TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG ===***=== KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ, SINH THÁI VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA LOÀI CHÈ HOA VÀNG Came
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
===***===
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ, SINH THÁI VÀ GIÁ TRỊ SỬ DỤNG
CỦA LOÀI CHÈ HOA VÀNG (Camellia quephongensis Hakoda et Ninh)
TẠI XÃ ĐỒNG VĂN, HUYỆN QUẾ PHONG, BAN QUẢN LÝ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT, TỈNH NGHỆ AN
NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
MÃ SỐ: 7620211
Giáo viên hướng dẫn : TS Phùng Thi Tuyến
Họ tên sinh viên : Nguyễn Duy Thành
Mã sinh viên : 1653020004
Khóa học : 2016 - 2020
Hà Nội, 2020
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường - Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam cùng các thầy cô giáo trong trường Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó!
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Phùng Thị Tuyến- Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam đã dành nhiều thời gian và công sức giúp
đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Nhân dịp này, tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới UBND xã Đông Văn, Huyện Quế Phong thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt – Nghệ An đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ nhân viên của Ban quản lý và toàn thể người dân trong xã tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình điều tra và thu thập tài liệu
Mặc dù đã cố gắng với tất cả những năng lực nhưng do việc nghiên cứu khoa học và đối tượng nghiên cứu còn khá mới mẻ, những hạn chế về trình độ
và thời gian nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của cô để bài khóa luận thêm hoàn thiện
Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả tính toán là trung thực và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 5 năm 2020
Tác giả Nguyễn Duy Thành
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN ITỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 4
1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam 8
PHẦN II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 11
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 11
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.2.2.Phạm vi nghiên cứu 11
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu 11
2.3.Nội dung nghiên cứu 11
2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu 12
2.4.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn bán định hướng: 12
2.4.3 Phương pháp điều tra thực địa 13
2.4.4 Phương pháp nội nghiệp 15
PHẦN III ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT 17
3.1.Điều kiện tự nhiên 17
3.1.1 Vị trí địa lý 17
3.1.2 Địa mạo, địa hình 17
3.1.3 Địa chất, đất đai 19
3.1.4 Khí hậu thủy văn 20
3.1.5.Tài nguyên thực vật, động vật 21
Trang 43.2.Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội 21
3.2.1 Dân số, dân tộc và cơ cấu lao động 21
3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế 22
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Đặc điểm hình thái của Chè hoa vàng 23
4.1.1 Hình thái thân 23
4.1.2 Hình thái lá 24
4.2.Thực trạng và tình hình phân bố Chè hoa vàng tại xã Đồng Văn,Huyện Quế Phong thuộc ban quản lý KBTTN Pù Hoạt, Nghệ An 26
4.2.1 Phân bố của Chè hoa vàng 26
4.2.2 Thực trạng Chè hoa vàng 27
4.3.Tình hình khai thác và sử dụng Chè hoa vàng tại xã Đồng Văn, huyện Quế Phong, thuộc ban quản lý KBTTN PùHoạt, Nghệ An 31
4.4.Hiện trạng hoạt động quản lý và bảo tồn Chè hoa vàngở ban quản lý KBTTN Pù Hoạt- Nghệ An 35
4.4.1 Cơ cấu tổ chức - lực lượng quản lý 35
4.4.2.Hoạt động quản lí và bảo tồn 37
4.4.3.Sự tham gia của người dân trong bảo tồn và phát triển Chè hoa vàng tại ban quản lý KBT 39
4.4.4 Kết quả đạt được 40
4.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển cho Chè hoa vàngtại xã Đồng Văn, huyện Quế Phong thuộc ban quản lý KBTTN Pù Hoạt - Nghệ An 41
4.5.1 Nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về vai trò của Chè hoa vàng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học 42
4.5.2 Phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho cộng đồng 43
4.5.3 Tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng 43
4.5.4 Làm tăng số lượng Chè hoa vàng trong tự nhiên 44
4.5.5 Tăng cường chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ bảo tồn 44
PHẦN V KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
Trang 55.2 Tồn tại 47 5.3 Kiến nghị 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Tọa độ điểm đầu và điểm cuối các tuyến điều tra 13
Bảng 4.1 Tọa độ điểm đầu và điểm cuối các tuyến điều tra 27
Bảng 4.2 Cấu trúc mật độ Chè hoa vàng 28
Bảng 4.3.Công thức tổ thành các lài cây đi cùng Chè hoa vàng trong 2 OTC 28
Bảng 4.4 Nhóm loài cây đi cùng với Chè hoa vàng 29
Bảng 4.5.Mật độ tái sinh nơi có Chè hoa vàng 30
Bảng 4.6.Chất lượng nguồn gốc cây tái sinh nơi có Chè hoa vàng phân bố 30
Bảng 4.7 Kết quả phỏng vấn mục đích khai thác các hộ gia đình trong Ban quản lý KBTTN 32
Bảng 4.8 Kết quả phỏng vấn tần suất khai thác một vụ của các hộ gia đình trong BQLKBT 33 Bảng 4.9 Kết quả phỏng vấn mức độ khai thác các hộ gia đình trong BQL KBT 34
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ kiểm kê rừng năm 2015 xã Đồng Văn, Huyện Quế Phong, quản lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An 18
Hình 4.1 Hình thái thân Chè hoa vàng 23
Hình 4.2 Lá non mặt mặt trên và mặt dưới 24
Hình 4.3 Lá trưởng thành mặt trên và mặt dưới 24
Hình 4.5 Sơ đồ Tổ chức bộ máy ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt – Nghệ An 36
Hình 4.4 Chè hoa vàng trong vườn của bà con sống trong KBT 40
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày 23/6/2013, Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghệan phối hợp với UBND huyện Quế Phong công bố quyết định số 340/QĐ -UBND chuyển đổi Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Quế Phong thành khu bảo tồn thiên nhiên
