1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

sáng kiến kinh nghiệm giải pháp giáo dục một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt môn toán

36 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 505,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1 (3)
    • I. Lý do chọn đề tài 1 (3)
    • II. Mục đích nghiên cứu 1 (4)
    • III. Nhiệm vụ nghiên cứu 2 IV. Đối tượng nghiên cứu 2 V. Phương pháp nghiên cứu 2 VI. Phạm vi và thời gian thực hiện đề tài 2 (4)
  • PHẦN II: NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI 3 (6)
    • I. Cơ sở lý luận 3 (6)
    • II. Cơ sở thực tiễn 3 I Thực trạng ban đầu của giáo viên và học sinh 4 1. Tình trạng khi chưa thực hiện 4 (7)
      • 2. Thực trạng khảo sát 4 3. Kế hoạch thực hiện 5 IV. Những biện pháp thực hiện 5 1. Phân loại trình độ nhận thức của từng đối tượng học sinh 5 Xác định rõ nhiệm vụ học tập 10 (9)

Nội dung

Phßng gi¸o dôc vµ ®µo t¹o HUYỆN ba v× TRƯỜNG TIỂU HỌC THỤY AN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5 HỌC TỐT MÔN TOÁN ” LĨNH VỰC : MÔN TOÁN TÁC GIẢ: LÊ THỊ ANH NĂM HỌC 2017 – 2018 PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong chương trình tiểu học, môn Toán là một môn học có vai trò rất quan trọng. Môn Toán gắn liền với cuộc sống thực tiễn và phát triển tư duy của con người. Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng, hình dạng không gian của thế giới hiện thực và góp phần rèn luyện phương pháp suy luận, suy nghĩ, đặt vấn đề và giải quyết vấn đề. Mặt khác, môn Toán còn góp phần phát triển trí thông minh, suy nghĩ độc lập, sáng tạo cho học sinh. Các kiến thức, kĩ năng môn Toán ở tiểu học còn có nhiều ứng dụng trong đời sống thực tế. Môn Toán là môn học có tính trừu tượng và lôgic. Ở bậc tiểu học, kiến thức toán được sắp xếp theo cấu trúc đồng tâm từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, nâng cao dần từ lớp 1 đến lớp 5. Trong mỗi tiết học, thông qua các bài toán học sinh được phát triển tư duy nhạy bén, chính xác. Từ đó hình thành cho các em phẩm chất cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch và khoa học. Đối với học sinh tiểu học, học toán và giải toán là một công việc rất thú vị nhưng cũng là một công việc khó khăn, phức tạp. Muốn thực hiện đúng các phép tính và giải được bài toán thì học sinh phải nắm được phương pháp, kiến thức đã học trong môn Toán. Mỗi bài học, học sinh phải biết làm tính đúng, biết suy luận và khắc phục khó khăn, vướng mắc khi giải toán…Trong quá trình giảng dạy tôi thấy số học sinh học tốt môn Toán còn rất ít, số học sinh chưa hoàn thành nhiệm vụ môn Toán còn nhiều. Để giúp học sinh học tốt môn Toán không phải là vấn đề dễ thực hiện vì một số học sinh còn chưa thực sự chăm học, nhận thức chưa nhanh, khả năng tư duy còn hạn chế… Vì vậy trong giảng dạy giáo viên còn gặp nhiều khó khăn. Để giúp học sinh học tốt môn Toán tôi đã nghiên cứu tìm ra những biện pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán. Mỗi bài học, để học sinh hiểu bài và tiếp thu được kiến thức bài học thì giáo viên phải hiểu sâu sắc về học sinh của mình, phân loại trình độ nhận thức của từng đối tượng học sinh để có kế hoạc dạy học cụ thể. Trong giảng dạy giáo viên phải sử dụng linh hoạt phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với từng dạng bài, từng đơn vị kiến thức, từng đối tượng học sinh. Nhận thức được tầm quan trọng của môn Toán và thực tế trong quá trình giảng dạy, tôi đã rút ra một số kinh nghiệm và áp dụng vào mỗi tiết học để giúp học sinh học tốt môn Toán. Từ đó, tôi đã nghiên cứu và chọn làm đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt môn Toán ”. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Nghiên cứu thực trạng và tìm ra các biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán lớp 5. Từ kết quả nghiên cứu đó giáo viên áp dụng những biện pháp này vào giảng dạy trong các tiết học Toán để giúp học sinh học tốt môn Toán và giờ dạy đạt hiệu quả cao. III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 5. Nghiên cứu thực trạng học tập, đặc biệt là đối tượng học sinh chưa hoàn thành nhiệm vụ môn Toán. Nghiên cứu một số biện pháp để thực hiện giảng dạy có hiệu quả giúp học sinh học tốt môn Toán lớp 5. IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Học sinh lớp 5B Trường Tiểu học. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp nghiên cứu lý thuyết. Phương pháp khảo sát thực tế. Phương pháp phân loại thống kê. Phương pháp thực hành, luyện tập. Phương pháp thực nghiệm. VI. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI Phạm vi nghiên cứu: 36 học sinh lớp 5B Trường Tiểu học. Thời gian nghiên cứu: Năm học 2017 2018 PHẦN II: NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI I. CƠ SỞ LÝ LUẬN Năm học 2016 2017 là năm học mà toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đang tiếp tục nỗ lực đổi mới phư¬ơng pháp giảng dạy để đào tạo ra những con ng¬ười năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội¬. Tr¬ước tình hình đó, đòi hỏi mỗi giáo viên phải không ngừng đổi mới, cải tiến nội dung, phư¬ơng pháp dạy học để trong mỗi tiết dạy, học sinh sẽ đ¬ược hoạt động nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và chủ động chiếm lĩnh kiến thức. Vì vậy, đòi hỏi mỗi giáo viên phải có những biện pháp dạy học phù hợp nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập. Trong chương trình giáo dục phổ thông, bậc tiểu học là một bậc học rất quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách ở học sinh trên cơ sở được cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về xã hội, tự nhiên. Vì vậy, để học sinh học tốt môn Toán người giáo viên phải đổi mới về phương pháp dạy học. Giáo viên phải tìm tòi, sáng tạo, nghiên cứu về phương pháp và các hình thức dạy học, đưa học sinh đến với môn học một cách tự giác, bằng niềm say mê thật sự. Mỗi tiết học là dịp để học sinh được học những kiến thức mới để vận dụng làm bài tập. Để giờ dạy đạt hiệu quả cao giáo viên phải tự học hỏi, tự bồi dưỡng kiến thức để nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm. Trong mỗi tiết học giáo viên cần sử dụng linh hoạt các biện pháp dạy học phù hợp với từng dạng bài, từng đơn vị kiến thức bài học, từng đối tượng học sinh để học sinh để hoạt động dạy học đạt kết quả cao. II. CƠ SỞ THỰC TIỄN Bậc tiểu học tạo ra những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho trẻ em tiếp tục học lên bậc học trên, hình thành những cơ sở ban đầu , đường nét ban đầu của nhân cách. Những gì thuộc về tri thức, kĩ năng, về hành vi và