1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kiến thức bản địa trong sản xuất nông lâm nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng người dao ở xã đường hồng, huyện bắc mê, tỉnh hà giang

124 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 5,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN --- KHÓA LUẬT TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

-

KHÓA LUẬT TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DAO Ở XÃ ĐƯỜNG HỒNG,

HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

NGÀNH : KHUYẾN NÔNG

MÃ SỐ : 7620102

Giảng viên hướng dẫn : ThS Đồng Thị Thanh

Họ và tên sinh : Hoàng Cằn Dương

Khóa học : 2016 -02020

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, Viện Quản

lý đất đai và Phát triển nông thôn, cùng giáo viên hướng dẫn, tôi tiến hành thực hiện

đề tài: “Nghiên cứu kiến thức bản địa trong sản xuất nông lâm nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng người Dao ở xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang”

Là những người con của dân tộc Dao, sinh ra và lớn lên tại xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang; tôi nhận thức được vai trò to lớn của kho tàng kiến thức bản địa trong việc mưu sinh, phát triển sinh kế cộng đồng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên nơi đây Vì vậy nhóm nghiên cứu rất mong muốn sẽ đánh giá và lưu giữ được nguồn tri thức quý giá này, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông lâm nghiệp, cải thiện sinh kế và phát triển nông thôn bền vững

Để hiện thực hóa ý tưởng và hoàn thành được nghiên cứu là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng của bản thân và sự đóng góp hết sức quý báu của các Thầy giáo, Cô giáo, Ban lãnh đạo và người dân địa phương Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn Ths Đồng Thị Thanh người đã trực tiếp định hướng, giúp đỡ, khuyến khích chỉ dẫn cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp; toàn thể nhân dân, tập thể lãnh đạo UBND xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hoàn thành nghiên cứu này

Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô, các cơ quan chuyên môn, cùng toàn thể các bạn để đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2020

Sinh viên thực hiện

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

DANH MỤC HÌNH viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2

1.3.1 Phạm vi nghiên cứu 2

1.3.2 Đối tượng nghiên cứu 2

PHẦN II: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1.1 Tổng quan về kiến thức bản địa 3

2.1.2 Tổng quan về biến đổi khí hậu 14

2.1.3 Nhận xét rút ra từ nghiên cứu tổng quan 17

PHẦN III: NỘI DUNG,PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 19

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.2.1 Nghiên cứu và phân tích số liệu thứ cấp 19

3.2.2 Chọn điểm nghiên cứu 20

3.2.3 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 20

3.2.4 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu 22

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23

4.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 23

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 23

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 25

4.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm cơ bản của điểm nghiên cứu 26

Trang 4

4.2 HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP TẠI ĐIỂM

NGHIÊN CỨU 27

4.2.1 Kết quả điều tra tuyến và vẽ sơ đồ lát cắt điểm nghiên cứu 30

4.2.2 Kết quả phân tích lịch mùa vụ 35

4.3 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HIỆN TƯỢNG THỜI TIẾT CỰC ĐOAN ĐẾN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP TẠI ĐIỂM NGHIÊN CỨU 36

4.3.1 Nhiệt độ, lượng mưa tại trạm Bắc Mê 36

4.3.2 Các hiện tượng thời tiết cực đoan và lịch sử thiên tai tại điểm nghiên cứu 40

4.4 TỔNG HỢP HOẠT ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BĐKH TRONG SẢN XUẤT DỰA TRÊN KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI DÂN TỘC DAO TẠI ĐIỂM NGHIÊN CỨU 45

4.4.1 Sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi bản địa 46

4.4.2 Kinh nghiệm bản địa về thời vụ gieo trồng, kỹ thuật canh tác, chăm sóc cây trồng/vật nuôi 56

4.4.3 Sử dụng kiến thức bản địa trong dự báo thời tiết 60

4.5 ĐÁNH GIÁ TÍNH THÍCH ỨNG BDKH CỦA CÁC MÔ HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT 61

4.5.1 Mô hình Cây mỡ + Lúa nương + Vừng 63

4.5.2 Mô hình Lúa nước + Cá chép + Ốc đá 66

4.5.3 Mô hình cây Mận tam hoa + Sả + Gà 68

4.5.4 Mô hình cây Mỡ + Sắn+Lợn 70

4.6 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP THÍCH ỨNG BĐKH DỰA VÀO KIẾN THỨC BẢN ĐỊA CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC DAO 72

4.6.1 Kết quả phân tích SWOT tình hình sản xuất nông lâm nghiệp tại điểm nghiên cứu 72

Trang 5

4.6.2 Các giải pháp phát triển sản xuất nông lâm nghiệp thích ứng BĐKH

dựa vào kiến thức bản địa của cộng đồng dân tộc Dao 74

PHẦN V KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 77

5.1 KẾT LUẬN 77

5.2 TỒN TẠI 79

5.3 KIẾN NGHỊ 79

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bộ tiêu chí đánh giá mô hình thích ứng với BĐKH 12

Bảng 4.2 Lịch mùa vụ của cộng đồngngười Dao tại xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 35

Bảng 4.3 Hiện tượng thời tiết cực đoan và lịch sử thiên tai tại điểm nghiên cứu trong vòng 11 năm trở lại đây 41

Bảng 4.4 Hiện tượng thời tiết cự đoan và tác động đến sản xuất nông lâm nghiệp tại điểm nghiên cứu 43