Pù Hoạt tại huyện Quế Phong Đó là Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt thuộc huyện biên giới Quế Phong, tỉnh Nghệ An.Khu bảo tồn này có diện tích 90 ngàn
ha, thuộc 9 xã của huyện Quế Phong Theo đó, ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Pù Hoạt có tổng diện tích hơn 90,000ha, thuộc địa bàn 9 xã: Tri
Lễ, Tiền Phong, Thông Thụ, Hạnh Dịch, Nậm Giải, Đồng Văn, Nậm Nhóng, Cắm Muộn và Châu Thôn
Hiện nay khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt có 763 loài thực vật thuộc 427 chi, 142 họ, và hơn 30 loài được ghi vào sách đỏ Việt Nam; 176 loài động vật có xương sống thuộc 4 lớp: thú, chim, bò sát và lưỡng cư…Việc thành lập Ban quản lý KBTTN Pù Hoạt sẽ góp phần bảo vệ hệ sinh thái, đa dạng sinh học, nguồn gen sinh vật, di tích lịch sử, văn hóa cảnh quan, môi trường rừng, ban quản lýkhu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt sẽ chịu trách nhiệm tổ chức quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Quế Phong theo quy định của pháp luật
Loài Chè hoa vàng là một trong số 48 loài thuộc chi Camellia đã được ghi nhận ở Việt Nam và là một trong hơn 300 loài Chè hoa vàng quý hiếm phân bố
ở nhiều nơi trên thế giới.Đây là loài rất được quan tâm nghiên cứu vì không chỉ những giá trị về khoa học mà còn có giá trị rất lớn về kinh tế và y học hiện đại Qua nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy trong Chè hoa vàng có các hợp chất kiềm chế sự phát triển của các khối u lên đến 33,8%,giảm lượng cholesterol trong máu lên đến 35% Việc sử dụng lá hoặc hoaChè hoa vàng làm nước uống không chỉ có thanh nhiệt giải độc mà còn giúp ổn đỉnh huyết áp, đường huyết, kích thích hệ thần kinh Ngoài ra do có đặc điểm hình thái đẹp còn rất được ưa chuộng sử dụng làm cây cảnh.Việc nghiên cứu đặc điểm phân bố sinh thái Chè hoa vànglàm cơ sở cho công tác bảo tồn loài là vấn đề cần thiết và nên được thực hiện thường xuyên để kiểm soát được thực trạng của loài có giá trị Vì vậy,
Trang 10đề tài Nghiên cứu đặc điểm phân bố, sinh thái và giá trị sử dụng loài Chè
hoa vàng(Camellia quephongenis Hakoda et Ninh)tạixã Đồng Văn - huyện
Quế Phong thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt - tỉnh Nghệ An được
thực hiện nhằm góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc bảo tồn
và phát triển loài Chè hoa vàng
Trang 11Theo “Camellia International Journal” - Tạp chí chuyên nghiên cứu về
Trà hoa vàng của thế giới, các hợp chất của Trà hòa vàng có khả năng kiểm chế
sự sinh trưởng của các khối u đến 33,8% trong khi chỉ cần đạt đến ngưỡng 30%
đã có thể xem là thành công trong điều trị ung thư, giúp giảm điến 35% hàm lượng cholesterol trong máu, trong khi sử dụng các loại thuốc khác thì mức độ giảm chỉ là 33,2%
Theo các vị thuốc nam, khi uống nước sắc từ lá và hoa của cây Trà hoa vàng hàng ngày giúp hạ huyết áp và có tác dụng duy trì trong thời tương đối dài,
ức chế sự tu tập của tiểu cầu, chống sự hình thành các khối máu đông gây tắc nghẽn mạch máu Ngoài ra còn có tác dụng kích thích hệ thần kinh, lợi tiểu, giải độc gan và thận, ngăn ngừa xơ vữa động mạch máu, ức chế tiêu diệt vi khuẩn
Tiến sỹ John Welsburger [28] là thành viên cao cấp của tổ chức sức khỏe Hoa Kỳ cho biết các thành phần chứa trong cây Trà hoa vàng có khả năng làm giảm nguy cơ một số bệnh mãn tính như đột quỵ, truy tim và ung thư Các nghiên cứu ở Hà Lan, những người uống 4 - 5 tách trà từ lá, hoa của cây Trà hoa vàng hàng ngày giúp giảm 70% nguy cơ đột quy so với những người khác uống 2 tách hoặc ít hơn
Theo y học Trung Quốc đã tổng kết 9 tác dụng chính của lá trà hoa vàng: 1/ Trong lá trà có những hoạt chất làm giảm tổng hàm lượng lipit trong huyết
Trang 12thanh máu, giảm lượng cholesterol mật độ thấp (choles-terol xấu) và tăng lượng cholesterol mật độc cao (cholesterol tốt) 2/ Nước sắc lá trà có tác dụng hạ huyết
áp rõ ràng và được duy trì trong thời gian tương đối dài 3/ Nước sắc lá trà có tác dụng ức chế sự tụ tập của tiểu cầu, chống sự hình thành huyết khối gây tắc nghẽn mạch máu 4/ Phòng ngừa ung thư vàức chế sự phát triển của các khối u khác 5/Hưng phấn thần kinh 6/Lợi tiểu mạnh 7/Giải độc gan và thận, ngăn ngừa xơ vữa động mạnh máu 8/ Ức chế và tiêu diệt vi khuẩn 9/ Lá trà có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và duy trì trạng thái bình thường của tuyến giáp
Ngoài các giá trị về mặt y dược, thì các loài thuộc chi Camellia còn có giá trị làm cây cảnh cao Màu vàng của trà hoa vàng rất đặc trưng,càng thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà lai tạo giống chè trên thế giới Trà hoa vàng có thời gian ra hoa khá dài, hoa có màu vàng sặc sỡ, hoa từ trung bình đến to, có đường kính 4-8cm, đẹp, tươi lâu, nhiều loài nở hoa vào dịp Tết âm lịch nên người chơi cây cảnh đã sưu tầm các cây Trà hoa vàng dã sinh về trồng làm cảnh
ở sân vườn Trà hoa vàng đang được người dân các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ sử dụng như một loại cây cảnh quý Có khoảng 3.000 giống lai ghép đã được chọn lọc từ trà hoa vàng, nhiều giống có hoa kép Một số loài hoa trà được coi là biểu tượng của một bang hay một tỉnh như: loài chè Camellia japonica là loài hoa biểu tượng của bang Alabama, Hoa Kỳ và thành phốTrùng Khánh, Trung Quốc
1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Vào năm 1943, nhà thực vật học Gagnepain đã tiến hành nghiên cứu, phân loài và mô tả chi tiết 30 loài thuộc chi Camellia, nhưng khi so sánh đối chiếu với tài liệu của ông Seally và Chang thì thực chất chỉ có 28 loài, còn 2 loài còn lại là có tên đồng nghĩa
Có thể nói Trung Quốc là quốc gia Châu Á đi đầu trong việc nghiên cứu, ứng dụng và khai thác các nguồn lợi ích kinh tế từ cây Trà hoa vàng Đến thế kỉ XVII Trung Quốc đã tạo ra rất nhiều loài Trà hoa vàng trở thành hệ thống, đi sâu nghiên cứu nguồn giống, phân loại, lai tạo, lợi dụng và phát triển các nguồn