tình người... được hình thành và định hình ở học sinh tiểu học sẽ theo suốt cuộc đời mỗi người như chữ viết, kĩ năng thực hiện các phép tính, kĩ năng ứng xử trong cuộc sống hằng ngày...Trong đó kĩ năng học toán và giải toán là một nội dung quan trọng trong việc học tập. Toán học là một môn học công cụ để học các môn học khác, phục vụ trực tiếp cuộc sống của con người. Dạy học toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán vào các tình huống thực tiễn đa dạng, phong phú và những vấn đề thường gặp trong cuộc sống. Nhờ học toán học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận, tính cẩn thận, tính chính xác, tính khoa học và những phẩm chất cần thiết của người lao động. Qua nhiều năm giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy để dạy học môn Toán đạt hiệu quả cao thì giáo viên phải tìm hiểu, nghiên cứu và nắm chắc nội dung chương trình, kiến thức Toán lớp 5. Giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm, dạy học theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo. Biết sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để hướng dẫn học sinh phân tích tìm hiểu đề bài. Đối với mỗi bài học giáo viên phải có những biện pháp cụ thể giúp học sinh vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ học tập. Giáo viên phải luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ kịp thời khi học sinh gặp khó khăn trong học tập. Giáo viên phải biết lắng nghe ý kiến bày tỏ và trân trọng từng tiến bộ nhỏ của mỗi học sinh. Đối với học sinh tiểu học, việc học toán và giải toán là rất quan trọng và cần thiết. Nhưng trong thực tế, trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều, một số học sinh khả năng nhận thức chưa nhanh, chưa tập trung và chưa tích cực trong các hoạt động học tập. Mặt khác, yêu cầu đặt ra khi giải các bài toán ở lớp 5 có cao hơn so với các lớp trước. Vì vậy các em còn lúng túng và chưa biết cách làm bài. Một số em chưa tập chung học tập nên thường nóng vội, đọc đề qua loa, chưa hiểu thấu đáo đó bắt tay vào làm dẫn đến làm bài chưa đúng. Một số em không chú ý phân tích theo các điều kiện của bài toán nên đã lựa chọn chưa đúng phép tính. Một số em còn vướng mắc về cách làm tính, trình bày bài giải... Vì vậy mà số học sinh học tốt môn Toán còn ít, số học sinh chưa hoàn thành nhiệm vụ môn Toán còn nhiều. Để khắc phục tình trạng trên giáo viên phải nghiên cứu, tìm ra những biện pháp giảng dạy thích hợp và vận dụng linh hoạt vào mỗi đơn vị kiến thức, mỗi bài học để học sinh tiếp thu được kiến thức bài học và hứng thú với môn học. III. THỰC TRẠNG BAN ĐẦU CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH 1.Tình trạng khi chưa thực hiện Là một giáo viên giảng dạy ở trường đã lâu tôi nhận thấy Trường Tiểu học nơi tôi đang dạy dân cư chủ yếu là thuần nông. Đời sống của nhiều gia đình còn gặp nhiều khó khăn, một số gia đình chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con cái. Mặt khác, trình độ nhận thức của các em không đồng đều, một số em còn chưa chăm học, nhận thức chưa nhanh, chưa mạnh dạn, tự tin trong các hoạt động học tập, khả năng tư duy còn hạn chế...Từ đó dẫn đến tình trạng học sinh học hổng kiến thức, thiếu tự tin, càng thu mình và không hứng thú với môn học. Đối với các em học sinh tiểu học do các em còn nhỏ nhiều em còn chưa đọc thông, viết thạo, vốn Tiếng Việt của các em còn chưa vững nên trí tưởng tượng chưa cao, chưa có sự linh hoạt, sáng tạo. Khả năng tính toán và tư duy của các em còn hạn chế. Với những bài toán đơn giản nhiều khi các em còn thấy lúng túng khi làm bài. Khi gặp phải những bài toán khó là không biết cách làm bài và phải nhờ thầy cô giải đáp. Trong quá trình học tập các em còn rụt rè, nhút nhát và thiếu tự tin nên không hứng thú với các hoạt động học tập.Vì vậy, số học sinh học tốt môn Toán còn ít, số học sinh chưa hoàn thành nhiệm vụ môn Toán còn nhiều. Trong quá trình giảng dạy giáo viên còn gặp nhiều khó khăn. 2. Thực trạng khảo sát Năm học 2016 2017 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 5B. Khi được phân công giảng dạy lớp 5B, tôi đã thực hiện khảo sát chất lượng đầu năm 36 học sinh lớp tôi chủ nhiệm. Sau khi khảo sát tôi thu được kết quả như sau: Tổng số bài khảo sát Hoàn thành Chưa hoàn thành 36 Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) 22 61,1 14 38,9 Qua kết quả khảo sát chất lượng đầu năm học cho thấy số học sinh học tốt môn Toán rất ít, số học sinh chưa hoàn thành nhiệm vụ môn Toán còn nhiều. Vì vậy giáo viên phải nghiên cứu để có những biện pháp dạy học phù hợp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. 3. Kế hoạch thực hiện Chuẩn bị nội dung, phương pháp giảng dạy. Xây dựng kế hoạch, tổ chức chuyên đề trong tổ khối. Lên lịch dạy học cụ thể trong tuần, tháng. IV. NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 1. Phân loại trình độ nhận thức của từng đối tượng học sinh Để tiến hành dạy toán giáo viên phải hiểu rõ được đặc điểm về trình độ nhận thức của từng học sinh trong lớp mình. Cụ thể là các em đã có kĩ năng tính toán đạt được ở mức độ nào? Các em có hệ thống kiến thức tốt ở nhóm kiến thức nào? Dạng toán có lời văn nào các em còn có nhiều khó khăn, vướng mắc. Từ đó giúp giáo viên xác định được tính vừa sức với từng đối tượng học sinh. a. Đối tượng học sinh nhận thức chưa nhanh Những học sinh nhận thức chưa nhanh là những học sinh có khả năng tư duy và trí tưởng còn nhiều hạn chế. Vì vậy các em không tự tin vào bản thân mình, khi nhìn vào bài tập là thấy sợ, thấy rối và tỏ ra bất lực. Với những học sinh này, giáo viên chỉ nên yêu cầu học sinh làm bài tập luyện tập ở mức độ đơn giản nhất, vận dụng trực tiếp công thức tính hoặc thực hành tính toán với con số nhỏ. Các em sẽ không cảm thấy lo sợ và mạnh dạn, tự tin, hứng thú hơn khi làm bài. Ví dụ 1: Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán về quan hệ tỉ lệ giáo viên chỉ nên giao cho các em những bài tập đơn giản và thực hiện tính toán với những con số nhỏ. Bài tập 1: Mua 5 quyển vở hết 30000 đồng. Hỏi mua 8 quyển vở hết bao nhiêu tiền? Đối với bài tập này khi các em đã nắm chắc được cách giải bài toán về quan hệ tỉ lệ các em sẽ biết thực hiện giải bài toán. Khi đó các em sẽ tự tin hơn để làm bài. Bài giải Mua một quyển vở hết số tiền là: 30000 : 5 = 6000 (đồng) Mua tám quyển vở hết số tiền là: 6000 x 8 = 48000 ( đồng) Đáp số : 48000 đồng Sau khi các em nắm vững vàng cách tính, cách giải thì giáo viên mới đưa ra bài tập ở mức độ cao dần. Bài tập 2: Tiền công quét sơn 5m tường rào là 180000 đồng. Hỏi tiền công quét sơn 20 mét