Bài nghiên cứu "bàn về chế định án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam" gồm nội dung những vấn đề lý luận về án treo, án treo trong pháp luật hình sự việt nam và quan điểm của tác giả về chế định án treo.
Trang 1BÀN VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TREO TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁN TREO THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Án treo là gì, bản chất pháp lý, vai trò, ý nghĩa của án treo
Khái niệm án treo
Án treo là chế định hình sự ra đời từ rất sớm, xuất hiện cùng với sự ra đời
và phát triển của khoa học hình sự Việt Nam Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, án treo đã được ghi nhận tại Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 về tổ chức tòa án quân sự :“Khi phạt tù tòa có thể
cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng Bản
án xử treo sẽ tạm đình việc thi hành Nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên
án, tội nhân không bị tòa án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới, thì bản án đã tuyên sẽ hủy đi, coi như không có Nếu trong 5 năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước một tòa án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành”
Với quy định này thì án treo được hiểu là biện pháp “miễn chấp hành hình
phạt tù có điều kiện” hay “tạm đình chỉ thi hành án” Qua đây có thể thấy từ
những quy định sơ khai nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ những ngày đầu mới thành lập đã bộc lộ được những tiến bộ khi quy định về việc chuyển từ hình phạt tù sang án treo Theo quy định từ sắc lệnh này “tội
nhân” có thể sẽ được hưởng án treo nếu đáp ứng đủ các điều kiện được đưa
ra ở đây đó chính là“có những lý do khoan hồng chính đáng” và trong 5 năm sau ngày bị kết án “tội nhân” không bị tòa án quân sự kết án về một tội mới Tuy nhiên trong quá trình áp dụng án treo, đã có thời gian chúng ta coi án treo là hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù Điều này được khẳng định tại Thông tư 19/TATC ngày 2/10/1974 của Tòa án nhân dân tối cao “án treo phải được xem
là hình thức xử lí nhẹ hơn tù giam”
Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Án treo là án tù không phải thi hành
ngay, nhưng sẽ thi hành nếu trong thời gian quy định người bị kết án lại phạm
Trang 22
tội và bị xử án lần nữa” Quan điểm này chưa nêu rõ được bản chất pháp lý
của án treo mà chỉ nêu rằng án treo không thực thi ngay Án treo có thể không được thực thi nhưng cũng có thể thực thi nếu người bị kết án về hình phạt này tiếp tục phạm một tội khác và bị xét xử
Trong khoa học Luật hình sự, thời gian qua, khi nghiên cứu về chế định án treo, đã có nhiều quan điểm khoa học khác nhau về khái niệm “án treo” Có thể kể đến một số quan điểm sau đây:
* Quan điểm của các tác giả luật học:
Theo tác giả Đinh Văn Quế, nguyên Chánh tòa Hình sự – Tòa án nhân dân tối cao thì: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều
kiện, được áp dụng đối với người bị phạt không quá ba năm tù, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù” 1
Theo Ths Đoàn Thị Ngọc Hải “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình
phạt tù có điều kiện, được áp dụng cho người bị kết án phạt tù không quá ba năm, không buộc họ phải chấp hành hình phạt tù khi có đầy đủ những căn cứ
và điều kiện nhất định do pháp luật hình sự quy định nhằm khuyến khích họ cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng cảnh cáo họ là nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ sẽ phải chấp hành hình phạt
tù được hưởng án treo của bản án trước đó” 2
* Quan điểm theo từ điển pháp lí, BLHS và các văn bản liên quan:
Theo cuốn từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp thì :
“Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện”
Theo khoản 1 Điều 44 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985: “Khi xử phạt tù
không quá năm năm, căn cứ vào thân nhân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Toà án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.”