Trang 13giống, các ngân hành gen phục vụ cho mục tiêu sản xuất nguồn nguyên liệu dùng cho công nghiệp sản xuất đồ uống, làm cảnh
Các nghiên cứu của Cheng Jin Shui, ông đã phân loại và tiến hành lai chéo để tao giống mới, kết quả thu được lá sau 20 năm đã lai tạo và cho ra được hơn 100 loài Trà cho hoa khác nhau Nhà nghiên cứu Trương Hồng Đạt đã phân
loài chi Camellia thành 4 chi phụ: Proto camellia, Camellia, Thea, Meta
camellia, chia 20 nhánh và ông đã công bố trong công trình nghiên cứu về phân
bố của cây Chè hoa vàng và chi Camellia tập trung phân bố ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc như tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam và kéo dài xuống phía Bắc Việt Nam
Hiện nay, công ty Phú Tân tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc đã chế biến thành công trà túi lọc của Trà hoa vàng tinh trà và dịch trà thành các loài nước uống bổ dưỡng cao cấp đưa ra thị trường thế giới, đặc biệt là sản phẩm Golden Camellia có giá trị tới 4,76 triệu đồng/ chín Đây là hướng sử dụng Trà hoa vàng đặc biệt hữu hiệu và có lợi đối với sức khỏe con người Ngoài ra, các nghiên cứu của các nước ngoài cũng chỉ ra rằng Trà hoa vàng có khả năng hấp thụ CO2, H2S, HF, Cl và các thể khí độc khác, có tác dụng bảo vệ một trường mạnh, làm sạch không khí Một công viên Trà hoa vàng đã được xây dựng tại Nam Ninh, Trung Quốc để phục vụ người dân thăm quan và là nơi bảo vệ nguồn gen tốt cho các nhà khoa học nghiên cứu Qua đó cho thấy rằng ở Trung Quốc nơi có Trà hoa vàng tập trung phân bố đã được nghiên cứu, bảo tồn và phát triển một cách mạnh mẽ, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao về dược liệu, kinh tế Đem lại hướng phát triển kinh tế tiềm năng cho người dân về Trà hoa vàng
Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái và vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới Đây là bước đầu tiên, làm tiền đề cho các môn khoa học khác liên quan Có rất nhiều công trình liên quan đến hình thái và phân loại loài cây, nhóm cây Những nghiên cứu này đầu tiên tập trung vào mô tả và phân loại các loài cây, nhóm cây Có thể kể đến một vài công trình rất quen thuộc liên quan đến các nước lân cận như: Thực vật chí Hong
Trang 14Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí Tây Bắc và trung tâm
Ấn Độ (1874), Thực vật chí Ấn Độ 7 tập ( 1872 - 1879), Thực vật chí Miền Điện(1877), Thực vật chí Malaysia (1872 - 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972
- 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Quảng Đông, Trung Quốc (9 cập) Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái phân loại cũng như đánh giá tính đa dạng của các vùng miền khác nhau
Ở Nga, từ năm 1928 đến 1932 được xem là thời kỳ mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể, Tolmachop A.I cho rằng “chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hóa mặt địa lý Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo đó, các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của một loại cụ thể nào đó
Odum E,P (1971) hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A,P năm 1935 ông đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu rừng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường đặc biệt chú ý
Về vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản.Chu kỳ vật hậu của một loài phân bố ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt Điều này có ý nghĩa cần thiết trong nghiên cứu sinh thái các thể loại và công tác chọn tạo giống Các công trình nêu trên cũng đã ít nhiều nêu ra các đặc điểm về chu kỳ hoa, quả và các đặc chưng vật hậu của từng loài nhóm loài
Ngoài những nhân tố sinh thái, thì trong tái sinh rừng, các nhân tố như: thảm tươi, cây bụi, động vật ăn hạt cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến tái sinh tự nhiên (Xannikov 1976), Vipper (1973), Mishra và Sharma (1994).Khi nghiên
Trang 15cứu phân tích ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên.Trong đó nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi được đề cập thường xuyên Baur G,N cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm, ảnh hưởng này thường không rõ ràng
Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường sống Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mỗi quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó là cơ sở đề xuất các biện pháp kĩ thuật phù hợp Hiện tượng thành tầng là một trong những đặc trưng cơ bản về cấu trúc hình thái của quần thể thực vật và là cơ sở để tạo nên cấu trúc tầng thứ Phương pháp vẽ biểu
đồ mặt cắt đứng của rừng do David và P,W Risa (1993-1934) đề sướng và sử dụng đầu tiên oet Guyan, đến nay phương pháp đó vãn được sử dụng nhưng nhược điểm là chỉ minh họa được cách sắp sếp theo hướng thẳng đứng trong một diện tích có hạn, Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách về một số dải kề nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được P,W Richard (1951) G,N, Baur (1964), E,P, Odum (1971)… tiến hành Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
Theo tác giả G,N, Baur (1964) đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu sử lý về mặt lâm sinh áo dụng cho rừng mưa tự nhiên Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh cải thiện rừng, P,Odum (1971) đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (Ecosystem) của Tansley (1935) Khái niệm sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học Công trình nghiên cứu của R, Catinot (1965), J, Plaudy (1987) đã
Trang 16biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng, nghiên cứu cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo khái niệm dạng sống, tầng phiến
