1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật trên địa bàn huyện nho quan, tỉnh ninh bình (khóa luận kinh tế và quản trị kinh doanh)

72 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU (8)
  • PHẦN 2. NỘI DUNG CHÍNH (13)
  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT (13)
    • 1.1. Cơ sở lý luận về hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật (13)
      • 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản (13)
      • 1.1.2. Vai trò của công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật (16)
      • 1.1.3. Nội dung của công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật (17)
      • 1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật (22)
      • 1.1.5. Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu (26)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn của địa bàn nghiên cứu (28)
      • 1.2.1. Khái quát chung về huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình (28)
      • 1.2.2. Khái quát chung về phòng Lao động Thương binh Xã hội huyện Nho Quan, (33)
  • CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY VIỆC HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH (36)
    • 2.1.1. Thực trạng người khuyết tật tại huyện Nho Quan (36)
    • 2.1.2. Đặc điểm cơ bản và vấn đề việc làm của người khuyết tật từ kết quả khảo sát (40)
    • 2.2. Thực trạng công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình (47)
      • 2.2.1. Hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về quyền cho người khuyết tật và cộng đồng (47)
      • 2.2.2. Hoạt động tƣ vấn, tham vấn nâng cao nhận thức hỗ trợ việc làm cho NKT (0)
      • 2.2.3. Hoạt động hỗ trợ tiếp cận giáo dục và dạy nghề (52)
      • 2.2.4. Hoạt động hỗ trợ tiếp cận và duy trì, phát triển việc làm (54)
      • 2.2.5. Hoạt động hỗ trợ kết nối nguồn lực, tự tạo việc làm (55)
      • 2.2.6 Hoạt động hỗ trợ khác (56)
    • 2.3. Đánh giá chung về thực trạng công tác xã hội trong việc hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình (58)
      • 2.3.1. Những thuận lợi (58)
      • 2.3.2. Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân (59)
    • 2.4. Một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc hỗ trợ, giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình (60)
      • 2.4.1 Các giải pháp về cơ chế, chính sách (60)
      • 2.4.2 giải pháp phát triển giáo dục, dạy nghề cho người khuyết tật (61)
      • 2.4.3 Giải pháp về nâng cao nhận thức của cộng đồng về NKT (61)
      • 2.4.4. Giải pháp về yếu tố cán bộ quản lý, nhân viên làm CTXH (62)
      • 2.4.5. Giải pháp về yếu tố hệ thống các cơ sở sản xuất kinh doanh (62)
  • PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (64)
    • 3.1. Kết luận (64)
    • 3.2. Khuyến nghị ....................................................................................................... 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO (65)

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Công tác Xã hội với đề tài “Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật trên địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình” là thàn

NỘI DUNG CHÍNH

TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1 Cơ sở lý luận về hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm về người khuyết tật

Người khuyết tật (NKT) là một trong những nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội Vì vậy, việc mang lại vị thế, quyền hợp pháp và sự bình đẳng khi nhìn nhận tình trạng khuyết tật như là một vấn đề về quyền con người là vấn đề lớn đặt ra không chỉ ở Việt Nam mà trên phạm vi toàn thế giới Khái niệm NKT có sự thay đổi và phát triển theo từng giai đoạn, chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa và lịch sử, thể hiện nhận thức và thái độ của xã hội về người khuyết tật

Theo Công ƣớc Quốc tế về các Quyền của NKT năm 2006, NKT đƣợc hiểu là những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội

Theo luật NKT của Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 17/06/2010 (Luật số: 51/2010/QH12), NKT đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho l o động sinh hoạt h c tập gặp h hăn Đây là một khái niệm bao hàm đầy đủ về mặt nội dung và mang tính pháp lý cao nhất hiện nay.[9]

NKT đƣợc phân loại thành các dạng sau: Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thân kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ; Khuyết tật khác Về mức độ khuyết tật: Theo Điều 3 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT thì hiện nay có 3 mức độ khuyết tật là: NKT đặc biệt nặng, NKT nặng, NKT nhẹ.[9]

