TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG & MÔI TRƯỜNG ---- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG RÁC THẢI NHỰA TRONG SINH HOẠT VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU TẠI THÀ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG & MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG RÁC THẢI NHỰA TRONG SINH HOẠT VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU TẠI THÀNH PHỐ
HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: 7440301
Giáo viên hướng dẫn: TS Dương Thị Bích Ngọc
Sinh viên thực hiện : Lê Thanh Tùng
Mã sinh viên : 1653060876
Lớp : K61-KHMT
Khóa : 2016 - 2020
Hà Nội, 2020
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập để có được kết quả học tập như ngày hôm nay,
em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy giáo, cô giáo Bộ môn Kỹ thuật môi trường cũng như các thầy cô giáo trong khoa Quản lý tài nguyên rừng
và môi trường – Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam Trong 4 năm học tập và rèn luyện tại trường, sự giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô giáo đã trang bị cho em đầy đủ những kiến thức chuyên môn giúp ích cho công việc cũng như cuộc sống của em
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Dương Thị Bích Ngọc - giảng viên Bộ môn Kỹ thuật môi trường đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng và giúp đỡ tận tình em trong suốt thời gian thực hiện khoá luận
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới UBND thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đã cung cấp số liệu, tạo điều kiện giúp đỡ em thực hiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè và những người thân trong gia đình đã dành nhiều tình cảm, tạo điều kiện thuận lợi, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Mặc dù đã cố gắng hoàn thành bài khóa luận bằng tất cả năng lực của mình nhưng do trình độ và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Do đó, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô, các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 07 năm 2020
Sinh viên
Lê Thanh Tùng
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Tổng quan về chất thải nhựa 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Các nguồn phát sinh chất thải nhựa 2
1.1.3 Phân loại 4
1.2 Ảnh hưởng của chất thải nhựa đến môi trường 4
1.3 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người 6
1.4 Thực trạng chất thải nhựa sinh hoạt 7
1.5 Giải pháp quản lý chất thải nhựa 11
1.6 Hiện trạng quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt tại Việt Nam 13
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 16
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
2.3 Nội dung nghiên cứu 16
2.4 Phương pháp nghiên cứu 17
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 19
3.1 Điều kiện tự nhiên 19
3.1.1 Vị trí địa lý 19
3.1.2 Địa hình 20
3.1.3 Điều kiện khí hậu 20
3.1.4 Tài nguyên nước 21
3.1.5 Tài nguyên đất 21
Trang 43.1.6 Tài nguyên khoáng sản 21
3.1.7 Tài nguyên du lịch 22
3.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội 22
3.2.1 Tình hình phát triển kinh tế 22
3.2.2 Dân số 23
3.2.3 Văn hóa 23
3.2.4 Giáo dục 24
3.2.5 An ninh- quốc phòng 24
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
4.1 Hiện trạng sử dụng các loại chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình 25
4.1.1 Nguồn phát sinh chất thải nhựa trong sinh hoạt tại 6 phường của thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình 25
4.1.2 Khối lượng chất thải nhựa tại sáu phường nghiên cứu 25
4.1.3 Thành phần chất thải nhựa tại sáu phường nghiên cứu 27
4.2 Thực trạng quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt của 6 phường nghiên cứu 27
4.2.1 Thực trạng quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình 27
4.2.2 Tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải nhựa 30
4.3 Nhận thức của người dân về chất thải nhựa 35
4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lí chất thải nhựa tại thành phố Hòa Bình 37
4.5 Đề xuất giải pháp quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình 38
4.5.1 Giải pháp tuyên truyền 40
4.5.2 Phân loại tại nguồn 42
4.5.3 Giải pháp tái chế 43
4.5.4 Giải pháp thu gom, vận chuyển và xử lí 45
Trang 54.5.5 Giải pháp về cơ chế chính sách, luật pháp 46
Chương 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Tồn tại 48
5.3 Kiến nghị 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Số liệu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hoà Bình năm 2019 và dự kiến cho năm 2020 22 Bảng 4.1 Chất thải nhựa bình quân đầu người tại 6 phường nghiên cứu 26
Bảng 4.2 Tỷ lệ hộ gia đình phân loại chất thải nhựa tại sáu phường nghiên cứu 28
Bảng 4.3 Nhận thức về tác hại của chất thải nhựa tại sáu phường nghiên cứu 36
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Nguồn phát sinh chất thải nhựa 3
Hình 3.1 Bản đồ sau phường nghiên cứu, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình 19
Hình 4.1 Ước lượng chất thải nhựa tại 6 phường nghiên cứu 26
Hình 4.2 Tỷ lệ phần trăm người dân trả lời về loại RTN thải ra nhiều nhất trong ngày tại 6 phường nghiên cứu 27
Hình 4.3 Tỷ lệ các cách thức xả chất của người dân tại sáu phường nghiên cứu 29
Hình 4.4 Thu mua chất thải nhựa tại phường Đồng Tiến, thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình (Nguồn: Lê Thanh Tùng, 2020) 31
Hình 4.5 Thu gom chất thải sinh hoạt tại phường Thịnh Lang, thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình (Nguồn: Lê Thanh Tùng, 2020) 32
Hình 4.6 Điểm tập kết chất ở phường Thịnh Lang 33
Hình 4.7 Quy trình thu gom chất tại khu vực nghiên cứu 34
Hình 4.8 Bãi chất Lương Sơn, thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình 37
Hình 4.9 Một số hình ảnh về giải pháp thay thế sản phẩm nhựa 40
Hình 4.10 Phân loại chất tại nguồn 43
Hình 4.11 Mô hình công viên nổi từ tái chế nhựa 44
Hình 4.12 Công nghệ sinh học tái chế nhựa PET tại Áo 44
Trang 9TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1 Tên khóa luận: Nghiên cứu hiện trạng chất thải nhựa trong sinh hoạt và
