MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TIẾNG ANH CHO HỌC SINH LỚP 6 I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và có được những con ngườimới năng động sáng tạo, bi
Trang 1MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TIẾNG ANH
CHO HỌC SINH LỚP 6 I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và có được những con ngườimới năng động sáng tạo, biết tự tìm tòi nghiên cứu, tìm đến với tri thức, Bộ giáodục và đào tạo đã chủ trương đổi mới phương pháp dạy và học chuyển từ dạyhọc thụ động, truyền thụ kiến thức một chiều sang phương pháp dạy học pháthuy tính tích cực chủ động sang tạo học tập của học sinh, lấy người học làmtrung tâm
Tiếng Anh ngày càng đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển chungcủa toàn xã hội, là công cụ tạo điều kiện để chúng ta hòa nhập với cộng đồngquốc tế và khu vực Tuy nhiên đây là một môn học khó đòi hỏi người dạy vàngười học phải nỗ lực thật nhiều để phù hợp với xu thế đổi mới ấy
Qua thực tế giảng dạy Tiếng Anh THCS tôi nhận thấy giáo viên và họcsinh ở miền quê còn gặp nhiều khó khăn trong việc dạy và học môn Tiếng Anh,dẫn đến chất lượng học tập của học sinh chưa thật sự được như mong muốn –Mong muốn góp phần cải thiện thực tế, tôi viết SKKN “ Một số biện pháp nângcao chất lượng môn Tiếng Anh cho học sinh lớp 6”
II/ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
A Cơ sở lý luận
Hiện nay tình trạng học sinh yếu kém , học sinh không đủ kiến thức, kỹnăng, khả năng học ở lớp hiện tại tập trung nhiều ở các tỉnh, các vùng khó khăn,đặc biệt khó khăn; vùng núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo Đặc biệt môn TiếngAnh là một môn học tiếng nước ngoài và các em ít có cơ hội ứng dụng trongthực tế Các em ít khi được giao tiếp trong một tình huống cụ thể với người nướcngoài nên các em chưa ý thức được tầm quan trọng trong việc học ngôn ngữ này
do đó tỉ lệ học sinh yếu kém còn cao, kỹ năng giao tiếp còn hạn chế
Việc tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng học tập, giảm tỉ lệ học sinh yếukém là do bản thân các giáo viên bộ môn Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn ThiệnNhân đã nói “Mục tiêu đào tạo của chúng ta vẫn là cho thanh thiếu niên ViệtNam có năng lực vào đời chứ không phải cấp cho các em chứng chỉ Trong việctìm ra giải pháp để khắc phục tình trạng yếu kém trong học sinh, Bộ không thể
có một biện pháp cụ thể, mà chính các địa phương phải tìm ra giải pháp choriêng mình Là một giáo viên trực tiếp phụ trách giảng dạy bộ môn ngoại ngữ,tôi thấy việc nâng cao chất lượng học tập và giảm tỉ lệ học sinh yếu kém lànhiệm vụ của mỗi giáo viên bộ môn Đặc biệt Tiếng Anh là ngôn ngữ chung thếgiới nên việc tất cả các em phải biết đọc, biết viết, biết giao tiếp sau khi học hếtchương trình phổ thông là điều cấp thiết
B Thực tiễn:
1 Sơ lược về trường
Trường được xây lâu năm, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường đượccác cấp trên chú tâm và đầu tư nhiều trang thiết bị mới như máy chiếu, bộ máy
đa năng ,chính vì thế mà giáo viên và HS đang cần một khoản thời gian đểthích nghi với công nghệ thông tinh, cũng còn nhiều khó khăn để giáo viên và
Trang 22 Tình hình thực tế học sinh.