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

Cơ sở lý luận về hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm về người khuyết tật

Người khuyết tật (NKT) là một trong những nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội Vì vậy, việc mang lại vị thế, quyền hợp pháp và sự bình đẳng khi nhìn nhận tình trạng khuyết tật như là một vấn đề về quyền con người là vấn đề lớn đặt ra không chỉ ở Việt Nam mà trên phạm vi toàn thế giới Khái niệm NKT có sự thay đổi và phát triển theo từng giai đoạn, chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa và lịch sử, thể hiện nhận thức và thái độ của xã hội về người khuyết tật

Theo Công ƣớc Quốc tế về các Quyền của NKT năm 2006, NKT đƣợc hiểu là những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội

Theo luật NKT của Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 17/06/2010 (Luật số: 51/2010/QH12), NKT đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho l o động sinh hoạt h c tập gặp h hăn Đây là một khái niệm bao hàm đầy đủ về mặt nội dung và mang tính pháp lý cao nhất hiện nay.[9]

NKT đƣợc phân loại thành các dạng sau: Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thân kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ; Khuyết tật khác Về mức độ khuyết tật: Theo Điều 3 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT thì hiện nay có 3 mức độ khuyết tật là: NKT đặc biệt nặng, NKT nặng, NKT nhẹ.[9]

1.1.1.2 Khái niệm về việc làm Điều 13, Bộ luật Lao Động Việt Nam định nghĩa khái niệm việc làm: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm điều đƣợc thừa nhận là việc làm”.[10]

Trên thực tế , việc làm được thừa nhận dưới 3 hình thức: (1) Làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó; (2) Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tƣ liệu sản xuất để tiến hành công việc đó; (3) Làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó Hình thức này bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữa hoặc quản lý

Tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc ra làm nhiều loại Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ Việc làm chính là công việc mà người thực hiện gìanh nhiều thời gian nhất sau công việc chính

Ngoài ra người ta còn chia việc thành nhiều việc làm toàn thời gian, bán thời gian, việc làm thêm Trong đó, việc làm toàn thời gian chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày hoặc theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày trong tuần Việc làm bán thời gian là công việc có thời gian làm việc có thể giao động từ 0,5 đế 5 tiếng mỗi ngày và không liên tục Việc làm thêm là công việc không chính thức, không thường xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định

1.1.1.3 Khái niệm về hỗ trợ việc làm Để hiểu khái niệm hỗ trợ việc làm trước tiên cần hiểu thế nào là hỗ trợ, các hoạt động hỗ trợ, sau đó đến hỗ trợ việc làm Theo cách hiểu thông thường thì hỗ trợ là công việc, hoạt động, suy nghĩ của cá nhân hay tổ chức nhằm giúp đỡ một người hoặc một nhóm người vượt qua vấn đề mà họ gặp phải bằng các phương thức khác nhau, bao gồm cả về thể chất, tinh thần, tiền bạc để nhằm khơi dậy tiềm lực của người đó để họ có đủ khả năng đương đầu với hoàn cảnh khó khăn

Hỗ trợ việc làm nói chung là tổng thể các biện pháp, hoạt động của tổ chức cá nhân tƣ vấn nghề nghiệp, tƣ vấn tâm lý, trị liệu phục hồi sức khỏe, tinh thần, dạy nghề,

8 tạo việc làm, hướng dẫn cách làm ăn, hỗ trợ vốn, điều kiện phương thức sản xuất kinh doanh…để tạo cho đối tƣợng đƣợc hỗ trợ có việc làm, thu nhập, duy trì, phát triển việc làm, hòa nhập cộng đồng và ổn định cuộc sống