Bảng 4.5 Bộ giống lúa bản địa của người Dao ở xã Đường Hồng 49

Bảng 4.6: Bộ giống ngô bản địa của người Dao ở xã Đường Hồng 51

Bảng 4.7: Bộ giống đậu tương và sắn bản địa của người Dao ở xã Đường Hồng 52

Bảng 4.8: Các giống cây trồng lâm nghiệp bản địa của người Dao xã Đường Hồng 53

Bảng 4.9 Giống vật nuôi bản địa của người Dao tại xã Đường Hồng 55

Bảng 4.10 Lịch điều chỉnh mùa vụ của cộng đồng người Dao tại xã Đường Hồng (lịch âm) 57

Bảng 4.11 Kỹ thuật canh tác của cộng đồng người Dao tại xã Đường Hồng huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang 58

Bảng 4.12 Kiến thức bản địa trong việc dự đoán các hiện tượng thời tiết cực đoan 61

Bảng 4.13: Tổng hợp điểm đánh giá thích ứng BĐKH của các mô hình sử dụng đất 62

Bảng 4.14: Đánh giá mô hình thích ứng Cây mỡ + Lúa nương + Vừng 64

Bảng 4.15: Đánh giá mô hình thích ứng Lúa nước + Cá chép + Ốc đá 66

Bảng 4.16: Đánh giá mô hình thích ứng cây Mận tam hoa + Sả + Gà 68

Bảng 4.17: Đánh giá mô hình thích ứng cây Mỡ + Sắn + Lợn) 70

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Thành phần các dân tộc xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 25 Biểu đồ 4.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2019 ở xã Đường Hồng, huyện Bắc

Mê, tỉnh Hà Giang 28 Biểu đồ 4.3 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp năm 2019 của xã Đường Hồng 29 Biểu đồ 4.4 Hiện trạng sản xuất lâm nghiệp năm 2019 của xã Đường Hồng 29 Biểu đồ 4.5 Tình hình chăn nuôi gia súc năm 2019 của xã Đường Hồng 29 Biểu đồ 4.6: Biểu đồ thể hiện sự biến động nhiệt độ tại Đường Hồng từ 2009

- 2019 37 Biểu đồ 4.7: Biểu đồ thể hiện sự biến động lượng mưa tại Đường Hồng 2009 – 2019 37 Biểu đồ 4.8 Nhiệt độ trung bình năm trong giai đoạn 1990 – 2010 tại trạm Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 38 Biểu đồ 4.9 Nhiệt độ trung bình năm trong giai đoạn 2009 – 2019 tại trạm Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 39 Biểu đồ 4.10 Tổng lượng mưa trung bình năm trong giai đoạn 1990 – 2010 tại trạm Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 39 Biểu đồ 4.11 Sự thay đổi lượng mưa năm trong giai đoạn 1990 – 2010 tại 04 trạm của tỉnh Hà Giang 39 Biểu đồ 4.12 Tổng lượng mưa trung bình năm trong giai đoạn 2009 - 2019 tại trạm Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 40 Biểu đồ 4.13 Tình hình sử dụng giống lúa nước bản địa của người Dao ở xã Đường Hồng 48 Biểu đồ 4.14 Tình hình sử dụng giống lúa nương bản địa của người Dao ở xã Đường Hồng 48 Biểu đồ 4.15 Tình hình sử dụng giống ngô bản địa của người Dao ở xã Đường Hồng 50

Trang 8

Biểu đồ 4.16 Tình hình sử dụng giống đậu tương, sắn bản địa của người Dao

ở xã Đường Hồng 52 Biểu đồ 4.17: Tình hình sử dụng giống cây lâm nghiệp bản địa của người Dao ở xã Đường Hồng 53 Biểu đồ 4.18 Tình hình sử dụng giống vật nuôi bản địa của người Dao ở xã Đường Hồng 54

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Vị trí địa lý xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 23 Hình 4.2 Sơ đồ lát cắt xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 31

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Giải nghĩa

BĐKH Biến đổi khí hậu

KTBĐ Kiến thức bản địa

HGĐ Hộ gia đình

NLKH Nông lâm kết hợp

PRA Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia

RVAC Rừng vườn ao chuồng

SXNLN Sản xuất nông lâm nghiệp

UBND Uỷ ban nhân dân

GEF Qũy môi trường toàn cầu

DTTS Dân tộc thiểu số

UNDP Cương trình phát triển Liên hiệp quốc

UNESCO Tổ chức Giáo dục,Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc

Trang 11

PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Vai trò của sản xuất nông nghiệp được khẳng định không chỉ thông qua việc đảm bảo nhu cầu lương thực thực phẩm của người dân mà còn là yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế Điều này càng được thể hiện rõ nét đối với các khu vực vùng nông thôn, miền núi nước ta – nơi mà nguồn sinh kế chính của người dân từ hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp

Sản xuất nông nghiệp và biến đổi khí hậu là hai vấn đề có mối tương tác lẫn nhau và đều ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển sinh kế hộ gia đình Những năm gần đây, biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng gia tăng, tác động và gây nhiều tổn thương cho các lĩnh vực, vùng miền và cộng đồng dân cư trong cả nước, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn Biến đổi khí hậu làm gia tăng thiên tai, thời tiết cực đoan, lũ lụt, hạn hán và gây ra nước biển dâng - đây là những thách thức lớn trong việc phát triển nông lâm nghiệp bền vững