Từ những năm qua, theo phương pháp đổi mới trong dạy và học, họcsinh được học chương trình, sách giáo khoa mới, nhưng đối tượng tiếp nhậnvẫn chủ yếu là học sinh khá giỏi Đối tượng học sinh yếu chưa nắm chắc kiếnthức, học theo tính thụ động, chờ đợi kết quả của bạn mình đưa ra Nhiều emrất ngại thực hành nói ở trên lớp, sợ nói ra sẽ bị sai Một số em chưa đọc thôngviết thạo, thậm chí không thích ghi chép bài học ở trên lớp cũng như khônglàm bài tập về nhà Phương pháp học chưa phù hợp với tình hình đổi mới vềgiáo dục trong giai đoạn mới
3 Thực tế của giáo viên trong cách hướng dẫn học sinh yếu học Tiếng Anh.
Trong những năm thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa vàphương pháp dạy học bộ môn Tiếng Anh, giáo viên chỉ chú trọng đến việc đổimới trong tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, hoàn thiện các bước dạytheo hướng đổi mới chứ chưa thật sự chú trọng hướng dẫn cách học và thựchành cho đối tượng học sinh yếu kém Giáo viên chỉ dừng lại ở mức độ hướngdẫn còn chung chung với tất cả các đối tượng học sinh dẫn đến việc những HSthiếu điều kiện, không được quan tâm đúng mức dẫn đến việc các em ngán họctiết học Tiếng Anh, lơ là dần dần dẫn đến học yếu và có thái độ buông xuôi
4 Cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học.
Với yêu cầu đổi mới giáo dục, cơ sở vật chất của nhà trường ngày càngđược cải thiện.Tuy nhiên, đã được trang thiết bị dạy học đầy đủ, được trang bịphòng lab, nhưng giáo viên chưa được tập huấn bài bản để có thể tự tin sửdụng triệt để công dụng của chúng
5 Thực trạng đổi mới phương pháp học tiếng Anh tại đơn vị trường THCS Lê Quý Đôn.
Từ năm học 2002- 2003 thực hiện đổi mới giáo dục của Bộ Giáo dục vàđào tạo về cả nội dung và phương pháp, bản thân tôi đã chú trọng nhiều vềphương pháp dạy học Đặc biệt là phương pháp để nâng cao chất lượng chohọc sinh yếu, kém.Tôi đã xây xựng kế hoạch phụ đạo học sinh yếu - kém dựatrên kế hoạch phụ đạo của trường và của phòng GD Trong từng năm học, tôivẫn luôn quan tâm đến công tác này
6 Thuận lợi và khó khăn chung:
Trang 3Nội dung bài dạy thường dài nên giáo viên không có đủ thời gian để kiểmtra việc học từ mới của học sinh Việc ghi nhớ từ mới với các em còn quá mới
mẻ và đầy khó khăn Khi năm học qua đi thì các em đã bỏ qua việc học một số
từ cơ bản Vốn từ của các em yếu dần so với yêu cầu của chương trình Mà vốn
từ vựng hạn chế dẫn đến việc các em gặp nhiều khó khăn khi học cũng như khiluyện tập các kỹ năng: nghe, nói, đọc và viết
Nhiều phụ huynh chưa quan tâm đúng mức đến việc học của con emmình Nhiều học sinh sau giờ học ở trường dành rất nhiều thời gian xem ti vi,chơi games hoặc đi chơi với bạn bè thay vì chuẩn bị bài Nhiều HS không hềthực hiện việc học bài, chuẩn bị bài trước khi đến lớp
7 Số liệu thống kê
Năm học 2015-2016, tôi dạy môn Tiếng Anh lớp 6/1, 6/2,6/3, 6/4 trườngTHCS Lê Quý Đôn, tổng số học sinh là 125 (Khi chưa áp dụng chuyên đề) Quacác giờ học, qua những bài kiểm tra thường xuyên và định kì, vì thấy nhiều HScòn gặp khó khăn trong giờ học, ý thức học từ và việc ghi nhớ từ của các em còngặp nhiều khó khăn Đa số các em rất lười học và ôn tập từ vựng Tôi đã cho các