1 Bình lu ận khoa học BLHS 1999 (phần chung) - Thạc sĩ Đinh Văn Quế, NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 3
Theo khoản 1 Điều 60 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 sửa đổi, bổ sung
năm 2009 “ Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của
người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm” Nhìn chung quan niệm về án treo của BLHS
1999 sửa đổi bổ sung 2009 giống với quy định về án treo theo quy định tại BLHS 1985 và không có thay đổi gì
Theo khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 sửa đổi bổ sung
2017 thì: “Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.”[tr 47-48] Quy định tại bộ luật
hình sự hiện hành về án treo đầy đủ hơn các quy định của các bộ luật trước
và có bổ sung thêm trách nhiệm của tòa án là “ấn định thời gian thử thách từ
một năm đến năm năm ” và trách nhiệm của người phạm tội là “thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự”
Theo Điều 1 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo: “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều
kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù”
Từ các quan điểm nêu trên có thể hiểu “Án treo là một biện pháp miễn
chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt tù không quá ba năm, nếu người phạm tội có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần thiết phải cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội, Toà
án sẽ miễn chấp hành hình phạt tù và ấn định một thời gian thử thách nhất định từ một năm đến năm năm; nếu trong thời gian thử thách người bị kết án không phạm tội mới thì họ sẽ vĩnh viễn không phải chấp hành hình phạt của bản án cho hưởng án treo đó Trong thời gian thử thách người bị án treo phải
Trang 4Bản chất pháp lý của án treo
Án treo là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự thể hiện
rõ tính nhân đạo của nhà nước ta, là một chế định pháp luật ra đời rất sớm với tính tích cực của mình mà án treo hiện nay được quy định rất rộng rãi trong luật hình sự của nhiều nước Song phụ thuộc vào điều kiện của từng nước, cũng như yêu cầu đấu tranh chống tội phạm mà chế định này có vị trí khác nhau và được hiểu theo những nghĩa khác nhau Vì vậy bản chất của chế định án treo ở mỗi nước cũng khác nhau Tại Việt Nam:
Theo quy định tại Điều 65 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017:
1 Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự
2 Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho
cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó
Trang 53 Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này
4 Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách
5 Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án
có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này
Theo Điều 1 Nghị quyết 02/2018 hướng dẫn áp dụng điều 65 của bộ luật hình sự về án treo hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao:
“Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa
án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.”
Qua các quy định trên về án treo thì ta có thể thấy bản chất pháp lý của án treo trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành không phải là hình phạt, mà chỉ là biện pháp “miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện” Điều kiện mà pháp luật
quy định đó chính là “thời gian thử thách” Thời gian thử thách của án treo là
thời gian mà tòa án ấn định để thử thách người bị kết án được hưởng án treo Thời gian thử thách có thể từ 01 đến 05 năm tùy thuộc vào mức độ cũng như tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mà Tòa án sẽ quy định cụ thể thời gian thử thách Nếu hết thời gian thử thách nếu hết thời gian đó mà người bị kết án không phạm tội mới thì hình phạt tù mà Tòa án quyết định đối với người bị kết án sẽ không phải thi hành Ngược lại, nếu trong thời gian đó người bị kết án lại phạm tội mới thì người bị kết án, ngoài việc phải chấp hành hình phạt đối với tội mới phạm, còn phải chấp hành hình phạt tù mà Tòa án đã
Trang 66
cho họ hưởng án treo Ngoài phải áp thời gian thử thách thì người bị án treo
có thể phải chịu thêm các hình phạt bổ sung như là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định Như vậy ta có thể thấy
án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện thể hiện tính nhân đạo của nhà nước ta khi tạo điều kiện cho người được hưởng án treo làm ăn sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường bằng sự tự giáo dục, cải tạo dưới sự giám sát của gia đình, cơ quan, đơn vị hoặc chính quyền địa phương
Ý nghĩa, vai trò của án treo
Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần thiết phải cách ly
họ khỏi đời sỗng xã hội, tòa án sẽ miễn chấp hành hình phạt tù và ấn định một thời gian thử thách người bị kết án không bị phạm tội mới thì họ sẽ vĩnh viễn không phải chấp hành hình phạt của bản án mà họ được hưởng án treo
Mặt khác, án treo là một trong những biện pháp cụ thể của phương pháp trừng trị kết hợp với giáo dục thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chính sách hình sự của Việt Nam Án treo là một biện pháp giúp cảnh tỉnh, nhắc nhở người phạm tội là cảnh giác đối với những người xung quanh, lấy bài học đó để cố gắng kìm chế những bản năng xấu trong con người họ khi có điều kiện phạm tội Áp dụng đúng đắn các quy định về án treo sẽ có tác dụng tốt là không bắt người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội mà cũng đạt được mục đích giáo dục, cải tạo, giúp người hưởng án treo tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi lầm để trở nên lương thiện và trở thành công dân có ích cho xã hội