đề xuất biện pháp giảm thiểu tại thành phố Hòa Bình,Tỉnh Hòa Bình
2 Sinh viên thực hiện: Lê Thanh Tùng
3 Giáo viên hướng dẫn: TS Dương Thị Bích Ngọc
4 Mục tiêu nghiên cứu
5 Nội dung nghiên cứu
Khoá luận tập trung thực hiện các nội dung sau:
Nghiên cứu hiện trạng sử dụng các loại chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình
Nghiên cứu thực trạng quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
Đề xuất giải pháp quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
6 Những kết quả đạt được
Qua quá trình nghiên cứu đề tài đưa ra được một số kết luận như sau:
Nguồn phát sinh chất thải nhựa từ khu dân cư, các hộ gia đình, cơ quan, trường học, cơ sở kinh doanh, khu vực đường phố, từ y tế
Trang 10Túi nilon được đánh giá là chiếm tỉ lệ nhiều nhất với gần 55% người được lựa chọn, tiếp theo là chai nhựa với hơn 16% còn lại là cốc nhựa, ống hút, hộp xốp và các sản phầm khác lần lượt chiếm 11,4; 6,9; 5,7; và 5,3% Điều này cũng được khẳng định khi các hộ kinh doanh cho rằng hơn 67% sản phẩm nhựa dùng một lần bán ra là túi nilon Hơn nữa tuy túi nilon được đánh giá là thải ra nhiều nhất nhưng hoạt động thu gom thường chỉ tập trung và chai nhựa (67%) Do đó các giải pháp nên ưu tiên tập trung và các sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế túi nilon; tập trung vào phân loại chất ngay tại nguồn
Nhận thức của người dân về tác hại của túi nilon với sức khoẻ con người và môi trường còn nhiều hạn chế, ngay cả đối tượng là những người quản lý Trung bình có 42% trả lời biết tác hại của túi nilon, còn lại 58% trả lời không biết Gần như 100% số người được hỏi (cán bộ quản lý, người thu gom, hộ gia đình là 100%; hộ kinh doanh là 97) đều cho rằng cần có sản phẩm thân thiện hơn thay thế việc các sản phẩm nhựa dùng một lần Đa số (66%) cho rằng các sản phẩm thân thiện hơn với môi trường cần “Giá phải rẻ hơn hoặc bằng sản phẩm nhựa dùng một lần” là yếu tố quan trọng nhất Đây cũng là một gợi ý quan trọng cho các nhà làm chính sách trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp làm các sản phẩm thân thiện với môi trường có giá thành rẻ hơn Từ đó sẽ thúc đẩy người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm thân thiện với môi trường nhiều hơn
Các giải pháp chính được đề xuất nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải nhựa và giảm lượng chất thải nhựa ở địa phương đó là: Giải pháp thúc đẩy thay thế sử dụng túi nilon; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường và giảm thiểu; RTN kết hợp với các giải pháp quản lý khác về phân loại chất thải tại nguồn; Giải pháp tái chế, Tăng tần suất thu gom, vận chuyển rác
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội thì ô nhiễm môi trường đang là vấn đề chung của nhân loại được cả thế giới quan tâm Hàng ngày, một khối lượng chất khổng lồ đã được thải ra ngoài môi trường khiến môi trường ngày càng bị ô nhiễm Mức sống của con người ngày càng cao thì vấn đề chất thải nhựa cũng trở thành một vấn đề nóng, không chỉ ở đô thị mà vùng nông thôn Tuy nhiên tại nước đang phát triển như Việt Nam thì việc thu gom, vận chuyển và xử lí chất thải nhựa trong sinh hoạt con nhiều bất cập Chính vì vậy việc đánh giá hiện trạng chất thải nhựa trong sinh hoạt là việc làm cần thiết Các vật dụng bằng nhựa đều là những phát minh phục vụ nhu cầu cuộc sống của con người, đồng thời hỗ trợ gia tăng buôn bán và sản xuất Thế nhưng, sau tất cả các hoạt động sản xuất và tiêu dùng, các vật dụng nhựa sẽ trở thành chất thải nhựa và để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng vì chúng cần khoảng 450 đến 1000 năm
để phân hủy Các loại chất thải nhựa xả ra môi trường đang ảnh hưởng rất tiêu cực đến môi trường, đặc biệt là mối nguy hại cho sinh vật biển Chính vì vậy, việc bảo vệ môi trường, giảm thiểu chất thải nhựa đã trở thành vấn đề trọng yếu mang tính toàn cầu và được nhiều quốc gia trên thế giới chú trọng
Hòa Bình là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc Việt Nam Chất lượng cuộc sống ở đây đang từng bước phát triển tuy nhiên hiện trạng thu gom chất thải nhựa còn nhiều bất cập Trước khi thải bỏ ra môi trường, chất thải nhựa chưa được thu gom kịp thời, công tác quản lý chất thải nhựa trên địa bàn còn nhiều bất cập như thói quen vứt chất bừa bãi của người dân, chất thải chưa được xử lý một cách triệt để cũng như chưa được phân loại để tái chế gây mất mĩ quan đô thị và ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con người
Xuất phát từ thực trạng trên, em tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp:
“Nghiên cứu hiện trạng sử dụng chất thải nhựa trong sinh hoạt và đề xuất biện pháp giảm thiểu tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình” góp phần đánh
giá tình trạng ô nhiễm chất thải nhựa và tìm ra các giải pháp tốt hơn trong việc quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về chất thải nhựa
1.1.1 Khái niệm
Nhựa là các hợp chất cao phân tử, được dùng làm vật liệu để sản xuất nhiều loại vật dụng trong đời sống hằng ngày như là: áo mưa, ống dẫn điện Nhựa không có trong thiên nhiên mà do con người chế tạo ra [3]
Chất thải nhựa là cụm từ dùng để chỉ chung những sản phẩm làm bằng nhựa đã qua sử dụng hoặc không được dùng đến và bị đem vứt bỏ Là những chất không được phân hủy trong nhiều môi trường Bao gồm nhiều loại chai lọ, túi đựng hay đồ chơi cũ… Chất thải nilon gồm các bao bì bằng nhựa polyethylene (PE) sau khi sử dụng trở thành chất thải Trong chất thải sinh hoạt còn có các loại nhựa khác cũng có chứa các loại nhựa phế thải Chất thải nilon thực chất là một hỗn hợp nhựa, trong đó chiếm phần lớn là nhựa PE Ô nhiễm chất thải nhựa (ô nhiễm chất dẻo) là hiện tượng tích tụ các đồ nhựa trong môi trường và gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống, sức khỏe con người và động vật [9]
1.1.2 Các nguồn phát sinh chất thải nhựa
Chất thải nhựa sinh hoạt phát sinh từ hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người và phát sinh ở các nguồn như sau:
