TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG ------ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN TRE LU
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN
VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN TRE LUỒNG TẠI CÔNG VIÊN SINH THÁI TRE LUỒNG THANH TAM, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và Môi trường
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2020
Người cam đoan
Trần Thị Huyền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Văn Sâm – Thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo nhà trường, Ban lãnh đạo khoa cùng quý thầy cô khoa Quản lý tài nguyên và Môi trường
đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban quản lý dự án của công viên sinh thái Tre luồng Thanh Tam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi tốt nhất để giúp tôi hoàn thành nghiên cứu của mình
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè đã luôn dành sự động viên, giúp đỡ và ủng hộ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Trong quá trình thực hiên luận văn còn hạn chế về thời gian kinh phí cũng như trình độ chuyên môn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô, các nhà khoa học và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2020
Tác giả
Trần Thị Huyền
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ vi
DANH MỤC BẢNG vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 3
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu về tre luồng trên thế giới 3
1.2 Tình hình nghiên cứu về tre luồng tại Việt Nam 4
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 10
2.2 Nội dung nghiên cứu 10
2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
2.4 Phương pháp nghiên cứu 10
2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu 10
2.4.2 Phương pháp thực nghiệm 11
2.4.3 Phương pháp phi thực nghiệm 12
3.1 Điều kiện tự nhiên 14
3.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính 14
3.1.2 Diện tích 14
3.1.3 Địa hình – địa chất 14
3.1.4 Khí hậu 15
3.1.5 Thủy văn 15
3.1.6 Tài nguyên đa dạng sinh học 15
3.1.7 Tình hình dân sinh kinh tế - xã hội 16
4.1 Hiện trạng tài nguyên tre luồng 17
4.2 Cơ sở dữ liệu Tre luồng 19
4.2.1 Tre vàng sọc 19
Trang 54.2.2 Cây Le (Mạy lay) 22
4.2.3 Tre xiêm 24
4.2.4 Tre đá 27
4.2.5 Nứa lá nhỏ 30
4.2.6 Mạnh tông 32
4.2.7 Tre mỡ 36
4.2.8 Tầm vông Thái 39
4.2.9 Tre đen timor 43
4.2.10 Tre cà phê 46
4.2.11 Điền trúc 48
4.2.12 Tre đen Java 51
4.2.13 Tre gai 53
4.2.14 Luồng 56
4.4 Đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững tài nguyên tre luồng tại khu vực nghiên cứu 60
4.4.1 Vườn tre hữu nghị quốc tế 60
4.4.2 Đồi luồng 61
4.4.3 Áp dụng công nghệ thông tin giúp bảo tồn tài nguyên tre luồng đi đôi với phát triển du lịch sinh thái 62
4.4.4 Áp dụng mô hình canh tác tre luồng phát triển du lịch sinh thái 65
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 4.1 Bản đồ phân bố tài nguyên tre luồng trong toàn bộ công viên 18
Hình 4.2 Bản đồ phân bố tài nguyên tre luồng trong vườn tre quốc tế 19
Hình 4.3 Bản đồ phần bố Tre vàng sọc trong vườn tre quốc tế 20
Hình 4.4 Bản đồ mạy lay trong vườn tre quốc tế 23
Hình 4.5 Bản đồ phân bố tre xiêm trong vườn tre quốc tế 25
Hình 4.6 Bản đồ phân bố địa lý trúc đá trong vườn tre quốc tế 28
Hình 4.7 Bản đồ phân bố Nứa lá nhỏ trong vườn tre quốc tế 31
Hình 4.8 Bản đồ phân bố Mạnh tông trong vườn tre quốc tế 34
Hình 4.9 Bản đồ phân bố tre mỡ trong vườn tre quốc tế 37
Hình 4.10 Hình Bản đồ phân bố loài tầm vông trong vườn tre quốc tế 41
Hình 4.11 Bản đồ phân bố Timor black trong vườn tre quốc tế 44
Hình 4.12 Bản đồ phân bố tre cà phê trong vườn tre quốc tế 47
Hình 4.13 Bản đồ phân bố điền trúc trong vườn tre quốc tế 49
Hình 4.14 Bản đồ phân bố Java black trong vườn tre quốc tế 52
Hình 4.15 Bản đồ phân bố tre gai trong vườn tre quốc tế 54
Hình 4.16 Bản đồ phân bố Luồng trong công viên 57
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích và số lượng các chi, loài tre nứa của một số nước 3
Bảng 1.2 Diện tích rừng tre luồng ở Việt Nam 5
Bảng 4.1 Thống kê hiện trạng tài nguyên tre luồng tại công viên 17
Bảng 4.2 Thống kê hiện trạng tre vàng sọc tại công viên 21
Bảng 4.3 Thống kê hiện trạng mạy lay tại công viên 24
Bảng 4.4 Thống kê hiện trạng tre xiêm tại công viên 26
