1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên tre luồng tại công viên sinh thái tre luồng thanh tam, tỉnh thanh hóa (khóa luận quản lý tài nguyên rừng và môi trường)

76 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 3,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG ------ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN TRE LU

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG

- -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN

VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN TRE LUỒNG TẠI CÔNG VIÊN SINH THÁI TRE LUỒNG THANH TAM, TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và Môi trường

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2020

Người cam đoan

Trần Thị Huyền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Văn Sâm – Thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo nhà trường, Ban lãnh đạo khoa cùng quý thầy cô khoa Quản lý tài nguyên và Môi trường

đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban quản lý dự án của công viên sinh thái Tre luồng Thanh Tam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi tốt nhất để giúp tôi hoàn thành nghiên cứu của mình

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè đã luôn dành sự động viên, giúp đỡ và ủng hộ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Trong quá trình thực hiên luận văn còn hạn chế về thời gian kinh phí cũng như trình độ chuyên môn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô, các nhà khoa học và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2020

Tác giả

Trần Thị Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ vi

DANH MỤC BẢNG vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 3

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu về tre luồng trên thế giới 3

1.2 Tình hình nghiên cứu về tre luồng tại Việt Nam 4

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 10

2.2 Nội dung nghiên cứu 10

2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

2.4 Phương pháp nghiên cứu 10

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu 10

2.4.2 Phương pháp thực nghiệm 11

2.4.3 Phương pháp phi thực nghiệm 12

3.1 Điều kiện tự nhiên 14

3.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính 14

3.1.2 Diện tích 14

3.1.3 Địa hình – địa chất 14

3.1.4 Khí hậu 15

3.1.5 Thủy văn 15

3.1.6 Tài nguyên đa dạng sinh học 15

3.1.7 Tình hình dân sinh kinh tế - xã hội 16

4.1 Hiện trạng tài nguyên tre luồng 17

4.2 Cơ sở dữ liệu Tre luồng 19

4.2.1 Tre vàng sọc 19

Trang 5

4.2.2 Cây Le (Mạy lay) 22

4.2.3 Tre xiêm 24

4.2.4 Tre đá 27

4.2.5 Nứa lá nhỏ 30

4.2.6 Mạnh tông 32

4.2.7 Tre mỡ 36

4.2.8 Tầm vông Thái 39

4.2.9 Tre đen timor 43

4.2.10 Tre cà phê 46

4.2.11 Điền trúc 48

4.2.12 Tre đen Java 51

4.2.13 Tre gai 53

4.2.14 Luồng 56

4.4 Đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển bền vững tài nguyên tre luồng tại khu vực nghiên cứu 60

4.4.1 Vườn tre hữu nghị quốc tế 60

4.4.2 Đồi luồng 61

4.4.3 Áp dụng công nghệ thông tin giúp bảo tồn tài nguyên tre luồng đi đôi với phát triển du lịch sinh thái 62

4.4.4 Áp dụng mô hình canh tác tre luồng phát triển du lịch sinh thái 65

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ

Hình 4.1 Bản đồ phân bố tài nguyên tre luồng trong toàn bộ công viên 18

Hình 4.2 Bản đồ phân bố tài nguyên tre luồng trong vườn tre quốc tế 19

Hình 4.3 Bản đồ phần bố Tre vàng sọc trong vườn tre quốc tế 20

Hình 4.4 Bản đồ mạy lay trong vườn tre quốc tế 23

Hình 4.5 Bản đồ phân bố tre xiêm trong vườn tre quốc tế 25

Hình 4.6 Bản đồ phân bố địa lý trúc đá trong vườn tre quốc tế 28

Hình 4.7 Bản đồ phân bố Nứa lá nhỏ trong vườn tre quốc tế 31

Hình 4.8 Bản đồ phân bố Mạnh tông trong vườn tre quốc tế 34

Hình 4.9 Bản đồ phân bố tre mỡ trong vườn tre quốc tế 37

Hình 4.10 Hình Bản đồ phân bố loài tầm vông trong vườn tre quốc tế 41

Hình 4.11 Bản đồ phân bố Timor black trong vườn tre quốc tế 44

Hình 4.12 Bản đồ phân bố tre cà phê trong vườn tre quốc tế 47

Hình 4.13 Bản đồ phân bố điền trúc trong vườn tre quốc tế 49

Hình 4.14 Bản đồ phân bố Java black trong vườn tre quốc tế 52

Hình 4.15 Bản đồ phân bố tre gai trong vườn tre quốc tế 54

Hình 4.16 Bản đồ phân bố Luồng trong công viên 57

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Diện tích và số lượng các chi, loài tre nứa của một số nước 3

