1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế Tác động của đầu tư công và đầu tư tư nhân đến tăng trưởng kinh tế Bằng chứng thực nghiệm ở các quốc gia đang phát triển ở Châu Á

85 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động đầu tư công và đầu tư tư nhân đến tăng trưởng kinh tế: bằng chứng thực nghiệm từ các quốc gia đang phát triển ở Châu Á
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga
Người hướng dẫn TS. Ung Thị Minh Lệ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU (9)
    • 1.1 Lý do chọn đề tài (9)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (9)
    • 1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu (10)
    • 1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (11)
    • 1.5. Kết cấu của đề tài (11)
  • CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG, ĐẦU TƯ TƯ NHÂN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ (13)
    • 2.1. Cơ sở lý luận về đầu tư công, đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế (13)
      • 2.1.1. Khái niệm đầu tư công (0)
      • 2.1.2. Đầu tư tư nhân (0)
      • 2.1.3. Tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân (0)
        • 2.1.3.1. Đầu tư công thúc đẩy, bổ sung cho đầu tư tư nhân (0)
        • 2.1.3.2. Đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân (0)
      • 2.1.4. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư công (16)
      • 2.1.5. Vai trò của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế (18)
    • 2.2. Lý thuyết về mô hình tăng trưởng kinh tế (21)
      • 2.2.1. Mô hình cổ điển (21)
      • 2.2.2. Mô hình của Các-Mác (22)
      • 2.2.3. Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế (22)
      • 2.2.4. Mô hình của Keynes về tăng trưởng kinh tế (23)
      • 2.2.5. Mô hình của Harrod - Domar về tăng trưởng kinh tế (24)
      • 2.2.6. Quan điểm của kinh tế học hiện đại về tăng trưởng kinh tế (25)
    • 2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đầu tư với tăng trưởng (26)
      • 2.3.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài (26)
      • 2.3.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước (28)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU (33)
    • 3.1. Dữ liệu nghiên cứu (33)
      • 3.1.1. Nguồn dữ liệu nghiên cứu (33)
      • 3.1.2. Mô tả dữ liệu nghiên cứu (35)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (42)
    • 3.3. Mô hình nghiên cứu (42)
      • 3.3.1. Mô hình lý thuyết (42)
      • 3.3.2. Mô hình thực nghiệm (43)
    • 3.4. Mong đợi của các biến (44)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM (46)
    • 4.1. Kiểm định tính dừng (46)
    • 4.2. Kiểm định đa cộng tuyến (47)
    • 4.3. Kiểm định “Hausman test” (47)
    • 4.4. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm (49)
      • 4.4.1. Các yếu tố tác động lên tăng trưởng kinh tế (49)
      • 4.4.2. Hiệu ứng bổ sung của đầu tư công lên FDI và tăng trưởng kinh tế (50)
      • 4.4.3. Hiệu ứng bổ sung của đầu tư công lên đầu tư tư nhân trong nước và tăng trưởng kinh tế (0)
    • 4.5. Bàn luận kết quả nghiên cứu (58)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH (61)
    • 5.1. Kết luận nghiên cứu (61)
    • 5.2. Hàm ý chính sách (62)
    • 5.3. Một số giải pháp cho nền kinh tế Việt Nam (63)
    • 5.4. Hạn chế của bài nghiên cứu (65)
    • 5.5. Gợi ý về hướng nghiên cứu trong tương lai (65)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (67)
  • PHỤ LỤC (69)

Nội dung

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

Lý do chọn đề tài

Đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế cho các quốc gia đang phát triển, tạo động lực cho cơ sở hạ tầng và thu hút vốn đầu tư từ các nguồn khác Để sử dụng hiệu quả nguồn vốn này, chính phủ cần có những bước đi đúng đắn trong việc huy động và quản lý Đầu tư công không chỉ hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng mà còn khuyến khích đầu tư tư nhân, từ đó nâng cao năng suất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, đầu tư công cũng có thể chèn lấn đầu tư tư nhân, đặc biệt khi ngân sách nhà nước tăng lên hoặc thuế cao, dẫn đến giảm khả năng tiếp cận vốn cho khu vực tư nhân và làm chậm tăng trưởng kinh tế.

Tác giả nghiên cứu tác động của đầu tư công và đầu tư tư nhân đến tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển, với tiêu đề “Tác động của đầu tư công và đầu tư tư nhân lên tăng trưởng kinh tế: Bằng chứng thực nghiệm từ các nước đang phát triển ở Châu Á”.

Trong bài viết này, tác giả áp dụng cả phân tích định tính và định lượng, sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng của Le và Suruga (2005) để đánh giá vai trò quan trọng của đầu tư trong nền kinh tế một cách toàn diện hơn.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mức độ ảnh hưởng của đầu tư công và tư nhân đến tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển ở châu Á Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu sẽ tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu cụ thể nhằm làm rõ vai trò của hai loại hình đầu tư trong bối cảnh kinh tế hiện tại.

 Đầu tư công và đầu tư tư nhân có tác động như thế nào đối với tăng trưởng kinh tế?

 Mức độ nào của đầu tư công thì “lấn át” vào đầu tư tư nhân trong nước?

 Mức độ nào của đầu tư công thì “lấn át” vào đầu tư FDI?

Dựa trên phân tích kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số chính sách nhằm tối ưu hóa hiệu quả của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển ở Châu Á.

Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ tác động giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân lên tăng trưởng kinh tế

Không gian nghiên cứu: 15 quốc gia đang phát triển ở Châu Á, bao gồm:

Bangladesh, Buhtan, Indonesia, India, Lào, Sri Lanka, Maldives, Mongolia, Malaysia, Nepal, Pakistan, Philippin, Thái Lan, Tonga và Việt Nam

Dữ liệu cho mô hình nghiên cứu thực nghiệm được thu thập chủ yếu từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Chỉ số Phát triển Thế giới (WDI) trong giai đoạn 1990-2014.

1.3.3 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu thu thập Đề tài sử dụng phương pháp định lượng, dựa trên kết quả thu thập số liệu về tình hình đầu tư công và tăng trưởng kinh tế để phân tích, mô tả, so sánh, đánh giá sơ bộ mối liên hệ giữa đầu tư công với tăng trưởng kinh tế cũng như tác động của đầu tư công lên đầu tư tư nhân Đồng thời, dựa trên cơ sở các lý thuyết về mô hình tăng trưởng kinh tế để xây dựng mô hình thực nghiệm xác định tác động đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển ở Châu Á Theo đó, mô hình gồm 5 biến: biến phụ thuộc là biến tăng trưởng kinh tế (Y) và 4 biến độc lập gồm: biến đầu tư công (Ig), biến đầu tư tư nhân trong nước(Ip), biến đầu tư FDI và biến lực lượng lao động (L) Ngoài ra, để xác định mức độ đầu tư công mà tại đó đầu tư công tác động lên đầu tư tư nhân làm giảm dần sự ảnh hưởng của đầu tư tư nhân lên tốc độ tăng trưởng kinh tế (hiệu ứng lấn át đầu tư công lên đầu tư tư nhân), tác giả nghiên cứu dựa trên mô hình nghiên cứu của Le và Suruga (2005) Theo đó, đầu tư tư nhân sẽ bao gồm 2 yếu tố: Đầu tư tư nhân trong nước và nguồn vốn FDI

Dữ liệu trong bài viết chủ yếu được lấy từ Ngân hàng Phát triển Châu Á và Chỉ số phát triển Thế giới, do đó, nguồn thông tin này được coi là đáng tin cậy.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài này nhấn mạnh vai trò quan trọng của đầu tư công và đầu tư tư nhân trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời làm rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa hai loại hình đầu tư này.

Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học bổ sung, hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoạch định chính sách và quản lý đầu tư công, nhằm hướng tới phát triển kinh tế bền vững Bài viết cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan.

Kết cấu của đề tài

Đề tài được kết cấu làm 5 chương, bao gồm:

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết về đầu tư công, đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế Trong đó lược khảo các tài liệu nghiên cứu trước đây trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu Thiết kế mô hình nghiên cứu dựa trên kết quả lược khảo tài liệu của các mô hình nghiên cứu trước đây

Chương 4: Kết quả thực nghiệm và thảo luận Trong chương này, tác giả tập trung phân tích kết quả của mô hình nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách dựa trên kết quả phân tích ở Chương 4.

TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG, ĐẦU TƯ TƯ NHÂN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Cơ sở lý luận về đầu tư công, đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế

Đầu tư công, theo định nghĩa trong kinh tế học, là việc chi tiêu của chính phủ nhằm tạo ra năng lực sản xuất và cung cấp hàng hóa công cộng Điều này bao gồm các khoản đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng như đường xá, trường học, cũng như dịch vụ y tế và đảm bảo an ninh, quốc phòng.

Trong bài viết này, tác giả định nghĩa "đầu tư công" là việc sử dụng nguồn vốn nhà nước để đầu tư vào các chương trình và dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội mà không nhằm mục đích kinh doanh Đầu tư công bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững.

Chương trình mục tiêu và các dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững Những dự án đầu tư này không chỉ tập trung vào lĩnh vực kinh tế mà còn mở rộng sang văn hóa, xã hội, y tế, khoa học, giáo dục và đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy sự tiến bộ của cộng đồng.

Chương trình mục tiêu và dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, cùng các tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội, bao gồm cả việc mua sắm và sửa chữa tài sản cố định bằng nguồn vốn sự nghiệp.

Các dự án đầu tư từ cộng đồng dân cư và các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp sẽ nhận được sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật.

 Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của Chính phủ

2.1.2 Đầu tƣ tƣ nhân Đầu tư tư nhân là hình thức cá nhân hay một doanh nghiệp sở hữu tư nhân sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định nhằm thu được lợi ích về kinh tế

Trong bài nghiên cứu của tác giả, đầu tư tư nhân được chia làm hai yếu tố: đầu tư FDI và đầu tư tư nhân trong nước

2.1.3 Tác động của đầu tƣ công tới đầu tƣ tƣ nhân

2.1.3.1 Đầu tƣ công thúc đẩy, bổ sung cho đầu tƣ tƣ nhân

Theo lý thuyết của Taylor (1994) và Agenor (2000), đầu tư công có khả năng tạo ra những "ngoại ứng tích cực" cho khu vực tư nhân Cụ thể, đầu tư công vào quốc phòng và an ninh, cùng với việc cung cấp cơ sở hạ tầng kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của khu vực tư nhân.

Đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường vĩ mô an toàn và giảm chi phí sản xuất cho khu vực tư nhân, từ đó khuyến khích đầu tư Các hoạt động đầu tư công của Nhà nước bao gồm quốc phòng, an ninh và phát triển cơ sở hạ tầng như cầu đường, sân bay, cảng, và cơ sở y tế, giáo dục Mục tiêu là tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút các nhà đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng.