Bảng 4.5 Thống kê hiện trạng tre đá tại công viên 28
Bảng 4.6 Thống kê hiện trạng Nứa lá nhỏ tại công viên 32
Bảng 4.7 Thống kê hiện trạng Mạnh tông tại công viên 35
Bảng 4.8 Thống kê hiện trạng tre mỡ tại công viên 38
Bảng 4.9 Thống kê hiện trạng tầm vông tại công viên 42
Bảng 4.10 Thống kê hiện trạng timor black tại công viên 45
Bảng 4.11 Thống kê hiện trạng tre cà phê tại công viên 47
Bảng 4.12 Thống kê hiện trạng điền trúc tại công viên 50
Bảng 4.13 Thống kê hiện trạng Java black tại công viên 53
Bảng 4.14 Thống kê hiện trạng tre gai tại công viên 55
Bảng 4.15 Thống kê hiện trạng loài Luồng tại công viên 58
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xa xưa, tre luồng đã gắn liền với đời sống của nhân dân, lịch sử hào hùng của dân tộc, và cây tre đã trở thành biểu tượng của dân tộc việt nam kiên cường bất khuất Người dân dử dụng tre nứa trong nhiều công việc khác nhau như: dùng trong xây dựng, làm nguyên liệu cho các đồ thủ công mỹ nghệ, làm nguyên liệu giấy, xuất khẩu Măng tre luồng làm thực phẩm được nhiều người
ưa chuộng và có giá trị xuất khẩu cao Ngoài ra, rừng tre luồng thường có mật
độ rất cao, hệ rễ chùng và ngầm phát triển nên có khả năng chống xói mòn, rửa trôi đất Ngày nay, tre luồng còn là tài nguyên xanh, ngành công nghiệp không khói để phát triển kinh tế, phát triển du lịch sinh thái bền vững
Thanh hóa là nơi có địa hình phức tạp, nằm trong khu vực Bắc Trung
Bộ của đất nước Việt Nam, chịu ảnh hưởng lớn của chế độ nhiệt đới ẩm gió mùa vậy nên tài nguyên tre luồng khá phong phú Diện tích tre luồng Thanh Hóa chiếm 80% diện tích tre luồng cả nước
Hiện nay, công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam, Thanh Hóa đã và đang xây dựng hoàn thành trong giai đoạn 1 (2015-2010) và chuẩn bị bước vào xây dựng giai đoạn 2 (2020-2025) Dự án công viên xây dựng do chủ đầu
tư Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn xây dựng nhằm bảo tồn lưu giữ và phát triển nhân giống nuôi cấy cho ra những loài tre quý hiếm, cũng như phát triển đồ thủ công mỹ nghệ từ tre luồng cho người dân địa phương, ngoài ra còn phát triển du lịch sinh thái, tâm linh, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ trong khuôn viên dự án Đồi sinh thái và phát triển tre luồng có diện tích khoảng 35 ha nằm trong dự án công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam Là công viên tre luồng đầu tiên tại Việt Nam, có đầy đủ tiềm năng để phát triển Song, dự án mới ở giai đoạn 1 còn nguyên sơ và cần phát triển xây dựng thêm nhiều cơ sở hạ tầng cũng như tìm hiểu và đầu tư thêm để tài nguyên tre luồng nơi đây được phong phú thêm, thu hút khách du lịch cũng như góp phần phát triển du lịch sinh thái, du lịch phát triển bền vững
Trang 9Nhằm phục vụ cho dự án phát triển tài nguyên tre luồng của dự án và xuất phát từ thực tế về tiềm năng tài nguyên tre luồng của tỉnh nhà, tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn,
phát triển bền vững tài nguyên tre luồng tại công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam, Tỉnh Thanh Hóa”
Tôi hi vọng, kết quả nghiên cứu đạt được của đề tài sẽ góp một phần hữu ích cho dự án để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên tre luồng nơi đây
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu về tre luồng trên thế giới
Tre luồng thuộc phân họ tre (Bambusoideae), họ Hòa thảo (Poaceae) Tre luồng là loài thực vật thuộc lớp một lá mầm (Monocotydeae), bộ cỏ (Poales), phân họ tre nứa (Bambusoideae)
Trên thế giới phân họ tre có khoảng 1200 loài, 70 chi, phân bố chủ yếu
ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Một số ít loài tre luồng phân bố ở vùng ôn đới Tre luồng mọc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thường mọc thành rừng thuần loài hay hỗn loài với cây gỗ Tổng diện tích rừng tre luồng cả thuần loài hay hỗn giao trên thế giới ước tính khoảng 20 triệu ha Trung quốc và Ấn Độ
là hai nước có diện tích rừng tre nữa lớn nhất thế giới (bảng 1.1) và có nhiều thành phần loài phong phú nhất
Bảng 1.1 Diện tích và số lượng các chi, loài tre nứa của một số nước STT Tên quốc gia và các
châu lục Diện tích (Triệu ha) Số chi
Số loài (gồm các thứ và các dạng)
7,000 (trong đó có rừng hỗn giao là 3000)