Bảng 1.2 Diện tích rừng tre luồng ở Việt Nam 5

Bảng 4.1 Thống kê hiện trạng tài nguyên tre luồng tại công viên 17

Bảng 4.2 Thống kê hiện trạng tre vàng sọc tại công viên 21

Bảng 4.3 Thống kê hiện trạng mạy lay tại công viên 24

Bảng 4.4 Thống kê hiện trạng tre xiêm tại công viên 26

Bảng 4.5 Thống kê hiện trạng tre đá tại công viên 28

Bảng 4.6 Thống kê hiện trạng Nứa lá nhỏ tại công viên 32

Bảng 4.7 Thống kê hiện trạng Mạnh tông tại công viên 35

Bảng 4.8 Thống kê hiện trạng tre mỡ tại công viên 38

Bảng 4.9 Thống kê hiện trạng tầm vông tại công viên 42

Bảng 4.10 Thống kê hiện trạng timor black tại công viên 45

Bảng 4.11 Thống kê hiện trạng tre cà phê tại công viên 47

Bảng 4.12 Thống kê hiện trạng điền trúc tại công viên 50

Bảng 4.13 Thống kê hiện trạng Java black tại công viên 53

Bảng 4.14 Thống kê hiện trạng tre gai tại công viên 55

Bảng 4.15 Thống kê hiện trạng loài Luồng tại công viên 58

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ xa xưa, tre luồng đã gắn liền với đời sống của nhân dân, lịch sử hào hùng của dân tộc, và cây tre đã trở thành biểu tượng của dân tộc việt nam kiên cường bất khuất Người dân dử dụng tre nứa trong nhiều công việc khác nhau như: dùng trong xây dựng, làm nguyên liệu cho các đồ thủ công mỹ nghệ, làm nguyên liệu giấy, xuất khẩu Măng tre luồng làm thực phẩm được nhiều người

ưa chuộng và có giá trị xuất khẩu cao Ngoài ra, rừng tre luồng thường có mật

độ rất cao, hệ rễ chùng và ngầm phát triển nên có khả năng chống xói mòn, rửa trôi đất Ngày nay, tre luồng còn là tài nguyên xanh, ngành công nghiệp không khói để phát triển kinh tế, phát triển du lịch sinh thái bền vững

Thanh hóa là nơi có địa hình phức tạp, nằm trong khu vực Bắc Trung

Bộ của đất nước Việt Nam, chịu ảnh hưởng lớn của chế độ nhiệt đới ẩm gió mùa vậy nên tài nguyên tre luồng khá phong phú Diện tích tre luồng Thanh Hóa chiếm 80% diện tích tre luồng cả nước

Hiện nay, công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam, Thanh Hóa đã và đang xây dựng hoàn thành trong giai đoạn 1 (2015-2010) và chuẩn bị bước vào xây dựng giai đoạn 2 (2020-2025) Dự án công viên xây dựng do chủ đầu

tư Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn xây dựng nhằm bảo tồn lưu giữ và phát triển nhân giống nuôi cấy cho ra những loài tre quý hiếm, cũng như phát triển đồ thủ công mỹ nghệ từ tre luồng cho người dân địa phương, ngoài ra còn phát triển du lịch sinh thái, tâm linh, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ trong khuôn viên dự án Đồi sinh thái và phát triển tre luồng có diện tích khoảng 35 ha nằm trong dự án công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam Là công viên tre luồng đầu tiên tại Việt Nam, có đầy đủ tiềm năng để phát triển Song, dự án mới ở giai đoạn 1 còn nguyên sơ và cần phát triển xây dựng thêm nhiều cơ sở hạ tầng cũng như tìm hiểu và đầu tư thêm để tài nguyên tre luồng nơi đây được phong phú thêm, thu hút khách du lịch cũng như góp phần phát triển du lịch sinh thái, du lịch phát triển bền vững

Trang 9

Nhằm phục vụ cho dự án phát triển tài nguyên tre luồng của dự án và xuất phát từ thực tế về tiềm năng tài nguyên tre luồng của tỉnh nhà, tôi tiến

hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn,

phát triển bền vững tài nguyên tre luồng tại công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam, Tỉnh Thanh Hóa”

Tôi hi vọng, kết quả nghiên cứu đạt được của đề tài sẽ góp một phần hữu ích cho dự án để bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên tre luồng nơi đây

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu về tre luồng trên thế giới

Tre luồng thuộc phân họ tre (Bambusoideae), họ Hòa thảo (Poaceae) Tre luồng là loài thực vật thuộc lớp một lá mầm (Monocotydeae), bộ cỏ (Poales), phân họ tre nứa (Bambusoideae)

Trên thế giới phân họ tre có khoảng 1200 loài, 70 chi, phân bố chủ yếu

ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Một số ít loài tre luồng phân bố ở vùng ôn đới Tre luồng mọc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thường mọc thành rừng thuần loài hay hỗn loài với cây gỗ Tổng diện tích rừng tre luồng cả thuần loài hay hỗn giao trên thế giới ước tính khoảng 20 triệu ha Trung quốc và Ấn Độ

là hai nước có diện tích rừng tre nữa lớn nhất thế giới (bảng 1.1) và có nhiều thành phần loài phong phú nhất

Bảng 1.1 Diện tích và số lượng các chi, loài tre nứa của một số nước STT Tên quốc gia và các

châu lục Diện tích (Triệu ha) Số chi

Số loài (gồm các thứ và các dạng)

7,000 (trong đó có rừng hỗn giao là 3000)