tường rào như thế hết bao nhiêu đồng? Ở bài tập trước đó các em thực hiện giải bài toán về quan hệ tỉ lệ ở mức độ đơn giản hơn. Nhưng sang bài tập 2 yêu cầu của bài tập có cao hơn. Trong bài tập này các em phải giải bài toán với các phép tính với con số tính toán lớn hơn, yêu cầu của bài tập cao hơn. Khi các em đã biết cách làm ở bài tập 1 thì các em sẽ biết phân tích kĩ đề bài toán để làm bài tập. Bài giải 20 mét tường gấp 5 mét tường số lần là: 20 : 5 = 4 (lần) Quét sơn 20 m tường rào hết số tiền công là: 180000 x 4 = 720000( đồng) Đáp số : 720000 đồng Như vậy khi đã nắm vững cách giải một số bài toán ở dạng đơn giản thì các em sẽ biết cách giải bài toán ở mức độ cao hơn. Kết quả thu được là các em hiểu bài và làm đúng bài tập. Ví dụ 2 Khi yêu cầu học sinh làm bài tập ở dạng viết các số đo độ dưới dạng số thập phân. Lúc đầu giáo viên chỉ nên đưa ra những bài tập đơn giản để học sinh vận dụng những kiến thức cơ bản vào làm bài. Bài tập 1: Viết các số thập phân thích hợp vào chỗ chấm . a) 8m 6dm = … m b) 23m 13cm = … m c) 4km 346m = … km d) 6m 234mm = …m e) 4cm 5mm = …cm Với những bài tập này khi nhìn vào học sinh sẽ không cảm thấy sợ và tỏ ra bối dối. Khi đó các em tự tin là mình sẽ làm được và tham gia học tập tích cực hơn. Kết quả là các em hiểu bài và làm đúng bài tập. a) 8m 6dm = 8,6 m b) 23m 13cm = 23,13 m c) 4km 346m = 4,346 km d) 6m 234 mm = 6,234 m e) 4cm 5mm = 4,5cm Sau đó giáo viên sẽ đưa ra các bài tập ở mức độ cao dần để học sinh có thể tiếp thu được. Bài tập 2:Viết các số đo sau dưới dạng số thập phân có đơn vị là ki lô mét . a) 3km 245m b) 5km 34m c) 307 m d) 78 m Với bài tập này yêu cầu về kiến thức cao hơn. Các em cần xác định rõ yêu cầu đề bài là viết các số đo độ dài đã cho dưới dạng số thập phân có đơn vị đo là ki lô mét vuông. Từ đó các em hiểu yêu cầu đề bài và làm đúng bài tập. a) 3km 245m = 3,245 km b) 5km 34m = 5, 034 km c) 307 m = 0,307 km d) 78m = 0, 078 km Khi các em đã nắm vững cách làm ở bài tập 1 thì các em sẽ biết cách làm ở bài tập 2. Ví dụ 3: Thùng thứ nhất có 30l dầu, thùng thứ hai có 42 lít dầu. Toàn bộ số dầu của hai thùng được đổ vào các chai, mỗi chai chứa 0,45lít dầu. Hỏi có tất cả bao nhiêu chai dầu. Đối với bài toán này khi các em đã biết thực hiện thành thạo các phép tính cộng, trừ, nhân chia số thập phân thì sẽ biết vận dụng các phép tính với số thập phân để giải toán có lời văn. Từ đó các em sẽ biết phân tích đề bài để làm đúng bài tập. Bài giải Cả hai thùng có số lít dầu là: 30 + 42 = 72 (lít) Có tất cả số chai dầu là: 72 : 0,45 = 160 (chai) Đáp số : 160 chai Như vậy giáo viên phải có sự nghiên cứu, tìm tòi để đưa ra hệ thống bài tập mang tính vừa sức với trình độ nhận thức của học sinh. Khi đó học sinh sẽ hiểu bài, nắm được kiến thức bài học để làm đúng bài tập. Các em sẽ mạnh dạn, tự tin hơn trong các hoạt động học tập và yêu thích môn học. b. Đối tượng học sinh nhận thức nhanh Những học sinh có trình độ nhận thức nhanh là những học sinh có khả năng tư duy và trí tưởng tượng cao. Với những học sinh này, giáo viên sẽ đưa ra các bài tập yêu cầu ở mức độ cao hơn. Những bài tập mang tính trừu tượng, khái quát, phải lý luận để tìm cách giải và liên quan đến những kiến thức xa rộng…. sẽ kích thích khả năng tư duy, trí tưởng tượng, khả năng tìm tòi, khám phá kiến thức của các em. Khi đó, kiến thức của các em được khắc sâu, mở rộng hơn và các em sẽ tích cực hơn trong các hoạt động học tập. Đối với các bài toán giải toán về quan hệ tỉ lệ, khi giải các bài tập này, giáo viên yêu cầu học sinh ở mức độ cao hơn. Ví dụ 1: Bài tập 1: Một xưởng may trong 4 ngày may được 260 cái áo. Hỏi với mức làm như thế , muốn may được 585 cái áo thì xưởng đó phải làm trong bao nhiêu ngày? Với bài tập này, những học sinh có khả năng nhận thức nhanh sẽ biết phân tích kĩ đề bài toán để xác định bài toán giải toán về quan hệ tỉ lệ giải theo cách “rút về đơn vị”. Khi đã xác định đúng dạng toán thì học sinh sẽ làm đúng bài tập. Bài giải Trong một ngày xưởng may may được số cái áo là: 260 : 4 = 65 (cái) May 585 cái áo xưởng may phải làm trong số ngày là: 585 : 65 = 9 ( ngày) Đáp số: 9 ngày Khi các em đã biết cách giải ở bài tập 1 giáo viên đưa ra các bài tập ở mức độ cao hơn. Bài tập 2: Biết rằng 8 công nhân làm trong 6 giờ được 144 sản phẩm. Hỏi 12 công nhân làm trong bao nhiêu giờ thì được 180 sản phẩm? ( Mức làm của mỗi người như nhau) Với dạng bài tập này, yêu cầu của bài tập cao hơn. Khi đó học sinh phải xác định kĩ đề bài, phân tích kĩ đề bài toán để thực hiện giải bài toán. Bài giải Một công nhân trong 1 giờ làm được số sản phẩm là: 144 : 8 : 6 = 3 ( sản phẩm) 12 công nhân trong 1 giờ làm được số sản phẩm là: 3 x 12 = 36 ( sản phẩm) Thời gian để 12 công nhân làm được 180 sảm phẩm là: 180 : 36 = 5 ( giờ) Đáp số: 5 giờ Ví dụ 2: Khi yêu cầu học sinh làm bài tập tính bằng cách thuận tiện nhất giáo viên yêu cầu học sinh ở mức độ cao hơn. Bài tập 1: Tính bằng cách thuận tiện nhất. (1,1 x 1,2 x 1,3 x 1,4 x 1,5 x 1,6) x ( 1,25 – 0,25 x 5) Với những học sinh nhận thức nhanh các em sẽ biết phân tích kĩ đề bài toán để thực hiện tính. (1,1 x 1,2 x 1,3 x 1,4 x 1,5 x 1,6) x ( 1,25 – 0,25 x 5) = (1,1 x 1,2 x 1,3 x 1,4 x 1,5 x 1,6) x ( 1,25 – 1,25) = (1,1 x 1,2 x 1,3 x 1,4 x 1,5 x 1,6) x 0 = 0 Ví dụ 3 : Đối với các dạng toán tìm x , với đối tượng học sinh nhận thức nhanh giáo viên yêu cầu học sinh làm các bài tập ở mức độ cao hơn. Bài tập 1: a) x : 7,6 : 0,1 = 4,8 b) x : 3,4 + 5,6 = 12,8 Với dạng bài tập này học sinh sẽ biết phân tích đề bài, xác định thành phần chưa biết, thành phần đã biết , cách tìm thành phần chưa biết trong phép tính để thực hiện làm bài tập. a) x : 7,6 : 0,1 = 4,8 x : 7,6 = 0,48 x = 0,48 x 7,6 x = 3,648 b) x : 3,4 + 5,6 = 12,8 x : 3,4 = 12,8 5,6 x : 3,4 = 7,2 x = 7,2 x 3,4 x = 24,48 Như vậy, khi phân loại trình độ nhận thức của từng đối tượng học sinh giáo viên sẽ có kế hoạch dạy học cụ thể. Từ đó giáo viên sẽ lựa chọn hệ thống bài tập luyện tập mang tính vừa sức, phù hợp khả năng nhận thức của từng đối tượng học sinh. Từ đó học sinh sẽ hứng thú và tích cực hơn trong các hoạt động học tập. Kết quả đạt được là học sinh hiểu bài, tự tin, mạnh dạn và làm đúng bài tập. 2. Xác định rõ nhiệm vụ học tập Trong các tiết học cũng như trong khi làm bài tập để học sinh nắm được kiến thức bài học và làm đúng bài tập thì việc đầu tiên cần phải làm là xác định rõ nhiệm vụ học tập.Việc xác định rõ nhiệm vụ học tập cho các em là rất quan trọng và cần thiết. Muốn xác định rõ nhiệm vụ học tập thì học sinh phải đọc kĩ đề bài, biết phân tích đề bài