Nhu cầu hàng hóa và dịch vụ từ chính phủ làm tăng cầu về sản phẩm khu vực tư nhân, khuyến khích đầu tư nhiều hơn Đầu tư công có khả năng thu hút đầu tư tư nhân, cùng hợp tác trong các dự án, mang lại sự ổn định và nhiều lợi ích cho khu vực tư nhân.

2.1.3.2 Đầu tƣ công lấn át đầu tƣ tƣ nhân

Nhu cầu của chính phủ về hàng hóa và dịch vụ có thể dẫn đến việc tăng lãi suất, làm cho nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn, từ đó gây ảnh hưởng tiêu cực đến khu vực tư nhân.

Xét mô hình IS-LM:

Khi chính sách tiền tệ giữ nguyên, việc nhà nước tăng cường chi tiêu cho đầu tư công sẽ dẫn đến sự dịch chuyển song song của đường IS sang phải, từ đó làm tăng lãi suất trong ngắn hạn.

Trong dài hạn, lãi suất sẽ trở lại mức ban đầu nhờ sự điều tiết của chính sách tiền tệ Lãi suất, với vai trò là chi phí sử dụng vốn, có ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu tài chính của dự án đầu tư Khi các nhà đầu tư vay tiền để thực hiện các dự án, lãi suất sẽ tác động mạnh mẽ đến các khoản vay, dẫn đến việc họ có thể cắt giảm quy mô đầu tư.

Việc tài trợ cho chi tiêu đầu tư từ ngân sách nhà nước, thường thông qua tăng thuế, đã cạnh tranh trực tiếp với khu vực tư nhân trong việc tiếp cận nguồn lực hạn chế của nền kinh tế Thuế ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó tác động đến quyết định đầu tư sản xuất Đầu tư công làm gia tăng nợ công, trong khi vay nợ trong nước giảm nguồn vốn cho đầu tư tư nhân, gây chèn lấn đầu tư tư nhân Hơn nữa, đầu tư công kém hiệu quả có thể lấn át cả những ngành mà tư nhân có nhu cầu và khả năng đầu tư, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đầu tư tư nhân.

2.1.4 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư công

Có nhiều quan điểm về tác động của chi tiêu chính phủ, đặc biệt là đầu tư, đối với tăng trưởng kinh tế Hầu hết các nhà kinh tế thống nhất rằng tăng chi tiêu chính phủ có thể thúc đẩy tăng trưởng trong một số trường hợp, trong khi giảm chi tiêu cũng có thể mang lại lợi ích tương tự Mối quan hệ này được thể hiện qua đường cong Rahn, do nhà kinh tế Richard Rahn xây dựng vào năm 1986, và được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu về vai trò của chi tiêu chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế.

Đường cong Rahn chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế đạt tối đa khi chi tiêu công ở mức vừa phải và được đầu tư vào các hàng hóa công cộng thiết yếu như cơ sở hạ tầng Khi chi tiêu chính phủ vượt quá ngưỡng tối ưu, nó sẽ gây ra sự phân bổ nguồn lực không hiệu quả, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Ông cũng nhấn mạnh rằng tác động của đầu tư công lên tăng trưởng kinh tế diễn ra qua ba giai đoạn, theo hình chữ U ngược, với đỉnh của chữ U là điểm tối ưu cho đầu tư công, tương tự như kết luận của nghiên cứu Barro (1989).

Theo Augustin Kwasi Fosu,Yoseph Yilma GetachewThomas Ziesemer

Lý thuyết về mô hình tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản lượng quốc gia trong một thời gian nhất định, chịu ảnh hưởng từ sự thay đổi của các nguồn lực đầu vào Mỗi nguồn lực đóng vai trò quan trọng và có tác động lẫn nhau, tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế Dưới đây là tổng quan về một số mô hình tiêu biểu về tăng trưởng kinh tế.

2.2.1 Mô hình cổ điển Được hình thành cách đây 200 năm bởi Adam Smith và Ricardo, mô hình này có những nội dung căn bản sau:

Nông nghiệp được coi là ngành kinh tế chủ chốt, với đất đai, lao động và vốn là ba yếu tố chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong số đó, đất đai đóng vai trò quan trọng nhất, được xem là giới hạn của sự phát triển kinh tế (Trần Thọ Đạt, 2005).

Các nhà kinh tế học cổ điển tin rằng hoạt động của các chủ thể kinh tế bị chi phối bởi cơ chế thị trường, hay còn gọi là "bàn tay vô hình" Họ phủ nhận vai trò của nhà nước, cho rằng sự can thiệp của chính phủ là một cản trở cho sự phát triển kinh tế.

2.2.2 Mô hình của Các-Mác

Quan điểm của Các – Mác về tăng trưởng kinh tế nhấn mạnh rằng các yếu tố như đất đai, lao động, vốn và tiến bộ kỹ thuật đều ảnh hưởng đến sự phát triển này Mác đặc biệt chú trọng đến vai trò của lao động và tiến bộ kỹ thuật trong việc tạo ra giá trị thặng dư, đồng thời khẳng định rằng "Khoa học kỹ thuật là lực lượng của sản xuất trực tiếp." Để đạt được tăng trưởng kinh tế, Mác cho rằng cần phải tích lũy tư bản, với mục tiêu chính là gia tăng giá trị thặng dư Tuy nhiên, việc nâng cao sức lao động của công nhân cần phải dựa vào cải tiến kỹ thuật Ngoài ra, Mác cũng đề cập đến vai trò của nhà nước trong việc điều tiết cung cầu kinh tế, cho rằng để thoát khỏi khủng hoảng, nhà nước cần áp dụng các biện pháp kích cầu hiệu quả.