14 Châu Đại Dương và các
15 Châu Mỹ (cả Nam Mỹ và
16 Châu phi (gồm cả
Trang 111.2 Tình hình nghiên cứu về tre luồng tại Việt Nam
Ở Việt Nam, ngoài rừng tre mọc tự nhiên tập trung, còn hàng triệu cây tre được trồng tập trung như Luồng (Thanh Hóa, Nghệ An) hoặc rải rác trong các gia đình ở vùng đồng bằng, trung du núi cũng tạo một lượng tre luồng lớn
Trên thế giới tre luồng được nghiên cứu từ rất lâu Năm 1921 Troup đã tổng hợp những hiểu biết đầu tiên về tre nứa vào tác phẩm “Phương pháp sử
lý về lâm học đối với cây rừng ở ấn Độ”
Năm 1959 tổ chức FAO cho xuất bản cuốn “Rừng tre” giới thiệu các đặc điểm sinh vật học của tre trúc, xong chưa đưa ra hướng sử dụng, tác động của con người nhằm lợi dụng các thuộc tính vào công tác gây trồng
Một số tác giả như: Ohrnberyer D và J Georrings (1983), Jean Z Dah Dovonon (200) , Zhou Fangchun (2000) đã thu thập được mẫu vật, mô tả được nhiều loài, chỉ trong phân họ Bambusoideae, mô tả đặc điểm họ Poaceae, cấu trúc thân ngầm, thân khí sinh, lá quang hợp, mo nang một số chi, loài trong phân họ này
Năm 1960, Koichiro uede (Nhật Bản) đã công bố kết quả nghiên cứu của mình về tre luồng tại Nhật Bản, đưa ra những kết luận về các quá trình sinh lý của tre luồng tại Nhật Bản, đưa ra những kết luận về các quá trình sinh
lý của tre luồng trong khu vực và một số loài của Việt Nam Tuy nhiên, công
Trang 12trình trên chưa nghiên cứu hết các loài có trong khu vực, trong đó có Việt Nam
Năm 1998, Li D.Z (Viện thực vật Côn Minh) cho rằng số loài tre luồng của Trung Quốc đã tăng lên đến 42 chi và 500 loài
Năm 1999, Rao N và Rao V Ramanatha đã đưa ra một sô kết quả về nghiên cứu có liên quan tới đặc điểm sinh thái, như bảng tổng hợp về chi tiêu của một số nhân tố sinh thái: loại đất, hàm lượng mùn trong đất, lượng mưa,
số ngày mưa trong năm của 19 loài tre luồng của Trung Quốc
Năm 2000, tác giả Zhu Zhaohua cho biết: ở tỉnh đảo Hải Nam rất gần với Việt Nam đã phát hiện được 46 loài tre luồng, trong đó có 38 loài phân bố
tự nhiên, chủ yếu có 3 loài mọc tản thuộc chi Phyllostachys và Sasa; tại tỉnh Vân Nam có 250 loài đã được phát hiện, diện tích tre luồng đạt tới 331000 ha, riêng loài Phyllostachys heteroycta var Pubescens chiếm 80% diện tích kể trên
D.N Tewari (2001) cho rằng Ấn Độ là nước có diện tích tre luồng lớn nhất thế giới, khoảng 2 triệu ha, phân bố từ sát biển lên tới độ cao 3700 sát chân núi Hymalaya Có 50% số loài tập trung phân bố ở phía tây Ấn Độ, đa
số loài có thân mọc cụm như bambusa, Dendrocalamus, Giantochloa, oxytenanthera Tác giả cũng đưa ra dẫn liệu về độ cao phân bố của một số loài cụ thể
Bảng 1.2 Diện tích rừng tre luồng ở Việt Nam
Trang 13Theo thống kê của cục kiểm lâm (2007) tổng diện tích rừng tre của Việt Nam là 1438.664 ha; trong đó có 1.353.100 ha rừng tre luồng tự nhiên (bao gồm 664.860 ha rừng tre thuần loài và 688.240 ha rừng tre hỗn giao) (bảng 1.3)
Năm 1965, Phạm Văn Tích đã tổng kết kinh nghiệm trồng Luồng Thanh Hóa
Năm 1971, Lê Nguyên và các cộng sự đưa ra các đặc điểm cơ bản của một số loài tre, cách gây trồng và phương thức khai thác chúng
Năm 1978, Vũ Văn Dùng đã công bố 47 loài tre khác nhau ở miền Bắc
và nếu cộng dụng, mùa ra măng, vùng phân bố của loài này
Năm 1990, Phạm Hoàng Hộ đã thống kê 19 chi, 95 loài tre và năm
1999, tác giả bổ sung số chi và loài tre của Việt Nam là 24 chi và 121 loài
Năm 1994, Ngô Quang Đê đã giới thiệu tóm tắt về đặc tính sinh vật học, đặc điểm sinh trưởng, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và sử dụng tre luồng nói chung Ngoài ra, còn giới thiệu kỹ thuật trồng một số loài tre luồng cụ thể đang được phát triển
Năm 1999, Trần Ngọc Hải nghiên cứu quy luật phân bố của Vầu, trồng bằng hom thân ngầm Năm 2000, tác giả đã phân tích giá trị dinh dưỡng của măng Vầu đắng so sánh hàm lượng (protein, lipit, xenluloza) với măng Bương, Luồng Cho đến năm 2001, tác giả đã giới thiệu 18 loài tre lấy măng chủ yếu ở Việt Nam
Năm 2001, Nguyễn Ngọc Bích đã đưa ra kết quả nghiên cứu về đất trồng Luồng như tính chất vật lý của đất, động thái độ ẩm và ảnh hưởng của cac phương thức trồng Luồng đến đất
Năm 2001, Nguyễn Hoàng Nghĩa đã đưa ra 9 loài nứa quan trọng nhất của Việt nam hiện nay : Luồng Thanh Hóa, Trúc sào, Vầu, Lồ ô, Tre gai, Mạy tông, Tầm vông, Mai, Diễn Đồng thời tác giả cũng đưa ra 3 loài tre quý hiếm