1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Từ năm 1910, khi người Pháp phát hiện các cá thể Trà hoa vàng đầu tiên tại miền Bắc nước ta, công tác nghiên cứu về Trà hoa vàng ở nước ta đến nay vẫn chưa nhiều Cây Trà hoa vàng được tìm thấy ở một số tỉnh của nước ta, thường phân bố trong các khu rừng thứ sinh, xén giữa các nương rẫy, ở một số địa hình dốc, nhiều đá lộ đầu, ven khe suối cạn Mặc dù Trà hoa vàng đã được phát hiện từ nhiều năm trước nhưng công tác bảo tồn, nghiên cứu ứng dụng hầu như chưa được chú ý Vì vậy tất cả các loài Trà hoa vàng phát hiện ở Việt Nam đều đang trong tình trạng nguy cấp, do bị khai thác quá mức ngoài tự nhiên và mất khu vực phân bố
Một công trình nghiên cứu vào năm 1994 của tác giả Nguyễn Hữu Hiến
đã thông kê tất cả các loài của chi chè cùng một tác giả người Pháp, thông kê được chi chè Camellia có 37 loài tại Việt Nam
Vào năm 1995, Tiến sĩ Trần Ninh (Đại học quốc gia Hà Nội) đã tìm ra 2 loài Chè hoa vàng tại Vườn Quốc Gia Cúc Phương được công bố trên Tạp chí
“Di truyền và ứng dụng” Cho đến năm 2002, ông đã thông kê được 50 loài và thứ thuộc chi Camellia trong phạm vi cả nước Ngoài ra, “Danh mục các loài thực vật Việt Nam” đã thông kê được 25 loài và 4 thứ thuộc chi Camellia tại Việt Nam
Nghiên cứu của Ngô Quang Đề(1998) điều tra phát hiện khu vực phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái của một số loài Trà hoa vàng tại Ba Vì cho thấy, tại đây có 2 loài thuộc chi Camellia có triển vọng thuần hóa, làm cây cảnh, các loài nay đang được nghiên cứu và thử nghiệm tiếp
Cùng với nhiều phát hiện mới tại các tỉnh thuộc khu vực phía Bắc, Trần Ngọc Hải (2002)(Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam) cho biết Trà hoa vàng có phân
bố ở vùng rừng tái sinh thuộc xã Phước Lộc, Lâm Đồng Đến năm 2003,
Trang 17Nguyễn Tịch (Đại học Khoa học tự nhiên TP, HCM) đã nghiên cứu bổ sung về loài này tại Lâm Đồng
Đỗ Đình Tiến (2000) đã nghiên cứu về nhân giống bằng giâm hom cũng
được thự hiện cho loàiC.tonkinensis và C.euphlebiadđạt tỷ lệ ra rễ từ 70% –
86% Nhiều nhà nghiên cứu từ nước ngoài đến Việt Nam tìm hiểu về cây Chè hoa vàng cho thầy cây thích hợp với cùng nhiệt đới ẩm, rất thích hợp với miền Bắc và Đà Lạt, có thể trồng trên nhiều loài đất, trong đó rất thích hợp tơi xốp, thoát nước tốt, đất có độ pH từ 4,5 – 5,5 là thích hợp nhất Cây Chè hoa vàng chưa được gây giống trên quy mô lớn, một số loài không có nhị nên không có quả.Vì vậy phương pháp nhân giống chủ yếu hiện nay là nhân giống vô tính (chiết, ghép, giâm hôm, nuôi cấy mô) trông đó phương pháp giâm hom là đơn giản và có tỷ lệ sống cao
Năm 2015, Vườn quốc gia Tam Đảo và công ty cổ phần đầu tư DIA đã đưa ra dự án bảo tồn và sản xuất Chè hoa vàng theo hướng hàng hóa Mục tiêu của dự án đưa ra là trong 5 năm từ 2015 – 2019 sẽ điều tra và lên danh sách được bộ sưu tập đầy đủ các giống Chè hoa vàng trên cả nước về trồng bảo tồn Ngoài ra cồn trồng Chè hoa vàng theo hướng sản xuất hàng hóa với 15 ha với
30000 cây Chè hoa vàng thuộc các lứa tuổi khác nhau Cùng với đó là hoàn thiện với quy trình nhân giống, gây trồng, thu hái và chế biến
Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, Trường Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam đã triển khai đề tài: “Đánh giá tình hình sinh trưởng và tái sinh của Chè
hoa vàng tại một số tỉnh phía Bắc” do Nguyễn Văn Khương (1998,2001)và cộng
sự thực hiện Kết quả nghiên cứu ở 5 khu vực gồm Sơn Động, Tam Đảo, Ba Chẽ, Cúc Phương, Ba vì cho thấy Chè hoa vàng là loài cây gỗ nhỏ, sống thích nghi dưới tán rừng có chiều cao 10 – 15m, độ tàn che 0,55 – 0,7 Đây là loài phân bố ở thung lũng, ven khe suối, nơi có độ cao từ 200 – 500m so với mặt nước biển Khả năng tái sinh bằng chồi tốt hơn hạt Qua nghiên cứu cũng cho thấy hiện nay số lượng chè hoa vàng còn lại rất ít, mọc rải rác trong rừng và bị khai thác quá mức
Trang 18Thái Văn Trừng (1987) khi nghiên cứu về kiểu rừng kín thường xanh mưa
ẩm nhiệt đới nước ta đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng vượt tán, tầng ưu thế tái sinh, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết
Nguyễn Bá Chất (1996) đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, cùng với kết quả nghiên cứu các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh…Tác giả đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm và trồng rừng đối với cây Lát hoa
Vũ Văn Cần (1997) đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn quốc gia Cúc Phương, ngoài nhữngkết luận về đặc điểm phân bố, hình thái, vật hậu, nhiên, đặc điểm lâm phần nơi có chò đãi phân bố…
Tác giả cũng đã đưa ra kỹ thuật tạo cây con từ hạt đối với loài cây chò đãi Trần Ngũ Phương (1970) khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét “Rừng tự nhiên dưới tác động của con người do khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc Nếu chúng ta để thảm thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian trảng cây bụi, trảng cỏ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng có thể phục hồi dưới dạng giống trạng thái rừng ban đầu”
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của mức độ che sáng đến sinh trưởng của
Dẻ đỏ giai đoạn vườn ươm Hà Thị Hiền (2008) cho rằng, mức độ che sang khác nhau có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của Dẻ đỏ, từ 01 tuổi che 75% ánh sáng trực thì tỷ lệ cây sống đạt tới 100% Dẻ đỏ 12 tuổi che 50% đến 75% ánh sáng trực
xạ thì tỷ lệ sống đạt 98,89 đến 100% Mức độ che sáng trực xạ khác nhau ảnh hương đến sinh trưởng đường kính và chiều cao của cây Dẻ đỏ Từ năm 2012–
2013, đoàn nghiên cứu Nhật Bản do Giáo sư Hakoda phối hợp với PGS,TS Trần Ninh đã phát hiện tại huyện Quế Phong và huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An có một loài Chè hoa vàng Sau khi phân tích, đánh giá, đoàn chuyên gia đã đặt tên
cho loài Chè hoa vàng ở Quế Phong là Camellia quephongensis Hakoda et Ninh
Trang 19PHẦN II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề xuất được các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài phù hợp với đặc
điểm tại địa phương