Bên cạnh đó án treo có tác dụng giáo dục, răn đe những người xung quanh nơi người được hưởng án treo làm việc hoặc cư trú Nó thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của nhà nước ta, đồng thời là một biện pháp hữu hiệu không thể thiếu trong chính sách hình sự của nhà nước, nó vừa mang tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc vừa đem lại những hiệu quả cao trong
Trang 7công tác phòng ngừa và chống tội phạm giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội đảm bảo sự ổn định của đời sống xã hội
Do vậy, áp dụng án treo đúng sẽ có tác dụng tốt, làm cho người được hưởng án treo nhận thức được sự khoan hồng cũng như tính nghiêm khắc của luật hình sự nước ta, sẽ đạt được mục đích giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội
Sơ lược quy định về án treo trong các bộ luật hình sự Việt Nam trước đây
Án treo theo quy định bộ luật hình sự năm 1985
Chế định án treo là một chế định ra đời sớm được quy định đầu tiên tại sắc lệnh 33C/SL ngày 13/9/1945 của chủ tịch chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Theo quy định tại Khoản 4 Điều IV ( Án tù có thể tuyên) thì: “Nếu có những lý do chính đáng khoan hồng vì ít tuổi, vì biết hối quá, vì lầm lẫn, v.v , thì toà án có thể cho tội nhân được hưởng án treo Nghĩa là bản
án làm tội tuyên lên, nhưng không thi hành; nếu trong năm năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị Toà án quân sự làm tội một lần nữa về việc mới thì bản án đã tuyên sẽ huỷ đi, coi như là không có; nếu trong hạn năm năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước Toà án quân sự thì bản án treo
sẽ đem thi hành.” Qua quy định này có thể thấy ngay những ngày đầu ra đời
thì quy định về án treo đã có những tiến bộ khi quy định điều kiện để hưởng
án án treo, quy định thời gian thử thách và trường hợp người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù mà tòa án đã cho hướng án treo
Tiếp theo, vào ngày 14/02/1946 Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành sắc lệnh số 21/SL về “ Tổ chứ tòa án quân sự” thay cho sắc lệnh 33C Tại Điều 10 của Sắc lệnh này có quy định như sau: “Khi phạt tù tòa
có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng Bản án xử treo sẽ tạm đình việc thi hành Nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị tòa án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới, thì bản án đã tuyên sẽ hủy đi, coi như không có Nếu trong 5 năm ấy, tội
Trang 88
nhân bị kết án một lần nữa trước một tòa án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành”
Như vậy qua quy định trên có thể thấy án treo áp dụng với người bị kết án
tù khi có những lí do đáng khoa hồng và bản án này sẽ bị tạm đình chỉ việc thi hành trong thời gian 5 năm kể từ ngày tòa án tuyên án Trong khoảng thời gian 5 năm này nếu tội nhân không phạm tội mới, chấp hành tốt các quy định
và không vi phạm các quy định pháp luật thì sẽ không phải chấp hành hình phạt tù và bản án được tuyên cho người đó sẽ bị hủy, tuy nhiên nếu người đó
vi phạm và bị kết án một lần nữa thì bản án treo mà người đó được hưởng sẽ đem ra thi hành
Từ sắc lệnh 21/SL thì có thể thấy những hạn chế như sau: Thứ nhất để
hưởng án treo người bị phạt tù phải “có những lí do khoan hồng”? Vậy lí do
như thế nào là lí do khoan hồng thì không có quy định nào hướng dẫn Điều này sẽ dẫn đến việc tòa án áp dụng cho hưởng án treo một cách thiếu khách quan, tùy tiện ảnh hưởng đến tính nghiêm minh và tính công bằng của pháp luật Thứ hai là việc quy định thời gian thử thách là 5 năm Điều này là bất hợp
lí bởi vì quy định này mang tính đánh đồng mọi hành vi phạm tội, các hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, không nguy hiểm cho xã hội và hành vi phạm tội nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội nhưng có lí do đáng khoan hồng mà được hưởng án treo thì thời gian thử thách như nhau Điều này làm giảm đi tính răn đe, trừng trị và tính công bằng xã hội Thứ ba khi bị phạt tù nhưng được hưởng án treo thì người phạm tội không phải chịu bất cứ cho chế tài nào và vẫn được hòa nhập cộng đồng mà không cần người theo dõi, giám sát hay giáo dục Điều này có thể dẫn đến tình trạng người phạm tội xem thường pháp luật và tiếp tục phạm tội gây ảnh hưởng xấu cho xã hội
Để khắc phục những hạn chế đã nêu trên từ Sắc lệnh 21/SL thì ngày 01/12/1961 Tòa án nhân dân tối cao đã dự thảo thông tư 2308/ NCPL về việc
áp dụng chế độ án treo như sau: “ Một biện pháp hoãn hình có điều kiện, áp
dụng chủ yếu đối với kẻ phạm tội nhẹ, bản chất không nguy hiểm, xét không cần thiết phải thi hành ngay án phạt tù, nhằm mục đích khuyến khích họ tự nguyện cải tạo với sự giúp đỡ tích cực của xã hội, đồng thời cảnh báo họ nếu
Trang 9còn tiếp tục phạm tội trong thời gian thử thách, thì tùy trường hợp sẽ buộc phải cháp hành án cũ Ngược lại nếu trong thời gian thử thách họ không phạm tội
gì mới, án trước sẽ được xóa bỏ.”