em làm bài kiểm tra để khảo sát thực tế việc học của các em
Kết quả thu được như sau:
Môn Khối TS
HS
ĐIỂM THI
Điểm TB trở lên
8à10 6.5à7.8 5à6.3 3à4.8 01à2.8 SL %
Từ bảng thống kê chất lượng trên ta thấy tỉ lệ học sinh chưa nắm đượckiến thức vận dụng còn yếu ở tất cả các kĩ năng nghe, đọc, viết … còn quá cao.Chứng tỏ học sinh chưa nắm được phương pháp học tập bộ môn, chưa vận dụngđược kiến thức mà giáo viên đã hướng dẫn để chủ động sáng tạo thể hiện mìnhtrong hoạt động giao tiếp Bài kiểm tra cho thấy học sinh chưa phân biệt rõcách phát âm của từ vựng Một số học sinh chưa biết chia dạng đúng củađộng từ trong ngoặc, chưa điền đúng thông tin phần nghe, trả lời câu hỏi phầnđọc hiểu chưa đầy đủ thông tin bài đọc và trình bày bài thiếu khoa học
Từ những thực tiễn cấp thiết trên tôi tìm tòi, suy nghĩ làm thế nào đểnâng cao chất lượng môn học Từ đó mạnh dạn đưa ra giải pháp nhằm nângcao chất lượng môn Tiếng Anh cho học sinh lớp 6
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ CÁC GIẢI PHÁP:
1 Tìm hiểu đối tượng, nắm đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh.Tiến hành khảo sát chất lượng để xác định đối tượng cần được phụ đạo (Việc này cần được tiến hành cáng sớm càng tốt)
Lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi hết sức nhạy cảm thuộc vào giai đoạngiữa trẻ em và người lớn, không còn là trẻ em nhưng cũng chưa phải là ngườilớn, mà các em thích làm người lớn nhưng xử sự như là trẻ con, thích làm theo
ý mình, thích cái lạ, thích bạn bè và thích được quan tâm Nắm bắt được điểmnày ở các em đặc biệt là những em yếu - kém Do đó tôi đã thay đổi phương
Trang 4thoải mái khi hoạt động nhóm, hoạt động cặp.Với những em có vẻ nhút nhát,chưa tự tin khi hoạt động tập thể , ngại nói tiếng Anh, sợ nói ra dễ bị sai, tôihỏi học sinh bằng những câu hỏi dễ nhất để khuyến khích và động viên các
em
Ví dụ:
- Gọi những học sinh này khi muốn kiểm tra nghĩa Tiếng Việt của từ đã học
- Nhắc lại từ, cụm từ hay câu mà các bạn hay cô giáo vừa mới nói xong
- Gọi học sinh sửa những lỗi đơn giản như: lỗi chính tả,……
Người giáo viên phải đặt cái “tâm” lên trên hết, bởi chỉ giỏi về chuyên mônthôi chưa đủ mà người giáo viên lên lớp phải nắm được đặc điểm tâm sinh lýcủa học sinh, hết sức nhẹ nhàng, bình tĩnh, coi học sinh như là người con,người em trong gia đình, cùng trò chuyện tâm sự với các em vào giờ ra chơi vànhững lúc rảnh rỗi, luôn dành tình cảm cho học sinh đặc biệt là những họcsinh có hoàn cảnh khó khăn để các em hiểu rằng các em được chia sẻ và cảmthông, giúp các em tránh xa sự mặc cảm từ đó không ngừng phấn đấu vươn lêntrong học tập
2 Dạy phụ đạo theo lịch của nhà trường:
Phân loại HS yếu - kém, tiến hành phụ đạo dạy theo nhịp độ tiếp thu bàicủa các em, nên bắt đầu từ kiến thức cơ bản nhất Chọn lọc những kiến thứcmang tính chất hỗ trợ giúp HS tiếp thu bài ở lớp tốt hơn