14 Châu Đại Dương và các

15 Châu Mỹ (cả Nam Mỹ và

16 Châu phi (gồm cả

Trang 11

1.2 Tình hình nghiên cứu về tre luồng tại Việt Nam

Ở Việt Nam, ngoài rừng tre mọc tự nhiên tập trung, còn hàng triệu cây tre được trồng tập trung như Luồng (Thanh Hóa, Nghệ An) hoặc rải rác trong các gia đình ở vùng đồng bằng, trung du núi cũng tạo một lượng tre luồng lớn

Trên thế giới tre luồng được nghiên cứu từ rất lâu Năm 1921 Troup đã tổng hợp những hiểu biết đầu tiên về tre nứa vào tác phẩm “Phương pháp sử

lý về lâm học đối với cây rừng ở ấn Độ”

Năm 1959 tổ chức FAO cho xuất bản cuốn “Rừng tre” giới thiệu các đặc điểm sinh vật học của tre trúc, xong chưa đưa ra hướng sử dụng, tác động của con người nhằm lợi dụng các thuộc tính vào công tác gây trồng

Một số tác giả như: Ohrnberyer D và J Georrings (1983), Jean Z Dah Dovonon (200) , Zhou Fangchun (2000) đã thu thập được mẫu vật, mô tả được nhiều loài, chỉ trong phân họ Bambusoideae, mô tả đặc điểm họ Poaceae, cấu trúc thân ngầm, thân khí sinh, lá quang hợp, mo nang một số chi, loài trong phân họ này

Năm 1960, Koichiro uede (Nhật Bản) đã công bố kết quả nghiên cứu của mình về tre luồng tại Nhật Bản, đưa ra những kết luận về các quá trình sinh lý của tre luồng tại Nhật Bản, đưa ra những kết luận về các quá trình sinh

lý của tre luồng trong khu vực và một số loài của Việt Nam Tuy nhiên, công

Trang 12

trình trên chưa nghiên cứu hết các loài có trong khu vực, trong đó có Việt Nam

Năm 1998, Li D.Z (Viện thực vật Côn Minh) cho rằng số loài tre luồng của Trung Quốc đã tăng lên đến 42 chi và 500 loài

Năm 1999, Rao N và Rao V Ramanatha đã đưa ra một sô kết quả về nghiên cứu có liên quan tới đặc điểm sinh thái, như bảng tổng hợp về chi tiêu của một số nhân tố sinh thái: loại đất, hàm lượng mùn trong đất, lượng mưa,

số ngày mưa trong năm của 19 loài tre luồng của Trung Quốc

Năm 2000, tác giả Zhu Zhaohua cho biết: ở tỉnh đảo Hải Nam rất gần với Việt Nam đã phát hiện được 46 loài tre luồng, trong đó có 38 loài phân bố

tự nhiên, chủ yếu có 3 loài mọc tản thuộc chi Phyllostachys và Sasa; tại tỉnh Vân Nam có 250 loài đã được phát hiện, diện tích tre luồng đạt tới 331000 ha, riêng loài Phyllostachys heteroycta var Pubescens chiếm 80% diện tích kể trên

D.N Tewari (2001) cho rằng Ấn Độ là nước có diện tích tre luồng lớn nhất thế giới, khoảng 2 triệu ha, phân bố từ sát biển lên tới độ cao 3700 sát chân núi Hymalaya Có 50% số loài tập trung phân bố ở phía tây Ấn Độ, đa

số loài có thân mọc cụm như bambusa, Dendrocalamus, Giantochloa, oxytenanthera Tác giả cũng đưa ra dẫn liệu về độ cao phân bố của một số loài cụ thể

Bảng 1.2 Diện tích rừng tre luồng ở Việt Nam

Trang 13

Theo thống kê của cục kiểm lâm (2007) tổng diện tích rừng tre của Việt Nam là 1438.664 ha; trong đó có 1.353.100 ha rừng tre luồng tự nhiên (bao gồm 664.860 ha rừng tre thuần loài và 688.240 ha rừng tre hỗn giao) (bảng 1.3)

Năm 1965, Phạm Văn Tích đã tổng kết kinh nghiệm trồng Luồng Thanh Hóa

Năm 1971, Lê Nguyên và các cộng sự đưa ra các đặc điểm cơ bản của một số loài tre, cách gây trồng và phương thức khai thác chúng

Năm 1978, Vũ Văn Dùng đã công bố 47 loài tre khác nhau ở miền Bắc

và nếu cộng dụng, mùa ra măng, vùng phân bố của loài này

Năm 1990, Phạm Hoàng Hộ đã thống kê 19 chi, 95 loài tre và năm

1999, tác giả bổ sung số chi và loài tre của Việt Nam là 24 chi và 121 loài

Năm 1994, Ngô Quang Đê đã giới thiệu tóm tắt về đặc tính sinh vật học, đặc điểm sinh trưởng, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và sử dụng tre luồng nói chung Ngoài ra, còn giới thiệu kỹ thuật trồng một số loài tre luồng cụ thể đang được phát triển

Năm 1999, Trần Ngọc Hải nghiên cứu quy luật phân bố của Vầu, trồng bằng hom thân ngầm Năm 2000, tác giả đã phân tích giá trị dinh dưỡng của măng Vầu đắng so sánh hàm lượng (protein, lipit, xenluloza) với măng Bương, Luồng Cho đến năm 2001, tác giả đã giới thiệu 18 loài tre lấy măng chủ yếu ở Việt Nam