Cùng với sự phát triển của xã hội, để phục vụ tốt cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Bộ luật hình sự đầu tiên của nước ta đã ra đời và chính thức
có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 đánh dấu một bước trưởng thành trong quá trình hoàn thiện và xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam
Theo quy định mới trong Bộ luật hình sự thì chế định án treo được quy định tại Điều 44 Bộ luật Hình sự năm 1985 với một nội dung khá đầy đủ và toàn diện Án treo quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1985 đã kế thừa, phát triển và khắc phục những hạn chế quy định về án treo trong Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa và dự thảo thông tư 2308/ NCPL đồng thời quy định rõ năm nội dung về án treo như sau:
1 Khi xử phạt tù không quá năm năm, căn cứ vào thân nhân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm
2 Tòa án giao người bị án treo cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để theo dõi, giáo dục
3 Người bị án treo có thể phải chịu thêm một số hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đảm nhiệm những chức vụ, làm những nghề hoặc công việc nhất định quy định ở Điều 23 và Điều 28
4 Nếu người bị án treo đã chấp hành được một nửa thời gian thử thách và
có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm theo dõi, giáo dục, Tòa án có thể rút ngắn thời gian thử thách
5 Nếu trong thời gian thử thách, người bị án treo phạm tội mới và bị xử phạt tù thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước
và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định ở khoản 2 Điều 42
Trang 1010
Để việc áp dụng pháp luật về án treo đảm bảo sự thống nhất và có căn
cứ, Toà án nhân dân tối cao và liên ngành đã ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về án treo như: Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự; Thông tư số 01/NCPL ngày 06/4/1988 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung về án treo; Thông
tư liên ngành số 01/TTLN ngày 01/2/1990 của Toà án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ -Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự hướng dẫn thực hiện khoản 5 Điều 44 Bộ luật Hình sự năm 1985 về trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách của án treo
và việc tổng hợp hình phạt của hai bản án
Án treo theo quy định bộ luật hình sự năm 1999 và luật sửa đổi, bổ sung bộ luật hình sự năm 2009
Ngày 21/12/1999, Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội thông qua và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2000 Tại Điều 60 BLHS 1999 quy định:
1 Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm
2 Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho
cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó
3 Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này
4 Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách
Trang 11nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách
5 Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước
và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này
Như vậy án treo được quy định tại Điều 60 BLHS 1999 vẫn giữ nguyên 5 khoản của Điều 44 Bộ luật Hình sự năm 1985 nhưng đã được sửa đổi, bổ
sung để chính xác hơn về mặt ngữ nghĩa như: Sửa đổi cụm từ “theo dõi” bằng
cụm từ “giám sát”, “người bị án treo” bằng cụm từ “người được hưởng án
treo”; sửa đổi khoản 5 về nội dung: Bãi bỏ cụm từ “người bị án treo phạm tội mới” và “bị phạt tù” hoặc “phạm tội mới do cố ý” thành nội dung “đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách” Ngày
02/10/2007, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn thực hiện Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 về án treo tại Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP Sau 6 năm thực hiện Nghị quyết này đến ngày 06/11/2013, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 60 Bộ luật Hình sự về án treo, có hiệu lực thi hành vào ngày 25/12/2013 Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP đã quy định cụ thể, chi tiết những điều kiện, trường hợp được hưởng
án treo theo hướng “siết chặt” hơn nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng chế định án treo, đáp ứng kịp thời yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm
Dù quy định của bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và quy định của bộ luật hình sự năm 1985 có những thay đổi về cách diễn đạt, nhưng bản chất của án treo cũng không hề thay đổi Án treo chỉ được áp dụng đối với người bị kết án phạt tù; người bị kết án phạt tù không phải chấp hành hình phạt tù trên thực tế nếu chấp hành đúng điều kiện thử thách luật định
Án treo theo bộ luật hình sự một số quốc gia trên thế giới