Thời gian phụ đạo: Đợt 1: Nên vào khoảng đầu tháng 9 à tháng 12
Đợt 2: Sau khi có kết quả học kỳ IThời lượng phụ đạo: 2 tiết / tuần
*Các nguyên tắc để có tiết dạy phụ đạo tốt:
Giáo viên luôn soạn giáo án chu đáo, chuẩn bị đồ dùng kỹ lưỡng và phùhợp với nội dung mục tiêu bài học
Tạo sự tự do, thoải mái cho học sinh Đây là những buổi học mà họcsinh yếu kém cảm thấy tự do trong khuôn phép, thoải mái nhất bởi xung quanhkhông còn đối tượng để mặc cảm Do đó tôi đã vận dụng điểm này để cho các
em luyện tập nội dung bài học một cách nhẹ nhàng
Củng cố kiến thức cơ bản các em đã được học ở các tiết trước hoặc kiếnthức của lớp dưới mà các em bị hỏng Đơn giản hoá nội dung bài tập và nângdần độ khó một cách phù hợp với trình độ của các em
Cho các em học theo nhóm, cặp để tạo sự phối hợp nhịp nhàng, đoàn kết
và chắc chắn về kiến thức mà các em còn nhớ được
Bầu một cán sự bộ môn của lớp học phụ đạo (HS này là trợ lý đắc lựcgiúp tôi thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc làm bài tập ở nhà của các em,kiểm tra những nhiệm vụ mà giáo viên đã giao ở tiết trước Kiểm tra việcchuẩn bị bài vở, SGK, SBT và cả việc ghi chép ở trên lớp)
Khéo léo, mềm dẻo nhưng cứng rắn, phải biết nói bằng “mắt” khi họcsinh tỏ thái độ không nghe lời
Những buổi học phụ đạo theo lịch của nhà trường là những buổi rấtthuận lợi để giáo viên hướng dẫn phương pháp làm các dạng bài tập một cách
cụ thể cho học sinh yếu kém Mỗi lớp có hai tiết học liên tục trong một buổi.Buổi này hướng dẫn dạng bài tập ngữ pháp - từ vựng; buổi sau hướng dẫn
Trang 5dạng bài tập ngữ âm, trắc nghiệm, đọc hiểu, nghe hiểu Khi đảm bảo HS đãnắm chắc kiến thức cơ bản tôi bắt đầu luyện bài tập tổng hợp theo cgủ đề
Sau phụ đạo đợt 1, kết quả thu được như sau:
Sau phụ đạo đợt 2, kết quả thu được như sau:
là nơi để các em luyện tập, giao tiếp, trao đổi thông tin và cả những kiến thức
đã lĩnh hội được từ thầy cô Do đó các em giao tiếp theo nhóm hay theo cặpphải chọn những đối tượng khá giỏi nhằm hỗ trợ hoạt động của các em, các emcùng thi đua với nhau theo từng nhóm hay cặp; hay là các em trở thành nhữngđôi bạn cùng tiến, nhóm bạn cùng tiến
Tuy nhiên cũng theo đặc điểm tình hình học sinh yếu kém của từng lớp mà
bố trí chỗ ngồi cho các em phù hợp với khả năng của từng em; tránh sự mặccảm, tự ti về trình độ; nắm chắc vị trí chỗ ngồi của từng học sinh yếu - kém;thường xuyên kiểm tra, theo dõi sự tiến bộ của các em
Đây là một hoạt động khá quan trọng và hết sức cần thiết nhằm nâng caochất lượng bộ môn cho học sinh yếu kém Từ trước đến nay mỗi một giáo viênkhi lên lớp đều mong muốn được hướng dẫn hết những kiến thức cơ bản củabài học trong phạm vi của một tiết dạy nên phần lớn đều tập trung cho tất cảcác đối tượng mà chưa dành sự quan tâm thích đáng đến đối tượng học sinhyếu kém Bởi lẽ đối tượng này sẽ làm “ cháy” giáo án nếu chúng ta không biết
Trang 6vận dụng linh hoạt và sáng tạo các phương pháp tổ chức hoạt động trong lớpcho các em.