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là loài Chè hoa vàng tại xã Đồng Văn, huyện Quế
Phong thuộc ban quản lý KBTTN Pù Hoạt - Tỉnh Nghệ An
2.2.2.Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu đề tài tập trung nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của Chè hoa vàng xã Đồng Văn, huyện Quế Phong thuộc ban quản lý KBTTN Pù Hoạt - Tỉnh Nghệ An
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Chè hoa vàng tại xã Đồng Văn, huyện Quế
Phong thuộc ban quản lý KBTTN Pù Hoạt - Tỉnh Nghệ An
2.3.Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu bổ sung đặc điểm về hình thái, vật hậu của loài tại khu vực nghiên cứu
- Đặc điểm phân bố tự nhiên và đặc điểm cấu trúc rừng nơi có loài Chè hoa vàng Quế
Phong phân bố tại Xã Đồng Văn, Huyện Quế Phong
Trang 20 Tình hình gây trồng cây Chè hoa vàng tại địa phương
Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài phù hợp với đặc điểm
tại địa phương
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Tài liệu thứ cấp được sử dụng để thu thập các thông tin về đặc điểm khu vực nghiên cứu, tình hình sử dụng đất, tài nguyên rừng, đặc điểm kinh tế xã hội Các tài liệu cần thu thập trong phạm vi trong ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt…Các tài liệu chính:
- Các tài liệu tổng quan về nghiên cứu Chè hoa vàng ở Việt Nam,
- Một số báo cáo, văn kiện dự án, kế hoạch, quy hoạch Chè hoa vàng
tạiban quản lýkhu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, vùng đệm, …
- Các sản phẩm đã công bố, các báo cáo khoa học có liên quan đến khu vực nghiên cứu về Chè hoa vàng ở trong nước
- Các trang web dưới thiệu về Chè hoa vàng ở khu vực nghiên cứu
- Các báo cáo nghiên cứu và tổng quan về các loài nghiên cứu
- Các văn bản pháp quy đối với gây trồng, sản xuất, khai thác và lưu thông đối với Chè hoa vàng
2.4.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn bán định hướng:
- Phương pháp điều tra phỏng vấn bán định hướng nhằm mục đích thu thập các thông tin cơ bản về sự phân bố Chè hoa vàng, tình hình khai thác và sử dụng, Đối tượng phỏng vấn là các cán bộ kiểm lâm thuộc ban quản lý KBTTN
Pù Hoạt, các cán bộ Lâm nghiệp ở UBNN xã Đông Văn (25 cán bộ) và các hộ gia đình sống trong KBT (20 hộ gia đình) trong đó có 10 hộ thuộc hộ nghèo, 5
hộ thuộc hộ trung bình và 5 hộ thuộc hộ khá
Các thông tin phỏng vấn bao gồm:
- Các khu vực dễ tiếp cận và bắt gặp Chè hoa vàng phân bố, đặc điểm nơi chúng phân bố
Trang 21- Tình hình khai thác và sử dụng Chè hoa vàng trong xã Đồng Văn, huyện Quế Phong thuộc ban quản lý KBTTN Pù Hoạt - tỉnh Nghệ An
- Hoạt động quản lý và bảo tồn loài Chè hoa vàng tại xã Đồng Văn, huyện Quế phong, tỉnh Nghệ An
- Các dự án được xây dựng nhằm bảo tồn và phát triển loài Chè hoa vàng
2.4.3 Phương pháp điều tra thực địa
- Điều tra sơ thám
+ Xác định khu vực nghiên cứu
+ Xác định sơ bộ tuyến điều tra, diện tích phân bố của loài và đường đi của khu vực nghiên cứu
- Điều tra chi tiết
Điều tra phân bố của loài bằng phương pháp điều tra theo tuyến
- Lập 2 tuyến điều tra tại khu vực có Chè hoa vàng phân bố là Tuyến 1 và Tuyến 2 mỗi tuyến dài 5km, xác định tọa độ điểm đầu và cuối của 2 tuyến Trên
2 tuyến Tuyến 1 và Tuyến 2 đặc trưng cho Chè hoa vàng tiến hành điều tra phân
bố loài bằng quan sát, nhận dạng qua đặc điểm hình thái để phát hiện Chè hoa vàng, dùng GPS để lưu lại tọa độ, độ cao nơi chúng xuất hiện, đo đếm các chỉ số Hvn, D1.3 và thu hái tiêu bản trên những tuyến điều tra
Bảng 1: Tọa độ điểm đầu và điểm cuối các tuyến điều tra
Kết quả điều tra trên tuyến ghi vào biểu 01 sau:
Biểu 01: Điều tra phân bố loài
Trang 22- Điều tra Hvn bằng thước bắn độ cao để đo chiều cao cây:
● Lập 2 OTC với diện tích 1000m² trên các vị trí (đỉnh, sườn, chân) để so sánh được sự phân bố của Chè hoa vàng theo độ cao: dùng thước dây, địa bàn, cột tiêu để lập OTC (25x400m)
Cách lập OTC: Chọn và lập OTC đại diện nhất dựa trên việc điều tra sơ thám tuyến điều tra, chọn các vị trí có sự xuất hiện nhiều nhất của Chè hoa vàng,
để lập OTC điều tra với diện tích 1000m2
- Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài:
Quan sát cây trong OTC trong đó có cả cây nhỏ và cây trưởng thành sau
đó mô tả đặc điểm hình thái cụ thể như sau:
+ Thân cành: Mô tả hình dạng, màu sắc, vỏ, kiểu phân cành và mức độ phát triển
+ Lá, hoa, quả: Mô tả hình dạng kích thước, màu sắc Lấy mẫu tiêu bản về giám định
- Điều tra tầng cây cao kết quả ghi vào biểu 02
Biểu 02: Điều tra tầng cây cao
STT Tên cây D1.3(cm) Dt(m) Hvn(m) Hdc
(m)
D1.3 (m)
- Điều tra khả năng tái sinh của cây
Trong mỗi OTC bố trí 5 ô dạng bản mỗi ô có diện tích 4m² (2x2) ODB được lập ở 4 góc và ở giữa OTC
Trong mỗi ODB tiến hành điều tra về: Tên loài, chiều cao, chất lượng của cây tái sinh, cây tái sinh được chia thành 4 cấp chiều cao: <20cm, 20–50cm, 50–100cm, >100cm Kết quả điều tra được ghi vào biểu 02 sau:
Trang 23Biểu 03: Điều tra cây tái sinh dưới tán rừng
Người điều tra: Ô tiêu chuẩn:
Sinh trưởng
Nguồn gốc
<20 cm 20–50 cm 50–100 cm >100cm
- Điều tra tầng cây bụi thảm tươi
Cây bụi, thảm tươi được điều tra trong các ODB
Các chỉ tiêu cần điều tra: tên loài chủ yếu, chiều cao bình quân, độ che phủ trung bình Kết quả được ghi vào biểu 04:
Biểu 04: Điều tra cây bụi, thảm tươi
ODB Tên loài
chủ yếu
Chiều cao (cm)
Độ che phủ
%
Sinh trưởng Ghi chú
- Nghiên cứu tình hình gây trồng Chè hoa vàng:
+ Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của cán bộ lâm sinhban quản lý KBTTN, đồng thời đi thực tế tại khu vực gây trồng
+ Phương pháp kế thừa số liệu: Kế thừa những nghiên cứu có liên quan đến gây trồng Chè hoa vàng
2.4.4 Phương pháp nội nghiệp
* Xác định các công thức tổ thành: tổ thành của lâm phần được xác định
theo số các thể và số loài tham gia, việc xác định được tuân theo các bước sau:
- Tính số cá thể bình quân cho mỗi loài: 𝑋𝑡𝑏= N/a
Trong đó: 𝑋𝑡𝑏: là số cây bình quân của một loài
N: là tổng số cây trong ô tiêu chuẩn
Trang 24𝑋𝑖: là số lượng cá thể của loài i ( 𝑋𝑖 ≥ 𝑋𝑡𝑏)