Nhiều nghiên cứu về tìm kiếm giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp đã được thực hiện thời gian qua Nhiều giải pháp đã đưa ra và được ghi nhận như các giải pháp về chính sách, kỹ thuật, hạ tầng… nhằm giảm thiểu tối đa những tác động bất lợi của khí hậu đến hoạt động sản xuất của người dân ở từng vùng miền Một trong những giải pháp luôn được quan tâm và nhấn mạnh sử dụng trong các chương trình phát triển đó là sử dụng kiến thức bản địa của người dân, bởi KTBĐ phù hợp với năng lực cộng đồng và có khả năng thích ứng cao với môi trường từng địa phương - nơi mà chính những KTBĐ đó đã được hình thành, trải nghiệm và phát triển

Hà Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam đã trải qua tác động của Biến đổi khí hậu, nơi đây có 26% tỷ lệ nghèo, 80% diện tích là đồi núi với hơn 22 dân tộc thiểu số [4]

Xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê là một xã miền núi tỉnh Hà Giang, nơi đây là địa bàn sinh sống của các cộng đồng dân tộc Dao, Tày, Kinh, Nùng, trong đó có cộng đồng người Dao chiếm tới 75% Với hơn 90% số hộ dân có nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp Đây cũng là xã chịu tác động mạnh và dễ tổn thương do BĐKH [28] Cộng đồng người Dao sống lâu đời tại Bắc Mê, có nền văn hóa phong phú, đa dạng và đặc sắc bởi kho tàng tri thức bản địa Trong đó phải kể đến

Trang 12

là hệ thống tri thức về sản xuất nông lâm nghiệp Hệ thống tri thức này được hình thành thông qua quá trình lao động sản xuất, đã ăn sâu vào đời sống, tập quán canh tác của người Dao, tạo nguồn sinh kế cho cộng đồng, giúp họ chống đỡ những khắc nghiệt của điều kiện sản xuất và linh hoạt hơn với những thay đổi bất lợi của thời tiết khí hậu nơi đây

Với mong muốn hệ thống được những kiến thức bản địa trong sản xuất nông lâm nghiệp của cộng đồng người Dao ở Bắc Mê, đặc biệt đặt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả sản

xuất nông lâm nghiệp tại địa phương Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu kiến thức bản địa trong sản xuất nông lâm nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng người Dao ở xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Đánh giá được hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp tại điểm nghiên cứu

- Phân tích được ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, hiện tượng thời tiết cực đoan đến sản xuất nông lâm nghiệp

- Tổng hợp được các hoạt động ứng phó với BĐKH trong nông lâm nghiệp dựa trên kiến thức bản địa của người Dao tại điểm nghiên cứu dựa vào kiến thức bản địa của cộng đồng dân tộc Dao

1.3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.3.1 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian nghiên cứu: Hai thộn Khuổi Hon và Tiến Minh xã Đường

Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang

- Thời gian nghiên cứu: 15/01/2020 – 29/4/2020

1.3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Các kiến thức bản địa trong sản xuất nông lâm nghiệp của cộng đồng người Dao tại điểm nghiên cứu

- Biến đổi khí hậu tại điểm nghiên cứu

Trang 13

PHẦN II: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.1 Tổng quan về kiến thức bản địa

2.1.1.1 Một số khái niệm và đặc điểm của kiến thức bản địa

Kiến thức bản địa (indigenous knowledge) đã được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu với những tên gọi khác nhau như tri thức bản địa, tri thức dân gian, văn hoá truyền thống, kiến thức địa phương, tri thức tộc người… Các cách gọi này cho thấy những quan niệm và cách hiểu khác nhau về nội hàm của cụm từ “Kiến thức bản địa” Một số khái niệm về “Kiến thức bản địa” được đề tài tổng hợp dưới đây: Thuật ngữ kiến thức bản địa được Robert Chambers dùng đầu tiên trong một

ấn phẩm phát hành năm 1979, tiếp đó được Brrokernha và D.M.Waren sử dụng vào năm 1980 và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay Đây là những người có rất nhiều đóng góp cho lĩnh vực nghiên cứu kiến thức bản địa ở các nước đang phát triển tại châu Á và châu Phi (Dẫn theo Đồng Thị Thanh, Kiều Trí Đức, 2012) [17]

Theo UNESCO thuật ngữ “kiến thức bản địa hay tri thức địa phương” dùng để chỉ những thành phần tri thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên [1, 5]

Nghiên cứu của Warren (1991) cho rằng kiến thức bản địa là một phần của kiến thức địa phương - dạng kiến thức duy nhất cho một phần nền văn hóa hay một nền xã hội nhất định Đây là kiến thức cơ bản cho việc ra quyết định ở mức địa phương về nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe, chế biến thức ăn, giáo dục, quản lý tài nguyên thiên thiên và các hoạt động chủ yếu của cộng đồng nông thôn Khác với kiến thức bản địa

hệ thống kiến thức hàn lâm thường được xây dựng từ các trường đại học, viện nghiên cứu… (Warren, 1991) [16]

Kiến thức bản địa được Langil và Landon (1998) khái niệm là nhóm kiến thức được tạo ra bởi một nhóm người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên trong một vùng nhất định Nói khái quát, kiến thức bản địa là những kiến thức được rút ra từ môi trường địa phương, vì vậy gắn liền với nhu cầu của con người và điều kiện địa phương (Langil và Landon, 1998) [35]

Trang 14

Theo Ngô Đức Thịnh (1996) gọi tri thức địa phương là “Tri thức dân gian” và cho rằng, “đó là kinh nghiệm của con người tích luỹ được qua quá trình hoạt động lâu dài nhằm thích ứng và biến đổi môi trường tự nhiên và xã hội, phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần cho bản thân” [18]