2.2.3 Mô hình tân cổ điển về tăng trưởng kinh tế

Cuối thế kỷ 19, sự phát triển của khoa học và công nghệ đã dẫn đến sự ra đời của trường phái kinh tế tân cổ điển Các nhà kinh tế học tân cổ điển tìm cách giải thích nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế thông qua hàm sản xuất Cobb-Douglas: Y = F(K, L, R, T).

Y: tốc độ tăng trưởng GDP

R: Nguồn tài nguyên thiên nhiên

Theo trường phái tân cổ điển, quá trình sản xuất không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố truyền thống mà còn có sự tham gia của nhiều nhân tố khác Mỗi nhân tố này đều đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng sản xuất và có mối quan hệ tương tác lẫn nhau.

Nghiên cứu của Charles Cobb và Paul Douglas vào năm 1928 đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, khi họ phát triển và thử nghiệm mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas dựa trên bằng chứng thống kê.

Hàm sản xuất là một hàm số thể hiện mối quan hệ giữa sản lượng và các yếu tố đầu vào Trong đó, sản lượng là biến phụ thuộc, còn các mức đầu vào là biến độc lập.

Trong kinh tế học vĩ mô, hàm sản xuất thể hiện giá trị tổng sản phẩm nội địa, phụ thuộc vào số lượng lao động, vốn và công nghệ của nền kinh tế Hàm sản xuất thường được biểu diễn dưới dạng Cobb-Douglas.

 A : năng suất toàn bộ các nhân tố;

 α và β là các hệ số co dãn theo sản lượng lần lượt của lao động và vốn;

2.2.4 Mô hình của Keynes về tăng trưởng kinh tế

Theo Keynes, nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố chính: tổng cung và tổng cầu Trong đó, tổng cầu là yếu tố quyết định trực tiếp đến mức sản lượng và việc làm, trong khi tổng cung đóng vai trò thụ động và chịu ảnh hưởng từ tổng cầu.

Trong bối cảnh nền kinh tế, tổng cầu thường không theo kịp tổng cung, dẫn đến tình trạng sản xuất giảm, đầu tư thu hẹp và gia tăng thất nghiệp Để khắc phục, cần tăng tổng cầu, từ đó kích thích đầu tư, tạo thêm việc làm và gia tăng thu nhập, góp phần tăng sản lượng quốc gia Keynes nhấn mạnh sự cần thiết của can thiệp nhà nước để tăng tổng cầu và tạo ra việc làm Ông đề xuất sử dụng ngân sách nhà nước để kích thích đầu tư qua đơn đặt hàng và trợ cấp vốn cho doanh nghiệp Để khuyến khích đầu tư, cần tăng lợi nhuận và giảm lãi suất bằng cách tăng khối lượng tiền tệ lưu thông, thậm chí thực hiện lạm phát có kiểm soát Ông cũng đánh giá cao vai trò của hệ thống thuế và công trái nhà nước để bổ sung ngân sách, đồng thời khuyến nghị giảm lãi suất ngân hàng và áp dụng thuế thu nhập cá nhân lũy tiến nhằm phân phối thu nhập công bằng hơn, thúc đẩy tiêu dùng Keynes ủng hộ đầu tư của chính phủ vào các công trình công cộng để tạo động lực cho nền kinh tế.

2.2.5 Mô hình của Harrod - Domar về tăng trưởng kinh tế

Mô hình tăng trưởng Harrod-Domar, được phát triển bởi hai nhà kinh tế học Roy Harrod và Evsay Domar vào thập niên 1940, kết hợp lý thuyết của Keynes với những ý tưởng riêng để phân tích các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Theo mô hình này, để đạt được tăng trưởng, cần tăng tỷ lệ tích lũy (tiết kiệm) và giảm hệ số ICOR, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn (Trần Thọ Đạt, 2005).

Mặc dù tăng trưởng kinh tế thường gắn liền với đầu tư, nhưng thực tế cho thấy đầu tư không hiệu quả có thể dẫn đến sự thiếu hụt tăng trưởng Ngay cả khi đầu tư hiệu quả, sự gia tăng tiết kiệm chỉ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, không phải dài hạn Năm 1956, Robert Solow đã phát triển mô hình tăng trưởng Solow, dựa trên lý thuyết tân cổ điển Khác với mô hình Harrod-Domar chỉ chú trọng vào vốn sản xuất qua tiết kiệm và đầu tư, mô hình Solow bổ sung thêm yếu tố lao động và tiến bộ kỹ thuật, trong đó tiến bộ kỹ thuật được coi là yếu tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế cả ngắn hạn lẫn dài hạn.

Mô hình Harrod-Domar không đề cập đến vai trò của tiến bộ công nghệ, trong khi thực tế, tiến bộ công nghệ đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng dài hạn và phát triển, góp phần nâng cao năng suất của tất cả các yếu tố sản xuất.

Mô hình có thể đạt độ chính xác hợp lý trong khoảng thời gian từ một đến hai năm khi không có cú sốc, nhấn mạnh tầm quan trọng của tiết kiệm Tuy nhiên, nó không chính xác cho hầu hết các quốc gia trong thời gian dài hơn và cho rằng tiết kiệm là đủ cho tăng trưởng là không thực tế.

