường dùng là than hoạt tính, đất sét hoạt tính, silicagen, keo nhôm, một số chất tổng hợp hoặc chất thải trong quá trình sản xuất như xỉ tro, mạt sắt, trong đó than hoạt tính được dùng nhiều nhất
- Keo tụ là hiện tượng các hạt keo cùng loại có thể hút nhau tạo thành những tập hợp hạt có kích thước và khối lượng đủ lớn để có thể lắng xuống do trọng lực Các hoá chất gây keo tụ thường là các loại muối vô cơ và được gọi là chất keo tụ Thường sử dụng phèn nhôm, phèn sắt, PAC để làm chất keo tụ
1.4.3 Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học [6]
Xử lý sinh học là phương pháp dựa vào hoạt động sống của các vi sinh vật để tiêu thụ các chất ô nhiễm có trong nước thải Vi sinh vật ở đây sử dụng các nguồn chất hữu cơ và các chất khoáng làm nguồn dinh dưỡng và năng lượng Sau một khoảng thời gian lưu trong nước thải thì các chất hữu cơ trong nước thải sẽ được vi sinh vật phân hủy từ đó nước thải được làm sạch Đối với nước thải có tạp chất vô cơ thì phương pháp này dùng để khử các sunfit, muối amoni, nitrat (tức là các chất chưa bị oxy hoá hoàn toàn)
Phương pháp sinh học ngày càng được sử dụng rộng rãi vì phương pháp này có nhiều ưu điểm hơn các phương pháp khác, do các đặc điểm sau:
- Phân huỷ các chất trong nước thải nhanh, triệt để mà không gây ô nhiễm môi trường
- Tạo ra được một số sản phẩm có ích để sử dụng trong công nghiệp, sinh hoạt (biogas, etanol …) và trong nông nghiệp (phân bón)
- Thiết bị đơn giản, phương pháp dễ làm, chi phí tốn kém ít hơn các phương pháp khác Một số công trình xử lý sinh học tự nhiên và nhân tạo tiêu biểu:
Ao, hồ sinh học: Là loại ao nông từ 0.3 – 0.5m có quá trình oxy hóa các chất hữu cơ chủ yếu nhờ các vi sinh vật hiếu khí Oxy từ không khí dễ dàng khuyếch tán vào lớp nước phía trên và ánh sáng mặt trời chiếu rọi, làm tảo phát triển, tiến hành quang hợp thải ra oxy
Một số nghiên cứu về nước thải làng nghề lương thực thực phẩm.[7]
Một số nghiên cứu đưa ra rằng nước thải làng nghề sản xuất giò, chả nói riêng và thực phẩm nói chung đều thải ra nước thải có hàm lượng chất hữu cơ cao, sau đây là một số nghiên cứu chỉ ra đặc tính của nước thải làng nghề lương thực thực phẩm:
“Nghiên cứu hiệu quả và đề xuất mô hình xử lý nước thải sản xuất bún tại làng nghề Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội” (2016) của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang, Đại học Lâm Nghiệp chỉ ra rằng : “Ở hầu hết tất cả các quy trình sản xuất bún đều có nước thải Lượng nước thải này chứa thành phần chủ yếu là tinh bột, không qua xử lý mà được thải thẳng trực tiếp ra môi trường.Thông qua lấy mẫu và phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm có thể thấy được do nước thải chứa hàm lượng chất hữu cơ cao nên các chỉ tiêu COD, BOD5, TSS, NH4 +, PO4 3- … đều vượt quá QCVN 40:2011/BTNMT rất nhiều lần Việc nước thải sản xuất không qua xử lý mà được thải thẳng ra cống thải gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường nước mặt tại khu vực nghiên cứu.”