Theo tác giả Hoàng Xuân Tý (1998), kiến thức bản địa (Indigenouse knowledge) còn được gọi là kiến thức truyền thống (Traditionnal knowledge) hay kiến thức địa phương (Local knowledge) là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa, hoặc của một cộng đồng tại một khu vực cụ thể nào đó Nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng ở một vùng địa lý xác định [21]

Lê Trọng Cúc và cộng sự (1999) trong nghiên cứu về vai trò của tri thức địa phương trong phát triển bền vững vùng cao cho rằng “Tri thức địa phương được tích luỹ qua kinh nghiệm to lớn nhờ tiếp xúc chặt chẽ với thiên nhiên, dưới áp lực chọn lọc, trong quá trình tiến hoá của sinh quyển và dần dần trở thành văn hoá truyền thống” [6]

Đồng Thị Thanh, Kiều Trí Đức (2012) nghiên cứu về kiến thức bản địa trong nông lâm nghiệp đã khái niệm “Kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội, được người dân ở một cộng đồng tích lũy và phát triển dựa trên kinh nghiệm, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn và thường xuyên thay đổi để thích nghi với môi trường văn hóa, xã hội; được lưu truyền từ đời này qua đời khác qua trí nhớ,

qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội” [17]

Như vậy, đến nay kiến thức bản địa đã được nhiều tác giả nghiên cứu và diễn tả qua các thuật ngữ khác nhau Mặc dù có nhiều tên gọi và khái niệm nhưng các nghiên cứu đều có cùng thống nhất về các đặc điểm của KTBĐ như sau:

Thứ nhất, KTBĐ là những kinh nghiệm được đúc rút và lưu truyền qua nhiều

thế hệ của một cộng đồng dân cư nhất định của một địa phương nhất định

Thứ hai, KTBĐ được sáng tạo và sử dụng bởi những người dân địa phương qua

nhiều thế hệ sống và có quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên trong một vùng nhất định Kiến thức bản địa chứa đựng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội tại cộng đồng

Trang 15

Thứ ba, KTBĐ là kiến thức địa phương, dạng kiến thức được tạo bởi một nền

văn hóa hay một xã hội nhất định Kiến thức bản địa không hạn chế ở những người dân nông thôn

Thứ tư, KTBĐ là kiến thức của một cộng đồng nhất định phát triển xuyên thời

gian và liên tục phát triển KTBĐ được hình thành dựa vào kinh nghiệm của đời sống,

nó thường xuyên được kiểm nghiệm trong quá trình sử dụng, thích hợp với văn hóa và môi trường địa phương Chính vì vậy nhóm kiến thức này liên tục biến đổi

Thứ năm, đây là nhóm kiến thức rất đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng, thể hiện sự

đa dạng thông qua các nhóm người (phụ nữ, nam giới, người già, trẻ em và được đúc kết sinh động thông qua các bài hát, vè, thơ, ca

Thứ sáu, đây là nhóm kiến thức thường được lưu giữ bằng cách truyền miệng,

thường không ghi chép bằng văn bản

Tóm lại, KTBĐ là những nhận thức, những hiểu biết về môi trường sinh sống được hình thành từ cộng đồng dân cư ở một nơi cư trú nhất định trong lịch sử tồn tại

và phát triển cộng đồng Trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, đó là những kiến thức về trồng trọt, chăn nuôi, quản lý tài nguyên của cộng đồng một dân tộc sống tại một khu vực địa lý

2.1.1.2 Phân loại kiến thức bản địa

Có nhiều cách phân loại tri thức bản địa theo những tiêu chí khác nhau, tùy

thuộc vào từng chuyên ngành khoa học Trong cuốn “Cẩm nang về tri thức bản địa -

2000”, các tác giả đưa ra hệ thống phân loại và xác định các đặc điểm theo nhận thức

và chức năng Trên cơ sở đó, tri thức bản địa có thể được chia thành các loại sau: 1/ Thông tin, 2/ Kỹ thuật và thực hành, 3/ Tín ngưỡng, 4/ Các công cụ, 5/ Vật liệu, 6 Thực nghiệm, 7/ Tri thức về các nguồn tài nguyên sinh học, 8/ Sự hiểu biết về nguồn nhân lực, 9/ Giáo dục, và 10/ Giao tiếp [30]

Theo Ngô Đức Thịnh (1996), sau khi đồng nhất khái niệm tri thức bản địa với tri thức dân gian lại cho rằng: “Tri thức dân gian có thể được chia thành 4 loại: 1/ Tri thức về tự nhiên và môi trường, 2/ Tri thức về bản thân con người, 3/ Tri thức về sản xuất, và 4/ Tri thức về quản lý xã hội và cộng đồng” [18]

Như vậy, từ phân tích trên có thể thấy kiến thức bản địa phản ánh hầu hết các khía cạnh sản xuất và tổ chức cộng đồng của người bản xứ Phần lớn các kiến thức bản

Trang 16

địa có khả năng thích ứng cao với điều kiện môi trường đa dạng của địa phương vùng cao và gắn liền với nền văn hóa riêng của từng dân tộc

2.1.1.3 Vai trò của kiến thức bản địa

Vai trò của kiến thức bản địa đã được nhiều tác giả nghiên cứu và phân tích như Mai Thanh Sơn (2007), Hoàng Xuân Tý (1998), Lê Trọng Cúc (1999), Ngô Đức Thịnh (2001), Đồng Thị Thanh (2012), CARE (2014),… Các tác giả đều đồng quan điểm khẳng định kiến thức bản địa có vai trò quan trọng đối với người dân, đặc biệt là cộng đồng dân tộc thiểu số Vai trò này đặt trong tiến trình quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển nông thôn bền vững được nhấn mạnh bởi các điểm chính sau đây [23, 20, 6, 18, 17, 5 ]