Năm 2001, Nguyễn Ngọc Bích đã đưa ra kết quả nghiên cứu về đất trồng Luồng như tính chất vật lý của đất, động thái độ ẩm và ảnh hưởng của cac phương thức trồng Luồng đến đất

Năm 2001, Nguyễn Hoàng Nghĩa đã đưa ra 9 loài nứa quan trọng nhất của Việt nam hiện nay : Luồng Thanh Hóa, Trúc sào, Vầu, Lồ ô, Tre gai, Mạy tông, Tầm vông, Mai, Diễn Đồng thời tác giả cũng đưa ra 3 loài tre quý hiếm

đang có nguy cơ bị tuyệt chủng là: Trúc vuông (Chimonobambusa quadrangularis (Fenzi) Makino), Trúc đen (Phyllostachys nigra (Lodd) Munro) Trúc hóa long (P Bambusoides Sied Et Zucc Var aucro Makino)

Trang 14

Ngoài ra tác giả cũng đã nêu ra khu vực Đèo gió, Ngân Sơn, Cao Bằng là vùng phân bố chính của cả hai loài trúc quý hiếm (Trúc hóa long và Trúc vuông) Tác giả đã đưa ra một số hướng giải pháp để bảo tồn các loài này

Năm 2003, Trần Ngọc Hải đã đưa ra một số nhóm giải pháp để phát triển bền vững lâm sản ngoài gỗ tại một số thôn vùng đệm VQG Ba Vì – Hà Nội sau khi đã phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với phát triển tre Bương Tuy nhiên, các giải pháp mới chỉ dừng lại ở vấn đề nghiên cứu thành phần loài, phân bố, kĩ thuật gây trồng khai thác tre luồng Việc đánh giá vai trò của chúng thì hầu như chưa được đề cấp đến

Năm 2005, Trần Ngọc Hải đã điều tra được 10 loài tre luồng ở 2 xã Ngổ Luông – Tân Lạc và Đồng Bảng – Mai Châu – Hòa Bình và Khẳng định

3 loài Bương, Vầu, Mai là những loài thích hợp nên phát triển gây trồng trên diện rộng, đem lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường

Năm 2005, Lê Viết Lâm đã đưa ra bảng định loại chi và loài tre ở Việt Nam với 122 loài, 22 chi, kiểm tra và cập nhật tên khoa học mới, đặc biệt đưa

ra được 6 chi và 22 loài tre lần đầu được đặt tên khoa học ở Việt Nam bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam; đưa ra 22 loài cần được xem xét để xác nhận loài mới Theo tác giả, nếu thu thập đầy đủ để định loài thì số loài tre của Việt Nam phải tren 200 loài

Năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến đã công bố 7 loài

nứa thuộc chi nứa (Schizostachyum) như: Khốp cà ná (Cà ná, Ninh Thuận),

Nứa núi dinh (Bà Rịa – Vũng Tàu), Nứa đèo lò xo (Đắc Glei, Kon Tum), Nứa

lá to Saloong (Ngọc Hồi, Kon Tum), Nứa không tai Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa Bảo Lộc (Bảo Lộc, Lâm Đồng – mô tả để so sánh) Các tác giả

đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái của từng loài cụ thể

Năm 2006, Trần Văn Mão, Trần Ngọc Hải cùng một số tác giả khác dịch cuốn “Hỏi đáp về kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến tre” Cuốn sách có tổng số 265 câu hỏi liên quan về tre như: trồng, sử dụng, bảo

Trang 15

quản,…tre luồng, giúp cho con người đọc có cái nhìn tổng quan về vai trò, cách sử dụng tre luồng có hiệu quả

Năm 2006, Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự đã phát hiện ra 6 loài tre quả thịt dựa trên cơ sở cấu tạo hình thái và giải phấu hoa quả, sáu loài tre quả thịt đã được mô tả và định danh để tạo nên một chi tre mới cho Việt Nam, đó

là chi tre quả thịt (melocalamus) Các loài đã được nhận biết là Dẹ Yên Bái (melocalamus yebaiensis), Tre quả thịt Cúc Phương (m Pacoensis), Tre quả thịt Lộc Bắc (m Blaoensis), Tre quả thịt Pà Cò (m Pacoensis) và Tre quả thịt Trường Sơn (m Truongsonensis)

Năm 2007, Nguyễn Hoàng Nghĩa và Trần Văn Tiến đã phát hiện thêm

một loài nứa mới cho Việt Nam có tên là Nứa Sa Pa (Schizostachyum) chinense Rendle) được tìm thấy trong rừng lá rộng thường xanh của VQG

Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai), tác giả đã mô tả về đặc điểm hình thái, sinh thái học của loài

Năm 2007, tập thể các tác giả đã giới thiệu 44 loài cây có sợi trong đó

có 35 loài tre nứa Các tác giả đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh học, phân bố, công dụng, kỹ thuật nhân giống, gây trồng, giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn chúng

Năm 2008, Phạm Thành Trang đã đánh giá được hiện trạng tài nguyên tre luồng và vai trò của chúng đối với cộng đồng người dân tộc Thái ở huyện vùng cao Mai Châu – Hòa Bình