“ Nghiên cứu xử lý nước thải sản xuất bún sau giai đoạn aeroten bằng phương pháp lọc và sử dụng thực vật”(2012) của tác giả Phạm Văn Tuân, đại học dân lập Hải Phòng có kết luận: “ Về mặt cảm quan ta nhận thấy nước thải sản xuất bún có độ đục cao, màu trắng đục, chứa nhiều cặn lơ lửng, mùi chua Các thông số phân tích đều vượt QCVN 40:2011/BTNMT gấp nhiều lần Chất hữu cơ trong nước thải chủ yếu có nguồn gốc từ tinh bột đã biến tính, rất dễ bị thủy phân Tỷ lệ COD/BOD5 cao, phù hợp với xử lý bằng phương pháp sinh học.”
“Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường phục vụ phát triển bền vững làng nghề chế biến thực phẩm Dương Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” (2013) đã chỉ ra rằng: “Lượng nước thải và bã thải quá nhiều, không được xử lý kịp thời đã ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm cũng như cảnh quan môi trường của xã Không khí của làng nghề chủ yếu bị ảnh hưởng bởi mùi nước thải và bã thải ở ven các trục đường đi, cống rãnh của xã Tại một số xóm sản xuất mạch nha, bánh kẹo, do sử dụng than là nhiên liệu đun nấu nên nồng độ CO2, CO khá cao, song do không khí phát tán nên các mẫu đo hầu như chưa vượt quá TCCP Môi trường bị ô nhiễm đã ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của cộng đồng làng nghề, và các vùng lân cận Rất nhiều loại bệnh tật ở làng nghề có liên quan đến các loại hình sản xuất CBNS đã được thống kê như: Bệnh lỵ, tiêu chảy, đau mắt hột, viêm phế quản… Vấn đề đặt ra là cần có những biện pháp phù hợp với thực trạng sản xuất và hiện trạng môi trường của làng nghề nhằm sản xuất hiệu quả gắnvới cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống.”
Qua những nghiên cứu trên, có thể thấy, nước thải sinh ra từ quá trình sản xuất lượng thực thực phẩm mà không qua xử lý đã gây ra những vấn đề môi trường nghiêm trọng Việc ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở các làng nghề là hồi chuông cảnh tỉnh cho cơ quan quản lý, từ đó đưa ra những giải pháp xử lý phù hợp hơn.
MỤC TIÊU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng, góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao công tác quản lý về nước thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ quá trình sản xuất giò chả tại Việt Nam
- Nghiên cứu được hiện trạng và quy trình sản xuất giò chả tại thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội
- Nghiên cứu được đặc tính nước thải sản xuất giò chả tại thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội
- Nghiên cứu được ảnh hưởng của nước thải sản xuất giò chả đến chất lượng nước mặt tại thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội
- Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại làng nghề sản xuất giò chả tại thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Nước thải sản xuất giò chả tại thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Các thông số môi trường gồm: pH, nhiệt độ, độ đục, DO, TSS, COD, BOD5,
Thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội từ tháng 1/2020 đến 23/05/2020.
Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện những mục tiêu trên, đề tài đã tập trung nghiên cứu 3 nội dung:
2.3.1 Nghiên cứu hiện trạng và quy trình sản xuất giò chả tại thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội
- Tìm hiểu quy mô hoạt động sản xuất giò, chả của các cơ sở sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề
- Tìm hiểu công nghệ sản xuất; quy trình sản xuất, chế biến giò, chả, các loại nguyên liệu, hoá chất, năng lượng sử dụng trong quá trình sản xuất giò, chả, thể tích nước sử dụng, nhân công…
2.3.2 Nghiên cứu đặc tính nước thải sản xuất giò chả tại thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội
- Tìm hiểu các nguồn phát sinh nước thải: sản xuất và sinh hoạt
- Tìm hiểu các khâu phát sinh nước thải trong quy trình sản xuất, lượng nước tiêu thụ qua từng công đoạn, lượng nước khi sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
- Đặc tính nước thải sản xuất bún tại khu vực nghiên cứu
2.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của nước thải sản xuất giò chả đến chất lượng nước mặt tại thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội
- Tìm hiểu công tác thu gom nước thải tại các cơ sở sản xuất và trong khu vực làng nghề
- Lấy mẫu nước mặt và phân tích, đánh giá
- Ảnh hưởng của nước thải sản xuất giò chả đến chất lượng nước mặt của làng nghề
2.3.4 Đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại làng nghề sản xuất giò chả tại thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Kế thừa tài liệu là sử dụng những tư liệu được công bố của các công trình nghiên cứu khoa học, các văn bản mang tính pháp lý, những tài liệu điều tra cơ bản của các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài một cách có chọn lọc Kế thừa tài liệu nhằm giảm bớt khối lượng công việc mà vẫn đảm bảo chất lượng hoặc làm tăng chất lượng của đề tài
Phương pháp kế thừa tài liệu được sử dụng để thu thập các số liệu sau:
- Kế thừa tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, vị trí của làng nghề sản xuất giò chả tại thôn Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội
- Kế thừa số liệu về tình hình sản xuất, chế biến và kinh doanh giò chả của các cơ sở sản xuất tại làng nghề
- Kế thừa một số công trình nghiên cứu đánh giá về chất lượng nước thải sản xuất giò chả
2.4.2 Phương pháp lấy mẫu, phân tích
Mẫu nước được lấy và chuyển về phòng thí nghiệm thuộc Trung tâm Phân tích môi trường & Ứng dụng công nghệ địa không gian, Khoa Quản lý Tài nguyên Rừng & Môi trường, Đại học Lâm nghiệp để tiến hành phân tích mẫu
Phương pháp lấy mẫu: phương pháp lấy mẫu nước thải sản xuất và nước thải sinh hoạt theo TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-3:2003) về Chất lượng nước - Lấy mẫu
- Phần 1: Hướng dẫn lập chương trình lấy mẫu và Kỹ thuật lấy mẫu
TCVN 5999:1995 (ISO 5667-6:2005): Chất lượng nước - Lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu nước thải
Phương pháp bảo quản mẫu: phương pháp bảo quản mẫu nước thải sản xuất và nước thải sinh hoạt theo TCVN 6663-3:2016 (ISO 5667-3:2012) về Chất lượng nước - Lấy mẫu - Phần 3: Bảo quản và xử lý mẫu nước
Trước khi lấy mẫu cần xác định khu vực và địa điểm lấy mẫu Các mẫu được lấy từ nơi tiếp nhận dòng thải từ các hộ sản xuất giò chả
+ Không làm xáo trộn các tầng nước
+ Mẫu nước được lấy phải có tính đai diện cao
+ Cần tránh lấy mẫu ở những khu vực đặc biệt như vùng nước đọng, cỏ dại mọc nhiều và có nước ngầm xâm nhập vào