Kiến thức bản địa là một trong các yếu tố tạo và duy trì nguồn sinh kế cho cộng đồng, đồng thời đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của Quốc gia

Kiến thức bản địa khẳng định vai trò then chốt trong việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phương và bảo tồn đa dạng sinh học

Kiến thức bản địa là cơ sở để duy trì và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống, góp phần trong bảo tồn văn hóa

Kiến thức bản địa là cơ sở để đề xuất các chính sách góp phần phát triển nông thôn bền vững

Vai trò của KTBĐ trong thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng đã được tổ chức Care (2014) phối hợp trung tâm nghiên cứu phát triển nông lâm nghiệp miền núi (ADC) nghiên cứu và nhấn mạnh gồm các giá trị sau [1,5]:

Sự đa dạng về hệ thống cây trồng, vật nuôi trong hệ thống góp phần cải thiện và duy trì các dịch vụ hệ sinh thái, tăng cường khả năng thích ứng với BĐKH, giảm tính

dễ bị tổn thương tại cộng đồng

Sử dụng các giống cây trồng, vật nuôi bản địa có khả năng thích ứng cao với điều kiện tự nhiên tại địa phương do các giống bản địa đã được chọn lọc và kiểm nghiệm qua thời gian và được cộng đồng chấp nhận Các giống cây trồng/vật nuôi bản địa thường có khả năng chống chịu tốt, ít bị dịch bệnh hơn so với các giống mới và không yêu cầu đầu tư thâm canh cao phù hợp với nhiều người kể cả người nghèo

Trang 17

KTBĐ là nền tảng cơ bản cho sự tự cung tự cấp và tự quyết của người dân giúp cho người dân chủ động, ít bị phụ thuộc vào bên ngoài giảm tình trạng dễ bị tổn thương tại cộng đồng do BĐKH gây ra

Người dân đã quen với các kỹ thuật bản địa nên họ có thể hiểu, vận dụng và duy trì các kỹ thuật đó tốt hơn so với các kỹ thuật mới đưa vào từ bên ngoài nên kinh nghiệm và tiếng nói của cộng đồng được phát huy và sử dụng có hiệu quả

KTBĐ cung cấp thêm các giải pháp, lựa chọn trong quá trình thích ứng với BĐKH Nhờ đó, mà người dân địa phương có thêm các lựa chọn khi đưa ra các giải pháp, mô hình phù hợp với cộng đồng nhằm thích ứng với BĐKH thay vì phụ thuộc vào các yếu tố từ bên ngoài (giống, kỹ thuật mới)

Như vậy, từ các nghiên cứu trên có thể thấy giá trị của kiến thức bản địa không chỉ khẳng định trong quá trình phát triển nông thôn bền vững mà còn được nhấn mạnh

là một trong những giải pháp hữu hiệu để thích ứng biến đổi khí hậu, dựa trên cơ sở phát huy năng lực của cộng đồng địa phương

2.1.1.4 Kiến thức bản địa trong nông lâm nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu

a, Trên thế giới

Trên thế giới, một vài thập kỷ gần đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu về sử dụng tri thức bản địa thích ứng với Biến đổi khí hậu trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng dân tộc thiểu số (Nelson và cộng sự, 2009; Lobell và cộng sự, 2008; Darwin, 2004; Fischer và cộng sự, 2002; Shingirai S và cộng sự; 2018; Ihenacho

và cộng sự, 2019) [31, 32, 33, 36]

Kiến thức bản địa có giá trị liên quan đến đánh giá và thích ứng với biến đổi khí hậu (Mafongoya và Ajayi, 2017) hiểu và sử dụng hệ thống tri thức địa phương là một chiến lược có thể giúp tạo điều kiện cho những nỗ lực để đối phó với nhiều vấn đề (Adedotun và Tunji, 1995) [31, 32]

Nghiên cứu của Shingirai S và cộng sự (2018) về biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu sử dụng kiến thức bản địa ở huyện Mutoke, Zimbabwe Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng có rất nhiều biện pháp được sử dụng để thích ứng với biến đổi khí hậu và duy trì các tập quán bản địa Nghiên cứu cũng cho thấy cộng đồng không còn trồng ngô với số lượng lớn, đã chuyển sang trồng kê và lúa để thích ứng với biến đổi khí hậu Cộng đồng cũng cung cấp các chiến lược khác nhau để thích ứng với biến đổi

Trang 18

khí hậu Những chiến lược này bao gồm mùn, tạo ra các nhà kho lớn để sản xuất và biện pháp kỹ thuật lưu trữ nước vào mùa cạn Nghiên cứu này kết luận rằng, các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu được sử dụng kiến thức bản địa dựa vào cộng đồng đã giúp họ duy trì đáng kể các hoạt động bản địa theo nhiều cách Ngoài ra, việc

sử dụng kiến thức bản địa thông qua các hoạt động như: thay đổi loại cây trồng từ ngô sang kê và lúa miến (cao lương) truyền thống (tạo điều kiện cho lối sống và hoạt động truyền thống), thiết lập lại các tập quán bản địa của cộng đồng [36]