đang có nguy cơ bị tuyệt chủng là: Trúc vuông (Chimonobambusa quadrangularis (Fenzi) Makino), Trúc đen (Phyllostachys nigra (Lodd) Munro) Trúc hóa long (P Bambusoides Sied Et Zucc Var aucro Makino)
Trang 14Ngoài ra tác giả cũng đã nêu ra khu vực Đèo gió, Ngân Sơn, Cao Bằng là vùng phân bố chính của cả hai loài trúc quý hiếm (Trúc hóa long và Trúc vuông) Tác giả đã đưa ra một số hướng giải pháp để bảo tồn các loài này
Năm 2003, Trần Ngọc Hải đã đưa ra một số nhóm giải pháp để phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ tại một số thôn vùng đệm VQG Ba Vì – Hà Nội sau khi đã phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với phát triển tre Bương Tuy nhiên, các giải pháp mới chỉ dừng lại ở vấn đề nghiên cứu thành phần loài, phân bố, kĩ thuật gây trồng khai thác tre luồng Việc đánh giá vai trò của chúng thì hầu như chưa được đề cấp đến
Năm 2005, Trần Ngọc Hải đã điều tra được 10 loài tre luồng ở 2 xã Ngổ Luông – Tân Lạc và Đồng Bảng – Mai Châu – Hòa Bình và Khẳng định
3 loài Bương, Vầu, Mai là những loài thích hợp nên phát triển gây trồng trên diện rộng, đem lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường
Năm 2005, Lê Viết Lâm đã đưa ra bảng định loại chi và loài tre ở Việt Nam với 122 loài, 22 chi, kiểm tra và cập nhật tên khoa học mới, đặc biệt đưa
ra được 6 chi và 22 loài tre lần đầu được đặt tên khoa học ở Việt Nam bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam; đưa ra 22 loài cần được xem xét để xác nhận loài mới Theo tác giả, nếu thu thập đầy đủ để định loài thì số loài tre của Việt Nam phải tren 200 loài
Năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến đã công bố 7 loài
nứa thuộc chi nứa (Schizostachyum) như: Khốp cà ná (Cà ná, Ninh Thuận),
Nứa núi dinh (Bà Rịa – Vũng Tàu), Nứa đèo lò xo (Đắc Glei, Kon Tum), Nứa
lá to Saloong (Ngọc Hồi, Kon Tum), Nứa không tai Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa Bảo Lộc (Bảo Lộc, Lâm Đồng – mô tả để so sánh) Các tác giả
đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái của từng loài cụ thể
Năm 2006, Trần Văn Mão, Trần Ngọc Hải cùng một số tác giả khác dịch cuốn “Hỏi đáp về kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến tre” Cuốn sách có tổng số 265 câu hỏi liên quan về tre như: trồng, sử dụng, bảo
Trang 15quản,…tre luồng, giúp cho con người đọc có cái nhìn tổng quan về vai trò, cách sử dụng tre luồng có hiệu quả
Năm 2006, Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự đã phát hiện ra 6 loài tre quả thịt dựa trên cơ sở cấu tạo hình thái và giải phấu hoa quả, sáu loài tre quả thịt đã được mô tả và định danh để tạo nên một chi tre mới cho Việt Nam, đó
là chi tre quả thịt (melocalamus) Các loài đã được nhận biết là Dẹ Yên Bái (melocalamus yebaiensis), Tre quả thịt Cúc Phương (m Pacoensis), Tre quả thịt Lộc Bắc (m Blaoensis), Tre quả thịt Pà Cò (m Pacoensis) và Tre quả thịt Trường Sơn (m Truongsonensis)
Năm 2007, Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến đã phát hiện thêm
một loài nứa mới cho Việt Nam có tên là Nứa Sa Pa (Schizostachyum) chinense Rendle) được tìm thấy trong rừng lá rộng thường xanh của VQG
Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai), tác giả đã mô tả về đặc điểm hình thái, sinh thái học của loài
Năm 2007, tập thể các tác giả đã giới thiệu 44 loài cây có sợi trong đó
có 35 loài tre nứa Các tác giả đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh học, phân bố, công dụng, kỹ thuật nhân giống, gây trồng, giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn chúng
Năm 2008, Phạm Thành Trang đã đánh giá được hiện trạng tài nguyên tre luồng và vai trò của chúng đối với cộng đồng người dân tộc Thái ở huyện vùng cao Mai Châu – Hòa Bình
Tạ Thị Nữ Hoàng (2010), nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của
loài Trúc đen (Phyllostachys nigra Munro) làm cơ sở cho việc bảo tồn loài
cây này tại Vườn quốc gia Hoàng Liên – Lào Cai
Trong 5 năm gần đây nhóm nghiên cứu tre luồng của Viện nghiên cứu Lâm nghiệp và Viện Điều tra quy hoạch rừng đã phối hợp với 2 giáo sư người Trung Quốc là Hà Niệm Hòa (Xia NiaNhe) của Viện Nghiên cứu Hoa Nam (Quảng Châu) và Li De Zu Viện Thực vật Côn Minh đã đưa số taxon tre luồng Việt Nam lên 29 chi và 140 loài trong đó có 5 loài mới và 6 chi, 22 loài