Chất thải sinh hoạt của dân cư, du lịch, thực phẩm dư thừa: nilon, nhựa, chai nước nhựa, các chất thải nguy hại,
Chất thải nhựa từ các chợ, địa điểm buôn bán, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, khu văn hóa,
Chất thải nhựa từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học
Chất thải nhựa sinh hoạt của công nhân trong các công trình xây dựng, cải tạo và nâng cấp
Chất thải nhựa của công nhân trong nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp [9]
Trang 13Hình 1.1 Nguồn phát sinh chất thải nhựa
Do đặc điểm cấu trúc là các polyme tổng hợp nhân tạo (polystyrene, polyester, polyethylene ), nhựa là một dạng chất thải có tốc độ phân hủy trong môi trường rất chậm Thông thường những mảnh chất thải nhựa lớn sẽ bị phân nhỏ ra dưới các tác động cơ học thành các hạt nhựa nhỏ có kích thước dưới 5
mm (gọi là microplastic) Thông thường phải mất đến hàng trăm năm thậm chí
cả hàng nghìn năm để một mảnh chất thải nhựa bị phân hủy hoàn toàn trong điều kiện tự nhiên Với đặc tính bền vững trong tự nhiên như vậy, chất thải nhựa đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho hệ sinh thái biển, ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống của các loài sinh vật phù du, các loài rùa biển cũng như các loài chim biển Nhựa là vật liệu rẻ tiền, nhẹ, mạnh, bền, chống ăn mòn, với đặc tính cách nhiệt và điện cao Sự đa dạng của các polyme và tính linh hoạt của các đặc tính của chúng được sử dụng để tạo ra một loạt các sản phẩm mang lại tiến bộ y
tế và công nghệ, tiết kiệm năng lượng và nhiều lợi ích xã hội khác Việc sản xuất nhựa đã tăng đáng kể trong 60 năm qua từ khoảng 0,5 triệu tấn năm 1950 lên hơn 260 triệu tấn hiện nay Chỉ riêng ở châu Âu, ngành nhựa đã có doanh thu vượt quá 300 triệu euro và 1,6 triệu người sử dụng [3] Hầu như tất cả các khía cạnh của cuộc sống hàng ngày liên quan đến nhựa, trong vận chuyển, viễn
Trang 14thông, quần áo, giày dép và làm vật liệu đóng gói Phụ gia đặc biệt quan tâm là chất hóa dẻo phthalate, BPA, chất làm chậm cháy brôm và chất chống vi khuẩn BPA và phthalates được tìm thấy trong nhiều sản phẩm được sản xuất hàng loạt bao gồm các thiết bị y tế, bao bì thực phẩm, nước hoa, mỹ phẩm, đồ chơi, vật liệu sàn, máy tính và đĩa CD và có thể đại diện cho một hàm lượng đáng kể của nhựa Phthalates và BPA có thể phát hiện được trong môi trường nước, trong bụi và do tính dễ bay hơi của chúng trong không khí Ngoài sự phụ thuộc vào nguồn lực hữu hạn cho sản xuất nhựa và những lo ngại về tác động phụ gia của các hóa chất khác nhau, các mô hình sử dụng hiện tại đang tạo ra các vấn đề quản lý chất thải toàn cầu Cho thấy chất thải nhựa, bao gồm bao bì, thiết bị điện và nhựa từ các phương tiện là thành phần chính của cả chất thải gia đình và chất thải công nghiệp Vì vậy, từ nhiều góc độ, dường như việc sử dụng
và thải bỏ nhựa hiện tại của chúng ta là nguyên nhân gây lo ngại [10]
1.1.3 Phân loại
Hiện nay người ta phân loại nhựa thành nhiều loại Do tính chất linh hoạt của chúng, nhựa được sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp và ứng dụng Tuy nhiên, các lĩnh vực chính mà nhựa được sử dụng phổ biến nhất là bao bì, đồ chơi, đồ dùng điện tử, xây dựng, vận tải mặt đất, hàng không và hàng hải, nông nghiệp, y tế, thể thao và giải trí
1.2 Ảnh hưởng của chất thải nhựa đến môi trường
Đồ nhựa luôn hiện diện ở mọi nơi xung quanh chúng ta Từ những vật dụng nhỏ bé hàng ngày như giấy gói kẹo, hộp sữa chua, ống hút, túi nilon, hộp đựng thức ăn Tuy đây đều là những phát minh phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày của con người Đồng thời hỗ trợ gia tăng buôn bán và sản xuất Thế nhưng, sau tất cả các hoạt động này để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng Các loại chất thải xả ra môi trường đang ảnh hưởng rất tiêu cực đến môi trường
1.2.1 Ảnh hưởng đến môi trường đất
Theo các nhà nghiên cứu thì phải mất từ 500 - 1000 năm túi nilon mới bị phân huỷ trong môi trường tự nhiên Trong khi đó, lượng chất thải nhựa thải ra
Trang 15môi trường rất lớn, gần 1/3 số túi nilon chất thải mỗi ngày không được thu gom,
xử lý Hậu quả là chất thải nhựa, túi nilon khi lẫn trong đất sẽ làm mất kết cấu đất, lâu dần dẫn đến giảm khả năng giữ nước gây ra xói mòn, sạt lở đất ở vùng núi Chất thải nhựa kể cả được thu gom đưa đi chôn lấp lẫn vào đất vẫn tồn tại hàng trăm năm Làm thay đổi tính chất vật lý của đất Gây ô nhiễm đất, xói mòn đất, làm cho đất không giữ được nước, dinh dưỡng, ngăn cản oxy đi qua đất Ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng [4]
1.2.2 Ảnh hưởng đến môi trường nước
Chất thải nhựa có mặt ở khắp nơi gây mất mĩ quan đô thị, khi bị cuốn vào cống rãnh kênh rạch sẽ gây tắc nghẽn dòng chảy tạo nên các vùng nước đọng gây ô nhiễm môi trường nặng nề và là điều kiện để cho các loại dịch bệnh sinh sôi và phát triển đồng thời khiến tình trạng ngập của thành phố trở nên trầm trọng [4]
1.2.3 Ảnh hưởng đến môi trường không khí
Vòng đời các sản phẩm nhựa dùng một lần thường rất ngắn trong khi đó việc sản xuất ra chúng tiêu tốn nhiều nguyên liệu từ dầu mỏ, sử dụng nhiều năng lượng và phát sinh nhiều khí thải Đặc biệt, chất thải nhựa khi thải ra môi trường
mà không xử lý đúng cách cũng sản xuất ra rất nhiều khí độc hại Ví dụ như khi đốt nhựa không đúng quy chuẩn sẽ gây ô nhiễm môi trường không khí Tạo ra hiệu ứng nhà kính Làm ảnh hưởng một cách tiêu cực đời sống của con người và sinh vật sống trên trái đất [4]
1.2.4 Ảnh hưởng đến hệ sinh thái
Túi nilon và các sản phẩm nhựa dùng một lần, chỉ sử dụng thời gian rất ngắn rồi vứt bỏ, nhưng các sản phẩm này có đặc tính lâu phân huỷ thì tác hại của
nó lại vô cùng lớn không chỉ với sức khoẻ con người mà còn với môi trường, hệ sinh thái trên trái đất Theo các nhà nghiên cứu thì phải mất từ 500 - 1000 năm túi nilon mới bị phân huỷ trong môi trường tự nhiên Trong khi đó, lượng chất thải nhựa thải ra môi trường rất lớn, gần 1/3 số túi nilon chất thải mỗi ngày không được thu gom, xử lý Hậu quả là chất thải nhựa, túi nilon có mặt ở khắp
Trang 16nơi gây ô nhiễm môi trường nặng nề và là điều kiện để cho các loại dịch bệnh sinh sôi và phát triển [4]