Theo Ihenacho và cộng sự (2019) khi nghiên cứu về vấn đề nông dân nông thôn

sử dụng hệ thống tri thức bản địa trong nông nghiệp cho thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu tại Đông Nam Nigeria; lựa chọn ngẫu nhiên 360 nông dân được chọn ngẫu nhiên từ 3 bang của Đông Nam, Nigeria Nghiên cứu này đã phân tích các thực hành kiến thức bản địa được những người nông dân sử dụng thích ứng với biến đổi khí hậu

Để thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu, nông dân đã sử dụng biện pháp đa dạng hóa cây trồng, luân canh cây trồng, cắt xén nhiều lần, bón phân cho đất, nông lâm nghiệp, sử dụng hố trồng, sử dụng tro để kiểm soát dịch hại, công dụng cần sa để kiểm soát bệnh ở gia cầm Các thực hành trên là an toàn và đã chứng minh thành công trong nhiều thế kỷ và nhóm tác giả khuyến nghị người nông dân nên tích hợp vào thực tiễn nông nghiệp hiện đại [33]

Ở một số Quốc gia hiện nay họ đang áp dụng những biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong từng lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp như:

- Trong lĩnh vực nông nghiệp

Ở Canada: tập trung thay đổi địa hình đất nông nghiệp, thay đổi thời vụ sản xuất, thay đổi hoạt động canh tác, và sử dụng các hệ thống nhân tạo để nâng cao khả năng

sử dụng và cung cấp nước, chống xói mòn

Ở Zimbabwe: thực hiện các giải pháp “phản ứng” và giải pháp “phòng ngừa” Đối với các giải pháp “phản ứng” họ có xu hướng nảy sinh từ sự cảm nhận của nông dân về sự biến đổi đã diễn ra hoặc đang biến đổi các điều kiện sản xuất nông nghiệp Các giải pháp “phòng ngừa” lại diễn ra trên quy mô quốc gia với sự trù liệu dài hạn, hướng tới ảnh hưởng của cả cộng đồng

Ở Ai Cập: đối với các giải pháp tăng cường quản lý tài nguyên và chiến lược thích ứng có hiệu quả bao gồm: quản lý nguồn nước, quản lý đất, chuyển đổi cây trồng

Trang 19

Những người nông dân ở Ê-cu-a-do đang đào các ao tích nước hình chữ U, được gọi là albarradas, để giữ nước trong những năm nhiều mưa bổ sung cho mực nước ngầm trong những năm khô hạn

- Trong lĩnh vực lâm nghiệp

Nhiều nước trên thế giới đã thực hiện các biện pháp như đẩy mạnh quy hoạch và quản lý rừng, khuyến khích các mô hình nông lâm kết hợp, khuyến khích sử dụng các sản phẩm rừng lâu năm, mở rộng diện tích rừng thông qua các chính sách thuế và tín dụng, thực hiện các kỹ thuật đốn tỉa trong khai thác rừng

Ở Miền Bắc Kê-ni-a, hạn hán thường xuyên xảy ra khiến cho người phụ nữ phải

đi bộ xa hơn để lấy nước sinh hoạt, thường là 10-15 km một ngày Vùng Tây Bengal,

Ấn Độ, những người phụ nữ sống trong các ngôi làng châu thổ sông Hằng đang phải dựng lên những tháp cao bằng tre gọi là machan để làm chỗ lánh nạn khi lũ lụt kéo đến

Ở quốc gia Băng-la-đét, các cơ quan tài trợ và các Tổ chức phi chính phủ đang làm việc với những người sống tại các vùng gọi là chars, tức là cồn đất có nguy cơ trở nên biệt lập vào mùa lũ, để nâng những căn nhà của họ lên cao hơn mực nước lũ bằng cánh dời chúng lên các cột đỡ hoặc mặt đê

b, Ở Việt Nam

Tại Việt Nam, chương trình mục tiêu Quốc gia nhằm ứng phó với BĐKH đã chỉ rõ: Ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, mọi người dân; trong nội dung huy động mọi tiềm năng có thể, thì việc khuyến khích áp dụng kiến thức bản địa trong thích ứng với BĐKH là một trong những hoạt động trong chiến lược ứng phó với BĐKH của các bộ ngành địa phương (Bộ tài nguyên và môi trường, 2008) [2, 3]

Theo Care (2014), các hoạt động thích ứng với BĐKH đã được hình thành, tích lũy và lưu truyền nhiều thế hệ trong các cộng đồng dân tộc thiếu số Hoạt động sinh kế của người dân tộc thiểu số chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, vì vậy, KTBĐ đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững ngành nông nghiệp thích ứng BĐKH [5] Các nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu phát triển nông lâm nghiệp miền núi (2014) đã chỉ ra kiến thức bản địa (KTBĐ) là một kho tri thức quý giá của các cộng đồng dân cư bản địa tại một khu vực cụ thể nào đó; So với hệ thống kỹ thuật hiện đại

Trang 20

(hệ thống kỹ thuật nhập từ bên ngoài) thì KTBĐ có đặc điểm ưu việt không thể thay thế mà các hệ thống kỹ thuật nhập từ bên ngoài không có được, đó là khả năng thích ứng cao với môi trường của người dân bản địa - nơi mà chính những KTBĐ đó đã được hình thành, trải nghiệm và phát triển Bởi KTBĐ là kết quả của sự quan sát, đúc rút kinh nghiệm từ thực tế sinh hoạt và trong sản xuất nông lâm nghiệp, trong quản lý tài nguyên và quản lý cộng đồng, được hình thành trực tiếp từ lao động của mọi người dân trong cộng đồng, dần được hoàn thiện và truyền thụ cho các thế hệ tiếp sau bằng truyền miệng (trong gia đình, trong thôn bản, hoặc thể hiện trong ca hát, ngạn ngữ, trường ca, tập tục) [1,5]