1.1.1.4 Khái niệm về hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật

Từ các khái niệm việc làm, hỗ trợ việc làm, người khuyết tật ở trên, trong nghiên cứu này, hỗ trợ việc làm cho NKT đƣợc hiểu nhƣ sau: “Hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật là tổng thể các hoạt động hỗ trợ can thiệp hay trợ giúp trực tiếp người khuyết tật về vấn đề việc làm nhằm phát huy năng lực của người khuyết tật, giúp người khuyết tật có việc làm, thu nhập, duy trì, phát triển việc làm, hòa nhập cộng đồng và ổn định cuộc sống”

1.1.1.5 Khái niệm về công tác xã hội

Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội (CTXH) Dưới đây, là một số khái niệm phổ biến:

Theo Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7 năm 2000 tại Montréal, Canada (IFSW) “CTXH là hoạt động chuyên nghiệp để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đề ra Nghề CTXH thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho con người nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề”.[2]

Tại đại hội liên đoàn công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế ở Canada năm 2004, CTXH đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi (phát triển) của xã hội Bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội), vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng, công tác xã hội đã giúp cho con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn, đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân” Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ quy định: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng

9 cao chất lượng cuộc sống của Thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ Thống an sinh xã hội tiên tiến.[1]

Cơ sở thực tiễn của địa bàn nghiên cứu

1.2.1 Khái quát chung về huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

1 2 1 1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Nho Quan

* Vị trí địa lý, địa hình địa mạo:

Nho Quan là một huyện nằm ở miền núi phía Tây Bắc tỉnh Ninh Bình Phía bắc giáp các huyện Yên Thủy, Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình; phía đông giáp các huyện Gia Viễn, Hoa Lƣ; phía nam giáp thành phố Tam Điệp; phía tây giáp huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa Nho Quan là cửa ngõ quan trọng của tỉnh trong việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các tỉnh vùng Tây Bắc, vùng đồng bằng Bắc bộ và khu IV cũ Đây là những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý giúp huyện Nho Quan trở thành trung tâm giao thương kinh tế giữa các tỉnh vùng Tây Bắc với vùng Đông Bắc Bộ Địa hình huyện Nho Quan hầu hết là đồi núi, bao gồm các xã phía Tây Bắc và Tây Nam và phía Bắc huyện, bên cạnh đó còn có một số xã thuộc bán sơn địa và đồng chiêm trũng Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông Nho Quan nằm trên địa bàn trung chuyển của các hệ thống tự nhiên ở phía Tây Nam đồng bằng sông Hồng, giáp với đồng bằng sông Mã qua vùng núi Cúc Phương, địa hình nhìn chung

22 không bằng phẳng đƣợc phân thành 03 vùng cụ thể: Vùng núi đá vôi có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế đồi rừng, chăn nuôi đại gia súc, phát triển du lịch và công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Vùng bán sơn địa có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế theo mô hình VRC theo quy mô lớn Vùng đồng chiêm trũng là khu vực bị ảnh hưởng lớn trong mùa mưa lũ

Thiên nhiên ban tặng cho Nho Quan nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong phú với mỏ đá vôi, rừng nguyên sinh Cúc Phương với diện tích 22.200 ha lưu giữ một hệ sinh thái rừng đa dạng, nhiều động thực vật quý hiếm và những hang động, hồ đập độc đáo chứa đựng tiềm năng phát triển du lịch sinh thái thu hút du khách thập phương đến tham quan, nghỉ dƣỡng

Nho Quan là huyện có thế mạnh về tài nguyên rừng với tổng diện tích gần 17,54 nghìn ha, trong đó có gần 11,5 nghìn ha rừng tự nhiên (vườn Quốc gia Cúc Phương) Đây là địa chỉ du lịch nổi bật của tỉnh, góp phần trực tiếp vào phát triển kinh tế - xã hội huyện những năm tới

1 2 1 2 Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Nho Quan

* Thực trạng phát triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế:

Thực trạng phát triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế của huyện thể hiện trong Bảng 1.1

Bảng 1.1: Thực trạng phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế của huyện