Trang 16đầu tiên được thống kê ở Việt Nam Đây được coi là một trong những loài mới cho ngành Lâm nghiệp Việt Nam nói chung
Từ những công trình nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh thái, sinh vật học loài Trúc đen Khác với các công tình nghiên cứu kể trên tại khu vực, việc đề tài nghiên cứu đã phát hiện và đánh giá được hiện trạng tài nguyên của các loài tre luồng tại khu vực nghiên cứu, sẽ góp phần cung cấp những thông tin về phân loại, phát hiện và bổ sung các chi, loài mới vào danh lục Và ngày càng được tìm hiểu và phát triển các loài tre luồng tại khu vực nghiên cứu, đem lại vai trò và ý nghĩa to lớn cho đời sống cộng đồng người dân địa phương
Trang 17CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Cung cấp cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển tài nguyên tre luồng tại Công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam, tỉnh Thanh Hóa
Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được hiện trạng tại tài nguyên tre luồng tại Công viên sinh
thái tre luồng Thanh Tam, tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất được giải pháp bảo tồn và phát bền vững tài nguyên tre
luồng tại khu vực nghiên cứu
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên tre luồng tại Công viên sinh thái
tre luồng Thanh Tam, tỉnh Thanh Hóa
- Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về tài nguyên tre luồng tại khu vực nghiên
cứu
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên tre luồng
tại khu vực nghiên cứu
2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Các loài tre, luồng tại công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam, Tỉnh Thanh Hóa
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi điều tra được xác định trên toàn bộ diện tích của công viên
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Những thông tin, tư liệu về diện tích, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh
tế - xã hội khu vực nghiên cứu được tham khảo từ bản “Bản báo cáo phương
Trang 18án quy hoạch Công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam” thuộc quyền quản lý đầu tư của Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn
2.4.2 Phương pháp thực nghiệm
2.4.2.1 Điều tra thu thập số liệu
a Bộ cơ sở dữ liệu tre luồng
Tiến hành đo đếm từng cây theo từng loài, bấm tọa độ của từng khóm, tiếp theo đó là chụp ảnh chi tiết từng loài, sử dụng tọa độ từng khóm đưa vào bản đồ để xây dựng bản đồ hiện trạng từng loài, số lượng bao nhiêu, trồng ở đâu, trồng năm bao nhiêu, phân bố ra sao, sinh trưởng tốt hay không, thu thập miêu tả đặc điểm hình thái một số loài chưa giám định chính xác được tên loài
Những thông tin về đặc điểm hình thái, sinh thái, đặc điểm phân bố địa
lý của 13 loài một phần được tham khảo từ các website chính thống của thế giới, được dịch từ tiếng Anh, tiếng Pháp sang tiếng Việt Còn lại tự tác giả miêu tả đặc điểm thực của các loài tại khu vực nghiên cứu
- Đối với đồi luồng: Tiến hành lập ô tiêu chuẩn đơn thuần có diện tích
500 m2 (25m x 25m) Sau đó tiến hành đếm số lượng khóm trong ô tiêu chuẩn Lập nhiều ô tiêu chuẩn ở nhiều nơi khác nhau, đo đếm và lấy số lượng khóm trung bình trong ô tiêu chuẩn và ước lượng số lượng khóm trên mỗi diện tích tương ứng Theo cách tính như sau:
Trang 19Tiến hành đếm thủ công, bởi vì số lượng ít nên đếm thủ công sẽ cho số liệu chính xác hơn
- Điều tra thu thập vị trí địa lý của 13 loài trong vườn tre quốc tế
Tiến hành thu thập tọa độ từng khóm của từng loài, sử dụng máy GPS cầm tay Garmin eTrex 10
- Điều tra thu thập bộ hình ảnh
Dụng cụ sử dụng trong quá trình thu thập gồm : máy ảnh, tờ giấy A0, Thước kẻ, bút chì Tiến hành thu thập, chụp ảnh các bộ phận của từng loài, mỗi loài khoảng 10 bức ảnh bao gồm: chụp tổng thể khóm, lóng (thân), cành nhánh, lá, lá mo (bẹ), tai mo Nên chụp vào lúc có ánh nắng mặt trời để chất lượng ảnh được sắc nét, và chân thực nhất
1 Cách chính sách phát triển tre luồng của tỉnh trong công viên nói chung đã hợp lý hay chưa?
2 Việc khai thác Luồng trong công viên có hợp lý không?
3 Ý thức khách du lịch như thế nào? Có tình trạng vứt rác bừa bãi hay
vẽ bậy lên cây hay không?