Trên phương diện quốc tế, xu hướng đề cao quyền con người, phát huy tính nhân đạo của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự về án treo nói
Trang 1212
riêng ngày càng được các quốc gia quan tâm nghiên cứu và phản ánh vào trong các quy định pháp luật hình sự, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mình Liên hợp quốc cũng đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tăng cường áp dụng các hình phạt có tính nhân đạo, không tước tự do; quy tắc Tokyo năm
1990 về các biện pháp không giam giữ đã minh chứng cho tinh thần này Hiện nay rất nhiều quốc gia trên thế giới như: Trung Quốc, Liên bang Nga, Đức,
Mỹ, Pháp, Úc, Thụy Điển, Cu Ba… đều quy định chế định án treo trong pháp luật của mình theo xu hướng trên đây Cụ thể trong đề tài này tôi sẽ tìm hiểu pháp luật của Trung Quốc để có cái nhìn đa chiều hơn về chế định này
Án treo theo bộ luật hình sự Trung Quốc
Bộ luật hình sự Trung Quốc gồm 2 phần: phần chung và phần các tội phạm, phần tội phạm gồm 10 chương 425 điều trong đó có 03 điều cuối cùng mang tính giải thích Chế định án treo được quy định từ Điều 72 đến Điều 77 của Mục 5,Bộ luật hình sự năm 1997, sửa đổi năm 2005 như sau:
Điều 72 quy định những điều kiện áp dụng:
Khi bị xử phạt cải tạo lao động hoặc tù không quá ba năm, căn cứ vào những tình tiết phạm tội và biểu hiện ăn năn hối lỗi của người phạm tội, có thể cho người phạm tội hưởng án treo nếu xét thấy việc áp dụng án treo sẽ không gây nguy hiểm cho xã hội
Nếu người bị án treo phải chịu thêm hình phạt bổ sung thì vẫn phải chấp hành theo quy định chung
Điều 73 quy định thời gian và cách tính:
Thời gian thử thách đối với người bị phạt cải tạo lao động nhưng được hưởng án treo đến 1 năm nhưng không ít hơn 2 tháng
Thời gian thử thách đối với người bị phạt tù có thời hạn nhưng được hưởng
án treo đến 5 năm nhưng không được ít hơn 1 năm
Thời gian thử thách được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật
Điều 74 quy định việc không áp dụng án treo đối với người tái phạm
Trang 13Điều 75 quy định các nghĩa vụ của người hưởng án treo:
Người phạm tội được tuyên hưởng án treo, thì phải tuân theo các quy định dưới đây:
1 Tuân thủ pháp luật, quy chế hành chính, phục tùng việc giám sát;
2 Báo cáo hoạt động của bản thân theo quy định của cơ quan giám sát;
3 Tuân thủ nội quy tiếp khách của cơ quan giám sát;
4 Trước khi thay đổi chỗ ở hoặc rời khỏi huyện, thành phố nơi cư trú phải báo cáo và xin phép cơ quan giám sát
Điều 76 quy định Cơ quan có trách nhiệm giám sát:
Cơ quan Công an chịu trách nhiệm giám sát người bị án treo với sự giúp
đỡ của cơ quan hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc cư trú trong thời gian thử thách Nếu như không có những tình tiết quy định tại Điều 77 của
Bộ luật này thì hết thời gian thử thách sẽ không phải chấp hành hình phạt cũ
và được thông báo công khai [12]
Điều 77 quy định vấn đề vi phạm thời gian thử thách:
Nếu trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo lại phạm tội mới hoặc phát hiện trước đó đã phạm tội khác nhưng chưa bị xử lý, thì phải hủy bỏ
án treo và đưa ra thi hành hình phạt chung cho cả hai tội cũ và mới được quyết định theo quy định tại Điều 69 của Bộ luật này [12]
Người phạm tội được tuyên hưởng án treo, trong thời gian thử thách nếu
vi phạm pháp luật, quy chế hành chính hoặc quy định về quản lý giám sát đối với án treo của cơ quan Công an thuộc Quốc vụ viện với tình tiết nghiêm trọng thì hủy bỏ án treo và buộc chấp hành hình phạt đã tuyên trong bản án
Án treo trong Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và BLHS Việt Nam có những điểm tương đồng như đều mang bản chất là biện pháp miễn chấp hành hình phạt có điều kiện và thời gian thử thách ấn định từ
01 năm - 05 năm.Tuy nhiên về vấn đề áp dụng án treo thì có sự khác nhau như sau: Pháp luật Việt chỉ áp dụng đối với trường hợp bị phạt tù không quá
Trang 1414
03 năm còn pháp luật hình sự Trung Quốc áp dụng đối với người phạm tội bị
xử phạt cải tạo lao động hoặc tù không quá ba năm Luật hình sự Trung Quốc quy định rõ không áp dụng án treo đối với người tái phạm và còn quy định về việc hủy bỏ án treo nếu trong thời gian thử thách phát hiện trước đó người được hưởng án treo đã phạm tội khác nhưng chưa bị xử lý có thể hiểu là quy định không áp dụng án treo đối với người phạm tội nhiều lần Trong luật luật hình sự Trung Hoa có quy định trong thời gian thử thách nếu trong thời gian thử thách người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, quy chế hành chính hoặc quy định về giám sát với tình tiết nghiêm trọng thì vẫn hủy bỏ án treo còn với quy định pháp luật Việt Nam thì người hưởng án treo cố ý vi phạm Luật Thi hành án 02 lần trở lên thì có thể phải chấp hành hình phạt tù Hai quy định của pháp luật hai quốc gia đều đảm bảo sự chấp hành nghiêm chỉnh điều kiện thử thách từ phía người được hưởng án treo.Tiếp theo là về trách nhiệm giám sát người hưởng án treo thì pháp luật Trung Quốc giao nhiệm vụ giám sát cho cơ quan công an còn pháp luật Việt Nam giao người hưởng án treo cho ủy ban nhân dân, cơ quan, tổ chức nơi người đó sinh sống và làm việc