1.3 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Loại chất thải để lại hậu quả lâu dài nhất đối với sức khoẻ con người chính là nhựa Nhựa có lẫn vào nước tạo thành các hạt vi nhựa làm ô nhiễm nguồn nước Theo đó, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của con người Khi con người sử dụng
để sinh hoạt cũng như ăn uống Cụ thể hơn, bởi vì chúng có kích thước nhỏ nên
có thể đi qua hàng rào nhau thai cũng như máu não Đi vào đường tiêu hóa và phổi, những vị trí tiềm ẩn nguy cơ bị tổn thương Đồng thời, các hạt nhựa có khả năng hấp phụ các vi sinh vật hay chất ô nhiễm độc hại Khi vào cơ thể, chúng có thể gây stress oxy hóa các tế bào, dẫn đến kích hoạt nhiễm trùng, suy giảm hệ miễn dịch, rối loạn quá trình nội tiết Chất thải nhựa rất khó phân hủy trong môi trường tự nhiên Các loài động vật khi ăn phải chất thải nhựa có thể chết, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng, gây mất cân bằng sinh thái
Túi nilon, ống hút, cốc nhựa dùng một lần, hộp xốp, nước đóng chai nhựa… chủ yếu được tái chế từ những sản phẩm nhựa đã qua sử dụng, một số hóa chất có trong các sản phẩm nhựa này như: chất hoá dẻo, phẩm màu, chì, cadimi… sẽ thôi nhiễm vào thức ăn, sau đó được hấp thụ vào cơ thể người qua quá trình sử dụng Các hóa chất này tích tụ lâu ngày có thể gây ung thư, gây ảnh hưởng xấu đến phát triển não bộ ở trẻ, làm thay đổi mô, biến đổi nhiễm sắc thể, sẩy thai, dị tật bẩm sinh, thay đổi nội tiết tố và nhiều hệ luỵ khác cho sức khoẻ con người [5]
Trong một số loại túi nilon có thể lẫn lưu huỳnh, dầu hỏa nguyên chất, nên khi đốt cháy gặp hơi nước sẽ tạo thành axit sunfuric gây ra mưa axit rất nguy hiểm
Ngoài ra, theo PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh (Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm – Đại học Bách Khoa Hà Nội): Nhiều sản phẩm nhựa kém chất lượng trong quá trình sử dụng sẽ sản sinh ra BPA Bisphenol-A (BPA) là một hoá chất nhân tạo được dùng trong sản xuất các sản phẩm làm bằng chất dẻo
Trang 17polycarbonate như hộp đựng thức ăn, bình sữa trẻ em, đồ chơi… Theo Chương trình quốc gia nghiên cứu về độc học và Cơ quan Quốc tế nghiên cứu về ung thư cho thấy, BPA là loại chất có khả năng gây ung thư cực cao, ngoài ra BPA còn
có tác động làm não chậm phát triển, gây rối loạn nội tiết, vô sinh
Do nhu cầu sử dụng ngày càng tăng khiến lượng chất thải nhựa, túi nilon thải ra môi trường ngày càng lớn, trong khi việc quản lý, thu gom, xử lý chất chưa kịp thời, nên hiện tượng đốt chất thải nhựa, túi nilon còn rất phổ biến Khi được đốt ở ngoài môi trường sẽ tạo ra nhiều loại khí độc, trong đó có dioxin và furan là những chất cực độc có khả năng gây khó thở, ảnh hưởng tới tuyến nội tiết, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn chức năng tiêu hoá Đặc biệt là có nguy
cơ gây ung thư khi phơi nhiễm thường xuyên [5]
1.4 Thực trạng chất thải nhựa sinh hoạt
Trên thế giới
Theo thống kê của WHO cho biết mỗi phút cả thế giới tiêu thụ 1 triệu chai nhựa, mỗi năm có 5.000 tỷ túi nilon được sử dụng Chưa kể đến các loại sản phẩm làm từ nhựa khác như: đồ dùng, bàn, ghế, tã, đồ chơi…[11]
Trên thế giới tính đến 2015 đã sản xuất 8.3 tỷ tấn nhựa Theo thống kê từ các tổ chức WHO, EPA cho thấy trong khoảng 6.3 tỷ tấn chất nhựa thì chỉ có 9% tái chế, 12% đốt, 79% chôn lấp hoặc vứt ra môi trường (UNEP 2018) Nếu nhịp độ sử dụng sản phẩm nhựa tiếp tục tăng như hiện nay sẽ có thêm 33 tỉ tấn nhựa được sản xuất vào năm 2050 và như vậy sẽ có hơn 13 tỉ tấn chất thải nhựa được chôn lấp trong các bãi chất hoặc đổ xuống đại dương đây là những con số hết sức giật mình [9]
Mỗi năm, thế giới thải ra 300 triệu tấn chất thải nhựa, gần 1/3 số túi nilon con người thải ra không được thu gom và xử lý Hơn 9,1 tỷ tấn chất thải nhựa đang tích tụ trên Trái đất Tính trung bình, mỗi phút thế giới thiêu thụ 1 triệu chai nhựa… Chất thải nhựa và túi nilon thải ra môi trường đang tăng lên theo cấp số nhân Chúng đang từng ngày, từng giờ tàn phá, hủy diệt môi trường sống của con người và cả thế giới động vật đặc biệt là sinh vật biển [2]
Trang 18Với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng mặt như vậy thì trong 50 năm qua lượng nhựa được sử dụng tăng 20 lần, dự báo có thể gấp đôi trong 20 năm nữa Theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP): mỗi năm
có khoảng 13 triệu tấn chất nhựa bị đổ ra biển gây tổn thương hệ san hô và giết chết 1.5 triệu động vật từ rùa biển đến cá voi, ước tính thiệt hại với hệ sinh thái lên tới 13 tỷ USD mỗi năm
Hiện chưa có thống kê nào về tổng số lượng chất thải nhựa mỗi quốc gia thải ra môi trường Tuy nhiên một báo cáo cơ quan môi trường EPA (Mỹ) đã thống kế được số lượng chất thải nhựa mỗi quốc gia thải ra biển Theo một nghiên cứu do các chuyên gia Mỹ và Australia công bố tháng 12 năm 2017 thì Trung Quốc và Indonesia là 2 quốc gia xả chất thải nhựa nhiều nhất ra đại dương với khối lượng là: Trung quốc: 8.8 triệu tấn/năm và Indonesia 3,2 triệu tấn/năm
Đến năm 2050 lượng chất nhựa trong biển có thể vượt lượng cá Lượng chất thải nhựa dưới biển hiện nay ước tính khoảng 150 triệu tấn, xấp xỉ 1/5 khối lượng cá Với tốc độ sản xuất và tiêu dùng như hiện tại khối lượng chất thải nhựa sẽ vượt lượng cá [2]
Riêng các nước thành viên Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) chi 1,3 tỷ USD mỗi năm để giải quyết ô nhiễm môi trường biển do chất thải nhựa, chưa kể những thiệt hại kinh tế xuất phát từ tác động tới môi trường hay sức khỏe con người Châu Âu là khu vực đi đầu trong nỗ lực này khi Ủy ban châu Âu (EC) đã đề xuất cấm nhiều sản phẩm nhựa dùng một lần và tái chế toàn
bộ bao bì nhựa vào năm 2030 Hiện việc sử dụng túi nhựa 1 lần ở các nước EU
đã giảm 30% sau khi EC năm 2016 cấm các siêu thị cung cấp miễn phí cho khách hàng các loại túi này Mục tiêu của EU là tới năm 2026 số túi nhựa được
sử dụng sẽ giảm xuống còn 40 túi/người/năm Các nước EU cũng hưởng ứng nhiệt tình khi các thành phố, siêu thị, nhà hàng nói “không” với vật dụng nhựa xuất hiện ngày càng nhiều tại “lục địa già."