* Xác định mật độ tầng cây cao và cây tái sinh:
+ Mật độ (N/ha): N/ha = n 10000
𝑠
Trong đó: s: diện tích OTC
n: Số cây trong OTC
*Xác định tần suất xuất hiện trong ô điều tra
+ Po: Tần suất xuất hiện theo các ô điều tra
Ni: Số ô xuất hiện loài cây i No: Tổng số ô điều tra Po: Tần số xuất hiện theo ô điều tra + Công thức tính tần suất theo số các thể:Pc= ni/N
Trong đó: ni: Số loài cây I xuất hiện cùng với Chè hoa vàng
N: Tổng số cá thể điều tra ở 2 OTC Pc: Tần số xuất hiện loài tính theo cá thể
Trang 25PHẦN III
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT
3.1.Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Năm 2013, theo kết quả rà soát điều chỉnh quy hoạch 3loài rừng tỉnh Nghệ An thì ban quản lý Khu BTTN Pù Hoạt có tổng diện tích rừng tự nhiên là 85.761,43 ha Nằm trên địa bàn 9 xã thuộc huyên Quế Phong: Tri Lễ, Tiền Phong, Thông Thụ, Hạnh Dịch, Nậm Giải, Đồng Văn, Nậm Nhoóng, Cắm Muộn
và Châu Thôn,Tọa độ địa lí:Từ 19°27’46’’ đến 19°59’55’’ độ vĩ Bắc - Từ 104°37’46’’ đến 105°11’11’’ độ vĩ Đông
- Ranh giới: Phía Bắc giápban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
và các xã Vạn Xuân, Xuân Lệ và Xuân Chinh, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa Phía Đông giáp xã Châu Binh, Châu Tiên, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An Phía Nam giáp xã Yên Tĩnh huyện Tương Dương và xã Quang Phong, huyện Quế Phong Phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, xã Nhôn Mai
và xã Hữu Khuông huyện Tương Dương
3.1.2 Địa mạo, địa hình
Ban quản lý khu BTTN Pù Hoạt nơi có đỉnh Pù Hoạt cao 2457 mét, trong vùng có 3 dang địa hình chính: Địa hình núi cao: là địa hình đặc trưng trong khu vưc, gồm các dãy núi có độ cao hơn 1.700m nằm ở phía Tây Bắc của huyện, tập trung ở 5 xã Đồng Văn, Thông Thụ, Hạch Dịch, Nậm Giải và Tri Lễ Địa hình bị chia cắt mạnh bởi dãy núi cao và hệ thống sông suối khá dày đặc, điển hình dãy núi cao Trường Sơn từ 1600 đến 1828m và núi Chóp Cháp (1705m), đỉnh cao nhất là Pù Hoạt(2,457m)
Trang 26Hình 3.1 Bản đồ kiểm kê rừng năm 2015 xã Đồng Văn, Huyện Quế Phong,
quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An
(Nguồn Phòng khoa học – Ban quản lý Khu BTTN Pù Hoạt)
Nhìn chung khu vực có độ cao giảm dần từ Tây sang Đông Độ cao bình quân từ 1000 – 1500m, độ dốc trung bình 25°, nhiều nơi có độ cao trên 40°.Địa hình núi trung bình và núi thấp: bao gồm các dãy đồi núi có độ cao trung bình từ
300 đến 1700m là vùng chuyển tiếp khu vực núi cao và vùng thấp, nằm ở phía Tây Nam của vùng quy hoạch, tập trung ở các xã Châu Thôn, Cắm Muộn, Nấm Nhoóng, Tri Lễ và Nận Giải Địa hình bằng, thấp: gồm những thung lũng nằm
Trang 27tích rộng từ 300 đến 400ha, phân bố tập trung ở xã Tiền Phong Độ dốc thường
3 đến 5° rất thuận lợi cho canh tác, đây là vùng sản xuất lúa, rau màu tập trung với sản lượng lớn của huyện Quế Phong
3.1.3 Địa chất, đất đai
3.1.3.1 Địa chất:
Ban quản lý khu BTTN Pù Hoạt có cấu trúc địa chất rất phức tạp, với nhiều loại đá có tuổi trên 2 triệu năm: Đá cổ sinh(Paleozoi), đá trung tính(Mezozoi) phát triển khá rộng rãi trên khu vực và ít hơn là đá tân sinh(Cenozoi) Khu vực đã hình thành các tiểu vùng lập địa có nhiều đặc thù riêng biệt như vùng núi cao dốc, có xen lẫn những vùng đất thấp giữa núi, những thung lũng hẹp và sâu Mặc dù ở kiểu địa hình nào thì các sườn núi trong khu vực đều có độ dốc khá lớn, đất đai chưa bị thoái hóa
3.1.3.2 Thổ nhưỡng:
Do ảnh hưởng của cấu trúc địa hình, đặc điểm địa chất, đá mẹ, khí hậu, thực bì che phủ và tác động của con người đã tạo cho khu BTTN Pù Hoạt có sự phong phú và đa dạng về đất đai với sự xuật hiện các nhóm đất chính sau:
Nhóm dạng đất mùn Alit trên núi cao(H): diện tích là 1783ha, phân bố ở các xã Tri Lê, Hạch Dịch, Nậm Giải, các đặc điểm như sau: phân bố ở độ cao
>1700m Lớp thảm mục dày 20–30cm, lớp mùn dày 7–10cm, màu xám đen, càng xuốn sâu màu đèn nhạt dần Đất có thành phần cơ giới cát pha, cấu trúc không bền vững, đất có phản ứng rất chua(PH=4), hàm lượng mùn cao(>8%); Nhóm dạng đất Feralit mùn trên núi trung bình (FH): Loại đất này được hìnhthành ở độ cao từ 700m–1700m, có diện tích 54.349 ha, chiếm 63,4% phân
bố ở hầu hết các xã trung khu vực Tính chất đặc biệt của đất có tính mùn là lớphảm mục và tầng mùn tương đối dày, hàm lượng mùn khá cao(7–8%).Nhóm dạng đất Feralit điển hình trên vùng đồi và núi thấp (F): Loại đất này phân bố ở
độ cao dưới 700m có diện tích là 29.3981 ha Quá trình Feralit xảy ra chưa nhiều, đất có cấu tượng khá bền vững Một số diện tích vùng đồi đã bị kết von nhưng không có đá ong chặt; Nhóm dạng đất đồng bằng, thung lũng Nhóm đất
Trang 28này có diện tích 4183 ha, chiếm 1,8% diện tích rừng tự nhiên khu vực, được hình thành trên các kiểu địa hình máng trũng, thung lũng, bồn địa Ngoài ra trên địa bàn còn có 709 ha núi đá chiếm 8,2% diện tích tự nhiên, phân bố nhiều ở xã
3.1.4 Khí hậu thủy văn
3.1.4.1 Khí hậu:
Ban quản lý khu BTTN Pù Hoạt nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, khu vực chịu ảnh hưởng lớn của khí hậu dãy Trường Sơn Bắc Nhiệt độ trung bình năm 23,1°c Nhiệt độ cao nhất 41,3°c(tháng 6), thấp nhất 10°c (tháng 12) Độ ẩm trung bình năm 86% Lượng mưa trung bình năm 1.734,5mm Mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 9 hằng năm, do đại hình cao dốc nên mỗi khi mưa lớn thường gây lũ nhanh, lũ lớn trên các con sông Lượng mưa thấp ở các tháng về mùakhô(tháng1 - tháng3)
3.1.4.2 Sông suối, thủy văn:
Ban quản lý khu BTTN Pù Hoạt thuộc là vùng đầu nguồn của các hệ thống sông: Sông Chu ở phía Bắc bắt nguồn từ phía Tây Pù Hoạt(Lào) với tên là Nậm Xam chay qua huyện Hừa Phãn, vào Việt Nam với tên lá sông Chu, chảy qua các xã Đông Văn, Thông Thụ huyện Quế Phong về Thanh Hóa với chiều dài
đi qua hơn 64km Đây là hệ thủy lớn, nổi tiếng phong phú về các loài thủy sinh,