I Giá trị sản xuất (Tỷ đồng) 6.565,30 7.045,39 8.365,00 112,9

1 Sản xuất nông lâm – thủy sản 985,51 1.120,76 1.345,00 116,8

1 Sản xuất nông lâm – thủy sản 13,64 26,61 16,08 108,57

(Nguồn: Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội huyện Nho Quan)

Qua biểu 1.1 cho thấy, tổng giá trị sản xuất (theo giá cố định 2017) năm 2019 của toàn huyện Nho Quan đạt: 8.365 tỷ đồng, đạt: 97,9% so với kế hoạch và bằng 107,2 % so cùng kỳ Tốc độ tăng trưởng 11,5% Trong đó:

- Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng cơ bản: Năm 2019 đạt 5.046 tỷ đồng đạt 94,5% kế hoạch và bằng 109,1% so với cùng kỳ năm 2018, tốc độ tăng trưởng đạt 11,08% Trên địa bàn hiện có trên 423 doanh nghiệp và trên 9.000 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp cá thể đang hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế Đã tổ chức 56 lớp dạy nghề với kinh phí gần 3 tỷ đồng Toàn huyện có 175/215 làng có nghề Trong đó, có 30 làng đƣợc thành phố công nhận làng nghề Đây là một trong những nguồn lực quan trọng để kết nối việc làm cho NKT khi thực hiện hoạt động CTXH trong việc hỗ trợ việc làm cho NKT

- Thương mại - dịch vụ - du lịch: Năm 2019 (theo giá cố định 2017) đạt 1.956 tỷ đồng đạt 100,6% kế hoạch và bằng 103,7% so với cùng kỳ Tốc độ tăng trưởng đạt 15.6%

- Sản xuất nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản: Năm 2019 (theo giá cố định

2017) đạt 1.345 tỷ đồng đạt 98,5% so kế hoạch và bằng 102,6 % so với cùng kỳ Tốc độ tăng trưởng đạt 2,53 %

Nhƣ vậy, với những lợi thế về vị trí địa lý cũng nhƣ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lý, trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn huyện không ngừng tăng lên Tốc độ tăng trưởng bình quân (giá cố định 2017) giai đoạn 2017-2019 là 112,9% Điều này tạo điều kiện rất lớn trong việc hỗ trợ tài chính cho NKT cũng nhƣ hỗ trợ tài chính, cơ hội việc làm trong các hoạt động CTXH hỗ trợ việc làm cho NKT

* Dân số, dân cư, lao động và việc làm:

Năm 2019, toàn huyện Nho Quan có 148.514 người, mật độ dân số trung bình

310 người/km 2 Toàn huyện có trên 50.000 hộ dân; người dân tộc Kinh chiếm đại đa số Huyện Nho Quan có 89,16% nhân khẩu sống bằng nghề nông nghiệp, trong đó lao động trong độ tuổi trong nông nghiệp là 86,43% Số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ không nhỏ thể hiện dân số trẻ, lao động nông nghiệp có kinh nghiệm sản xuất, cần cù, chịu khó nhƣng lƣợng lao động chƣa qua đào tạo còn ở mức cao, số lao

24 động đã và đang đào tạo chiếm tỷ lệ nhỏ dẫn đến việc tiếp thu các ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến còn gặp nhiều hạn chế

Bảng 1.2: Đặc điểm dân số và lao động huyện Nho Quan năm 2019

TT Chỉ tiêu Số lƣợng

1.2 Nhân khẩu phi nông nghiệp 11,643 10.84

2.2 Lao động phi nông nghiệp 10,211 13,57

4 Bình quân nhân khẩu/hộ 4,66 14,6

5 Bình quân lao động/hộ 2,36 7,4

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Nho Quan 2019)