Trang 19Tại châu Mỹ, Chile đã trở thành quốc gia Nam Mỹ đầu tiên thông qua lệnh cấm dùng túi nilon sử dụng 1 lần Colombia đã giảm 35% mức tiêu thụ túi nilon sau khi đánh thuế đối với loại túi nilon to, trong khi thay đổi thiết kế nhằm sản xuất loại túi có thể tái sử dụng Ngoài ra, các quốc gia khác trong khu vực cũng có động thái tương tự như Panama, Costa Rica, Ecuador, Peru…
Môi trường sống trên Trái Đất đang reo những hồi chuông báo động đỏ về thực trạng ô nhiễm chất thải nhựa Con người chỉ mất 1 giây để vứt bỏ nhưng chất thải nhựa và túi nilon cần đến hàng trăm năm để phân hủy Hậu quả của chúng với môi trường thực sự khủng khiếp
Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, bình quân mỗi hộ gia đình sử dụng khoảng 1kg túi nilon/tháng, riêng hai thành phố lớn là TP Hà Nội và TP HCM, trung bình mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa và nilon Với ưu điểm bền, tiện dụng, giá thành thấp thì các sản phẩm từ nhựa bấy lâu nay được rất nhiều người dân ưa chuộng Đồ nhựa có mặt ở khắp mọi nơi: đồ chơi trẻ em, túi nilon đi chợ, bàn ghế, ống hút, chai nhựa,
Theo thống kê trong danh sách các nước xả chất nhiều nhất trên thế giới thì Việt Nam đứng con số thứ 4, một vị trí vô cùng báo động [1]
Ở Việt Nam, lượng tiêu thụ sản phẩm nhựa đang tăng lên nhanh chóng Tiêu dùng nhiều khiến cho lượng chất thải nhựa cũng tăng lên theo cấp số nhân Báo cáo của Bộ Tài Nguyên và Môi trường cho biết mỗi năm Việt Nam thải ra ngoài môi trường khoảng 1,8 triệu tấn chất thải nhựa
Báo cáo của Hiệp hội nhựa Việt Nam cho biết vào năm 2015, Việt Nam đã sản xuất và tiêu thụ đến 5 triệu tấn nhựa Con số tiêu thụ này đã tăng rất mạnh trong giai đoạn 1990 - 2018, nếu như năm 1990, mỗi người Việt Nam tiêu thụ 3,8 kg nhựa/năm thì đến năm 2018 con số này đã lên đến 41,3 kg nhựa/năm
Cụ thể hơn, trung bình mỗi hộ gia đình sử dụng 223 túi nilon/tháng, tương đương với khoảng 1kg túi/nilon/tháng Như vậy với dân số 95 triệu dân thì sẽ có hàng triệu túi nilon được sử dụng và thải ra mỗi ngày tại nước ta
Trang 20Theo thống kê của Bộ Tài nguyên & Môi trường thì mỗi năm, Việt Nam thải ra môi trường 1,8 triệu tấn chất thải nhựa, trong đó có 0,28 triệu – 0,73 triệu tấn thải ra biển (tức là chiếm khoảng 6% tổng chất thải nhựa ra biển của toàn thế giới)
Ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, mỗi ngày thải ra môi trường khoảng
80 tấn nhựa và nilon Trong đó, cứ 4.000 - 5.000 tấn chất thải mỗi ngày thì đã có 7% - 8% là chất thải nhựa, nilon Phân tích các thành phần chất thải đô thị có thể tái chế được ở thành phố Hội An, chất thải nhựa chiếm 8,4-14% Lượng chất thải nhựa tại các nhà hàng chiếm số phần trăm thấp nhất (8,4%), trong khi tỷ lệ này trong chất thải từ hộ gia đình, khách sạn và đường phố tương đương nhau và xấp xỉ 14% Tại thành phố Cần Thơ, lượng chất thải nhựa chiếm tỷ lệ ít hơn so với Hội An, với 6,13% Cũng tại thành phố này, trong lượng chất thải nhựa, túi nilon mua hàng chiếm tỷ lệ lớn nhất với 45,72% Nghiên cứu chất thải nhựa cỡ lớn trên sông Sài Gòn trong năm 2019 cho thấy, nhựa PO mềm và PS-E thường xuyên chiếm tỷ lệ cao nhất Nhựa thải chiếm 6% trong chất thải rắn đô thị tại Huế và 8% trong chất thải nhựa tại Hà Nội Lượng chất thải nhựa chiếm khoảng 3,2-8,3% tổng lượng chất thải trên sông Sài Gòn và thấp hơn tỷ lệ chất thải nhựa (16%) trong chất thải rắn đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh [1]
Một số thành phố ven biển như Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bà Rịa -Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều chất thải nhựa trôi nổi trên biển từ các nguồn chất thải đô thị, sinh hoạt, nông nghiệp, bệnh viện, nuôi trồng thủy sản và giao thông vận tải biển Chỉ tính riêng tại thành phố Hạ Long, mỗi ngày cơ quan chức năng thu gom khoảng 7 tấn chất thải rắn để đưa vào bờ xử lý Sau 3 chiến dịch thu gom chất từ năm 2016 đến 2019, tại 4 km của Vịnh Hạ Long đã thu được 4 tấn chất thải, chủ yếu là chất thải nhựa và túi nilon Một điều đáng lưu ý là việc phân loại, thu hồi và xử lý chất thải tại Việt Nam còn rất hạn chế Lượng chất thải nhựa và túi nilon ở Việt Nam chiếm khoảng 8 -12% chất thải rắn sinh hoạt Nhưng 10% số lượng chất thải nhựa và túi nilon không được tái sử dụng mà thải bỏ hoàn toàn ra ngoài môi trường
Trang 21Lượng chất thải nhựa và túi nilon thải bỏ ở Việt Nam xấp xỉ khoảng 2,5 triệu tấn/năm Đây là một “gánh nặng” cho môi trường, thậm chí có thể dẫn đến thảm họa “ô nhiễm trắng” mà các chuyên gia đã gọi [7]
Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tại Việt Nam, chất thải nhựa chiếm 7% tổng lượng chất thải rắn, còn ở biển theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo, chất thải nhựa chiếm khoảng 50 - 80% lượng chất thải biển Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) đã thống
kê, năm 2018, Việt Nam thải ra hơn 1,8 triệu tấn chất thải nhựa không được xử
lý, chiếm gần 6% lượng chất nhựa trên thế giới Tính riêng lượng chất thải nhựa
ra biển, Việt Nam đứng thứ 4 thế giới trong năm qua, ở mức khoảng 0,50 triệu tấn Như vậy, Việt Nam nói chung và ngành du lịch nói riêng phải có trách nhiệm trong việc khắc phục hậu quả và giảm thiểu chất thải nhựa thải ra môi trường [6]
Nếu không có biện pháp xử lý, tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu lượng phát sinh chất thải nhựa, nguy cơ vượt quá sức chịu tải của môi trường là không tránh khỏi
1.5 Giải pháp quản lý chất thải nhựa
Quản lý chất thải nhựa sinh hoạt trên thế giới
Tại Nhật Bản: Chất thải sẽ được phân loại một cách kỹ lưỡng Có khoảng 20,8% tổng lượng chất thải hằng năm được Nhật Bản đưa vào tái chế, đặc biệt là các chai nhựa tổng hợp PET Nhiều công ty Nhật Bản đang tăng cường sử dụng nhựa từ chai cũ để sản xuất mới Chai lọ chưa trải qua quá trình lọc có thể được chuyển thành sợi may quần áo, túi, thảm và áo mưa