+ Dụng cụ lấy mẫu và dụng cụ đựng phải được rửa sạch và phải áp dụng các biện pháp cần thiết bằng các chất tẩy rửa và các dung dịch axit để tránh sự biến đổi của các mẫu đến mức độ tối thiểu, với phân tích vi sinh vật thì dụng cụ lấy mẫu phải vô trùng
- Xử lý ban đầu: Tùy theo chỉ tiêu nghiên cứu mà mẫu được xử lý trước khi phân tích Đây là công việc nhằm đảm bảo sự ổn định của nồng độ chất có trong mẫu từ lúc lấy mẫu đến lúc phân tích để tránh các hiện tượng kết tủa, phân hủy chất phân tích
- Vận chuyển mẫu: Đây là quá trình nhằm đưa mẫu từ địa điểm lấy mẫu về phòng phân tích Trước khi vận chuyển mẫu phải được để an toàn trong các dụng cụ chuyên dụng, tránh nhiễm bẩn, mất màu
- Cách bảo quản mẫu: Một số mẫu lấy về được thực hiện và phân tích ngay Các mẫu chưa phân tích ngay được xử lý bằng axit HNO3 và được bảo quản trong tủ lạnh để chống sự oxi hóa Mẫu dùng để xác định chất rắn lơ lửng thì nên phân tích ngay, nếu chưa phân tích thì phải bảo quản ở nhiệt độ 4 o C nhằm ngăn ngừa sự phân hủy chất hữu cơ bởi vi sinh vật, hay với mẫu dùng phân tích kim loại thì phải thêm axit vào
- Dụng cụ lấy mẫu: Lấy mẫu bằng dụng cụ chuyên dụng, dùng chai nước khoáng có thể tích 500 ml, dây gai hoặc dây nilon dài 1-2m, băng dính, gậy tre dài 1- 2m, bút đánh dấu…
- Thời điểm lấy mẫu: buổi sáng từ 7h-10h
- Cách lấy mẫu: buộc dây vào chai có nút giật vào gậy tre sao cho đủ độ cân bằng để chai chìm được xuống nước; thả chai xuống vị trí cần lấy mẫu thì giật nút cho nước chảy vào chai, khi nước đã đầy thì kéo từ từ chai lên, tháo dây ra, lau khô bên ngoài chai, đậy nắp và quấn băng dính quanh nắp chai để tránh bị rơi nước trong quá trình vận chuyển; dùng bút viết kí hiệu và các thông tin về mẫu nước ra ngoài chai Cuối cùng cho các mẫu nước cần phân tích vào trong hộp xốp Các mẫu sau khi lấy được bảo quản và vận chuyển đến phòng thí nghiệm để phân tích
- Số lượng mẫu 8 mẫu bao gồm: 3 mẫu của 3 hộ sản xuất, 1 mẫu nước thải và 4 mẫu nước mặt Bởi vì qua điều tra hiện trạng thì các hộ dân ở đây làm có tỉ lệ giảm dần và tập trung nên lấy 8 mẫu là phù hợp Vị trí các điểm lấy mẫu được thể hiện trong Bảng 2.1
Bảng 2.1.Bảng các điểm lấy mẫu nước mặt và nước thải
TT Kí hiệu Ghi chú
1 M01 Anh Kiều Văn An, chủ hộ sản xuất
Mẫu nước thải từ sản xuất 2
2 M02 Bác Lò Thị Kiều, chủ hộ sản xuất
Mẫu nước thải sản xuất 3
3 M03 Anh Nguyễn Văn Chíp, chủ hộ sản xuất
4 M04 Điểm đầu vào cống thoát nước tập trung nhiều hộ sản xuất xung quanh 5
5 M05 Nước ao gần khu chợ thôn và hộ gia đình
7 M07 Nước rãnh quanh khu vực sinh hoạt các hộ gia đình 8
8 M08 Nước ao gần cổng thôn, gần đình thôn
2.4.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn dân cư quanh khu vực hoạt động sản xuất của làng nghề với 30 phiếu điều tra về: tình hình sản xuất, ý thức sản xuất của người dân, hiện trạng môi trường tại địa phương Số phiếu phỏng vấn chọn theo phần trăm cơ cấu sản xuất của hộ, khoảng 25 phiếu, 5 phiếu cho nhà quản lý
Phiếu được định dạng sẵn trên giấy A4, có độ dài 2 trang Mẫu phiếu hỏi hộ dân gồm 12 câu hỏi, hỏi nhà quản lý gồm 16 câu hỏi Thời gian bắt đầu phát phiếu là từ 8h sáng, thời gian thu phiếu là 9h sáng cùng ngày
Phiếu điều tra được định dạng dưới dạng câu hỏi có hoặc không, chỉ cần tích thế nên rất thuận tiện cho việc khảo sát người dân mà không quá tốn thời gian giải thích hay hỏi quá nhiều, tiết kiệm được thời gian người đi phỏng vấn, tăng hiêu quả công việc