4 Người dân địa phương có thường xuyên mang trâu bò vào làm ảnh hưởng đến tre và măng tre hay không?
5 Nhân viên môi trường có thường xuyên dọn dẹp cảnh quan môi trường không?
2.4.3 Phương pháp phi thực nghiệm
2.4.3.1 Phương pháp xây dựng bản đồ
Trang 20Sử dụng phầm mềm Mapinfo phiên bản 15.0 thiết kế sơ đồ, bản đồ tọa
độ 13 loài tre trong vườn tre hữu nghị thế giới, và thể hiện hiện trạng toàn bộ tài nguyên tre luồng trong công viên bao gồm cả đồi Luồng và đồi Tầm vông
Trang 21CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI CÔNG VIÊN SINH
THÁI TRE LUỒNG THANH TAM 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam nằm trên địa phận các xã Xuân Bái, Xuân Phú, Thọ Xương huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa
Tọa độ địa lý: 19o52’29” đến 19o53’31” độ vĩ Bắc
105o23’24” đến 105o24’18” độ kinh Đông
Phạm vi ranh giới:
- Phía Bắc giáp xã Thọ Xương, xã Xuân Bái
- Phía Nam giáp xã Xuân Phú
- Phía Đông giáp Khu công nghệ cao của Công ty, xã Thọ Xương
- Phía Tây giáp xã Xuân Bái và huyện Thường Xuân
3.1.2 Diện tích
Công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam được quy hoạch trên diện tích 102,38 ha tại 3 xã Xuân Bái, xã Xuân Phú và Thọ Xương của huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa Diện tích này nằm trong diện quy hoạch của UBND tỉnh giao cho Công ty cổ phần Mía Đường Lam Sơn để xây dựng công viên
sinh thái tre luồng
3.1.3 Địa hình – địa chất
a Địa hình
Công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam nằm trên liểu địa hình đồi bát
úp có độ cao từ 120 – 130 m so với mực nước Biển Độ dốc từ 10 – 20o, mức
độ chia cắt địa hình ít
b Địa chất
Từ nền địa chất với 2 cấu tạo chính là: macma axit và phiến thạch sét
đã phát triển thành 3 loại đất chính như sau:
Trang 22Đất phát triển trên đá sét (Fs): Có diện tích khá lớn, tập trung chủ yếu ở phía Bắc Loại đất này tuy có độ phì khá, nhưng nhược điểm là thành phần cơ giới nặng, nên khi mất rừng thì đất dễ bị thoái hoá một cách nhanh chóng
Đất phát triển trên đá Grannit: có diện tích nhỏ, tập trung ở phía Nam xen lẫn với đá sét,
Đất phát triển trên phù sa cổ: Gồm các loại đất được bồi tụ ven suối, ven sông, chiếm một diện tích nhỏ ở phía Bắc và phía Tây Bắc, thường phân
bố trên các dạng địa hình khá bằng phẳng và những vùng trũng bị ngập nước vào mùa mưa
3.1.4 Khí hậu
Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của khu vực như sau:
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm từ 23 – 24oC, mùa nóng nhiệt độ TB
3.1.6 Tài nguyên đa dạng sinh học
Trong khu vực chủ yếu là rừng Luồng do người dân trồng trước đây, ngoài ra còn có rừng Keo tai tượng, Cao su, Quế, Xoan, Lát, Mít, Chuối … được trồng rải rác Một phần diện tích được Công ty trồng cây ăn quả: Bưởi, Cam, Thanh long, Phật thủ
Trang 233.1.7 Tình hình dân sinh kinh tế - xã hội
Trong khu vực có một số hộ dân sinh sống, chủ yếu làm nghề nông Giao thông tương đối thuận tiện, gần đường Hồ Chí Minh, trong khu vực đều
có đường mòn hoặc đường ô tô lưu thông Trạm y tế, trường học tập trung tại trung tâm các xã và thị trấn Lam Sơn
Trang 24CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Hiện trạng tài nguyên tre luồng
Hiện nay công viên có khoảng 33,84 hecta tre luồng qua đo đếm được, trong đó luồng chiếm đại đa số diện tích toàn bộ với 28 hecta Sau đó là tầm vông với xấp xĩ 5 ha và vườn tre hữu nghĩ quốc tế khoảng 0,83 ha
Vườn tre hữu nghị quốc tế có diện tích 0,83 ha với 13 loài tre luồng khác
nhau, chủ yếu trồng từ năm 2017