2.2.6 Quan điểm của kinh tế học hiện đại về tăng trưởng kinh tế

Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đầu tư với tăng trưởng

2.3.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm ở các quốc gia đã điều tra mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu này khác nhau, phụ thuộc vào giai đoạn nghiên cứu và dữ liệu từ các nước phát triển hoặc đang phát triển.

Nghiên cứu của Phetsavong và Ichihasi (2012) về "Tác động của đầu tư công và đầu tư tư nhân lên tăng trưởng kinh tế" đã chỉ ra mối quan hệ giữa đầu tư công và tư nhân tại các nước đang phát triển ở Châu Á trong giai đoạn 1984 - 2009 Kết quả cho thấy đầu tư công vượt quá 6,6% - 7,5% GDP có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến FDI, trong khi mức đầu tư công từ 4,9% - 8% có thể làm giảm đầu tư tư nhân trong nước Do đó, tác giả khuyến nghị chính phủ nên giữ mức đầu tư công dưới 4,9% GDP để tránh tác động tiêu cực đến đầu tư tư nhân.

Blejer và Khan (1984) nghiên cứu tác động của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân, sử dụng dữ liệu từ 24 nước đang phát triển trong giai đoạn 1971-1979 Nghiên cứu này nhằm xác định xem đầu tư công có thúc đẩy hay lấn át đầu tư tư nhân trong bối cảnh kinh tế của các quốc gia này.

Đầu tư công vào cơ sở hạ tầng được chứng minh là một yếu tố thúc đẩy đầu tư tư nhân, trong khi các hình thức đầu tư công khác có thể gây ra tình trạng lấn át đầu tư tư nhân.

Nghiên cứu của Le và Suruga (2005) về "Tác động của đầu tư công và FDI lên tăng trưởng kinh tế" đã phân tích ảnh hưởng của hai yếu tố này đối với tăng trưởng kinh tế, sử dụng dữ liệu từ 105 quốc gia phát triển và đang phát triển trong giai đoạn 1970-2009 Kết quả cho thấy cả đầu tư công và FDI đều có tác động tích cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đầu tư công cần duy trì ở mức 8-9% GDP, nếu không sẽ dẫn đến việc chèn lấn và cản trở các lợi ích từ FDI.

Yousfi Imane (2013) đã thực hiện nghiên cứu về "Đầu tư công và tăng trưởng kinh tế ở Algeria" bằng cách áp dụng mô hình Vector tự hồi quy, sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 1990-2012 Kết quả cho thấy, trong dài hạn, đầu tư công có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế, trong khi đó, trong ngắn hạn, cả đầu tư công và đầu tư tư nhân đều không tạo ra tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế.

Nghiên cứu của Shikh Touhidul Haque (2013) về "Tác động của đầu tư công và đầu tư tư nhân lên tăng trưởng kinh tế ở Bangladesh" sử dụng mô hình Cobb-Douglas với dữ liệu từ năm 1972-2011 Kết quả cho thấy cả đầu tư công và đầu tư tư nhân đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn với mức ý nghĩa 1% và 5% Cụ thể, trong dài hạn, khi đầu tư tư nhân tăng 1%, GDP tăng 0,702%, trong khi đầu tư công tăng 1% chỉ làm GDP tăng 0,06% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đầu tư tư nhân có tác động hiệu quả hơn đầu tư công trong dài hạn.

Nhiều nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu tổng hợp từ các nước đang phát triển và một số nước phát triển để phân tích ảnh hưởng của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân.

Nghiên cứu của Eduardo và Christian (2011) đã phân tích mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân, dựa trên dữ liệu từ 116 quốc gia trong giai đoạn 1980 đến nay.

Nghiên cứu năm 2006 cho thấy đầu tư tư nhân có mối quan hệ ngược chiều với đầu tư công Cụ thể, trong ngắn hạn, khi đầu tư công tăng thêm 1%, đầu tư tư nhân sẽ giảm 0,22%.

Sự lấn át của đầu tư công được giải thích bởi sự yếu kém của cơ quan nhà nước trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn công Hơn nữa, nghiên cứu cho thấy rằng các quốc gia có hệ thống chính quyền tốt sẽ có đầu tư công tác động bổ sung cho đầu tư tư nhân.

Maya Eden và Aart Kraay (2014) đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân tại 39 quốc gia đang phát triển bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa hai loại hình đầu tư trong bối cảnh kinh tế đang phát triển.

Mô hình hồi quy OLS và 2SLS với ba biến gồm sản lượng, đầu tư tư nhân và đầu tư công cho thấy đầu tư công có tác động tích cực đến đầu tư tư nhân và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Ngoài ra, một số nghiên cứu khác như Easterly và Rebelo (1993), Odedokun

Nghiên cứu của Ahmed và Miller (2000), Everhart và Sumlinski (2001) chỉ ra rằng đầu tư công thường lấn át đầu tư tư nhân Ngược lại, các nghiên cứu như của Greene và Villanueva (1991), Hadjimichael và Ghura (1995), và Ghura và Goodwin (2000) cho rằng đầu tư công thực sự hỗ trợ bổ sung cho đầu tư tư nhân ở các nước đang phát triển Các nghiên cứu riêng lẻ cũng cho thấy những kết quả trái ngược; chẳng hạn, Mallik (2001) và Ramirez (1998) khẳng định đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân tại Ấn Độ và Mexico, trong khi Sundarajuan và Thakur (1980) lại tìm thấy kết luận ngược lại cho Ấn Độ và Hàn Quốc, và Belloc cùng Vertova (2004) cho Malawi.