ca, lưỡng cư cả về thành phần loài và số lượng Hệ sông Hiếu bắt nguồn trong phân khu nghiêm ngặt, có lưu vực lớn thứ hai trong khu vực, với các chi lưu Nậm Việc, Nậm Giải, Nậm Quảng,Sông Nậm Việc bắt nguồn từ xã Hạnh Dịch, Tiền Phong, lưu lượng nước rất lớn, chảy quanh năm Hệ thủy này được tạo bởi khá nhiều khe suối lớn bắt nguồn từ biên giới Việt Lào, từ các đỉnh núi cao đổ
về như: suối Hạt, suối Phùng, suối Hiên, suối Co, suối Nậm Lam Sông Nậm Quảng bắt nguồn từ biên giới Việt Lào ở xã Tri Lễ, dài 71km, diện tích lưu vực
5948 km².Sông Nâm Giải bắt nguồn từ biên giới Việt Lào ở xã Nậm Giải dài 43km chảy qua các xã Châu Kim, Mường Nọc
Trang 29vàng, Gà lôi trắng,Công Bò sát, lưỡng cư: Đã phát hiện được 11 loài trong đó
có các loài quý hiếm như: Rùa núi viền, Rùa hộp trán vàng, Rùa đầu to, Rùa
đất
3.1.5.2 Hệ thực vật
Thực vật rừng ban quản lý khu BTTN Pù Hoạt khá đa dạng và phong phú
Số lượng loài thực vật bậc cao hiện thống kê được khoảng 763 loài trong đó có
31 loài quý hiếm đã được ghi trong Sách đỏ Việt Nam(2007) Một số loài quý hiếm như: Sa mu dầu, Pơ mu, Bách xanh, Kim Giao, Sến Mật, Trai
3.2.Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số, dân tộc và cơ cấu lao động
Theo số liệu của chi cục thống kê huyện quế phong và các xã trong khu vực ban quản lý khu BTTN Pù Hoạt tính đến tháng 6 năm 2013, tình hình dân
số, dân tộc và cơ cấu lao động như sau: Dân số tổng dân số của 09 xã, trong khu vực khu BTTN Pù Hoạt là 2993 hộ với 10924 nhân khẩu Dân tộc: trên đại bàn
có các dân tộc sinh sống như: Kinh, Thái, Mông, Khơ mú Nhóm dân tộc Kinh, Thái chiếm chủ yếu với 10.498 người, chiếm tới 96,1% dân số.Nhóm đồng bào Mông, Khơ mú với 426 người chiếm 3,9% dân số Sinh sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng cao xa, nới gần rừng, có nguồn nước, nhưng đường giao thông đi lại khó khăn Kinh tế nương rẫy là nguồn sống chính, ngoài ra còn kết hợp chăn nuôi và thu lượm sản phuẩm sẵn có trong rừng Lao động: tổng số 6.818 lao động trong độ tuổi, 80% lao động thuần nông, còn lại là cán bộ công nhân viên chức và lao động dịch vụ buôn bán khác
Trang 303.2.2 Tình hình phát triển kinh tế
3.2.2.1 Sản xuất nông nghiệp
Là ngành đang giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động kinh tế chính của khu vự, trong sản xuất nông nghiệp thì lương thực là chủ yếu và là nguồn sống chính của đồng bào Trồng trọt: diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm 3,2% tổng diện tích tự nhiên Cây trồng trên đất nông nghiệp chủ yếu là lương thực (lúa, ngô, khoai, sắn), ngoài ra còn có cây nông nghiệp ngắn ngày(lạc, mía) và các loài cây ăn quả(mận, mơ, nhãn, cam, bưởi, chuối ) Chăn nuôi: toàn khu vực có 55.330 con trâu, 77.738 con bò, 109.257 con lợn và 700.613 con gia cầm tính bình quân mỗi hộ có từ 1-2 con trâu, bò hoặc ngựa, 2 con lợn và từ 10–12 con gia cầm Hình thức chăn nuôi chủ yếu là thả rông, do ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất lâm nghiệp, nhất là công tác trong và khoanh nuôi phục hồi rừng Thủy sản: nuôi thủy sản trong vùng mới phát triển với quy mô nhỏ trong các hộ gia đình Toàn khu vực có 596,3 ha ảo thả cá, cho sản lượng 317,6 tấn/ năm Việc khai thác tự nhiên ở sống hồ cho năng xuất thấp, với trên 20.000
ha mặt nước hiện có trên các hồ thủy điện Húa Na, Sao Va, Sông Quảng và các
hồ thủy lợi khác sẽ là tiềm năng lớn để phát triển nuôi trông thủy sản, đặc biệt là nuôi cá lồng bè, góp phần tăng thu nhập cho đồng bào trong khu vực
Trang 31PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm hình thái của Chè hoa vàng
4.1.1 Hình thái thân
Mô tả hình thái
Qua điều tra, thu mẫu các mẫu Chè hòa vàng tại các tuyến điều tra ở các khu vực khác nhau tại vùng nghiên cứu cho thấy, đặc điểm hình thái loài Chè hoa vàng ở huyện Quế Phong có một số điểm khác biệt so với các loài trong chi Camellia tại các khu vực khác ở nước ta
Năm 2013, đoàn nghiên cứu của Nhật Bản do giáo sư Hakoda phối hợp với PGS.TS Trần Ninh đã phát hiện ra loài Trà hoa vàng tại huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ
An, sau khi phân tích đánh giá đặc điểm hình thái cho thấy đây là một loài Trà hoa
vàng mới và đặt tên loài là Camellia quephongensis Hakoda et Ninh – Trà hoa vàng
Quế Phong: Mẫu nghiên cứu: Nghệ An (Quế Phong) T.1785 (HNU), TN 2011, 2012,
2013, 2015 (HNU) [30]
Chè hoa vàng Quế Phong có đặc điểm là cây gỗ nhỏ có thân cao từ 2 – 4m, đường kính gốc của thân thường trung bình từ 4 – 7 cm Thân cây thường có màu nâu xám, đến nâu xanh Đặc trưng trên vỏ thân thường có những vết loang màu trắng giống như nhiều loài thuộc họ Chè (Theaceae) Các cành trên thân thường có sự phân cành sớm, tạo cho cây có đường kính tán khá lớn từ 2 – 3m Tán cây tự nhiên thường
có hình gần tròn Cành lá đường kính 1 – 2cm, các cành già có màu nâu đen, nhừng cành non có màu nâu đỏ
Hình 4.1 Hình thái thân Chè hoa vàng
Trang 324.1.2 Hình thái lá
Chè hoa vàng có lá hình trái xoan thuôn dài, hoặc hình trứng ngược, đầu
lá nhọn, đuôi lá gần tròn, lá có chiều dài từ 10–18cm, chiều rộng từ 3–6cm, lá đơn mọc cách không có lá kèm, cuống lá ngắn từ 0,5–1cm, mép lá có răng cưa,
có màu xanh đậm, phiến là không phủ lông Hệ gân lá song sông, nổi rõ ở 2 mặt,
có từ 15–18 đôi gần, các gân phụ mờ, hợp mép Qua đó cho thấy lá cây Chè hoa vàng dễ dàng qua đặc điểm của lá cây
Hình 4.2 Lá non mặt mặt trên và mặt dưới
Trang 33
Đo đường kính gốc Phỏng vấn cán bố kiểm lâm
Lá chè hoa vàng ngoài thực địa Lá chè hoa vàng và tác giả ngoài thực địa
Trang 34
Lá non và trường thành chè hoa vàng ngoài thực địa
Cây Chè hoa vàng có lá hình trá xoa thuôn dài, hoặc hình trứng ngược, đầu lá nhọn, đuôi lá gần tròn, lá có chiều dài từ 10 – 18cm, chiều rộng từ 3 – 6
cm, lá đơn mọc cách không có lá kèm, cuống lá ngắn từ 0,5 – 1cm, hơi phình to
ở gốc cuống lá, lá non có màu nâu đỏ rủ xuống Phiến lá dày, cứng, mép lá có răng cưa, có màu xanh đậm, phiến lá không phủ lông Hệ gân lá song song, nổi