Vì vậy, việc vận dụng kiến thức bản địa bởi chính những người dân bản xứ - là người hiểu và nắm bắt đặc điểm của địa phương sâu sắc nhất - trong thích ứng với môi trường đang biến đổi ngày một khắc nghiệt này là chìa khóa thành công đảm bảo duy trì một môi trường phát bền vững cho phát triển sinh kế

Các nghiên cứu về kiến thức bản địa của cộng đồng dân tộc thiểu số trong nông lâm nghiệp và thích ứng biến đổi khí hậu, mô hình sản xuất thích ứng biến đổi khí hậu được đề tài tổng hợp dưới đây:

Vũ Văn Liết và cộng sự (2011) đã chỉ ra rằng cộng đồng dân tộc thiểu số sống ở khu vực miền núi phía Bắc đang quản lý và sử dụng một tập đoàn giống cây trồng và vật nuối rất phong phú và rất có giá trị cho sản xuất nông nghiệp do có tính chống chịu cao với các điều kiện bất lợi Cụ thể như: người Thái ở khu vực miền núi phía Bắc đang sử dụng rất phổ biến các giống bản địa bao gồm: 7 giống cây lương thực thực phẩm, 13 giống cây rau quả, 7 giống gia cầm và 9 giống gia súc; người Tày ở Bắc Kạn đang sử dụng tới 20 giống cây trồng và 3 giống vật nuôi bản địa phổ biến; người Dao

ở Bắc Kạn cũng đang sử dụng tới 19 giống cây trồng và 4 giống vật nuôi bản địa [15] Các nghiên cứu của Care (2014), Hoàng Xuân Tý (1999), Phạm Xuân Hoàn (2001), Đồng Thị Thanh (2012), Lê Thị Thu Hoài (2018) cũng đã chỉ ra kiến thức bản địa được cộng đồng dân tộc thiểu số ứng dụng nhiều trong kỹ thuật canh tác ở điều kiện khó khăn, khí hậu thời tiết cực đoan Trong canh tác trên đất dốc, nhiều biện pháp truyền thống đã được áp dụng để hạn chế và khắc phục tình trạng xói mòn, rửa trôi như canh tác theo đường đồng mức, tạo ruộng bậc thang, xếp đá tạo thành đường đồng

Trang 21

nhiều kỹ thuật bản địa đã được áp dụng như làm guồng, tích nước, cọn nước, ống bương dẫn nước,… đã giúp cây trồng tránh được khô hạn [5, 20, 13, 17, 12]

Nghiên cứu về mô hình nông lâm nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu đã được các nhà khoa học trong nước không ngừng nghiên cứu, áp dụng trong những năm gần đây nhằm tìm ra được các hệ thống phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thích ứng với biến đổi bất thường của thời tiết khí hậu Một số nghiên cứu tiêu biểu dưới đây:

Nghiên cứu của Trương Quang Học và cs (2019) về mô hình thích ứng biến đổi khí hậu được tổng kết và đề cập đến trong kết quả dự án “Tăng cường vai trò của các

tổ chức xã hội vào quá trình xây dựng kế hoạch quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu” Các tác giả đã khái niệm mô hình thích ứng bao gồm những hệ thống, giải pháp, thực hành thích ứng tốt với BĐKH trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ sinh kế/ kinh tế cho đến giáo dục hoặc thông tin khí hậu, nhằm mục tiêu chung là thích ứng với BĐKH

mà không phân biệt hay giới hạn về quy mô, phạm vi, chuyên môn, thời gian và tài chính Phần lớn các nghiên cứu, dự án thích ứng với BĐKH do các tổ chức xã hội thực hiện ở cấp cộng đồng đều có liên quan hoặc can thiệp trực tiếp đến sinh kế Lý do chính là bởi vấn đề cốt lõi và được quan tâm nhiều của/ ở các cộng đồng dễ bị tổn thương là sự tổn thương, rủi ro, thiệt hại về sinh kế, gắn với thu nhập và việc làm – những yếu tố quyết định hoặc liên đới đến các tổn thương khác về xã hội, môi trường [14]

Trong cuốn tài liệu “Các tổ chức xã hội và Kế hoạch Quốc gia thích ứng với biến

đổi khí hậu do Trung tâm Phát triển Nông thôn bền vững (SRD) và Chương trình tài

trợ nhỏ, Quỹ Môi trường Toàn cầu, UNDP (GEF Small Grant Program, UNDP) GEF) tại Việt Nam được biên soạn bởi Trương Quang Học và cs (2019) cũng đã xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá mô hình thích ứng do các tổ chức xã hôi thực hiện gồm

(SGP-7 tiêu chí và 30 chỉ số tương ứng với tổng 100 điểm tối đa, trong đó tiêu chí số 1 - Thích ứng với BĐKH – là tiêu chí trọng tâm, chiếm 40% số điểm, thể hiện tính thích ứng với BĐKH là mục tiêu quan trọng nhất của các mô hình, giải pháp thích ứng nhìn

từ phương diên cộng đồng Quá trình đánh giá trên thực tiễn, nhóm tác giả đã lựa chọn được 32 mô hình thích ứng tiêu biểu trên các vùng địa lý sinh thái của cả nước [14]

Trang 22

Bảng 2.1: Bộ tiêu chí đánh giá mô hình thích ứng với BĐKH

tiêu

Điểm tiêu chí

5 Hiệu quả và bền vững về Môi trường 4 10

6 Phù hợp với thể chế, chính sách về BĐKH,

(Nguồn: Trương Quang Học và cs, 2019)