Tạ Thị Nữ Hoàng (2010), nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của

loài Trúc đen (Phyllostachys nigra Munro) làm cơ sở cho việc bảo tồn loài

cây này tại Vườn quốc gia Hoàng Liên – Lào Cai

Trong 5 năm gần đây nhóm nghiên cứu tre luồng của Viện nghiên cứu Lâm nghiệp và Viện Điều tra quy hoạch rừng đã phối hợp với 2 giáo sư người Trung Quốc là Hà Niệm Hòa (Xia NiaNhe) của Viện Nghiên cứu Hoa Nam (Quảng Châu) và Li De Zu Viện Thực vật Côn Minh đã đưa số taxon tre luồng Việt Nam lên 29 chi và 140 loài trong đó có 5 loài mới và 6 chi, 22 loài

Trang 16

đầu tiên được thống kê ở Việt Nam Đây được coi là một trong những loài mới cho ngành Lâm nghiệp Việt Nam nói chung

Từ những công trình nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh thái, sinh vật học loài Trúc đen Khác với các công tình nghiên cứu kể trên tại khu vực, việc đề tài nghiên cứu đã phát hiện và đánh giá được hiện trạng tài nguyên của các loài tre luồng tại khu vực nghiên cứu, sẽ góp phần cung cấp những thông tin về phân loại, phát hiện và bổ sung các chi, loài mới vào danh lục Và ngày càng được tìm hiểu và phát triển các loài tre luồng tại khu vực nghiên cứu, đem lại vai trò và ý nghĩa to lớn cho đời sống cộng đồng người dân địa phương

Trang 17

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Cung cấp cơ sở khoa học nhằm bảo tồn và phát triển tài nguyên tre luồng tại Công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam, tỉnh Thanh Hóa

Mục tiêu cụ thể:

- Đánh giá được hiện trạng tại tài nguyên tre luồng tại Công viên sinh

thái tre luồng Thanh Tam, tỉnh Thanh Hóa

- Đề xuất được giải pháp bảo tồn và phát bền vững tài nguyên tre

luồng tại khu vực nghiên cứu

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên tre luồng tại Công viên sinh thái

tre luồng Thanh Tam, tỉnh Thanh Hóa

- Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu về tài nguyên tre luồng tại khu vực nghiên

cứu

- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên tre luồng

tại khu vực nghiên cứu

2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Các loài tre, luồng tại công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam, Tỉnh Thanh Hóa

- Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi điều tra được xác định trên toàn bộ diện tích của công viên

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Những thông tin, tư liệu về diện tích, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh

tế - xã hội khu vực nghiên cứu được tham khảo từ bản “Bản báo cáo phương

Trang 18

án quy hoạch Công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam” thuộc quyền quản lý đầu tư của Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn

2.4.2 Phương pháp thực nghiệm

2.4.2.1 Điều tra thu thập số liệu

a Bộ cơ sở dữ liệu tre luồng

Tiến hành đo đếm từng cây theo từng loài, bấm tọa độ của từng khóm, tiếp theo đó là chụp ảnh chi tiết từng loài, sử dụng tọa độ từng khóm đưa vào bản đồ để xây dựng bản đồ hiện trạng từng loài, số lượng bao nhiêu, trồng ở đâu, trồng năm bao nhiêu, phân bố ra sao, sinh trưởng tốt hay không, thu thập miêu tả đặc điểm hình thái một số loài chưa giám định chính xác được tên loài

Những thông tin về đặc điểm hình thái, sinh thái, đặc điểm phân bố địa

lý của 13 loài một phần được tham khảo từ các website chính thống của thế giới, được dịch từ tiếng Anh, tiếng Pháp sang tiếng Việt Còn lại tự tác giả miêu tả đặc điểm thực của các loài tại khu vực nghiên cứu

- Đối với đồi luồng: Tiến hành lập ô tiêu chuẩn đơn thuần có diện tích

500 m2 (25m x 25m) Sau đó tiến hành đếm số lượng khóm trong ô tiêu chuẩn Lập nhiều ô tiêu chuẩn ở nhiều nơi khác nhau, đo đếm và lấy số lượng khóm trung bình trong ô tiêu chuẩn và ước lượng số lượng khóm trên mỗi diện tích tương ứng Theo cách tính như sau:

Trang 19

Tiến hành đếm thủ công, bởi vì số lượng ít nên đếm thủ công sẽ cho số liệu chính xác hơn

- Điều tra thu thập vị trí địa lý của 13 loài trong vườn tre quốc tế

Tiến hành thu thập tọa độ từng khóm của từng loài, sử dụng máy GPS cầm tay Garmin eTrex 10

- Điều tra thu thập bộ hình ảnh

Dụng cụ sử dụng trong quá trình thu thập gồm : máy ảnh, tờ giấy A0, Thước kẻ, bút chì Tiến hành thu thập, chụp ảnh các bộ phận của từng loài, mỗi loài khoảng 10 bức ảnh bao gồm: chụp tổng thể khóm, lóng (thân), cành nhánh, lá, lá mo (bẹ), tai mo Nên chụp vào lúc có ánh nắng mặt trời để chất lượng ảnh được sắc nét, và chân thực nhất

1 Cách chính sách phát triển tre luồng của tỉnh trong công viên nói chung đã hợp lý hay chưa?

2 Việc khai thác Luồng trong công viên có hợp lý không?

3 Ý thức khách du lịch như thế nào? Có tình trạng vứt rác bừa bãi hay

vẽ bậy lên cây hay không?