Với đặc điểm này, lao động chủ yếu là làm trong lĩnh vực nông nghiệp, vì vậy khi thực hiện các hoạt động CTXH trong hỗ trợ NKT thì nhân viên CTXH nên nghiên cứu đặc thù các mô hình sản xuất nông nghiệp, cùng với việc đánh giá năng lực và nhu cầu của NKT để hỗ trợ việc tự tạo việc làm cho NKT và gia đình NKT

* Hệ thống y tế, giáo dục:

Trên địa bàn toàn huyện có 1 bệnh viện đa khoa, 4 phòng khám đa khoa khu vực, 01 Trung tâm y tế và 27 trạm y tế xã, thị trấn với khoảng 355 giường bệnh và 328 cán bộ y tế (trong đó có gần 90 bác sĩ) Bình quân 14,7 giường/1 vạn dân – không tính giường của trạm y tế xã Số bác sỹ/1 vạn dân đạt 5,5 bác sỹ năm 2017, năm 2019 ước đạt 6,4 bác sỹ/1 vạn dân Số xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế đạt 18/27 Công tác khám chữa bệnh bảo hiểm y tế triển khai 100% từ huyện đến các xã, có 87,5% dân số tham gia bảo hiểm y tế Hiện nay, toàn huyện Nho Quan có 28 trường mầm non, 57

25 trường phổ thông, 1 Trường trung cấp nghề Nho Quan, 1 Trung tâm giáo dục thường xuyên và 1 trường THT Dân tộc Nội trú của tỉnh Tỷ lệ phòng học được kiên cố hóa đạt gần 90%

Nhƣ vậy, với hệ thống y tế, giáo dục nhƣ trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nâng cao khả năng tiếp cận y tế và giáo dục của NKT Khi thực hiện các hoạt động CTXH trong hỗ trợ NKT thì NKT có thể đƣợc khám chữa bệnh ngay tại địa phương, được học tập nâng cao kiến thức và kỹ năng, được học nghề tại Trường trung cấp nghề Nho Quan

1 2 1 3 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nho Quan với CTXH trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật

Qua việc nghiên cứu khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Nho Quan cho thấy:

Huyện có lợi thế về phát triển du lịch với nhiều điểm, tuyến du lịch nổi tiếng trong nước và quốc tế như Vườn quốc gia Cúc Phương, nước khoáng Cúc Phương, tắm ngâm nước khoáng Cúc Phương, tuyến du lịch Bái Đính – Cúc Phương, khu Kênh

Gà - Vân Trình thuộc không gian du lịch Vân Long - Kênh Gà - Vân Trình nối liền giữa Nho Quan và Gia Viễn , có thương hiệu được du khách trong và ngoài nước biết đến Hệ thống hạ tầng giao thông khá hoàn chỉnh về mặt hướng tuyến, được tỉnh và Trung ƣơng tập trung nguồn lực đầu tƣ Đây cũng là lợi thế lớn của huyện trong việc hình thành đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật Điều này tạo điều kiện cho du lịch phát triển, và khi du lịch phát triển, nhiều doanh nghiệp đƣợc thành lập, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, trong đó có NKT

Nho Quan có vị trí địa lý chiến lƣợc để huy động, tập trung vốn đầu tƣ phát triển kinh tế Tương lai không xa, Nho Quan sẽ là trung tâm vùng đồi núi của tỉnh, là cực tăng trưởng quan trọng của toàn tỉnh Với vị trí địa lý như vậy, huyện có thể hình thành liên kết vùng: liên kết với Tam Điệp trong sản xuất nông nghiệp, với Gia Viễn, Hoa Lư trong sản xuất thủy sản, kết nối du lịch với các địa phương lân cận và thành phố Ninh Bình qua hệ thống dịch vụ, khách hàng, quảng bá sản phẩm Huyện đang triển khai xây dựng 04 cụm công công nghiệp Đây là cơ hội giải quyết công ăn việc làm cho người lao động tại địa phương, động lực thúc đẩy công nghiệp phát triển và

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY VIỆC HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

Ngày đăng: 01/06/2021, 13:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w