2.4.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ- XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên
Hình 3.1 Bản đồ vệ tinh thôn Ước Lễ, Tân Ước, Thanh Oai, Hà Nội
Thôn Ước Lễ là 1 thôn thuộc xã Tân Ước huyện Thanh Oai cách 30km về phía nam thành phố Hà Nội Nằm trong xã Tân Ước gồm 3 thôn là Ước Lễ, Quế Sơn và Tri
Lễ, Ước Lễ nằm ở vị trí chính giữa xã Thôn gần quốc lộ 21B và ở giữa 2 dòng sông Đáy và sông Nhuệ Đặc điểm địa hình: Ước Lễ thuộc huyện Thanh Oai có địa hình tương đối bằng phẳng, song có hai vùng rõ rệt là vùng vùng bãi sông Đáy và vùng trũng ven sông Nhuệ Độ dốc thấp dần từ phía Bắc xuống Nam, và từ phía Tây sang phía Đông Địa hình tương đối bằng phẳng, điểm cao nhất là xã Thanh Mai có độ cao 7,5 m và điểm thấp nhất ở xã Liên Châu (1,8m) so với mặt nước biển Đặc điểm địa hình như vậy rất thuận lợi cho phát triển sản xuất đa dạng hoá cây trồng và vật nuôi, có khả năng cho thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
Huyện Thanh Oai mang các đặc điểm chung của khí hậu, thời tiết vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa:
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng này có nền nhiệt độ cao và thường hay có gió, bão, lượng mưa trong mùa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm dễ gây ngập úng cho cây trồng và một số khu dân cư vùng trũng ven sông Nhuệ
Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, các tháng này có nền nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí thấp, lượng bốc hơi cao, để phát triển các loại cây trồng cần có hệ thống tưới nước trong vụ này
- Độ ẩm không khí từ 84 - 96%, lượng bốc hơi nước cả năm 700 - 900 mm, lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng 12, tháng 1, lớn nhất vào tháng 5 - 6
Bảng 3.1 Độ ẩm trung bình các tháng trong năm
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Cả năm Độ ẩm tương đối
(Nguồn:https://soft.hvacvn.com/thongso/Humidity.aspx)[31]
- Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,5oC, mùa nóng nhiệt độ trung bình tháng đạt 27,4oC Nhiệt độ tối cao tuyệt đối có thể tới 40oC vào mùa Hạ Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thể xuống tới 2,7oC vào mùa Đông nhưng ít khi xảy ra Trong mùa lạnh biên độ nhiệt ngày đêm có thể biến động tới 10 - 15oC
Bảng 3.2 Nhiệt độ trung bình lớn nhất các ngày trong tháng
(Nguồn:https://soft.hvacvn.com/thongso/Tmin.aspx)[33]
- Lượng mưa trung bình nhiều năm xấp xỉ 1.700 mm, năm cao nhất đạt tới 2.100 mm Mưa tập trung vào mùa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8 Mưa lớn và tập trung làm thiệt hại đáng kể đến mùa màng của nhân dân
Bảng 3.3 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm
(Nguồn:https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i#Kh.C3.AD_h.E1.BA.Adu)
- Số giờ nắng trung bình năm khoảng 1.500 giờ, thấp nhất 1.150 giờ, cao nhất 1.970 giờ Mùa hạ có số giờ nắng cao nhất và cường độ nắng cũng cao hơn các mùa khác Bình quân số giờ nắng/ngày trong năm khoảng 4,5 giờ, tối đa 6,5 giờ (mùa hạ), thấp nhất 1,6 giờ/ngày (mùa đông) Tổng lượng bức xạ cao, thích hợp cho nhiều loại cây trồng phát triển
Bảng 3.4 Số giờ nắng trung bình trong năm
(Nguồn:https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i#Kh.C3.AD_h.E1.BA.ADu)
- Hướng gió thịnh hành là gió Đông Nam và gió mùa Đông Bắc Gió Đông Nam bắt đầu vào tháng 5, kết thúc vào tháng 10 mang theo nhiều hơi nước từ biển vào gây nên những trận mưa rào, đôi khi bị ảnh hưởng của gió bão kèm theo mưa lớn gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thường gây ra lạnh và khô ở những tháng đầu mùa lạnh, lạnh và ẩm ướt tháng 2 và 3 do có mưa phùn Đôi khi có sương mù, sương giá trong các tháng