4 Người dân địa phương có thường xuyên mang trâu bò vào làm ảnh hưởng đến tre và măng tre hay không?

5 Nhân viên môi trường có thường xuyên dọn dẹp cảnh quan môi trường không?

2.4.3 Phương pháp phi thực nghiệm

2.4.3.1 Phương pháp xây dựng bản đồ

Trang 20

Sử dụng phầm mềm Mapinfo phiên bản 15.0 thiết kế sơ đồ, bản đồ tọa

độ 13 loài tre trong vườn tre hữu nghị thế giới, và thể hiện hiện trạng toàn bộ tài nguyên tre luồng trong công viên bao gồm cả đồi Luồng và đồi Tầm vông

Trang 21

CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI CÔNG VIÊN SINH

THÁI TRE LUỒNG THANH TAM 3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính

Công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam nằm trên địa phận các xã Xuân Bái, Xuân Phú, Thọ Xương huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa

Tọa độ địa lý: 19o52’29” đến 19o53’31” độ vĩ Bắc

105o23’24” đến 105o24’18” độ kinh Đông

Phạm vi ranh giới:

- Phía Bắc giáp xã Thọ Xương, xã Xuân Bái

- Phía Nam giáp xã Xuân Phú

- Phía Đông giáp Khu công nghệ cao của Công ty, xã Thọ Xương

- Phía Tây giáp xã Xuân Bái và huyện Thường Xuân

3.1.2 Diện tích

Công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam được quy hoạch trên diện tích 102,38 ha tại 3 xã Xuân Bái, xã Xuân Phú và Thọ Xương của huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa Diện tích này nằm trong diện quy hoạch của UBND tỉnh giao cho Công ty cổ phần Mía Đường Lam Sơn để xây dựng công viên

sinh thái tre luồng

3.1.3 Địa hình – địa chất

a Địa hình

Công viên sinh thái tre luồng Thanh Tam nằm trên liểu địa hình đồi bát

úp có độ cao từ 120 – 130 m so với mực nước Biển Độ dốc từ 10 – 20o, mức

độ chia cắt địa hình ít

b Địa chất

Từ nền địa chất với 2 cấu tạo chính là: macma axit và phiến thạch sét

đã phát triển thành 3 loại đất chính như sau:

Trang 22

Đất phát triển trên đá sét (Fs): Có diện tích khá lớn, tập trung chủ yếu ở phía Bắc Loại đất này tuy có độ phì khá, nhưng nhược điểm là thành phần cơ giới nặng, nên khi mất rừng thì đất dễ bị thoái hoá một cách nhanh chóng

Đất phát triển trên đá Grannit: có diện tích nhỏ, tập trung ở phía Nam xen lẫn với đá sét,

Đất phát triển trên phù sa cổ: Gồm các loại đất được bồi tụ ven suối, ven sông, chiếm một diện tích nhỏ ở phía Bắc và phía Tây Bắc, thường phân

bố trên các dạng địa hình khá bằng phẳng và những vùng trũng bị ngập nước vào mùa mưa

3.1.4 Khí hậu

Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của khu vực như sau:

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm từ 23 – 24oC, mùa nóng nhiệt độ TB

3.1.6 Tài nguyên đa dạng sinh học

Trong khu vực chủ yếu là rừng Luồng do người dân trồng trước đây, ngoài ra còn có rừng Keo tai tượng, Cao su, Quế, Xoan, Lát, Mít, Chuối … được trồng rải rác Một phần diện tích được Công ty trồng cây ăn quả: Bưởi, Cam, Thanh long, Phật thủ

Trang 23

3.1.7 Tình hình dân sinh kinh tế - xã hội

Trong khu vực có một số hộ dân sinh sống, chủ yếu làm nghề nông Giao thông tương đối thuận tiện, gần đường Hồ Chí Minh, trong khu vực đều

có đường mòn hoặc đường ô tô lưu thông Trạm y tế, trường học tập trung tại trung tâm các xã và thị trấn Lam Sơn

Trang 24

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Hiện trạng tài nguyên tre luồng

Hiện nay công viên có khoảng 33,84 hecta tre luồng qua đo đếm được, trong đó luồng chiếm đại đa số diện tích toàn bộ với 28 hecta Sau đó là tầm vông với xấp xĩ 5 ha và vườn tre hữu nghĩ quốc tế khoảng 0,83 ha

Vườn tre hữu nghị quốc tế có diện tích 0,83 ha với 13 loài tre luồng khác

nhau, chủ yếu trồng từ năm 2017

Luồng qua đo đếm được có khoảng 14.000 khóm với 4 đồi với các diện tích khác nhau Luồng chủ yếu là do người dân địa phương khi chưa quy hoạch công viên họ để lại và do nhà đầu tư mua lại