Đã ban hành riêng một luật về chất thải Phân loại chất được thực hiện với quy trình vô cũng nghiêm ngặt và nhiều bước Điều này được đưa vào các điều luật và thực hiện nghiêm túc bởi người dân Nhờ phân loại, xử lý chất tốt người Nhật làm cho các nước ngạc nhiên khi nước lũ tại quốc gia này được ví sạch như
hồ bơi Phân loại chất sẽ giúp tái sử dụng hiệu quả phế liệu cứng Các loại chất
Trang 22hữu cơ sẽ thay thế phân hóa học giảm ô nhiễm đất Lượng chất thải rắn còn lại
sẽ rất ít tiết kiệm diện tích chôn lấp, giảm ô nhiễm môi trường
Tại Singapore: Biến chất thải thành thành năng lượng Chính phủ Singapore đã triển khai chương trình xử lý chất thông minh này từ năm 2001 Cho tới năm 2005, có tới 56% các hộ gia đình Singapore tham gia chương trình này Theo đó quy trình chọn lọc và tái chế chất thải được giới thiệu và ra mắt rộng rãi ở các trường học, văn phòng, trung tâm mua sắm
Tại Indonesia: Indonesia huy động quân đội tham gia “cuộc chiến” chống chất thải nhựa với cam kết tới năm 2025 giảm 70% lượng chất thải nhựa trên biển Chính quyền thành phố lớn thứ hai của Indonesia là Surabaya đã nghĩ ra một cách mới lạ để khuyến khích người dân tái chế chất thải đó là: tặng vé xe buýt miễn phí để đổi lấy những chai nhựa đã qua sử dụng Với 10 cốc nhựa hoặc năm chai nhựa, tùy thuộc vào kích thước của chúng sẽ đổi được một vé xe buýt, thành phố hy vọng sẽ đáp ứng được mục tiêu đầy tham vọng là không có chất thải nhựa vào năm 2020 Một chiếc xe buýt có thể thu thập tới 250 kg chai nhựa mỗi ngày, tương đương khoảng 7,5 tấn trong một tháng
Tại Trung Quốc: là một quốc gia có lượng chất thải nhựa đổ ra biển lớn nhất thế giới Trung Quốc cũng đang dần ý thức được tiềm ẩn nguy cơ của chất thải nhựa đối với môi trường biển Chính vì vậy chính quyền đã có một số biện pháp như: tại các siêu thị tại đại lục Trung Quốc, khách hàng phải trả 0.3 nhân dân tệ (khoảng 1000 đồng Việt Nam) cho một túi nilon khi mua sắm và khách hàng cũng phải trả 2 đài tệ (khoảng 1400 đồng Việt Nam) cho một túi nilon khi mua sắm tại các siêu thị ở Đài Loan Trong nỗ lực ngăn chặn các chai nhựa nằm ở những bãi rác, chính quyền thành phố Bắc Kinh đã cho phép trả tiền vé tàu điện ngầm bằng những chai nhựa nhằm khuyến khích người dân tái chế các chai nhựa đã qua sử dụng.
Tại Úc: Một số thành phố lớn ở Úc đã cho lắp đặt những máy tự động thu gom các chai đựng đồ uống bằng nhựa và các lon đồ uống cho phép đổi lấy vé
xe buýt, phiếu mua đồ ăn hoặc quyên góp 10 cent cho tổ chức làm sạch Một
Trang 23tuyên bố chính thức nói rằng 15.000 chai và lon bị vứt bừa bãi hoặc ném vào bãi chất mỗi phút trên khắp nước Úc Chính quyền hy vọng rằng với dự án này, sẽ giảm được đáng kể lượng chất thải.
Tại châu Á, Hàn Quốc ban hành Luật thúc đẩy tiết kiệm và tái chế tài nguyên 1994 cấm sử dụng đồ nhựa dùng một lần ở bếp ăn tập thể, Luật Quản lý môi trường biển 2009 yêu cầu xây dựng Kế hoạch Quản lý chất thải biển
Thái Lan xem xét áp thuế với túi nilon và sản xuất túi nilon có khả năng tự phân hủy hoặc loại túi nilon mỏng hơn
Nhìn chung, tại các quốc gia phát triển mô hình các máy tự động thu gom chai nhựa để đổi lấy vé xe buýt, hoặc một phần kinh phí nhỏ hay các dịch vụ khác đang dần lan tỏa sang những nước khác trên thế giới Đi đầu trong lĩnh vực này có thể kể đến Na Uy khi mà đã triển khai dịch vụ từ năm 1992 Theo thống
kê chính thức, 97% chai nhựa ở Na Uy được tái chế Đại diện chính phủ Anh cũng đã sang Na Uy để học tập hệ thống này Hệ thống tương tự cũng đã được
sử dụng ở nước láng giềng Thụy Điển và Đan Mạch, cùng với Đức và một số bang ở các quốc gia Hoa Kỳ và Canada[10]
1.6 Hiện trạng quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt tại Việt Nam
Hiện trạng quản lý, thu gom, vận chuyển chất thải nhựa tại Việt Nam
Tại Việt Nam tình hình xử lý tái chế chất thải nhựa còn nhiều yếu kém, lạc hậu và có nhiều hạn chế Chỉ một trận ngập lụt cục bộ được dự báo trước mới xảy ra tại huyện Chương Mỹ, Hà nội chất trào ngược khiến đời sống của hàng trăm người khốn khổ đặc biệt là chất thải nhựa Chính vì thói quen sử dụng và thải chất bừa bãi chính con người đang phải nhận lại những thứ họ thải ra môi trường 90% chất thải nhựa được xử lý theo cách chôn lấp, đốt và chỉ có 10% còn lại là được tái chế (Theo ông Đặng Huy Đông – Nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Người dân thì thiếu ý thức trong việc phân loại chất thải ngay tại nguồn gây nhiều khó khăn cho phân loại, xử lý và tái chế Như trong 3.000 tấn chất đem đi tái chế ở thành phố Hồ Chí Minh thì chỉ thu được 50 - 60 tấn nhựa tái sinh chất lượng thấp (Theo thống kê của Hiệp hội nhựa Việt Nam) [8]
Trang 24Một số công nghệ xử lý chất thải nhựa tại Việt Nam
Công nghệ xử lý chất thải nhựa bằng chôn lấp: Trong các phương pháp xử
lí thì đây là phương pháp phổ biến ở các đô thị và nông thôn Tuy nhiên chất thải nhựa kể cả được thu gom đưa đi chôn lấp lẫn vào đất nó vẫn tồn tại hàng trăm năm ảnh hưởng lớn đến môi trường, hệ sinh thái và sức khỏe của con người
Công nghệ thiêu đốt và thu hồi năng lượng chất thải nhựa: Đây là một giai đoạn oxy hóa nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong không khí để phân hủy rác Nó làm giảm đáng kể thể tích chất thải phải chôn Đốt chất thải nhựa tạo ra năng lượng phục vụ ngành công nghiệp khác Tuy nhiên quá trình này phải được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo nó không phát sinh những vấn đề gây hại đến môi trường, mang đến nhiều nguy hiểm cho con người và sinh vật
Công nghệ xử lý chất thải nhựa bằng nhiệt phân tái chế: Từ chất thải nhựa