Trong khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu kiến thức bài học, ngoài việc chú ýcác đối tượng học sinh, tôi còn đặc biệt chú ý đến sự tiếp thu của đối tượnghọc sinh yếu kém bằng cách nhấn mạnh, nói chậm rãi hay nhắc lại kiến thứccần lưu ý để đối tượng này dễ hiểu bài hơn
Khi kiểm tra, đánh giá tôi cũng dành những câu hỏi dễ, gợi mở để giúp các
em tự tin trả lời câu hỏi
Khi sử dụng đồ dùng dạy học, tôi dùng tranh trái cây, đồ vật , con vật…đểhọc sinh đọc lên từ tiếng Anh Ngoài tranh ảnh, cards, posters, băng, đài tôicòn hướng dẫn cho các em làm một bảng phụ cá nhân Chỉ bằng một tờ lịchhay một tấm bìa cũ có bao giấy trong ở ngoài, bài học sẽ trở nên rất hứng thúthông qua các trò chơi như “Bingo”, “Guessing”; hoặc tôi tổ chức cho các emlàm bài tập trắc nghiệm qua trò chơi “ Rung chuông vàng” mà các em thườnghay xem ở trên truyền hình.Giáo viên cũng không quên tặng các em nhữngđiểm số nhất định để khích lệ tinh thần tham gia học tập của các em Bằngcách đó sẽ lôi cuốn được tất cả các đối tượng học sinh, đặc biệt là những emhằng ngày thường tỏ ra nhút nhát cũng tham gia rất sôi nổi
Qua thực tế thực hiện, tôi thấy các HS yếu mạnh dạn hơn trong giờ họcchính khóa, đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của giáo viên,
4 Vận dụng phướng pháp dạy học mới, tìm giải pháp thu hút sự chú ý của HS
Phương pháp chủ đạo trong dạy ngoại ngữ của chúng ta là lồng ghép.Nghĩa là từ mới cần được dạy trong ngữ cảnh, ngữ cảnh có thể là một bài đọc,một đoạn hội thoại hay một bài khóa Tuy nhiên, nói đến cùng thì việc dạy vàhọc ngoại ngữ vẫn là việc dạy từ mới như thế nào để học sinh biết cách sử dụng
từ mới và cấu trúc mới trong giao tiếp bằng tiếng nước ngoài (Trích tài liệuBDTX cho giáo viên THCS chu kỳ III 2004-2007)
Trong thực tế thì việc dạy và học từ theo phương pháp mới cũng gặp rấtnhiều khó khăn Khi giáo viên kiểm tra bài cũ thì nhiều học sinh không đọc, viếtđược từ, cho làm bài tập liên quan đến từ vựng thì học sinh làm không đượctrong khi vốn từ và ngữ pháp là những yếu tố quan trọng giúp học sinh phát triểncác kỹ năng khác và theo kịp nội dung bài học Để khắc phục những khó khănnày mỗi giáo viên chúng ta phải hết sức nỗ lực trang bị cho mình kiến thứcchuyên môn cũng như phương pháp giảng dạy phù hợp đặc trưng môn học, gâyđược hứng thú học tập cho học sinh Làm thế nào để giúp học sinh ghi nhớ từ tốthơn, sử dụng từ thuần thục hơn, để các em biết cách làm giàu vốn từ của mìnhtheo từng lớp học
4.1 Những thủ thuật làm rõ nghĩa từ.
4.1.1 Dùng trực quan (visuals)
a Tranh ảnh (pictures)
* Giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh ở SGK, bộ tranh được cung cấp bởi công
ty sách và thiết bị trường học, hoặc tranh do giáo viên tự chuẩn bị để dạy cácphần sau:
Ví dụ: Unit 3: AT HOME - A 1,2
Trang 7- Names of household objects in the livingroom: a clock, a lamp, a bookself, atelevision, a table, a chair, an armchair, a couch, a stereo, a stool.
Ví dụ: Unit 9: THE BODY – A 1,2
- Parts of the body: head, arm, chest, leg, toe(s), foot, hand, finger(s), shoulder(s),hair, eye(s), nose, mouth, lips, teeth
Ví dụ: Unit 12: SPORTS AND PASTIMES - A 1,2
- Names of some sports: soccer, volleyball, aerobics, badminton, table tennis, skip,baseball, basketball
b Phát họa (sketches)
*Giáo viên có thể sử dụng những hình thật đơn giản ít tốn thời gian để đa dạng hóacách giới thiệu từ mới:
+ Dạy nghĩa của từng từ riêng biệt.