Luồng qua đo đếm được có khoảng 14.000 khóm với 4 đồi với các diện tích khác nhau Luồng chủ yếu là do người dân địa phương khi chưa quy hoạch công viên họ để lại và do nhà đầu tư mua lại
Bảng 4.1 Thống kê hiện trạng tài nguyên tre luồng tại công viên
Số lượng (khóm)
3 Tre xiêm Bambusa longipiculata
Vườn tre hữu nghị quốc tế
Vườn tre hữu nghị quốc tế
vông
Thyrsostachys siamensis
(Kurz ex Munro) Gamble
832
Đồi tầm vông, dọc đường vào công viên
Tháng
3, 2017 Thái Lan
9 Tre đen
Timor Bambusa lako Widjaja 121
Vườn tre hữu nghị quốc tế
Vườn tre hữu nghị quốc tế
Tháng
3, 2017 Trung Quốc
Trang 2512 Tre đen
java
Gigantochloa atroviolacea Widjaja 1
Vườn tre hữu nghị quốc tế
14 Luồng Dendrocalamus barbatus
Hsuch et D.Z.Li 14.000 Đồi luồng 2015 Việt Nam
Tổng có 14 loài trên diện tích 33,83 ha
Hình 4.1 Bản đồ phân bố tài nguyên tre luồng trong toàn bộ công viên
Trang 26Hình 4.2 Bản đồ phân bố tài nguyên tre luồng trong vườn tre quốc tế
Hầu hết tất cả các loài tre đều phát triển tốt, trừ Luồng do trồng lâu năm
và ít được chăm sóc nên mật độ còn thưa và sơ xác Cần được thâm canh, bón
phân định kì Các loài tre quốc tế phát triển rất tốt, đặc biệt là Timor black
Tre cà phê, Mạnh tông, nên mở rộng trồng thêm, và đặc biệt với quy mô công viên 102 ha và chỉ có 13 loài tre luồng là còn rất ít, nên nghiên cứu trồng thêm nhiều loài tre quốc tế có tiềm năng khác
4.2 Cơ sở dữ liệu Tre luồng
Trang 27Lá hình dải trên nhọn dưới tụ, dài khoảng 7-8cm, rộng 1,5cm, cuống lá rất ngắn Lá mo hình thang hẹp, dài 11-12cm, rộng 5-6cm Tai mo dài 4cm, rộng 4cm, hình tháp nhọn
Đặc điểm sinh thái
Chúng có thể chịu được khí hậu lạnh, khắc nghiệt, và có thể chịu được
cả khí hậu nóng Tùy theo môi trường khí hậu mà nó sinh sống sẽ quyết định đến kích thước, sự sinh trưởng phát triển của chúng
Phân bố địa lý
Trên thế giới: Chúng được tìm thấy ở miền Nam và miền Trung của
Trung Quốc, Hoặc ở Đông Dương
Trong công viên
Hình 4.3 Bản đồ phần bố Tre vàng sọc trong vườn tre quốc tế
Trang 28Hiện trạng loài Tre vàng sọc tại khu vực nghiên cứu
Tre vàng sọc được ghi nhận có 17 khóm tại khu vực nghiên cứu Loài này được trồng từ năm 2017 Hiện tại chiều cao trung bình đạt khoảng 1,8m Giống được lấy từ Làng tre Phú An (Địa chỉ: Bến Cát, Bình Dương)
Tre vàng sọc sinh trưởng ở mức trung bình tại khu vực nghiên cứu Không ghi nhận có hiện tượng sâu hại nhưng phát triển chậm, không thấy hiện tượng chồi non mọc
Bảng 4.2 Thống kê hiện trạng Tre vàng sọc tại công viên
Tên loài
Số lượng (khóm)
Nguồn gốc cây giống Năm trồng Tình hình sinh trưởng
Trang 294.2.2 Cây Le (Mạy lay)
Tên khoa học: Gigantochloa albociliata - (Munro) Kurz
Đặc điểm sinh thái
Cây được trồng bằng thân ngầm và hạt Đây là loài ra hoa không theo chu kỳ
Phân bố địa lý
Là loài phân bố tự nhiên ở Mianma, Thái Lan, Lào, và Việt Nam Chúng mọc trong rừng tự nhiên và được trồng trong vườn ở tỉnh Sơn La, Điện Biên, Thanh Hóa Có người cho rằng loài được nhập trồng vào Lào và Việt
Nam (wikipedia)
Trang 30Trong công viên
Hình 4.5 Bản đồ Mạy lay trong vườn tre quốc tế
Giá trị sử dụng
Mạy lay là loài tre nhỏ, măng rất ngon nên dùng làm thực phẩm, đồng
bào Thái coi măng Mạy lay như rau muống của đồng bào miền xuôi Thân
cây dùng cho xây dựng nhẹ (phên che, mái), làm hàng rào, cán nông cụ, đồ
mộc bằng tre
Hiện trạng loài Mạy lay tại khu vực nghiên cứu
Mạy lay được ghi nhận có 18 khóm tại khu vực nghiên cứu Loài này
được trồng từ năm 2017 Hiện tại chiều cao trung bình đạt khoảng 8m Giống
được lấy từ Làng tre Phú An (Địa chỉ: Bến Cát, Bình Dương)
Mạy lay sinh trưởng tốt tại khu vực nghiên cứu Không ghi nhận có