12 và tháng 1 song ít gây thiệt hại cho sản xuất
Các đặc điểm khí hậu, thời tiết tuy có gây ra những khó khăn nhất định cho sản xuất và đời sống, nhưng nó cho phép phát triển một nền nông nghiệp đa dạng về chủng loại cây trồng vật nuôi và cho phép sản xuất nhiều vụ trong năm Đặc điểm thổ nhưỡng, đất đai Đất đai trên địa bàn Thanh Oai được hình thành chủ yếu do quá trình bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng, thông qua sông Đáy Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, trên địa bàn huyện có các loại đất chính sau: Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb) : Loại đất này được phân bố ở khu vực ngoài đê trong vùng phân lũ sông Đáy, có độ màu mỡ cao, thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ, thích hợp cho canh tác các loại rau màu và cây trồng cạn Đất phù sa không được bồi (P) : Loại đất này chiếm chủ yếu, phân bố rộng khắp khu vực đồng bằng, đã được khai thác cải tạo lâu đời phù hợp cho thâm canh tăng vụ, với nhiều loại mô hình canh tác cho hiệu quả kinh tế cao như mô hình lúa - màu, lúa - rau, lúa - cá, ở Hồng Dương, Dân Hoà, Tam Hưng, và trồng các loại cây lâu năm như cam, vải, bưởi ở Cao Viên, Thanh cao, Thanh Mai, Kim An Đất phù sa gley (Pg): có diện tích lớn nhất 7.352,7 ha, chiếm 59,36% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bổ ở địa hình thấp có ở hầu hết các xã trong huyện như Thanh Văn, Đỗ Động, Dân Hoà, Tam Hưng…
Nhìn chung, đất đai của huyện có độ phì cao, có thể phát triển nhiều loại cây trồng như cây lương thực, cây rau màu, cây lâu năm, cây ăn quả và có thể ứng dụng nhiều mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao.
Điều kiện kinh tế xã hội thôn Ước Lễ, Tân Ước, huyện Thanh Oai
Hiện trạng sử dụng đất
Sau khi điều chỉnh ranh giới theo Nghị định 01/2006/NĐ-CP Huyện Thanh Oai có 21 xã, thị trấn, với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 12.385,56 ha, trong đó khu vực nông thôn có 20 xã (trừ thị trấn Kim Bài), với diện tích tự nhiên là 11.953,29 ha Khu vực nông thôn Thanh Oai chịu ảnh hưởng rất mạnh của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nên đất sản xuất nông nghiệp giảm nhanh trong khi đất chưa sử dụng có thể khai thác đưa vào sản xuất không còn nhiều Đặc điểm xã hội
Theo số liệu điều tra tại các xã, dân số nông thôn huyện Thanh Oai năm 2016 có 175.483 người, tốc độ tăng dân số giai đoạn 2011 - 2015 là 1%/năm Số hộ nông thôn là 46.575 hộ, trong đó có 11.553 hộ nông nghiệp (24,81%) và 35.022 hộ phi nông nghiệp (75,19%) Xu thế tăng dân số cơ học trong huyện sẽ khá cao khi các khu, cụm công nghiệp và các khu đô thị được hình thành
Với xu thế đô thị hóa thì trong những năm tới dân số huyện Thanh Oai không chỉ tăng tự nhiên mà còn tăng cơ học do việc hình thành các khu đô thị mới Tuy nhiên việc tăng dân số cơ học sẽ không đều, tập trung nhiều ở các xã có đô thị hóa và có các khu công nghiệp mới
Chất lượng lao động trong nông nghiệp nông thôn còn thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 22%, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội thủ đô trong tình hình hiện nay và trong giai đoạn tới Lực lượng lao động trẻ ở nông thôn có xu hướng thoát ly nông nghiệp nhiều hơn Đây là tín hiệu tốt cho tiến trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn nhưng cũng gây ra những khó khăn đáng kể cho sản xuất nông nghiệp do lao động nông nghiệp chủ yếu là lao động cao tuổi, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật hạn chế nên việc tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn
Tiềm lực vốn đầu tư
So với các huyện ngoại thành khác thì thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn huyện Thanh Oai có cao hơn một chút nhưng nhìn chung đa số người dân ở nông thôn vẫn còn trong tình trạng khó khăn về vốn đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng hàng hóa chất lượng cao và phát triển mạnh các ngành phi nông nghiệp để tạo việc làm và nguồn thu nhập
Khoa học - Kỹ thuật và công nghệ
Huyện Thanh Oai cách không xa các trung tâm nghiên cứu lớn về khoa học kỹ thuật nông nghiệp như Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện nghiên cứu rau quả Trung ương… nên có lợi thế về ứng dụng khoa học kỹ thuật để phát triển vùng lúa đặc sản, trồng hoa cao cấp, trồng hoa trên giá thể, trồng rau an toàn, trồng đậu tương và các tiến bộ kỹ thuật về bảo quản và chế biến nông sản
Là địa bàn cửa ngõ phía Tây Nam của Thành phố Hà Nội, Giáp với quận Hà Đông, nên các xã nông thôn huyện Thanh Oai có lợi thế rất lớn về tiêu thụ nông sản tại thị trường nội thành, các khu công nghiệp trên địa bàn huyện và các địa phương lân cận, các khu dân cư tập trung Tuy nhiên, yêu cầu về chất lượng nông sản và vệ sinh an toàn thực phẩm của người tiêu dùng ngày càng cao Do vậy, muốn khai thác tối đa lợi thế thị trường thì phải cải tiến chất lượng sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất theo quy trình an toàn, quy trình sản xuất nông sản sạch và các loại nông sản cao cấp đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng cả về khối lượng và chất lượng
Tiềm năng phát triển kinh tế
- Nông thôn Thanh Oai có lợi thế lớn về thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá, đặc biệt là các loại nông sản an toàn, nông sản sạch và các loại nông sản có giá trị kinh tế cao như cây ăn quả đặc sản, thuỷ đặc sản, hoa, cây cảnh
- Nông thôn Thanh Oai có nhiều tiềm năng phát triển các làng nghề truyền thống để tạo việc làm Đây là điều kiện, là tiền đề rất quan trọng đối với tiến trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn
- Cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn Thanh Oai đã và đang đang được đầu tư xây dựng và hoàn thiện dần song vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu phát triển mới trong bối cảnh công nghiệp hoá, đô thị hoá diễn ra với tốc độ cao và ảnh hưởng của lộ trình hội nhập quốc tế.
Thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển kinh tế, xã hội tại khu vực nghiên cứu
- Khí hậu và thổ nhưỡng tại khu vực này thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp
- Hệ thống ao, hồ, sông, ngòi xung quanh đảm bảo cho việc cung cấp và dự trữ nước cho phần lớn diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn, cũng như việc cấp thoát nước cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân
- Thu nhập của người dân trên địa bàn ở mức khá Nên cũng có nhiều việc về đầu tư cho việc xử lý nước ngầm để dùng cho sinh hoạt hàng ngày
- Việc nhận thức về các vấn đề ô nhiễm nguồn nước mà trực tiếp là nguồn nước sinh hoạt của người dân trên địa bàn còn hạn chế
- Áp lực phát triển kinh tế và dân số đang làm cho môi trường bị ô nhiễm Vì vậy người dân cần được tham gia vào chương trình nước sạch.