Phân biệt án treo với hình phạt cải tạo không giam giữ
Bản chất pháp lý của án treo theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam (Điều 44 Bộ luật Hình sự năm 1985, Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều
65 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và sự hướng dẫn qua các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18/10/1990, Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 ) là “biện pháp
miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện”
Để hiểu được bản chất và nắm vững được chế định án treo trong luật hình
sự thì một điều quan trọng là cần phải có sự phân biệt giữa chế định án treo
và hình phạt cải tạo không giam giữ - Một loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt Sở dĩ cần có sự phân biệt đó là tránh việc áp dụng nhầm lẫn các quy định giữa án treo với hình phạt cải tạo không giam giữ
Án treo được quy định tại Điều 65 còn cải tạo không giam giữ được quy định tại Điều 36 BLHS như sau:
Trang 15“1 Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định
mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội
Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ
01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ
2 Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với
cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó
3 Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án
Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự
4 Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ
Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày
và không quá 05 ngày trong 01 tuần
Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng
Trang 1616
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.”
Theo quy định trên ta có thể thấy giữa án treo và cải tạo không giam giữ
có một điểm chung là cả hai đều không bắt người bị kết án cách ly ra khỏi xã hội mà buộc họ phải tự cải tạo giáo dục dưới sự quản lý giáo dục của chính quyền địa phương, cả người bị án treo và cải tạo không giam giữ đều có thể
bị áp dụng thêm các hình phạt bổ sung Song giữa hai chế định này có sự khác nhau rất lớn:
+ Về bản chất án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, còn cải tạo không giam giữ lại là một loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt của luật hình sự Khi tuyên cho người phạm tội được hưởng
án treo, tòa án phải thực hiện qua hai bước: Bước 1 Quyết định một mức hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội (và để được xem xét hưởng án treo thì mức hình phạt phải từ ba năm trở xuống) và bước thứ 2 Tòa án xem xét, đối chiếu với các điều kiện để cho hưởng án treo và khi thấy thỏa mãn thì quyết định cho hưởng án treo, nói cách khác thì để quyết định cho hưởng án treo thì tòa án tiến hành qua hai bước: Bước 1 quyết định hình phạt và Bước 2 quyết định cho hưởng án treo Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ thì khi quyết định tòa án chỉ cần xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, rồi quyết định trực tiếp luôn hình phạt cải tạo không giam giữ
+ Cải tạo không giam giữ là một loại hình phạt chỉ áp dụng đối với tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, còn án treo thì lại áp dụng cả với tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và trong nhiều trường hợp thì mức hình phạt tổng hợp của nhiều tội mà từ 03 năm trở xuống cũng có thể xem xét cho hưởng án treo3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS năm 2015 không quy định phân loại tội phạm để áp dụng chế định án treo, mà chỉ cần đáp ứng đủ các điều kiện để cho hưởng án treo theo Điều 2 của nghị quyết thì người bị kết án phạt tù được
3 Hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 hướng dẫn áp dụng Điều 60 BLHS 1999 về chế định án treo;
Trang 17hưởng án treo4 Nghĩa là phạm vi áp dụng án treo rộng hơn hình phạt cải tạo không giam giữ và có mức độ nghiêm khắc hơn cải tạo không giam giữ
+ Về hậu quả pháp lý, thì trong thời gian thử thách nếu người bị kết án treo phạm tội mới hoặc vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật THAHS năm
2010 thì hậu quả pháp lý của họ rất nặng nề Họ phải chịu hình phạt tổng hợp của cả hai bản án - hình phạt của tội trước tổng hợp với hình phạt của tội mới Đối với người bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ nếu phạm tội mới trong thời gian chấp hành hình phạt thì họ chỉ phải chịu phần còn lại của hình phạt cải tạo không giam giữ (chuyển thành hình phạt tù, cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ thành 01 ngày tù) rồi tổng hợp theo nguyên tắc tổng hợp hình phạt chung (Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015)