từ đó xác định được bài tập yêu cầu các em làm gì. Để thực hiện làm bài các em phải biết bắt đầu từ đâu? phải làm gì ? phân tích đề bài … Khi các em đã xác định rõ nhiệm vụ bài tập thì sẽ biết cách thực hiện làm đúng bài tập. Từ đó các em sẽ cảm thấy tự tin, mạnh dạn hơn trong các hoạt động học tập. Ví dụ 1: Bài tập 1: Tính ( theo mẫu). a b c a b c a ( b + c) 28,4 10,3 2,5 28,4 10,3 2,5 = 15,6 28,4 ( 10,3 + 2,5) = 15,6 70,2 30,6 12,4 100 64,8 5,2 Giáo viên phải giúp học sinh hiểu rõ yêu cầu của đề bài cần phải làm những việc sau: Quan sát mẫu, tìm hiểu cách làm của mẫu. Quan sát và ghi nhớ cách viết theo mẫu. Thực hiện các phép tính còn lại theo cách làm của mẫu. Ví dụ 2: Bài tập 2: Một tấm vải dài 49m, lần thứ nhất bán 12,5 m, lần thứ hai bán 17,6m. Hỏi sau hai lần bán tấm vải còn lại dài bao nhiêu mét. Đối với bài tập này giáo viên cần giúp học sinh xác định được yêu cầu của bài toán là tìm sau hai lần bán tấm vải còn lại dài bao nhiêu mét. Khi đã xác định được đúng yêu cầu đề bài thì các em sẽ làm đúng bài tập. Bài giải Cả hai lần bán số mét vải là: 12,5 + 17,6 = 30,1 (m) Sau hai lần bán tấm vải còn lại dài số mét là: 49 – 30,1 = 18,9 (m) Đáp số: 18,9 m Ví dụ 3: Bài tập 3: Số thứ nhất là 72,4. Số thứ hai gấp 3 lần số thứ nhất, số thứ ba kém số thứ nhất 12,4 đơn vị. Tìm tổng ba số đó. Với bài tập này học sinh cần xác định rõ yêu cầu của đề bài là tìm tổng của ba số. Sau khi đã xác định được đúng yêu cầu đề bài thì học sinh sẽ thực hiện làm bài tập. Bài giải Số thứ hai là: 72,4 x 3 = 217,2 Số thứ ba là: 72,4 – 12,4 = 60 Tổng của ba số là: 72,4 + 60 + 217,2 = 349,6 Đáp số: 349,6 Ví dụ 4: Bài tập 4: Một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài 54m và có diện tích bằng diện tích một thửa ruộng hình vuông cạnh 45m. Tính chu vi thửa ruộng hình chữ nhật đó. Trong bài tập này học sinh cần xác định rõ yêu cầu của đề bài là tính chu vi thửa ruộng hình chữ nhật. Sau khi đã xác định đúng yêu cầu của bài tập thì các em sẽ biết cách làm đúng bài tập. Bài giải Diện tích hình vuông có cạnh 45m (cũng chính là diện tích hình chữ nhật) là: 45 x 45 = 2025 ( m2 ) Chiều rộng hình chữ nhật là: 2025 : 54 = 37,5 (m) Chu vi của của thửa ruộng hình chữ nhật là: ( 54 + 37,5) x 2 = 183 ( m) Đáp số: 183m Như vậy việc xác định rõ nhiệm vụ học tập là rất quan trọng. Trong các tiết học giáo viên cần yêu cầu học sinh xác định rõ nhiệm vụ của bài tập trước khi làm bài. Khi đã xác định rõ nhiệm vụ học tập thì học sinh hiểu bài, nắm chắc kiến thức bài học và làm đúng bài tập. 3. Lựa chọn phương pháp và hình thức dạy học Trong giảng dạy tùy vào nội dung mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức mà giáo viên có thể tổ chức các phương pháp và hình thức dạy học khác nhau. Mỗi phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đều có tính ưu việt của nó. Việc lựa chọn các phương pháp và hình thức dạy học nào cho phù hợp phải căn cứ vào nội dung bài học, đơn vị kiến thức, trình độ học sinh, điều kiện dạy học… Trong mỗi bài học, giáo viên phải vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học phù hợp để học sinh chủ động, tích cực học tập, nắm bắt được kiến thức bài học.Vì vậy, việc lựa chọn các phương pháp và hình thức dạy học trong mỗi bài học là một việc làm rất quan trọng. Để giờ học đạt hiệu quả cao đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu để lựa chọn ra phương pháp và hình thức tổ chức dạy phù hợp nhất. Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phải đổi mới, dạy học lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, học sinh tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức. Giáo viên chỉ đóng vai trò tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh và học sinh chủ động trong các hoạt động học tập. Ví dụ 1: Bài tập 1: Tính: 8,64 : ( 1,46 + 3,34 ) 0,32 Đối với bài tập này giáo viên sử dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề. Giáo viên yêu cầu học sinh làm bài tập và tổ chức cho học sinh thực hành làm bài tập theo nhóm. Học sinh học nhóm với hình thức làm bài cá nhân rồi trao đổi, thảo luận, chia sẻ kiến thức với các bạn trong nhóm. Các em được ôn lại cách cộng, trừ hai số thập phân và củng cố cách chia một số thập phân cho một số thập phân, ôn lại cách tính giá trị biểu thức. Khi đó học sinh vừa được ôn lại kiến thức cũ, vừa tiếp xúc với kiến thức mới. Giáo viên có thể tổ chức thi giữa các nhóm xem nhóm nào giải đúng, giải nhanh. Lúc này vì thành tích của nhóm mà em nào cũng cố gắng và đồng thời có trách nhiệm giảng giải cho các bạn trong nhóm cùng hiểu bài. Sau đó giáo viên chỉ định bất kì một bạn nào trong nhóm báo cáo kết quả của nhóm mình. Từ kết quả báo cáo đó học sinh sẽ tự đánh giá được kết quả học tập của mình và của bạn. Với cách lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức như vậy sẽ phát huy được khả năng tự học, học sinh sẽ được hoạt động, thảo luận nhiều và chủ động chiếm lĩnh kiến thức. Ví dụ 2: Khi dạy bài Hỗn số giáo viên sử dụng phương pháp quan sát để học sinh cả lớp được quan sát trên mô hình vật thật hoặc đồ dùng trực quan trong bộ đồ dùng học tập Toán 5 . Qua mô hình vật thật hoặc đồ dùng trực quan học sinh sẽ hình thành được khái niệm về hỗn số một cách rễ ràng hơn . Từ những kết quả quan sát các em sẽ nhận biết được hỗn số gồm có phần nguyên và phần phân số ( phần phân số của hỗn số bao giờ cũng bé hơn đơn vị). Giáo viên có thể kết hợp với phương pháp hỏi đáp. Giáo viên đặt câu hỏi để phát hiện, dự đoán hoặc lật ngược vấn đề…có tính chất toán học. Giáo viên có thể dùng những câu hỏi gợi mở để học sinh có thể đưa ra nhiều câu trả lời và câu trả lời chi tiết hơn. Qua các câu trả lời của học sinh giáo viên kiểm tra, đánh giá được khả năng nắm bắt kiến thức của từng học sinh. Ví dụ 3: Bài tập 2: Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng: Một cửa hàng có 2008 kg gạo. buổi sáng cửa hàng bán được số gạo đó, buổi chiều bán số gạo còn lại. Hỏi cả sáng và chiều của hàng đã bán được bao nhiêu ki lô gam gạo. A. 381,52kg B. 401,6 kg C. 200,8 kg D. 380,52 kg Đối với dạng bài tập trắc nghiệm này, giáo viên sử dụng phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ và tổ chức cho học sinh làm bài theo nhóm dưới nhiều hình thức khác nhau. Các thành viên trong nhóm sẽ trao đổi, thảo luận để thực hiện giải bài toán. Khi giải được đúng bài toán thì các em sẽ khoanh được vào đáp án đúng. Như vậy khi làm bài trong nhóm các em sẽ cùng giảng giải cho nhau cách giải bài toán và cách làm bài. Với hình thức tổ chức này học sinh sẽ học tập sôi nổi, hào hứng hơn và phát huy tính chủ động, tự giác, sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập. Kết quả là hoạt động dạy học diễn ra nhẹ nhàng, học sinh hiểu bài và làm đúng bài tập. Từ đó các em mạnh dạn và tự tin khi tham gia các hoạt động học tập. Như vậy trong giảng dạy tùy vào từng đơn vị kiến thức và nội dung bài học mà giáo viên lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp. Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học là dạy học theo hướng tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, học sinh tự học, tự tìm hiểu, khám phá kiến thức. Khi đó sẽ phát huy được khả năng tự học của học sinh, học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức. Người thầy chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh. Để biện pháp này đạt hiệu quả cao thì giáo viên phải vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với từng dạng bài, từng đơn vị kiến thức của bài học, từng đối tượng học sinh. Từ đó học sinh hứng thú với các hoạt động học tập và yêu thích môn học. 4. Tổ chức Câu lạc bộ “ Toán học vui vui học” để giúp học sinh khắc sâu kiến thức đã học. Sau khi học sinh học xong mỗi mảng kiến thức trong các tiết sinh hoạt câu lạc bộ giáo viên tổ chức các cuộc thi tài năng với nhiều chủ đề khác nhau giúp học sinh ôn tập, củng cố kiến thức qua các trò chơi. Hình thức này giúp các em ôn tập, củng cố kiến thức một cách nhẹ nhàng, hứng thú và hiệu quả.Trong quá trình dạy học tôi đã tổ chức cho học sinh học toán “ Toán học vui – vui học” qua các trò chơi như “ Hái hoa dân chủ”, trò chơi “ Chọn số”, trò chơi “ Xem ai nhớ nhất”, trò chơi “ Mặt xanh mặt đỏ”, trò chơi “ Ai nhanh, ai đúng”, trò chơi “ Đố bạn” … Học toán qua các trò chơi, học sinh tham gia sôi nổi, hào hứng và có tiến bộ rõ rệt. Ví dụ: Khi tổ chức trò chơi “ Ai nhanh, ai đúng” dùng để ôn tập cho học sinh sau mỗi kiến thức bài học. Hình thức ôn tập này là một số câu hỏi và bài tập về những kiến thức mà các em đã được học. Trong trò chơi, nếu học sinh nào trả lời đúng nội dung câu hỏi hoặc bài tập thì được cả lớp và thầy cô khen ngợi. Qua trò chơi, các em được ôn tập, củng cố kiến thức một cách nhẹ nhàng, hứng thú và hiệu quả. Như vậy qua cuộc thi giúp các em khắc sâu và trải nghiệm vốn kiến thức của mình về toán học. Từ đó tạo cho các em hào hứng và thích thú hơn đối với môn học. 5. Có sổ tay toán học Có sổ tay ghi chép toán học là một thói quen rất tốt của một học sinh có ý thức học tập. Riêng đối với môn Toán thì việc có sổ tay toán học lại càng quan trọng. Trong sổ tay toán học học sinh có thể chọn ra những điều cần lưu ý nhất để lưu lại. Mỗi loại bài, dạng bài có một cách giải riêng. Sau khi học xong mỗi dạng toán, các em có thể ghi lại những công thức, những điều cần ghi nhớ cách giải của từng dạng toán vào sổ tay để khi cần giở ra xem sẽ nhớ lại cách giải. Với những học sinh nhận thức chưa nhanh thì việc ghi chép sổ tay toán học lại càng cần thiết hơn. Ví dụ: Khi học về cách thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân chia số thập phân… Sau mỗi bài học các em có thể ghi lại kiến thức cần ghi nhớ của từng bài, các tính chất giao hoán, tính chất kết hợp của phép cộng, phép nhân…Để giúp các em biết cách ghi vào sổ tay toán học thì sau mỗi bài học giáo viên hướng dẫn các em ghi. Các công thức và các kiến thức cần ghi nhớ mà các em ghi vào sổ tay toán học phải được lưu giữ lại để khi cần các em có thể giở ra xem và nhớ lại công thức tính. Tuy nhiên có sổ tay ghi chép toán học không phải là một thói quen dễ tạo ở học sinh tiểu học. Ở lứa tuổi này các em còn nhỏ chủ yếu là “ học mà chơi, chơi mà học”. Các em chưa đủ nhận thức để làm việc này một cách tự giác, thường xuyên. Do đó giáo viên phải nhắc nhở, tạo điều kiện thì các em sẽ thực hiện rất tốt. Từ đó học sinh hình thành thói quen ghi chép sổ tay. Như vậy nhân vật hoạt động ở bước này là học sinh nhưng vai trò của người thầy quyết định không nhỏ đến hiệu quả của biện pháp này. Người thầy đóng vai trò tổ chức, tạo mục đích hấp dẫn học sinh hoạt động. Từ đó cách giải toán sẽ được tái hiện lại trong những trang sổ và củng cố lại cho các em một lần nữa về những kiến thức cần ghi nhớ. Biện pháp này có tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán, giúp học sinh hiểu bài và nắm chắc kiến thức bài học. 6. Động viên khuyến khích kịp thời Ở lứa tuổi tiểu học các em còn rất nhỏ. Vì vậy các em rất thích được khen. Khen và động viên kịp thời là một sự kích thích tính tích cực của học sinh một cách hiệu quả nhất. Đối với những học sinh nhận thức chưa nhanh, chưa chăm học và chưa ngoan, các em này luôn có suy nghĩ không được ai thích nên thường không cố gắng, không có ý phấn đấu. Nhiều khi các em còn tỏ ra bất lực, tự ti, sống thu mình và rất ngại khi giao tiếp với thầy cô, bạn bè.Vậy giáo viên phải hiểu được tâm lý của các em để động viên khích lệ kịp thời để các em không còn mặc cảm về bản thân. Giáo viên cần quan tâm, theo dõi và trân trọng từng tiến bộ nhỏ của em.Trong quá trình giảng dạy, với những bài tập, câu hỏi dễ thầy cô hãy dành cho các em quyền trả lời. Nếu trả lời đúng thầy cô hãy dành cho các em những lời khen: “ Em thật giỏi và có tiến bộ nhiều trong học tập ” hoặc “ Hôm nay bạn đã rất tích cực học tập, các em hãy học tập bạn”, “Cô rất vui vì em đã tiến bộ lên rất nhiều …” Đối với những học sinh có khả năng nhận thức nhanh, giáo viên nên dành cho các em những câu hỏi, bài tập khó hơn để kích thích khả năng tư duy, trí tưởng tượng, tìm tòi của các em. Những câu hỏi và bài tập khó sẽ kích thích sự tư duy, trí tưởng tượng của các em. Từ đó các em phải tìm tòi và khám phá kiến thức mới. Thầy cô hãy dành cho các em những lời khen với những câu trả lời đúng: “ Bạn thật giỏi”, “ Bạn không chỉ thông minh mà còn có rất nhiều sáng kiến, cả lớp hãy khen bạn nào”… Những lời khen, động viên kịp thời sẽ giúp học sinh mạnh dạn, tự tin và tích cực hơn trong các hoạt động học tập. Từ đó các em càng thêm yêu thích môn học và hứng thú hơn trong các hoạt động học tập. Ngoài việc cho học sinh được nếm mùi vị của thành công, giáo viên cũng nên giao cho các em một vài nhiệm vụ cho dù nhỏ để các em phấn khởi, tự hào và có trách nhiệm với hoạt động tập thể ( trưởng bàn, người bấm chuông, nhóm trưởng hoặc thư kí ghi lại kết quả thảo luận …). Khi đó các em phải có trách nhiệm với nhiệm vụ của mình và tập chung vào bài học. Các em càng tự giác, có ý thức và tích cực học tập. Sự động viên, khuyến khích kịp thời của giáo viên đã biến sự hiếu động, nghịch gợm, quậy phá của học sinh thành tư duy trong học tập, đặc biệt là môn Toán một bộ môn đòi hỏi tư duy tích cực cao. Khi đó học sinh sẽ tích cực hơn trong các hoạt động học tập và yêu thích môn học.Khi đã yêu thích môn học thì các em sẽ tích cực trong các hoạt động học tập. Kết quả là hoạt động dạy học diễn ra nhẹ nhàng, sôi nổi và đạt hiệu quả. Tóm lại, để thành công trong giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 5 thì giáo viên phải hiểu sâu sắc học sinh mình.Giáo viên phải biết được đặc điểm tâm sinh lí của từng học sinh, khả năng nhận thức của mỗi học sinh trong lớp. Giáo viên phải nắm được tình hình cụ thể của lớp, của từng đối tượng học sinh để có kế hoạch dạy học cụ thể. Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải linh động, khéo léo sử dụng những biện pháp dạy học phù hợp giúp các em tự tin vào bản thân mình và thêm yêu môn học. Giáo viên phải nghiên cứu, lên kế hoạch dạy học cụ thể, biết kết hợp các phương pháp giảng dạy linh hoạt với từng dạng bài, từng đơn vị kiến thức, từng đối tượng học sinh. Giáo viên phải đổi mới về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, dạy học theo hướng tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, học sinh tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức. Các em sẽ tích cực, mạnh dạn, tự tin hơn trong các hoạt động học tập và đến với môn học một cách tự giác, bằng niềm say mê thực sự. Khi đó các em sẽ hiểu bài và làm đúng bài tập.Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán. V. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÓ SO SÁNH ĐỐI CHỨNG 1. Thực trạng khảo sát: Tổng số bài khảo sát Hoàn thành Chưa hoàn thành 36 Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) 22 61,1 14 38,9 2. Đối chiếu kết quả: Sau một thời gian thực tế dạy thực nghiệm tại lớp 5B tôi thực hiện khảo sát chất lượng học sinh và thu được kết quả như sau: Tổng số bài khảo sát Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 36 Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) 17 47,2 18 50 1 2,8 Từ kết quả thử nghiệm, tôi nhận thấy áp dụng các biện pháp giúp học sinh học môn Toán lớp 5 vào giảng dạy đã đạt được kết quả khả quan. Qua kết quả thử nghiệm cho thấy học sinh hiểu bài và hoàn thành nhiệm vụ học tập. Trong các tiết học các em học tập tích cực, sôi nổi và yêu thích môn học. VI. BÀI HỌC KINH NGHIỆM Mặc dù đạt được những kết quả nêu trên nhưng những thành công đó mới chỉ là bước đầu. Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy có một số kinh nghiệm đáng chú ý sau đây: Giáo viên cần trang bị cho học sinh một cách có hệ thống các kiến thức cơ bản của môn học. Trong giảng dạy, giáo viên phải vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với từng dạng bài, từng đơn vị kiến thức của bài học, từng đối tượng học sinh. Thường xuyên cho học sinh tham gia đọc sách thư viện và tìm đọc sách tham khảo. Giáo viên hướng dẫn để học sinh biết ghi chép và nhớ những kiến thức cần thiết. Giáo viên phải biết khơi gợi học sinh sự tò mò, hứng thú học tập, không nản chí trước những khó khăn. Động viên, khuyến khích kịp thời đối với học sinh. PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN Qua thực tế nhiều năm giảng dạy, tôi thấy để thực hiện có hiệu quả những biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt môn Toán đòi hỏi người giáo viên phải có một trình độ vững vàng và khả năng bao quát các nội dung kiến thức ở phạm vi rộng một cách lô gíc. Giáo viên không ngừng học tập, trau dồi và tích lũy kinh nghiệm, kiến thức khoa học cho bản thân, đọc tài liệu tham khảo, dự giờ học tập kinh nghiệm, hội thảo tìm phương pháp hay nhất. Giáo viên phải hiểu được tâm lý học sinh và tạo ra phương pháp dạy phù hợp thu hút sự chú ý và óc say mê toán học, sự tò mò của các em. Từ đó giáo viên sẽ có những biện pháp dạy học phù hợp với từng dạng bài, từng đơn vị kiến thức, từng đối tượng học sinh để đạt hiệu quả cao trong giảng dạy. Những vấn đề mà tôi đã nêu trên là những vấn đề mà tôi không ngừng nghiên cứu và vận dụng vào quá trình giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 5. Khi áp dụng các biện pháp này vào giảng dạy tôi nhận thấy học sinh học tập sôi nổi, tích cực và yêu thích môn học. Trong các tiết học các em hiểu bài và làm đúng bài tập. Kết quả so sánh đối chứng đã chứng minh điều này. Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ mà tôi đã học hỏi, đúc rút từ thực tiễn trong công tác giảng dạy. Trong phạm vi hạn hẹp của đề tài, tôi đã đưa ra một số biện pháp để giúp học sinh lớp 5 học tốt môn Toán. Trong quá trình thực hiện đề tài:“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt môn Toán” không tránh khỏi những thiếu xót và còn nhiều hạn chế. Vì vậy, tôi rất mong có sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn, giàu sức thuyết phục hơn. Từ đó giúp tôi có được phương pháp giảng dạy tốt hơn nữa để hoàn thành tốt công việc được giao. II. KHUYẾN NGHỊ Giáo viên cần tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình chuyên môn nghiệp vụ. Cung cấp thêm cho giáo viên đồ dùng trực quan trong môn Toán để phục vụ công tác giảng dạy. Cung cấp thêm cho giáo viên những tài liệu tham khảo ở tất cả các môn học, đặc biệt là môn Toán để nâng cao chất lượng dạy học. Thường xuyên tổ chức câu lạc bộ “ Toán học vui vui học” để giúp học sinh khắc sâu vốn kiến thức đã được học. Tổ chức dạy trên lớp có sự lồng ghép, gợi mở khắc sâu và có mở rộng kiến thức. Tiếp tục tập huấn, tổ chức các chuyên đề trong nhà trường, tổ khối, rút kinh nghiệm đại trà cho giáo viên ở tất cả các phân môn, đặc biệt là môn Toán. Thường xuyên mở chuyên đề bồi dưỡng để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 5. CAM KẾT Tôi xin cam đoan đề tài này là do tôi tự viết, không sao chép nội dung của người khác. Ngày 4 tháng 5 năm 2018 Tác giả Lê Thị Anh TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phương pháp dạy học môn Toán tiểu học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2005 Đỗ Trung Hiệu Đỗ Đình Hoan Vũ Dương Thụy Vũ Quốc Chung 2. Sách Toán 5 của Nhà xuất bản Giáo Dục 2005 Đỗ Đình Hoan ( chủ biên) Nguyễn Áng Đỗ Tiến Đạt – Đài Thái Lai Đỗ Trung Hiệu Trần Diên Hiển Đài Thái Lai Vũ Dương Thụy 3. Sách giáo viên Toán 5 Đỗ Đình Hoan ( chủ biên) Nguyễn Áng Đỗ Tiến Đạt – Đài Thái Lai Đỗ Trung Hiệu Trần Diên Hiển Đài Thái Lai Vũ Dương Thụy 4. Vở bài tập Toán 5 Đỗ Đình Hoan 5. Một số vấn đề về môn toán bậc tiểu học, tập 2 Đào Nãi 6. Hỏi đáp về dạy Toán 5 Đỗ Đình Hoan Nguyễn Áng 7. Tài liệu hướng dẫn thay sách giáo khoa Toán 5 Bộ Giáo dục và Đào tạo 8. Các sách, báo, tài liệu nghiệp vụ khác