- Nếu trong tiết học xuất hiện các từ không theo nhóm hoặc chủ đề thì giáo viên cóthể dạy nghĩa của từng từ riêng biệt đó bằng cách vẽ hình để minh họa
Ví dụ: Unit 3- Section A: My house - A 3 - Listen and repeat
- Cần dạy nghĩa của từ: student, teacher ngoài việc sử dung tranh trong SGK, giáoviên có thể vẽ hình đơn giản
Trang 8Ví dụ: Unit 8- Section B: A truck driver - B 1 – Listen and read
-Cần dạy nghĩa của từ: a truck, a truck driver,giáo viên có thể vẻ hình đơn giản
a truck
+ Dạy nghĩa của từ theo chủ đề:
Khi dạy nghĩa của từ theo chủ đề, giáo viên có thể thực hiện theo hai cách sau nhằmtạo ra sự sinh động trong tiết học
Cách 1: Giáo viên chia lớp thành hai nhóm và yêu cầu học sinh lên bảng vẽ các
hình theo chủ đề sắp học (trong thời gian qui định) Sau đó giáo viên sẽ viết từ bằngTiếng Anh dưới các hình vẽ của học sinh Bằng cách này, học sinh có thể vừa thiđua vừa học một cách hào hứng
Ví dụ: Unit 7 – Section C – On the move
Giáo viên giới thiệu chủ đề sắp học là “ Các loại phương tiện giao thông”
a truck driver
a truck
Trang 9- Hai nhóm học sinh lên bảng vẽ hình các loại phương tiện giao thông trong vòng
ba phút
- Sau khi học sinh vẽ xong, giáo viên nhận xét hình vẽ và quyết định xem đội nàothắng cuộc
- Giáo viên xóa bớt các hình trùng nhau
- Giáo viên viết từ bằng Tiếng Anh ngay dưới các hình vẽ của học sinh và hướngdẫn học sinh đọc
- Giáo viên có thể vẽ bổ sung một số hình vẽ các phương tiện giao thông mà họcsinh chưa nghĩ đến hoặc vẽ không được như mong muốn Bằng cách này giáo viên
đã tạo được mối quan hệ hợp tác giữa thầy và trò
Cách 2: Giáo viên cũng có thể tự vẽ tranh lên bảng đối với các chủ đề quá rộng để
tiết kiệm thời gian
Ví dụ: Unit 16 – Section A: Animals and plants (A 2: Listen and read)
Giáo viên giới thiệu chủ đề sắp học là “ Các con vật nuôi”
- Giáo viên vẽ các con vật có liên quan đến bài học và giới thiệu từ cho học sinh.Cách này tiết kiệm thời gian hơn khi yêu cầu học sinh lên bảng vẽ vì học sinh cóthể vẽ những hình không liên quan đến bài sắp học
Trang 10*Giáo viên cũng có thể tự chuẩn bị những vật thật đơn giản gọn nhẹ để giới thiệucác từ mới như: rice, banana(s), toothpaste, soap, an apple, an orange
Teacher points to the object(s) and asks:
- What’s this? It’s a / ( an )………
- What’s that?
- What are these? They are ……/ There are…………
- What are those?
d Điệu bộ, cử chỉ (Mimes)
Facial expressions
Ví dụ: Unit 10: STAYING HEALTHY- A 1
- hot, cold, ( Teacher mines feeling hot/cold Teacher asks “How do I feel?”
- tired, bored (Teacher looks at watch, makes a bored face, yawns Teacher asks
- Close your book
- Open your book
- Raise your hand
- Go to the board
- Come back to your seat
* Giáo viên cũng có thể sử dụng điệu bộ, cử chỉ để dạy nhiều từ khác như:(to)count, (to) clap, (to) walk
Ví dụ: (to) count
Teacher counts: one, two, three…
Teacher asks “ What did I do?”