Người phạm tội bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thì có thể bị khấu trừ một phần thu nhập để sung quỹ nhà nước cụ thể của mức khấu trừ này là từ 5% đến 20% thu nhập của người đó Quy định này không áp dụng đối với án treo mà với án treo thì người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền Như vậy, giữa án treo và cải tạo không giam giữ có sự khác biệt rất rõ nét và án treo có hậu quả pháp lý nghiêm khắc hơn hình phạt cải tạo không giam giữ
Với bản chất của mình, chế định án treo thể hiện là một chế định pháp luật tiến bộ, biểu hiện cụ thể nguyên tắc trừng trị kết hợp với khoan hồng, tính nhân đạo trong pháp luật hình sự của nước ta Tuy nhiên, chế định án treo này được áp dụng khi nào, với những điều kiện như thế nào là một vấn đề cần được xem xét, nghiên cứu kỹ lưỡng
4 Điều kiện cho người bị kết án được hưởng án theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày
Trang 1818
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 VỀ ÁN TREO
Quy định của bộ luật hình sự hiện hành về án treo
Căn cứ để người bị phạt tù được hưởng án treo
a Căn cứ mức hình phạt tù
Mức hình phạt tù là căn cứ đầu tiên để tòa án xem xét cho người bị kết án
tù có được hưởng án treo hay không Căn cứ mức phạt tù để người bị phạt tù được hưởng án treo quy định tại khoản 1 Điều 65 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS về án treo đó là “bị
xử phạt tù không quá 03 năm”.Đây là điều kiện “bắt buộc” để xem xét người
phạm tội sẽ có thể được hưởng án treo hay không
Căn cứ vào mức hình phạt tù là căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ của người phạm tội (căn cứ để quyết định hình phạt) Mức phạt không quá 03 năm thể hiện tính chất của hành vi phạm tội là ít nguy hiểm cho xã hội, chính vì vậy việc bắt họ phải chấp hành hình phạt tù là không cần thiết
Mức hình phạt tù không quá 03 năm được tuyên phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của tội phạm, Toà án phải luôn tuân thủ theo những nguyên tắc của luật hình sự (Điều 3 BLHS) để xem xét, định hướng đưa ra bản án xét đúng người, đúng tội Ngoài ra, để xem xét việc quyết định hình phạt đúng hay không còn phải quan tâm đến các căn cứ quyết định hình phạt quy định tại Điều 50 BLHS hiện hành đó là: các quy định của BLHS; tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội hay các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Đây đều là những căn cứ quan trọng và cần thiết để quyết định mức hình phạt tù đúng và chính xác, loại trừ khả năng kết án sai cho người phạm tội
Trang 19Tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của HĐTP TANDTC, hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS về án treo quy định điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo, một trong các điều kiện đó là
“bị xử phạt tù không quá 03 năm” Tuy nhiên việc chỉ quy định mức phạt tù là
không quá 03 năm mà không quy định cụ thể về loại tội còn gây nhiều bất cập Theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2018/NQ- HĐTP của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS quy định, ta có thể hiểu ngoài tội ít nghiêm trọng thì tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng cũng có thể được hưởng án treo, từ đó dẫn đến áp dụng chưa đúng, xảy ra một số trường hợp Tòa án muốn cho người phạm tội nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng hưởng án treo nên đã hạ thấp mức phạt tù hay vì không muốn cho hưởng mà nâng cao mức phạt tù của người phạm tội lên quá 03 năm
Như vậy, căn cứ mức phạt tù là một trong những căn cứ đầu tiên đểm xem xét cho người bị kết án được hưởng chế định án treo, đòi hỏi Thẩm phán cùng các Hội thẩm phải tuyệt đối tuân theo những quy định của pháp luật đó chính là các nguyên tắc, những căn cứ pháp luật khi quyết định hình phạt Trong quá trình xét xử phải thực sự công tâm, phải xuất phát từ yêu cầu đấu tranh và phòng ngừa tội phạm, vững vàng kiên quyết đấu tranh với những hành vi phạm tội có tính chất nguy hiểm cho xã hội, song cũng phải biết đánh giá đúng đối với những người phạm tội biết ăn năn hối cải mà tạo cơ hội cho
họ được sửa chữa cải tạo ngoài xã hội, đó chính là yêu cầu của những người làm công tác xét xử trong giai đoạn hiện nay
b Về nhân thân người phạm tội
Trong khoa học luật hình sự xuất hiện nhiều cách định nghĩa khác nhau về
nhân thân người phạm tội như: Theo PGS-TS Nguyễn Ngọc Hoà thì: “Nhân
thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn
đề trách nhiệm hình sự của họ”.Theo GS.TS Võ Khánh Vinh: “Nhân thân người phạm tội, tức là người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm, được hiểu là tổng thể tất cả các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội trong sự kết hợp với các điều kiện
Trang 2020
và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó” Theo
PGS.TSKH Lê Cảm: “Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm về
mặt pháp lý hình sự, xã hội - nhân khẩu học, xã hội - sinh học và đạo đức - tâm lý học của người đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, mà các đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng để giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người đó một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật đồng thời đấu tranh chống tình trạng phạm tội”
Ngoài mức hình phạt tù thì theo quy định tại khoản 1 Điều 65 của Bộ luật Hình sự thì việc áp dụng chế định án treo còn phải “căn cứ vào nhân thân của
người phạm tội.” Như vậy người được hưởng án treo phải là người có nhân
thân tốt Vì những đặc điểm nhân thân của người phạm tội không chỉ là căn
cứ quan trọng để quyết định hình phạt mà còn là căn cứ cần thiết để xem xét người phạm tội với điều kiện cụ thể có khả năng tự giáo dục, cải tạo hay không để quyết định cho hưởng án treo
Người được xem xét cho hưởng án treo phải là người có quá trình nhân thân được cơ quan quản lí nhận xét tốt thể hiện ở việc chấp hành tốt các chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm đầy đủ nghĩa vụ của bản thân với tư cách là thành viên trong xã hội, bản thân được xác nhận trong lí lịch tư pháp
là chưa có tiền án, tiền sự hay nói cách khác theo quy định của Nghị quyết
02/2018 NQ/HĐTP “Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này,
người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy
đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc
Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có
án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này
đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.”
Trang 21Theo như hướng dẫn nêu trên thì khi đánh giá, xem xét nhân thân một người phạm tội để quyết định về mặt hình phạt và xem xét có cho họ được hưởng chế định án treo hay không trên cơ sở họ có nhân thân tốt, có đầy đủ những điều kiện sau đây:
Thứ nhất: Ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội,
luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật; nghĩa là trước khi phạm tội họ là công dân tốt, chấp hành nghiêm đường lối chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, không phải là đối tượng nghiện chất ma túy, không thuộc đối tượng hình sự, ổ nhóm tội phạm cần phải quan tâm theo dõi…
Thứ hai: Họ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân, thực hiện đầy
đủ luật pháp nhà nước ta đã quy định như các quyền và nghĩa vụ của công dân trong hiến pháp và pháp luật.ví dụ: Người từ đủ 18 tuổi trở lên phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và họ đã thực hiện mà không trốn tránh; hoặc người kinh doanh buôn bán phải có nghĩa vụ đóng thuế đối với Nhà nước và họ đã thực hiện đúng nghĩa vụ nộp thuế; chấp hành nộp các loại phí theo quy định của địa phương… Tất cả những hành vi đó đều có thể được hiểu là điều kiện
về nghĩa vụ công dân, nếu như họ thực hiện đúng thì họ có thể được hưởng
án treo
Thứ ba: Trường hợp đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp
được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian bị
xử phạt vi phạm hành chính, bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo Trường hợp trên vẫn được coi là có nhân thân tốt để xem xét cho hưởng án treo Điều này thể hiện sự tiến bộ của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999, thể hiện đúng nguyên tắc, chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự đó là “trừng trị nhưng vẫn có sự khoan hồng”
Thứ tư: Về vấn đề nhân thân là họ phải có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng để
Trang 22c Về các tình tiết giảm nhẹ để xem xét cho hưởng án treo
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết do pháp luật quy định, có liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nhân thân người phạm tội làm cho hành vi nguy hiểm cho xã hội ấy bớt nguy hiểm hơn, được Toà án xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội
Theo Khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự quy định về chế định án treo thì các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng là điều kiện cho người bị kết
án được hưởng chế định án treo Cụ thể quy định như sau:“1 Khi xử phạt tù
không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự”
Tại Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về các tình tiết giảm nhẹ.Cụ thể:
Chỉ xem xét cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
“1
3 Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51