2.3.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra hiệu quả của đầu tư công, nhưng chưa có nghiên cứu sâu về mức độ tối ưu của nó trong việc "lấn át" đầu tư tư nhân và ảnh hưởng đến phát triển kinh tế Nghiên cứu của Tô Trung Thành (2011) đã phân tích mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân trong giai đoạn 1986-2010 bằng mô hình VECM Kết quả cho thấy hiện tượng đầu tư công "lấn át" đầu tư tư nhân không đáng kể trong những năm đầu, nhưng đạt cực đại vào năm thứ 5, với 1% tăng vốn đầu tư công ban đầu làm thu hẹp đầu tư tư nhân khoảng 0.48% sau một thập niên Hơn nữa, hiệu quả đầu tư công thấp hơn đầu tư tư nhân, với 1% tăng đầu tư tư nhân đóng góp 0.33% vào tăng trưởng, trong khi đầu tư công chỉ đóng góp 0.23% trong dài hạn.

PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

Dữ liệu nghiên cứu

3.1.1 Nguồn dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ bảng điều tra của 15 quốc gia đang phát triển ở châu Á, trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2014, kéo dài 25 năm Dữ liệu được thu thập từ hai nguồn chính là Chỉ số Phát triển Thế giới (WDI) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).

Biến phụ thuộc là biến tăng trưởng kinh tế (Y): Được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm, số liệu được thu thập từ WDI;

Và các biến độc lập sau:

Biến đầu tư công (Ig) được xác định bằng cách tính tỷ lệ phần trăm của tổng vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước, bao gồm cả vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước (DNNN), so với GDP Số liệu này được thu thập từ Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB).

Biến đầu tư tư nhân trong nước (Ip) được xác định bằng cách tính tỷ lệ phần trăm của khu vực ngoài Nhà nước so với GDP, với dữ liệu được thu thập từ WDI.

Biến đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) được xác định bằng cách tính tỷ lệ phần trăm của vốn đầu tư FDI so với GDP, với số liệu được thu thập từ Ngân hàng Thế giới (WDI).

Biến nguồn nhân lực (L) là tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của lực lượng lao động, được xác định trong nghiên cứu này bao gồm những người trong độ tuổi lao động, không tính những người nội trợ và những người không có khả năng lao động Dữ liệu được thu thập từ WDI.

Tác giả giới thiệu biến dummy trong mô hình 2 và 3 nhằm đo lường ảnh hưởng của đầu tư công đối với FDI và đầu tư tư nhân trong nước Để giúp người đọc dễ hiểu về cách xác định biến dummy trong nghiên cứu, tác giả đã sử dụng bảng mô phỏng minh họa.

Bảng 3.1 Hiệu ứng bổ sung của đầu tư công lên FDI và tăng trưởng kinh tế

Để xác định điểm tối ưu của đầu tư công, tác giả đã chọn tỷ lệ đầu tư công từ 1% đến 6,5% và tiến hành kiểm định cho đến khi mức độ đầu tư công ảnh hưởng đến FDI đạt ý nghĩa thống kê Ví dụ, với biến dummy mà tại đó Ig.

Giá trị của biến dummy được xác định là 1 khi mức độ đầu tư công đạt 7% và 8%, trong khi đó, giá trị này là 0 khi mức độ đầu tư công chỉ ở 4%, 5% và 6%.

Nếu biến If*dm có ý nghĩa thống kê, điều này cho thấy rằng đầu tư công có tác động đến FDI Mức độ ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế được xác định bởi α2 + α5.

Bảng 3.2 Hiệu ứng bổ sung của đầu tư công lên đầu tư tư nhân trong nước Ip và tăng trưởng kinh tế

Để xác định điểm tối ưu của đầu tư công, tác giả đã lựa chọn tỷ lệ đầu tư công từ 1% đến 3,9% và tiến hành kiểm định cho đến khi đạt được mức độ đầu tư công có ảnh hưởng thống kê đến đầu tư tư nhân trong nước Các con số Ig chỉ là một trong những mức độ đầu tư công được sử dụng trong nghiên cứu, ví dụ với biến dummy.

Giá trị của biến dummy được xác định là 1 khi mức độ đầu tư công đạt 3%, trong khi đó, giá trị của biến dummy sẽ là 0 nếu mức độ đầu tư công thấp hơn mức này.

Biến Ip*dm có ý nghĩa thống kê, cho thấy Ip ảnh hưởng đến đầu tư công Mức độ ảnh hưởng của Ip đối với tăng trưởng kinh tế được xác định bởi α 2 + α 5.

3.1.2 Mô tả dữ liệu nghiên cứu

Theo dữ liệu nghiên cứu từ 15 quốc gia đang phát triển ở Châu Á, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm trung bình đạt 5,28%, với tỷ lệ đầu tư công trên GDP trung bình là 7,05% Đáng chú ý, tỷ lệ nguồn vốn đầu tư tư nhân trong nước chiếm 23,64% GDP, gấp hơn 3 lần so với nguồn vốn đầu tư từ khu vực công Tuy nhiên, tỷ lệ đầu tư từ khu vực FDI vẫn còn thấp, chỉ đạt khoảng 2,75% GDP.