Student answer “đếm”
4.1.2 Dùng lời nói (Verbal techniques)
a Từ đồng nghĩa (Synonyms)
Ví dụ:
big (a) = large (a)
quick (a) = fast (a)
Trang 11paddy field (n) = rice paddy (n)
intersection (n) = crossroads (n)
trash, garbage (n) = rubbish (n)
movies (n) = films(n)
movie theater (n) = cinema (n)
favorite (a) = favourite (a)
color (n) = colour (n)
kilometer (n) = kilometre (n)
theater (n) = theatre (n)
Teacher asks: “What’s another word for big?”
Students answer “It’s …… ”
b Từ trái nghĩa (Antonyms)
+ Từ trái nghĩa hoàn toàn và trái nghĩa theo cấp độ (binary and gradable antonyms)
easy (a) ≠ difficult
good (a) ≠ bad
Ví dụ từ trái nghĩa theo cấp độ
hot – warm- cool – cold
always – usually – often – sometimes – never
Teacher asks: “ What is the opposite of noisy?”
Students answer: “It’s ……”
+ Hệ thống nhiều từ không tương thích với nhau (Systems of multiple incompatibility)
* Giáo viên có thể giải thích nghĩa từ mới bằng cách sử dụng định nghĩa
Ví dụ: Để dạy từ market giáo viên có thể định nghĩa “market is the place wherepeople buy and sell things.”
+ Ví dụ (Examples)
Ví dụ: Để dạy từ color và vegetables
- Teacher lists examples of colors: “black, white, yellow, red, …these are all colors.Give me another example of color.”
Trang 12- Teacher lists examples of vegetables: “carrot, potato, tomato, lettuce….these areall vegetables Give me another example of vegetables”
+ Tình huống/ Giải thích (Situation/ Explanation)
Ví dụ: Để dạy từ favorite
- Teacher asks: Do you like soccer?(Do you know Phan Thanh Binh?/ Do you likehim?)
Students answer: Yes, I do
-Teacher: you can say: Soccer is my favorite sport
- Teacher: He is my favorite football player
- Teacher asks: Do you like apple?
Students answer:
- Teacher: Apple is my favorite fruit?
- Teacher asks “What does “favorite” mean in Vietnamese?”
+ Dịch (Translation)
Ví dụ: Để dạy từ (to) forget
Teacher asks: “How do you say “quên” in English?”
4.2 Các thủ thuật kiểm tra, củng cố từ vựng.
4.2.1 Xóa và nhớ lại (Rub out and remember)
* Thủ thuật này sẽ giúp học sinh ghi nhớ từ vựng vừa được học.
- Giáo viên viết từ mới với nghĩa tiếng việt lên bảng.
- Yêu cầu học sinh viết vào vở.
- Yêu cầu học sinh gấp vở lại.
- Giáo viên lần lượt xóa các từ mới đi.
- Sau mỗi lần xóa giáo viên chỉ vào từ tiếng việt hỏi “What’s this in English?”.
Nếu có thời gian giáo viên có thể viết lại các từ Tiếng Anh, xóa lần lượt các từ tiếngviệt và hỏi “ What’s this in Vietnamese?”
4.2.2 Gõ vào bảng (Slap the board)
* Thủ thuật này giúp học sinh nhận ra từ mới qua nghe và kiểm tra việc hiểu nghĩa
từ vựng của học trò
- Nếu muốn học sinh nhận ra từ mới qua nghe giáo viên viết từ Tiếng Anh lên khắpbảng không theo trật tự Gọi hai học sinh hay hai nhóm lên bảng Yêu cầu họ đứngcách xa bảng một khoảng cách tương đương nhau Giáo viên đọc to một từ mới.Hai học sinh ở hai đội phải chạy tới và gõ vào từ ở trên bảng Học sinh nào gõ vào
từ trước là người thắng cuộc Lần lược như vậy với tất cả các từ rồi cộng điểm độinào nhiều điểm hơn là đội thắng cuộc (Nếu muốn học sinh nhận ra từ mới quanghe, giáo viên viết từ Tiếng Anh lên bảng)
Ví dụ: Khi muốn kiểm tra từ mới cho Unit 5: A 1,2 page 52-53 giáo viên viết các
từ lên bảng
do your homework
go to school
get dressed play games