Bảng 4.1 Thống kê hiện trạng tài nguyên tre luồng tại công viên

Số lượng (khóm)

3 Tre xiêm Bambusa longipiculata

Vườn tre hữu nghị quốc tế

Vườn tre hữu nghị quốc tế

vông

Thyrsostachys siamensis

(Kurz ex Munro) Gamble

832

Đồi tầm vông, dọc đường vào công viên

Tháng

3, 2017 Thái Lan

9 Tre đen

Timor Bambusa lako Widjaja 121

Vườn tre hữu nghị quốc tế

Vườn tre hữu nghị quốc tế

Tháng

3, 2017 Trung Quốc

Trang 25

12 Tre đen

java

Gigantochloa atroviolacea Widjaja 1

Vườn tre hữu nghị quốc tế

14 Luồng Dendrocalamus barbatus

Hsuch et D.Z.Li 14.000 Đồi luồng 2015 Việt Nam

Tổng có 14 loài trên diện tích 33,83 ha

Hình 4.1 Bản đồ phân bố tài nguyên tre luồng trong toàn bộ công viên

Trang 26

Hình 4.2 Bản đồ phân bố tài nguyên tre luồng trong vườn tre quốc tế

Hầu hết tất cả các loài tre đều phát triển tốt, trừ Luồng do trồng lâu năm

và ít được chăm sóc nên mật độ còn thưa và sơ xác Cần được thâm canh, bón

phân định kì Các loài tre quốc tế phát triển rất tốt, đặc biệt là Timor black

Tre cà phê, Mạnh tông, nên mở rộng trồng thêm, và đặc biệt với quy mô công viên 102 ha và chỉ có 13 loài tre luồng là còn rất ít, nên nghiên cứu trồng thêm nhiều loài tre quốc tế có tiềm năng khác

4.2 Cơ sở dữ liệu Tre luồng

Trang 27

Lá hình dải trên nhọn dưới tụ, dài khoảng 7-8cm, rộng 1,5cm, cuống lá rất ngắn Lá mo hình thang hẹp, dài 11-12cm, rộng 5-6cm Tai mo dài 4cm, rộng 4cm, hình tháp nhọn

Đặc điểm sinh thái

Chúng có thể chịu được khí hậu lạnh, khắc nghiệt, và có thể chịu được

cả khí hậu nóng Tùy theo môi trường khí hậu mà nó sinh sống sẽ quyết định đến kích thước, sự sinh trưởng phát triển của chúng

Phân bố địa lý

Trên thế giới: Chúng được tìm thấy ở miền Nam và miền Trung của

Trung Quốc, Hoặc ở Đông Dương

Trong công viên

Hình 4.3 Bản đồ phần bố Tre vàng sọc trong vườn tre quốc tế

Trang 28

Hiện trạng loài Tre vàng sọc tại khu vực nghiên cứu

Tre vàng sọc được ghi nhận có 17 khóm tại khu vực nghiên cứu Loài này được trồng từ năm 2017 Hiện tại chiều cao trung bình đạt khoảng 1,8m Giống được lấy từ Làng tre Phú An (Địa chỉ: Bến Cát, Bình Dương)

Tre vàng sọc sinh trưởng ở mức trung bình tại khu vực nghiên cứu Không ghi nhận có hiện tượng sâu hại nhưng phát triển chậm, không thấy hiện tượng chồi non mọc

Bảng 4.2 Thống kê hiện trạng Tre vàng sọc tại công viên

Tên loài

Số lượng (khóm)

Nguồn gốc cây giống Năm trồng Tình hình sinh trưởng

Trang 29

4.2.2 Cây Le (Mạy lay)

Tên khoa học: Gigantochloa albociliata - (Munro) Kurz

Đặc điểm sinh thái

Cây được trồng bằng thân ngầm và hạt Đây là loài ra hoa không theo chu kỳ

Phân bố địa lý

Là loài phân bố tự nhiên ở Mianma, Thái Lan, Lào, và Việt Nam Chúng mọc trong rừng tự nhiên và được trồng trong vườn ở tỉnh Sơn La, Điện Biên, Thanh Hóa Có người cho rằng loài được nhập trồng vào Lào và Việt

Nam (wikipedia)

Trang 30

Trong công viên

Hình 4.5 Bản đồ Mạy lay trong vườn tre quốc tế

Giá trị sử dụng

Mạy lay là loài tre nhỏ, măng rất ngon nên dùng làm thực phẩm, đồng

bào Thái coi măng Mạy lay như rau muống của đồng bào miền xuôi Thân

cây dùng cho xây dựng nhẹ (phên che, mái), làm hàng rào, cán nông cụ, đồ

mộc bằng tre

Hiện trạng loài Mạy lay tại khu vực nghiên cứu

Mạy lay được ghi nhận có 18 khóm tại khu vực nghiên cứu Loài này

được trồng từ năm 2017 Hiện tại chiều cao trung bình đạt khoảng 8m Giống

được lấy từ Làng tre Phú An (Địa chỉ: Bến Cát, Bình Dương)