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Lý do chọn đề tài 1

Môn Toán trong chương trình tiểu học đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy và nhận thức của học sinh Nó không chỉ giúp học sinh hiểu về mối quan hệ số lượng và hình dạng trong thế giới thực, mà còn rèn luyện kỹ năng suy luận, giải quyết vấn đề Hơn nữa, môn Toán thúc đẩy trí thông minh, tư duy độc lập và sự sáng tạo, với nhiều ứng dụng thiết thực trong cuộc sống hàng ngày.

Môn Toán là một lĩnh vực trừu tượng và lôgic, với kiến thức được sắp xếp từ dễ đến khó qua các lớp tiểu học, từ lớp 1 đến lớp 5 Qua các bài toán, học sinh phát triển tư duy nhạy bén và chính xác, hình thành phẩm chất cần cù, cẩn thận và có ý chí vượt khó Tuy nhiên, việc học và giải toán đối với học sinh tiểu học là một thách thức, đòi hỏi nắm vững phương pháp và kiến thức đã học Hiện nay, số học sinh học tốt môn Toán còn ít, trong khi nhiều em chưa hoàn thành nhiệm vụ học tập Để cải thiện tình hình này, giáo viên cần hiểu rõ học sinh, phân loại trình độ nhận thức và áp dụng phương pháp dạy học linh hoạt, phù hợp với từng dạng bài và đối tượng học sinh, nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán.

Nhận thức rõ vai trò quan trọng của môn Toán trong giáo dục, tôi đã tích lũy kinh nghiệm và áp dụng vào từng tiết học nhằm nâng cao khả năng học tập của học sinh Do đó, tôi quyết định nghiên cứu và phát triển đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt môn Toán.”

Mục đích nghiên cứu 1

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn Toán lớp 5 Kết quả nghiên cứu sẽ được giáo viên áp dụng trong quá trình giảng dạy, từ đó giúp học sinh cải thiện khả năng học Toán và nâng cao chất lượng giờ dạy.

Nhiệm vụ nghiên cứu 2 IV Đối tượng nghiên cứu 2 V Phương pháp nghiên cứu 2 VI Phạm vi và thời gian thực hiện đề tài 2

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 5.

- Nghiên cứu thực trạng học tập, đặc biệt là đối tượng học sinh chưa hoàn thành nhiệm vụ môn Toán.

- Nghiên cứu một số biện pháp để thực hiện giảng dạy có hiệu quả giúp học sinh học tốt môn Toán lớp 5.

IV ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Học sinh lớp 5B - Trường Tiểu học.

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.

- Phương pháp khảo sát thực tế.

- Phương pháp phân loại thống kê.

- Phương pháp thực hành, luyện tập

VI PHẠM VI VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

- Phạm vi nghiên cứu: 36 học sinh lớp 5B - Trường Tiểu học

- Thời gian nghiên cứu: Năm học 2017 - 2018

NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI 3

Cơ sở lý luận 3

Năm học 2016 - 2017, ngành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục nỗ lực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm tạo ra những học sinh năng động, thích ứng với xã hội Điều này yêu cầu giáo viên không ngừng cải tiến nội dung và phương pháp dạy học, để học sinh có thể tham gia hoạt động và thảo luận nhiều hơn, từ đó chủ động tiếp thu kiến thức Do đó, giáo viên cần áp dụng các biện pháp dạy học phù hợp để phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập.

Bậc tiểu học trong chương trình giáo dục phổ thông đóng vai trò then chốt trong việc hình thành nhân cách của học sinh Tại đây, học sinh được cung cấp những tri thức khoa học cơ bản về xã hội và tự nhiên, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển sau này.

Để học sinh học tốt môn Toán, giáo viên cần đổi mới phương pháp dạy học, tìm tòi và sáng tạo trong việc giảng dạy Mỗi tiết học nên khuyến khích học sinh tiếp cận kiến thức một cách tự giác và say mê Giáo viên cần tự học hỏi và nâng cao trình độ chuyên môn để đạt hiệu quả cao trong giảng dạy Việc sử dụng linh hoạt các biện pháp dạy học phù hợp với từng dạng bài và đối tượng học sinh là rất quan trọng để nâng cao kết quả học tập.

Cơ sở thực tiễn 3 I Thực trạng ban đầu của giáo viên và học sinh 4 1 Tình trạng khi chưa thực hiện 4

Bậc tiểu học đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển của trẻ, hình thành những yếu tố cơ bản của nhân cách Các kiến thức, kỹ năng, hành vi và tình cảm được hình thành trong giai đoạn này sẽ theo suốt cuộc đời, như khả năng viết, thực hiện phép tính và ứng xử trong cuộc sống hàng ngày Trong đó, kỹ năng học toán và giải toán là một nội dung thiết yếu, vì toán học không chỉ là công cụ hỗ trợ cho các môn học khác mà còn phục vụ trực tiếp cho cuộc sống con người.

Dạy học toán ở tiểu học giúp học sinh áp dụng kiến thức toán học vào các tình huống thực tiễn trong cuộc sống Qua việc học toán, học sinh rèn luyện tư duy, phương pháp suy luận, tính cẩn thận, chính xác, khoa học và phát triển những phẩm chất cần thiết cho người lao động.