có thế tái chế thành nhiều sản phẩm phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, tạo thêm nhiều việc làm cũng như những lợi ích kinh tế, môi trường to lớn, cung cấp cho xã hội những sản phẩm “năng lượng xanh” như dầu và than nhiên liệu Nhưng trên thực tế, lĩnh vực tái chế chất thải nhựa ở Việt Nam vẫn chưa phát triển, tỷ lệ phân loại chất thải nhựa tại nguồn rất thấp, chủ yếu dựa vào lực lượng thu mua phế liệu và một số cơ sở xử lý chất thải rắn có công đoạn phân loại tách nhựa khỏi chất thải rắn Và mỗi năm chúng ta sản xuất khoảng 300 triệu tấn nhựa, một nửa trong số đó là nhựa dùng một lần Điều gây khó khăn trong quá trình tái chế là chúng ta phải bổ sung một số vật liệu, hóa chất Đối với một số sản phẩm nhựa khác, hoặc các sản phẩm bị tái sử dụng quá nhiều lần, việc tái sử dụng chúng có thể gây hại tới sức khỏe con người
Hiện nay, Việt Nam đang chú ý đến việc áp dụng các mô hình xử lý chất thải hiệu quả và an toàn hơn như: đốt chất phát điện, điện khí hóa, xử lý chất thải rắn thành phân vi sinh… Tuy nhiên, cần có sự quan tâm sát sao, đầu tư đúng mức và cả sự chung tay của toàn xã hội để có được hiệu quả tốt nhất
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH), gia tăng dân số, lượng chất thải rắn (CTR) phát sinh trên địa bàn tỉnh Hòa Bình ngày càng tăng Thời gian
Trang 25qua, tỉnh Hòa Bình đã triển khai một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý, xử lý CTR Tuy nhiên, vấn đề quản lý, xử lý CTR vẫn là bài toán “đau đầu” đối với các cấp chính quyền tỉnh Hòa Bình
Dân số toàn tỉnh Hòa Bình hiện có hơn 939.000 người Lượng CTR sinh hoạt khu vực đô thị tại TP Hòa Bình và các thị trấn phát sinh từ khu dân cư, cơ quan, nhà hàng, khách sạn, cơ sở sản xuất, y tế, khu vực công cộng Lượng CTR phát sinh khoảng 127.043 tấn/ngày đêm, chiếm 25% lượng CTR phát sinh trong tỉnh, trong đó, lượng CTR được thu gom, xử lý khoảng 109.257 tấn/ngày đêm Đối với khu vực nông thôn, lượng CTR sinh hoạt phát sinh khoảng 379.571 tấn/ngày đêm, chiếm 75% lượng CTR phát sinh trong tỉnh Lượng CTR được thu gom, xử
lý ở khu vực này chỉ đạt khoảng 117.667 tấn/ngày đêm và chỉ khoảng 31% dân
số được cung cấp dịch vụ thu gom
Theo khảo sát của Sở TN&MT, hiện nay, công tác thu gom, xử lý CTR sinh hoạt mới được thực hiện tại các thị trấn, thị tứ, xã có dân cư sống tập trung, do
đó, việc điều tra, thống kê cụ thể khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh, cũng như
tỷ lệ CTR sinh hoạt được thu gom, xử lý tại khu vực nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh chưa được thực hiện Công tác thu gom CTR sinh hoạt hiện nay tại khu vực nông thôn thực hiện được khoảng 73/191 xã trên địa bàn tỉnh
Trong thời gian qua, việc thu gom CTR sinh hoạt trên địa bàn tỉnh được thực hiện bằng các phương tiện cơ giới như xe cuốn ép vận chuyển rác chuyên dụng,
xe tải Các địa phương đã đầu tư trang bị thùng đựng rác, xe cải tiến, dụng cụ chuyên dụng, tuy nhiên, những trang thiết bị đó chỉ đáp ứng một phần nhu cầu thực tế, phương tiện chủ yếu là xe thô sơ, tự chế Các xã vẫn đang thiếu phương tiện để tập kết, thu gom rác hợp vệ sinh Việc thu gom CTR sinh hoạt ở khu vực nông thôn một phần do đơn vị dịch vụ môi trường đảm nhiệm, một phần do các
tổ, đội tự quản được UBND xã giao thực hiện bằng xe đẩy tay gom về vị trí tập kết Sau đó, xe ép rác thu gom theo giờ quy định chở về các khu xử lý rác, nhưng việc này mới được triển khai tại một số xã ven đô thị và các thị tứ Hầu hết các xã vùng sâu, xa chưa triển khai được dịch vụ thu gom CTR sinh hoạt phát sinh
Trang 26Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Đánh giá được thực trạng từ đó đề xuất giải pháp giảm thiểu chất thải nhựa trong sinh hoạt, góp phần bảo vệ môi trường tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Chất thải nhựa sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình – tỉnh Hòa Bình
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng chất thải nhựa trong sinh hoạt tại khu vực dân cư thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình trong đó địa điểm nghiên cứu cụ thể là 6 phường: Phương Lâm, Đồng Tiến, Chăm Mát, Tân Thịnh, Hữu Nghị và Thịnh Lang
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên các hoạt động phân loại, thu gom, xử
lý chất thải nhựa trong sinh hoạt tại 6 phường của thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng sử dụng các loại chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình
Nghiên cứu thực trạng quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
Trang 27 Đề xuất giải pháp quản lý chất thải nhựa trong sinh hoạt tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp kế thừa số liệu
Tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Hòa Bình, tỉnh Hoà Bình
Số liệu về thực trạng chất thải nói chung và chất thải nhựa nói riêng tại khu vực nghiên cứu
Tài liệu về hoạt động quản lý chất thải trên địa bàn thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
Các tài liệu thu thập thông qua các cơ quan của ủy ban nhân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình số liệu thu gom, phân loại và xử lý chất thải
Các tài liệu khác có liên quan (sách, giáo trình, báo chí, luật môi trường, luận văn tốt nghiệp, thông tin điện tử trên mạng internet )
Kế thừa có chọn lọc những tài liệu điều tra cơ bản và tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học có liên quan đến công tác quản lý, xử lý chất thải nhựa
Phương pháp khảo sát thực địa
Để tài tiến hành khảo sát trực tiếp tại khu vực nghiên cứu để tìm hiểu về hiện trạng chất thải và RTN bao gồm: Nơi tập kết chất thải: số lượng, diện tích, không gian điểm tập kết rác; Khoảng cách giữa các điểm tập kết rác; Loại thùng chất (có ngăn để phân loại chất hay không), số lượng thùng rác; Loại xe thu gom rác, chất lượng của xe; Tần suất thu gom, vận chuyển; Công tác bảo hộ lao động của nhân viên thu gom; Xe vận chuyển chất thải…
Phương pháp phiếu điều tra xã hội học
Đối tượng điều tra: Hộ gia đình, hộ kinh doanh, người thu mua phế liệu,
cán bộ môi trường