Mạy lay sinh trưởng tốt tại khu vực nghiên cứu Không ghi nhận có

hiện tượng sâu hại nhưng ít thấy măng non mọc lên

Trang 31

Bảng 4.3 Thống kê hiện trạng mạy lay tại công viên

Tên loài Số lượng

(khóm)

Nguồn gốc cây giống Năm trồng Tình hình sinh trưởng

Đặc điểm sinh thái

Khả năng chịu nhiệt tối thiếu của loài này là -2° C Chúng thích nghi tốt với những nơi có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới

Trang 32

Điều kiện ánh sáng tối ưu để chúng phát triển là nơi có ánh sáng mặt trời đầy đủ Chúng sống ở nơi có đất ẩm, tơi xốp và thoát nước tốt

Phân bố địa lý

Trên thế giới: Có nguồn gốc từ Bangladesh và Myanmar, nhưng được

trồng rộng rãi ở nhiều nơi, điển hình là Úc Ngoài ra nó còn được trồng nhiều

ở Thái Lan

Trong công viên

Hình 4.7 Bản đồ phân bố tre xiêm trong vườn tre quốc tế

Trang 33

Tre xiêm được ghi nhận có 28 khóm tại khu vực nghiên cứu Loài này được trồng từ năm 2017 Hiện tại chiều cao trung bình đạt 12m Giống được lấy từ Làng tre Phú An (Địa chỉ: Bến Cát, Bình Dương)

Tre xiên sinh trưởng khá tốt tại khu vực nghiên cứu Không ghi nhận có hiện tượng sâu hại, vào mùa khô nên ít thấy măng non mọc

Bảng 4.4 Thống kê hiện trạng tre xiêm tại công viên

Tên loài

Số lượng khóm

Nguồn gốc cây giống Năm trồng Tình hình sinh trưởng

Tre xiêm 28 Làng tre

Trang 34

Phiến lá thuôn dài, hình dải đều, đầu tròn, dài khoảng 9cm, rộng 1,5cm

Lá mo màu nâu nhạt, dài 15cm, rộng 12cm Tai mo hình mũi giáo dài 6cm, rộng 4cm

Đặc điểm sinh thái

Chúng sinh sống vùng quanh bờ sông, sinh trưởng ở độ cao 200-500m

so với mực nước biển

Tre nói chung thường là một loài đơn bào, sống nhiều năm trước khi ra hoa, sau đó ra hoa và gieo hạt trong khoảng thời gian 1 - 3 năm trước khi thường chết

Hạt giống tre đá phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 20°C, thời gian nảy mầm dao động 3-6 tháng, nên trồng ở nơi có bóng râm

Phân bố địa lý

Trên thế giới: Miền nam Trung Quốc

Trong công viên

Trang 35

Hình 4.9 Bản đồ phân bố địa lý trúc đá trong vườn tre quốc tế Hiện trạng loài tại khu vực nghiên cứu

Tre đá được ghi nhận có 10 khóm tại khu vực nghiên cứu Loài này được trồng từ năm 2017 Hiện tại chiều cao trung bình đạt 11m Giống được lấy từ Làng tre Phú An (Địa chỉ: Bến Cát, Bình Dương)

Tre đá sinh trưởng tương đối tốt tại khu vực nghiên cứu Không ghi nhận có hiện tượng sâu hại, vào mùa khô nên ít thấy măng non mọc

Bảng 4.5 Thống kê hiện trạng tre đá tại công viên

Tên loài

Số lượng (khóm)

Nguồn gốc cây giống Năm trồng Tình hình sinh trưởng Tre đá 10 Làng tre

Trang 37

Phiến lá dài 23-25cm và rộng 2,5-3cm Gốc lá nhọn Gân lá 8 đôi Lưỡi

lá thấp, tai lá mang 4-5 lông dài 0,4cm Cuống lá rộng 0,15cm, dài 0,3cm

Đặc điểm sinh thái

Mùa măng vào các tháng 5-9

Phân bố địa lý

Trên thế giới: Trung Quốc

ở Việt Nam: Mọc tập trung ở vùng Bắc Trung Bộ và trung tâm Bắc Bộ

Trang 38

Hình 4.11 Bản đồ phân bố Nứa lá nhỏ trong vườn tre quốc tế

Giá trị sử dụng

Nứa là loài tre có kích thước thân trung bình được sử dụng trong xây dựng làm phêm tre, lợp mái, làm dàn tre trong sản xuất nông nghiệp Nứa lá nhỏ đã được nghiên cứu sản xuất ván ghép, thanh làm tường, ngăn hoặc ốp tường rất đẹp vì giữ được màu xanh tự nhiên Măng nứa lá nhỏ có thể ăn tươi hoặc muối chua

Hiện trạng loài tại khu vực nghiên cứu

Nứa lá nhỏ được ghi nhận có 12 khóm tại khu vực nghiên cứu Loài này được trồng từ năm 2017 Hiện tại chiều cao trung bình đạt 11m Giống được lấy từ Làng tre Phú An (Địa chỉ: Bến Cát, Bình Dương)

Nứa lá nhỏ sinh trưởng tương đối tốt tại khu vực nghiên cứu Không ghi nhận có hiện tượng cháy lá, vào mùa khô nên ít thấy măng non mọc

Ngày đăng: 31/05/2021, 22:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w