Để dạy môn Toán lớp 5 hiệu quả, giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình và đổi mới phương pháp giảng dạy, lấy học sinh làm trung tâm Việc sử dụng câu hỏi gợi mở giúp học sinh phân tích đề bài và vượt qua khó khăn trong học tập là rất quan trọng Giáo viên cần quan tâm, động viên và lắng nghe ý kiến của học sinh, đồng thời trân trọng những tiến bộ nhỏ của từng em Trong khi học sinh tiểu học cần thiết phải học toán, thực tế cho thấy trình độ nhận thức của các em không đồng đều, dẫn đến khó khăn khi giải bài tập Một số học sinh chưa tập trung và chưa biết cách làm bài, thường đọc đề qua loa hoặc không phân tích đúng các điều kiện của bài toán Để cải thiện tình trạng này, giáo viên cần nghiên cứu và áp dụng linh hoạt các biện pháp giảng dạy phù hợp với từng bài học, giúp học sinh tiếp thu kiến thức và hứng thú với môn Toán.

III THỰC TRẠNG BAN ĐẦU CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

1.Tình trạng khi chưa thực hiện

Là một giáo viên lâu năm tại Trường Tiểu học, tôi nhận thấy rằng nhiều học sinh đến từ các gia đình thuần nông có đời sống khó khăn, dẫn đến sự thiếu quan tâm đến việc học Trình độ nhận thức của các em không đồng đều; nhiều em chưa chăm học, thiếu tự tin và khả năng tư duy hạn chế, gây ra tình trạng học sinh hổng kiến thức và không hứng thú với môn học Đặc biệt, nhiều em còn chưa đọc thông, viết thạo, và vốn Tiếng Việt yếu kém, ảnh hưởng đến khả năng tưởng tượng và sáng tạo Khi đối mặt với những bài toán đơn giản, các em thường lúng túng, và khi gặp bài toán khó, các em cần sự trợ giúp từ thầy cô Sự rụt rè, nhút nhát và thiếu tự tin trong quá trình học tập đã khiến số học sinh học tốt môn Toán rất ít, trong khi số em chưa hoàn thành nhiệm vụ môn học này còn nhiều, gây khó khăn cho giáo viên trong quá trình giảng dạy.

Năm học 2016 - 2017, tôi được phân công làm chủ nhiệm và giảng dạy lớp 5B Để đánh giá chất lượng học sinh, tôi đã tiến hành khảo sát 36 em trong lớp Kết quả khảo sát cho thấy

Tổng số bài khảo sát Hoàn thành Chưa hoàn thành

Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm học cho thấy số lượng học sinh học tốt môn Toán rất ít, trong khi đó vẫn còn nhiều học sinh chưa hoàn thành nhiệm vụ trong môn học này Do đó, giáo viên cần nghiên cứu và áp dụng các biện pháp dạy học phù hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán.

- Chuẩn bị nội dung, phương pháp giảng dạy.

- Xây dựng kế hoạch, tổ chức chuyên đề trong tổ khối.

- Lên lịch dạy học cụ thể trong tuần, tháng

IV NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

1 Phân loại trình độ nhận thức của từng đối tượng học sinh Để tiến hành dạy toán giáo viên phải hiểu rõ được đặc điểm về trình độ nhận thức của từng học sinh trong lớp mình Cụ thể là các em đã có kĩ năng tính toán đạt được ở mức độ nào? Các em có hệ thống kiến thức tốt ở nhóm kiến thức nào? Dạng toán có lời văn nào các em còn có nhiều khó khăn, vướng mắc.

Từ đó giúp giáo viên xác định được tính vừa sức với từng đối tượng học sinh a Đối tượng học sinh nhận thức chưa nhanh

Học sinh nhận thức chậm thường có tư duy và trí tưởng tượng hạn chế, dẫn đến sự thiếu tự tin và cảm giác bất lực khi đối diện với bài tập Để hỗ trợ các em, giáo viên nên bắt đầu với những bài tập đơn giản, yêu cầu vận dụng trực tiếp công thức hoặc thực hành tính toán với con số nhỏ Cách tiếp cận này giúp học sinh giảm lo lắng, từ đó tăng cường sự tự tin và hứng thú trong việc học.

Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán về quan hệ tỉ lệ, giáo viên nên bắt đầu với những bài tập đơn giản và sử dụng các con số nhỏ để giúp các em dễ dàng thực hiện tính toán.

Khi mua 5 quyển vở với giá 30.000 đồng, câu hỏi đặt ra là mua 8 quyển vở sẽ tốn bao nhiêu tiền Để giải quyết bài toán này, các em cần nắm vững cách tính toán theo tỷ lệ, từ đó sẽ tự tin hơn trong việc giải các bài tập tương tự.

Bài giải Mua một quyển vở hết số tiền là:

30000 : 5 = 6000 (đồng) Mua tám quyển vở hết số tiền là:

Sau khi các em nắm vững vàng cách tính, cách giải thì giáo viên mới đưa ra bài tập ở mức độ cao dần

Bài tập 2 yêu cầu tính tiền công quét sơn cho 20 mét tường rào, với mức tiền công cho 5 mét là 180.000 đồng So với bài tập trước, bài này đòi hỏi khả năng giải toán phức tạp hơn với các con số lớn hơn Để giải quyết bài tập, các em cần phân tích kỹ đề bài và áp dụng kiến thức từ bài tập 1.

20 mét tường gấp 5 mét tường số lần là:

20 : 5 = 4 (lần) Quét sơn 20 m tường rào hết số tiền công là:

Khi nắm vững cách giải các bài toán đơn giản, học sinh sẽ có khả năng giải quyết các bài toán ở mức độ phức tạp hơn Kết quả là các em sẽ hiểu bài và thực hiện đúng các bài tập.

Khi yêu cầu học sinh viết các số đo độ dưới dạng số thập phân, giáo viên nên bắt đầu với những bài tập đơn giản Điều này giúp học sinh áp dụng kiến thức cơ bản một cách hiệu quả.

Bài tập 1: Viết các số thập phân thích hợp vào chỗ chấm a) 8m 6dm = … m b) 23m 13cm = … m c) 4km 346m = … km d) 6m 234mm = …m e) 4cm 5mm = …cm

Những bài tập này giúp học sinh cảm thấy thoải mái và tự tin hơn trong việc học Khi không còn lo lắng, các em tham gia học tập tích cực, từ đó hiểu bài và hoàn thành bài tập một cách chính xác Ví dụ, các phép chuyển đổi đơn vị như 8m 6dm = 8,6 m, 23m 13cm = 23,13 m, 4km 346m = 4,346 km, 6m 234 mm = 6,234 m, và 4cm 5mm = 4,5cm đều giúp củng cố kiến thức cho học sinh.

Sau đó giáo viên sẽ đưa ra các bài tập ở mức độ cao dần để học sinh có thể tiếp thu được

Bài tập 2:Viết các số đo sau dưới dạng số thập phân có đơn vị là ki- lô- mét a) 3km 245m b) 5km 34m c) 307 m d) 78 m

Bài tập này yêu cầu kiến thức cao hơn, cụ thể là viết các số đo độ dài dưới dạng số thập phân với đơn vị ki-lô-mét Các em cần xác định rõ yêu cầu đề bài để thực hiện đúng Ví dụ: 3km 245m = 3,245 km, 5km 34m = 5,034 km, 307m = 0,307 km, và 78m = 0,078 km.

Khi các em đã nắm vững cách làm ở bài tập 1 thì các em sẽ biết cách làm ở bài tập 2.

Ngày đăng: 31/05/2021, 20:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w