Số lượng phiếu điều tra: tổng số 330 phiếu chia đều cho 6 phường mỗi phường 55 đối tượng phỏng vấn bao gồm 41 hộ gia đình; 10 hộ kinh doanh; 2 người thu gom phế liệu; 2 người cán bộ môi trường
Trang 28Với đối tượng là hộ gia đình phương pháp chọn mẫu là ngẫu nhiên (theo số nhà của hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên từ phần mềm excel); Các hộ kinh doanh được chọn là các hộ sử dụng nhiều các sản phẩm nhựa dùng một lần như quán chè, cháo dinh dưỡng, quán xôi và một số tạp phẩm có bán các sản phẩm nhựa dùng một lần, nilon Cán bộ quản quản lý và người thu gom thì theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện
Nội dung phiếu điều tra: Lập bảng phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của
người dân, hộ kinh doanh, người thu gom phế liệu, cán bộ nhân viên quản lý về các nội dung như: Tác hại của chất thải nhựa; Phân loại; Tần suất thu gom chất thải nhựa; Hoạt động thu gom, tập kết, xử lý chất thải và RTN của địa phương; Nhận xét về công tác quản lý môi trường của chính quyền địa phương; Đề xuất giải pháp quản lý RTN
Bảng các câu hỏi chi tiết của phiếu điều tra được thể hiện trong phần phụ lục 01, 02, 03 và 04
Trang 29Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Hòa Bình là trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh Hòa Bình Thành phố Hòa Bình nằm ở toạ độ địa lý 20030’- 200
50’ vĩ Bắc và 105015’-
105025’ kinh Đông, cách thủ đô Hà Nội khoảng 76 km về phía Tây
Hình 3.1 Bản đồ sáu phường nghiên cứu, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
Phía Bắc giáp huyện Thanh Sơn (tỉnh Phú Thọ)
Phía Đông giáp các huyện Kỳ Sơn và huyện Kim Bôi
Phía Nam giáp huyện Cao Phong
Trang 30Phía Tây giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Sáu phường nghiên cứu:
Phường Phương Lâm với tổng dân số là 10517 người, diện tích 3,3km2
Phường Đồng Tiến: với số dân là 10712 người, diện tích của phường là 2.07km2
Phường Chăm Mát với dân số của phường là 8165 người, diện tích của Phường Chăm mát là 2.98 km2
Phường Tân Thịnh với dân số là 8606 người, diện tích của phường là 3,92
3.1.3 Điều kiện khí hậu
Thành phố Hòa Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau, mùa hè từ tháng 3 đến tháng 10 Nhiệt
Lượng mưa trung bình hàng năm là 1860 mm nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mưa tập trung chủ yếu ở các tháng 7, 8, 9, lượng mưa trung bình năm đạt 1.846 mm Do nằm trong vùng Bắc Bộ nên hàng năm thành phố Hòa Bình chịu ảnh hưởng của gió lốc kèm theo là mưa lớn tập trung gây úng lụt ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống của người dân
Trang 313.1.4 Tài nguyên nước
Hoà Bình có diện tích mặt nước lớn, đặc biệt có sông Đà bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Hoà Bình dài 151 km, với tổng lưu vực rộng 51.800 km2
Hồ Sông Đà có dung tích 9,5 tỷ m3 Sông Đà đoạn chảy qua thành phố Hòa Bình dài 23 km là nơi xây dựng Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, cung cấp một nguồn thủy điện dồi dào với công suất gần 2 triệu kw/h, điều tiết nước cho sản xuất, chống lũ cho đồng bằng sông Hồng vào mùa mưa, đồng thời cũng tạo ra cho thành phố Hòa Bình một cảnh quan đẹp độc đáo Mực nước ngầm trung bình là 10 m, riêng khu vực dọc hai bờ sông Đà, mực nước xuống đến 40 - 50
m Sông Đà chia thành phố Hòa Bình thành hai khu vực đó là khu bờ trái sông
Đà và khu bờ phải Sông Đà Sau những thay đổi, sáp nhập về địa giới hành chính, hiện nay, thành phố Hoà Bình có 15 đơn vị hành chính gồm 8 phường (Phương Lâm, Đồng Tiến, Thái Bình, Chăm Mát, Tân Thịnh, Thịnh Lang, Hữu Nghị, Tân Hòa) và 7 xã (Hòa Bình, Thái Thịnh, Dân Chủ, Sủ Ngòi, Trung Minh, Yên Mông, Thống Nhất)
3.1.5 Tài nguyên đất
Lớp vỏ thổ nhưỡng ở thành phố Hòa Bình đa dạng cả về cấu trúc, thành phần và tính chất Dựa vào điều kiện hình thành, có thể phân biệt được hai nhóm đất: thủy thành (hình thành từ bồi tụ phù sa sông, suối) và địa thành (hình thành
từ đá gốc) Hầu hết các loại đất đều phù hợp với việc phát triển các loại cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả như: mía, dứa, cam, Trong tổng số 14.784
ha diện tích tự nhiên, đất nông nghiệp có 1.541,09 ha, chiếm 11,59% và đất lâm nghiệp có 4.757,62 ha, chiếm 35,79%
3.1.6 Tài nguyên khoáng sản
Có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, có thể khai thác phát triển công nghiệp khai khoáng, tuyển luyện quặng kim loại và sản xuất vật liệu xây dựng như đá granit, đá vôi, than đá, đất sét, cao lanh, vàng, sắt, nước khoáng, đặc biệt
là sản xuất xi măng
Trang 323.1.7 Tài nguyên du lịch
Hoà Bình có nhiều tiềm năng phát triển du lịch Ðịa hình đồi núi trùng điệp với các động Thác Bờ, hang Rết, động Hoa Tiên, vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh Pù Noọc mở ra những tuyến du lịch mạo hiểm leo núi, đi bộ, săn bắn, tắm suối Sức người và thiên nhiên đã tạo cho Hòa Bình một vùng hồ sông Ðà thơ mộng cho phép phát triển du lịch vùng lòng hồ và ven hồ có đầy đủ vịnh, đảo và bán đảo mà ở đó động thực vật quý hiếm được bảo tồn
3.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội
3.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2010 tiếp tục có chuyển biến tích cực với tốc độ tăng trưởng cao gấp gần 1,5 lần tốc độ tăng trưởng cùng kỳ năm 2009, đầu tư phát triển được đẩy mạnh, thu ngân sách nhà nước tăng khá, giá cả nằm trong tầm kiểm soát, thị trường hàng hoá, các hoạt động dịch vụ phát triển mạnh, an sinh xã hội được bảo đảm Tốc độ tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2010 ước đạt 11,7%, trong đó: Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 3,5%; công nghiệp - xây dựng tăng 20,7% (công nghiệp tăng 25,96%; xây dựng tăng 11,57%); dịch vụ tăng 11,69%
Bảng 3.1 Số liệu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hoà Bình năm 2019
và dự kiến cho năm 2020
STT Chỉ tiêu Đơn vị
tính
Kế hoạch năm 2019
Thực hiện năm 2019
Kế hoạch năm 2020