Bảng 3.3 Bảng mô tả các biến

Mean Maximum Minimum Std Dev

Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tỷ lệ đầu tư FDI trên

Tỷ lệ đầu tư công trên

Tỷ lệ đầu tư tư nhân trong nước trên GDP

Tỷ lệ tăng lực lượng lao động

Theo tính toán từ phần mềm Eviews 8.1, tác giả đã phân tích xu hướng thay đổi của các biến trong mô hình nghiên cứu qua các năm, cụ thể được thể hiện trong các biểu đồ dưới đây.

Biểu đồ 3.1 trình bày tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình, cùng với sự phát triển của đầu tư tư nhân trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư công tại 15 quốc gia đang phát triển ở Châu Á trong giai đoạn này.

Nguồn: Theo tính toán của tác giả từ WDI, ADB

Phương pháp nghiên cứu

Để đo lường các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế trong mô hình thực nghiệm Trên Eviews 8.1, tác giả thực hiện các bước kiểm định sau:

Bước đầu tiên trong nghiên cứu thực nghiệm là kiểm định tính dừng của các chuỗi thời gian bằng kiểm định nghiệm đơn vị ADF của Dickey và Fuller (1979) Nếu chuỗi không dừng, cần thực hiện thêm bước lấy phương sai hoặc log để biến chuỗi thành dừng.

Bước hai, thực hiện hồi quy với mô hình tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM) cho các biến độc lập và biến phụ thuộc Sau đó, sử dụng kiểm định Hausman để xác định xem phần dư có tương quan với các biến độc lập hay không Nếu phần dư có tương quan, mô hình FEM sẽ được chọn cho nghiên cứu; nếu không, mô hình REM sẽ phù hợp hơn.

Mô hình nghiên cứu

Bên cạnh việc thừa kế những nghiên cứu trước của Bukhari, Ali và Saddaqat

Năm 2007, Kandenge, cùng với Ellahi và Kiani (2010, 2011), đã tiếp cận hàm sản xuất tổng quát từ góc nhìn của kinh tế học hiện đại, nhằm xây dựng mô hình thực nghiệm để đánh giá tác động của đầu tư công và đầu tư tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế ở một số nước đang phát triển ở Châu Á Theo quan điểm này, hàm sản xuất tổng quát được diễn đạt một cách đơn giản.

Thành phần vốn đầu tư K bao gồm ba yếu tố chính: Ig (vốn đầu tư khu vực công), Ip (vốn đầu tư từ khu vực tư trong nước) và If (vốn đầu tư từ khu vực FDI) Do đó, phương trình (*) có thể được diễn đạt lại như sau:

Y = f (Ip, If, Ig, L) (**) Lấy đạo hàm phương trình (**) và chia cho Y, ta có phương trình sau:

Năng suất biên của các yếu tố vốn đầu tư từ khu vực tư nhân trong nước, FDI và đầu tư công có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, đồng thời độ co dãn của sản lượng theo lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa hiệu quả sản xuất.

Các biến trong phương trình được giải thích như sau: dY/Y đại diện cho tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của tổng sản phẩm quốc nội thực (%); dIp/Y là tỷ lệ vốn đầu tư tư nhân trong nước trên GDP (%); dIf/Y thể hiện tỷ lệ vốn đầu tư FDI trên GDP (%); dIg/Y là tỷ lệ vốn đầu tư công trên GDP; và dL/L chỉ tỷ lệ tăng lực lượng lao động hàng năm (%).

Sau khi được điều chỉnh, phương trình (***) có thể viết lại: g t = 1 Ip t + 2 If t + 3 Ig t + 4 L t

 Mô hình đo lường các biến tác động lên tăng trưởng kinh tế

Tác giả tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của đầu tư công và đầu tư tư nhân đến tăng trưởng kinh tế ở một số nước đang phát triển tại Châu Á Mô hình nghiên cứu được xây dựng với giả định rằng tăng trưởng kinh tế bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vĩ mô, bao gồm đầu tư công (Ig), đầu tư tư nhân (Ip), đầu tư trực tiếp nước ngoài (If), và nguồn nhân lực (L) Theo tác giả, mô hình lý thuyết này là phù hợp để phân tích mối quan hệ giữa các biến số trên và tăng trưởng kinh tế.

Y it = α 0 + α 1 Ip it + α 2 If it + α 3 Ig it + α 4 L it + ɛ it (1)

 Hiệu ứng bổ sung của đầu tư công lên FDI và tăng trưởng kinh tế

Nghiên cứu của Le và Suruga (2005) đã chỉ ra ảnh hưởng của đầu tư công đối với FDI thông qua phân tích dữ liệu của 105 quốc gia phát triển và đang phát triển trong giai đoạn 1970-2001 Biến If*dm được đưa vào mô hình để kiểm tra mối quan hệ giữa hai yếu tố này Từ đó, tác giả tiếp tục dựa trên nghiên cứu của Le và Suruga để khảo sát tác động bổ sung của đầu tư công lên FDI và tăng trưởng kinh tế.

Y it = α 0 + α 1 Ip it + α 2 If it + α 3 Ig it + α 4 L it + α 5 If it * Dm jit + ɛ it (2)

 Hiệu ứng bổ sung của đầu tư công lên đầu tư tư nhân trong nước và tăng trưởng kinh tế

Nghiên cứu của Le và Suruga (2005) đã được mở rộng và phát triển với việc bổ sung biến Ip*dm, nhằm kiểm tra ảnh hưởng của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân trong nước.