rõ ở 2 mặt, có từ 15 – 18 đôi gân, các gân phụ mờ, hợp mép Qua đó cho thấy lá cây Chè hoa vàng có kích thước lớn hơn so với các loài Chè hoa vàng khác, hệ gân song song nổi rõ hơn, từ đó có thể nhận biết loài Chè hoa vàng dễ dàng qua đặc điểm lá cây
Hoa của Chè hoa vàng là hoa lưỡng tính mẫu 5, có 5 đài hoa màu xanh vàng, 10 cánh tràng màu vàng tươi và nhiều nhị màu vàng Hoa có đường kính 4 – 6 cm, mọc ở nách lá hoặc đầu cành, hoa thường nở thường duy trì được 8 – 10 ngày, mùa hoa bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau
4.2.Thực trạng và tình hình phân bố Chè hoa vàng tại xã Đồng Văn,Huyện Quế Phong thuộc ban quản lý KBTTN Pù Hoạt, Nghệ An
4.2.1 Phân bố của Chè hoa vàng
Trang 35Bảng 4.1 Tọa độ điểm đầu và điểm cuối các tuyến điều tra
TÊN
TUYẾN
dài (Km)
Ghi chú
Tuyến 1 05°99’80”N 219°02’89’’E 05°99’45”N 219°02’70”E 5km
Tuyến 2 06°88’33”N 219°11’89”E 06°29’87”N 219°16’54”E 5km
Trong tổng số 02 tuyến điều tra đều thuộc trạng thái rừng á nhiệt đới có độ cao dưới 700m thì Chè hoa vàng có mặt ở cả hai tuyến với tần suất bắt gặp là 33 cây/10km Bình quân 3,3 cây/1km Như vậy phân bố của Chè hoa vàng tại xã Đồng Văn, huyện Quế Phong thuộc ban quản lý KBTTN Pù Hoạt – NghệAn là rất ít.Tần suất bắt gặp ở các tuyến không đều.Trong khoảng 3km chiều dài các tuyến đi qua các khu vực núi đá thì không bắt gặp Chè hoa vàngđiều này chứng
tỏ Chè hoa vàng không phân bố trên điều kiện địa hình núi đá Ở núi đất bắt gặp
33 cây (100%) như vậy Chè hoa vàng chỉ phân bố ở núi đất Trong đó tập trung
ở các khu vực thung lũng, ven suối, những nơi có cây gỗ mọc xen lẫn với cây nứa
Từ kết quả trên ta có thể kết luận ở xã Đồng Văn, huyện Quế Phong thuộc ban quản lý KBTTN Pù Hoạt, Nghệ An.Chè hoa vàng phân bố không đồng đều chủ yếu phân bố theo cụm, chủ yếu tập trung ở khu vực xã Đông Văn Số lượng cá thể trong khu vực ít, vì vậy cần có biện pháp bảo tồn và phát triển loài cây này
4.2.2 Thực trạng Chè hoa vàng
a, Cấu trúc mật độ rừng tự nhiên nơi Chè hoa vàng phân bố
Mật độ là chỉ tiêu phản ánh số lượng cá thể trên một đơn vị diện tích, thường tính cho 1ha đối với thực vật rừng Một loài cây nào đó trong rừng tự nhiên có mật độ cây ở tầng cây cao càng lớn chứng tỏ loài đó là loài chiếm ưu thế trong lâm phần, có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái
- Trên 2 tuyến điều tra đã tiến hành lập 2 OTC mỗi ô có diện tích 1000m2
để điều tra mật độ rừng nơi có chè phân bố
Kết quả nghiên cứu mật độ rừng được trình bày trong bảng 4.2
Trang 36Số câyChè hoa vàng trong OTC
Mật độ Chè hoa vàng (cây/ha)
Tỷ lệ % Chè hoa vàng
Kết quả bảng 4.3 cho thấy mật độ rừng tự nhiên có Chè hoa vàng phân bố biến động từ 400 đến 500 cây/ha và thay đổi theo từng trạng thái rừng, Mật độ Chè hoa vàng trong rùng tự nhiên thấp chỉ đạt từ 30 đến 120 cây/ha.Tỷ lệ cây chà hoa vàng trong các OTC cũng biến động rất ít, dao động từ 8 đến 12%.Từ
đó cho thấy số lượng Chè hoa vàng còn phân bố trong tự nhiên rất ít
b, Tổ thành nhóm loài cây mọc cùng
Chè hoa vàng mọc rải rác trong tự nhiên Để tìm hiểu quan hệ giữa Chè hoa vàng với các loài cây khác đề tài đã lập 2 OTC trên hai tuyến có Chè hoa vàng phân bố để điều tra những loài cây đi kèm
Bảng 4.3.Công thức tổ thành các lài cây đi cùng Chè hoa vàng trong 2 OTC
1 1G +1TB+ 1CT+0,75GX+ 0,75CHV+ 0,25DGAD+0,25TT+0,25VA+ 0,25LX+ 2,5LK
2 2,4 CHV+1 CT+1SP1+0,8TMLL+0,8SP3+0,4KX+0,4LX+1,6LK
Với: CHV: Chè hoa vàng, CT: Côm tầng, SP1, TMLL: Thừng mực lá lớn, SP3, KX: Kháo xanh, LX: Lim xanh, LK: Loài khác, G:Giổi, TB:Thôi ba, GX: Giổi xanh, DGAD: Dẻ gai ấn độ, TT:Trám trắng,VA: Vàng anh
Từ đặc điểm phân bố các loài cây đi kèm Chè hoa vàng trong tự nhiên ởxã Đồng Văn, huyện Quế Phong thuộc ban quản lý KBTTN Pù Hoạt – Nghệ An
Trang 37như công thức tổ thành trên là có thể tham khảo để trồng rùng hỗn giao, làm giàu rừng và khoanh nuôi xúc tiến có trồng bổ sung.Tùy điều kiện cụ thể có thể
bỏ bớt một số loài, hệ số của các loài hoặc thay thế bằng các loài khác có mặt trong OTCChè hoa vàng là cây đa mục đích Vì vậy việc bố trí mô hình trồng rừng theo công thức tổ thành tự nhiên là một hướng đi có cơ sở khoa học bởi vì
nó phù hợp với quy luật sắp xếp của tự nhiên, do đó đây là con số để tham khảo khi cần trồng Chè hoa vàng hỗn giao với các loài khác
Kết quả điều tra được tổng hợp ở bảng 4.4
Trong đó: Pc: Tần số xuất hiện tính theo số cá thể
Po: Tần suất xuất hiện theo các ô điều tra
Bảng 4.4 Nhóm loài cây đi cùng với Chè hoa vàng
cây Pc (%) Số ô Po (%)
Ghi chú
Kết quả bảng 4.4 cho thấy:
Nhóm cây rất hay gặp bao gồm: Thôi ba, Dẻ gai ấn độ, Côm tầng… Trong đó Côm tầng là loài xuất hiện bên cạnh Chè hoa vàng nhiều nhất
Trang 38Nhóm cây hay gặp bao gồm: Trám trắng, Giổi, Giổi xanh…
Nhóm cây cây ít gặp: Giền trắng, Ngũ da bì hương…
Chè hoa vàng chỉ xuất hiện như cây bạn của chính nó với tần suất trung bình 8% theo số cây và tần suất tuyệt đối 100% theo số ô Như vậy điều này phản ánh tính quần sinh không rõ rệt của loài, phù hợp với việc phân bố rải rác
và tỷ lệ tổ thành thấp trong tự nhiên
Kết quả phân tích loài đi kèm với Chè hoa vàng trong tự nhiên ở ban quản
lý KBTTN Pù Hoạt, Nghệ An có thể tham khảo để trồng rừng hỗn giao với Chè hoa vàng, làm giàu rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, trồng bổ sung ta có thể chọn các loài như Dẻ gai ấn độ,Côm tầng, Thôi ba,…
c, Mật độ và chất lượng Chè hoa vàng tái sinh
*Mật độ cây tái sinh: 17– 20 cây
Mật độ cây tái sinh được xác định bằng chỉ tiêu số cây tái sinh trên một đơn vị diện tích Kết quả nghiên cứu mật độ cây tái sinh được tập hợp trong bảng 4.5
Bảng 4.5.Mật độ tái sinh nơi có Chè hoa vàng Đối tượng nghiên cứu Số cây/ha Tỷ lệ (%)
Qua kết quả nghiên cứu ở xã Đồng Văn, huyện Quế Phong thuộc ban quản lý KBTTN Pù Hoạt, Nghệ An cho thấy khả năng tái sinh của Chè hoa vàng so với các loài khác tương đối thấp (từ 1,7 – 2,0%tổng số cây tái sinh của lâm phần)
* Chất lượng, nguồn gốc cây tái sinh
Bảng 4.6.Chất lượng nguồn gốc cây tái sinh nơi có Chè hoa vàng phân bố