hiện tượng sâu hại nhưng ít thấy măng non mọc lên
Trang 31Bảng 4.3 Thống kê hiện trạng mạy lay tại công viên
Tên loài Số lượng
(khóm)
Nguồn gốc cây giống Năm trồng Tình hình sinh trưởng
Đặc điểm sinh thái
Khả năng chịu nhiệt tối thiếu của loài này là -2° C Chúng thích nghi tốt với những nơi có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới
Trang 32Điều kiện ánh sáng tối ưu để chúng phát triển là nơi có ánh sáng mặt trời đầy đủ Chúng sống ở nơi có đất ẩm, tơi xốp và thoát nước tốt
Phân bố địa lý
Trên thế giới: Có nguồn gốc từ Bangladesh và Myanmar, nhưng được
trồng rộng rãi ở nhiều nơi, điển hình là Úc Ngoài ra nó còn được trồng nhiều
ở Thái Lan
Trong công viên
Hình 4.7 Bản đồ phân bố tre xiêm trong vườn tre quốc tế
Trang 33Tre xiêm được ghi nhận có 28 khóm tại khu vực nghiên cứu Loài này được trồng từ năm 2017 Hiện tại chiều cao trung bình đạt 12m Giống được lấy từ Làng tre Phú An (Địa chỉ: Bến Cát, Bình Dương)
Tre xiên sinh trưởng khá tốt tại khu vực nghiên cứu Không ghi nhận có hiện tượng sâu hại, vào mùa khô nên ít thấy măng non mọc
Bảng 4.4 Thống kê hiện trạng tre xiêm tại công viên
Tên loài
Số lượng khóm
Nguồn gốc cây giống Năm trồng Tình hình sinh trưởng
Tre xiêm 28 Làng tre
Trang 34Phiến lá thuôn dài, hình dải đều, đầu tròn, dài khoảng 9cm, rộng 1,5cm
Lá mo màu nâu nhạt, dài 15cm, rộng 12cm Tai mo hình mũi giáo dài 6cm, rộng 4cm
Đặc điểm sinh thái
Chúng sinh sống vùng quanh bờ sông, sinh trưởng ở độ cao 200-500m
so với mực nước biển
Tre nói chung thường là một loài đơn bào, sống nhiều năm trước khi ra hoa, sau đó ra hoa và gieo hạt trong khoảng thời gian 1 - 3 năm trước khi thường chết
Hạt giống tre đá phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 20°C, thời gian nảy mầm dao động 3-6 tháng, nên trồng ở nơi có bóng râm
Phân bố địa lý
Trên thế giới: Miền nam Trung Quốc
Trong công viên
Trang 35Hình 4.9 Bản đồ phân bố địa lý trúc đá trong vườn tre quốc tế Hiện trạng loài tại khu vực nghiên cứu
Tre đá được ghi nhận có 10 khóm tại khu vực nghiên cứu Loài này được trồng từ năm 2017 Hiện tại chiều cao trung bình đạt 11m Giống được lấy từ Làng tre Phú An (Địa chỉ: Bến Cát, Bình Dương)
Tre đá sinh trưởng tương đối tốt tại khu vực nghiên cứu Không ghi nhận có hiện tượng sâu hại, vào mùa khô nên ít thấy măng non mọc
Bảng 4.5 Thống kê hiện trạng tre đá tại công viên
Tên loài
Số lượng (khóm)
Nguồn gốc cây giống Năm trồng Tình hình sinh trưởng Tre đá 10 Làng tre
Trang 37Phiến lá dài 23-25cm và rộng 2,5-3cm Gốc lá nhọn Gân lá 8 đôi Lưỡi
lá thấp, tai lá mang 4-5 lông dài 0,4cm Cuống lá rộng 0,15cm, dài 0,3cm
Đặc điểm sinh thái
Mùa măng vào các tháng 5-9
Phân bố địa lý
Trên thế giới: Trung Quốc
ở Việt Nam: Mọc tập trung ở vùng Bắc Trung Bộ và trung tâm Bắc Bộ
Trang 38Hình 4.11 Bản đồ phân bố Nứa lá nhỏ trong vườn tre quốc tế
Giá trị sử dụng
Nứa là loài tre có kích thước thân trung bình được sử dụng trong xây dựng làm phêm tre, lợp mái, làm dàn tre trong sản xuất nông nghiệp Nứa lá nhỏ đã được nghiên cứu sản xuất ván ghép, thanh làm tường, ngăn hoặc ốp tường rất đẹp vì giữ được màu xanh tự nhiên Măng nứa lá nhỏ có thể ăn tươi hoặc muối chua
Hiện trạng loài tại khu vực nghiên cứu
Nứa lá nhỏ được ghi nhận có 12 khóm tại khu vực nghiên cứu Loài này được trồng từ năm 2017 Hiện tại chiều cao trung bình đạt 11m Giống được lấy từ Làng tre Phú An (Địa chỉ: Bến Cát, Bình Dương)
Nứa lá nhỏ sinh trưởng tương đối tốt tại khu vực nghiên cứu Không ghi nhận có hiện tượng cháy lá, vào mùa khô nên ít thấy măng non mọc