Y it = α 0 + α 1 Ip it + α 2 If it + α 3 Ig it + α 4 L it + α 5 Ip it * Dm jit + ɛ it (3)

Trong đó: i : lần lượt là các quốc gia nghiên cứu (1, 2, 3…) t : Thời gian nghiên cứu (1990, 1991, 1992….) j : Mức độ của đầu tư công (4%, 4.5%, 5%, 6% )

Mong đợi của các biến

Bảng 3.4 Bảng mô tả kỳ vọng của các biến

STT Biến Kỳ vọng Nhận xét

1 Ip + Đầu tư tư nhân trong nước sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Trong nghiên cứu của Le và Suruga (2005), tác giả không xem xét tác động của đầu tư công lên đầu tư tư nhân trong nước Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cho thấy đầu tư công có thể lấn át hoặc bổ sung cho đầu tư tư nhân Do đó, tác giả quyết định mở rộng nghiên cứu để phân tích mối quan hệ giữa hai biến này.

2 If + Nguồn vốn đầu tư FDI sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

3 Ig + Đầu tư công sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

Một tỷ lệ tăng (giảm) lực lượng lao động hàng năm sẽ được kỳ vọng kích thích (hạn chế) tăng trưởng kinh tế

Đầu tư công có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến khu vực đầu tư FDI, đặc biệt nếu mức đầu tư công vượt quá một ngưỡng nhất định.

Đầu tư công có thể tạo ra tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với khu vực đầu tư tư nhân trong nước, đặc biệt khi mức đầu tư công vượt quá một ngưỡng nhất định.

Mô hình nghiên cứu được phát triển dựa trên nghiên cứu của Le và Suruga (2005), tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế như đầu tư công, đầu tư tư nhân trong nước, FDI và nguồn lực lao động Mô hình sử dụng biến dummy để kiểm tra tác động của đầu tư công lên FDI và đầu tư tư nhân trong nước Phân tích dữ liệu cho thấy đầu tư công không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn có thể gây ra hiệu ứng lấn át đối với FDI và đầu tư tư nhân trong nước Kết quả này sẽ làm cơ sở cho nghiên cứu định lượng trong Chương 3.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

Ngày đăng: 31/05/2021, 15:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Quang Dong và Nguyễn Thị Huyền, 2010. Giáo trình kinh tế lượng. Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế lượng
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
4. Nguyễn Văn Duy, Đào Trung Kiên & Bùi Quang Tuyến, 2014. Ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990- 2013 bằng mô hình ARDL, tạp chí khoa học và đào tạo, o1, trang 59-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tạp chí khoa học và đào tạo
5. Perkins, D.H., Radelet,S.C., & Lindauer, D.L, 2006. Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế. Dịch từ tiêng Anh. Người dịch Kim Chi. Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế
6. Tô Trung Thành, 2012. Đầu tư công “lấn át” đầu tư tư nhân? Góc nhìn từ mô hình thực nghiệm VECM. Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách, trường Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: lấn át
7. Trần Nguyễn Anh Thư và Lê Hoàng Phong, 2014. Tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam: Góc nhìn thực nghiệm từ mô hình ARDL.Tạp chí phát triển và hội nhập.Số 19 (29), tháng 11-12/2014, trang 3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí phát triển và hội nhập
8. Trần Thọ Đạt, 2005. Các mô hình tăng trưởng kinh tế. Nhà xuất bản Thống kê và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.Danh mục tài liệu Tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình tăng trưởng kinh tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Danh mục tài liệu Tiếng nước ngoài
2. Aschauer, D.A., 1989. Does public capital crowd out private capital? Journal of Monetary Economics 24, page 171-188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Monetary Economic
3. Aschauer, D.A., 1989. Is public expenditure Productive? Journal of Monetary Economics 23, page 177-200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Monetary Economics
5. Barro, R. J., 1990. Government spending in a simple model of endogenous growth. Journal of Political Economy 95 (5), page 103-125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Political Economy
7. Khan, M.S & Kumar, M.s, 1997. Public and Private Investment And the Growth Process In Developing Countries. Oxford Bulletin Of Economics And Statistics, pp 69-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oxford Bulletin Of Economics And Statistics
1. Ngô Lý Hóa, 2008. Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Long An. Luận văn thạc sĩ. Trường Đại học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh Khác
3. Nguyễn Thị Loan, 2012. Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Luận văn thạc sĩ. Đại học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh Khác
1. Andrew M. Warner, 2014. Public Investment as an Engine of Growth. IMF Working Paper Khác
4. Barro, R. J., 1989. A cross country study of growth, saving and government. NBER Working Paper 2855 Khác
6. Grier, K. B.,G. Tullock., 1987. An empirical analysis of cross-national economic growth. Caltech Working Paper Khác
8. Kongphet PHETSAVONG and Masaru ICHIHASHI, 2012. The Impact of Public and Private Investment on Economic Growth: Evidence from Developing Asian Countries. PhD Thesic. Hiroshima University Khác
9. Manh Vu Le and Terukazu Suruga, 2005. The Effects of FDI and Public Expenditure on Economic Growth: From Theoretical Model to Empirical Evidence.Graduate School of International Cooperation Studies Kobe University Khác
10. Sheikh Touhidul Haque, 2013. Effect of Public and Private Investment on Economic Growth in Bangladesh: An economic Analyst. Research Study Series No – FDRS 05/2013 Khác
11. Yousfi Imane, 2013. Public Investments And Economic Growth in Algeria: a VAR Approach. Assistant Professor at Setif University Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w