Nghiên cứu của Lê Thị Thu Hoài (2018) về đề xuất giải pháp phát triển mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng đệm khu bảo tồn Pù Luông, xã Phú Lệ, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã đánh giá tác động của BĐKH và các hiện tượng thời tiết cực đoan đến sản xuất nông lâm nghiệp, chỉ ra được các mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH tại điểm nghiên cứu, tổng hợp kiến thức bản địa thích ứng BĐKH trong sản xuất nông lâm nghiệp, từ đó đề xuất giải pháp phát triển các mô hình sinh kế thích ứng BĐKH tại điểm nghiên cứu [12]

Cùng với sự gia tăng những mối quan tâm và e ngại về các tác động của BĐKH

và những hậu quả của nó đến Việt Nam, rất nhiều tổ chức phi chính phủ (NGO) Quốc

tế và Việt Nam đã và đang có sự quan tâm sâu sắc, có những ưu tiên và sự tham gia tích cực vào các hoạt động liên quan đến BĐKH ở Việt Nam Trong đó nhiều hoạt động liên quan đến thích ứng và giảm nhẹ BĐKH đã được xây dựng và đã chứng tỏ được những thành công rất đáng khích lệ như xây dựng các mô hình ứng phó với BĐKH ở cấp cộng đồng Tiến hành các hoạt động truyền thông, tập huấn nâng cao năng lực về BĐKH cho cộng đồng Lồng ghép các vấn đề liên quan đến quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với BĐKH vào các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội Không chỉ dừng lại ở việc triển khai các mô hình hay tiến hành những hoạt động giáo dục đào tạo và nâng cao nhận thức về BĐKH ở từng tổ chức riêng biệt, các (NGO) đã và đang

Trang 23

nỗ lực kết nối với nhau trong các mạng lưới cho các hoạt động chia sẻ, học hỏi và vận động chính sách về các vấn đề liên quan tới BĐKH

- Mô hình trồng trọt: Mô hình chọn tạo giống lúa để thích ứng với BĐKH và an

ninh lương thực Mô hình được tiến hành từ năm 2006 với sự tài trợ của Dự án Bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học cộng đồng Mô hình này đã giúp tập trung nâng cao năng lực cho nông dân về chọn giống, cải thiện giống lúa và sản xuất trao đổi hạt giống phục vụ sản xuất ở cộng đồng bằng cách huấn luyện thiết lập các tổ giống cộng đồng, tổ chức các mô hình trình diễn quy trình sản xuất giống Kỹ thuật canh tác tại ruộng nông dân Đặc biệt là xây dựng mạng lưới sản xuất hạt giống ở cộng đồng, hướng tới xã hội hóa công tác giống ở đồng bằng sông Cửu Long và góp phần an ninh nguồn giống cho sản xuất nông nghiệp, cải thiện sinh kế cho nông dân nghèo ở nông thôn [1, 5]

- Mô hình gừng, cây dược liệu xen chuối Tây thích ứng hạn ở Mai Lạp, Chợ Mới, Bắc Kạn: Mô hình thể hiện sự thích ứng và sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các hệ thống cây

trồng, các kỹ thuật canh tác ở các địa hình khác nhau của hệ thống sản xuất nông nghiệp đặc trưng của vùng trong thích ứng với tác động của BĐKH Mô hình xác định

là hệ thống canh tác thích ứng với các hiện tượng thời tiết xấu như hạn và tính thất thường của thời tiết ở địa phương Việc xen canh giữa chuối và gừng/cây dược liệu giúp thích ứng tốt với điều kiện hạn ngày một gia tăng tại Bắc Kạn trong bối cảnh biến đổi khí hậu Theo như thảo luận với người dân, xu thế nhiệt độ tăng cũng không gây ảnh hưởng đến sự phát triển của mô hình do cây càng tăng trưởng tốt, quả mau chín khi gặp điều kiện nắng gắt, nhiệt độ tăng cao Mùa đông ngắn hơn và ấm hơn tạo điều kiện thuận lợi cho cây chuối phát triển, giảm thời gian thu buồng, mẫu mã quả đẹp hơn Cây chuối cũng rất ít chịu ảnh hưởng của hiện tượng mưa trái mùa hay thay đổi lượng mưa trong các mùa [5]

- Mô hình trồng đậu xanh độc canh hoặc xen, ngô xã Thanh Vận, Chợ Mới, Bắc Kạn: có thể thích ứng hạn, trên đất bỏ hoang hoặc trên đất lúa một vụ Mức độ đầu tư

rất thấp, phù hợp với hộ nghèo, hộ trung bình, sản phẩm sử dụng hoặc tiêu thụ ngay tại địa phương, đa dạng hóa nông lâm nghiệp trong bối cảnh BĐKH, cải thiện thu nhập

Có thể sử dụng các giống cây trồng địa phương, tận dụng việc người dân có kinh nghiệm canh tác và kiến thức để thực hiện mô hình, có thể tự học hỏi lẫn nhau Mô

Trang 24

hình này giúp phát huy các giá trị bản địa (giống, kỹ thuật canh tác) trong quá trình thực hiện mô hình, hiệu quả từ mô hình cho thấy giá trị của kiến thức bản địa từ đó giúp cộng đồng tự tin tham gia với chính quyền địa phương xây dựng các giải pháp thích ứng với BĐKH [5]

2.1.2 Tổng quan về biến đổi khí hậu

2.1.2.1 Khái niệm về biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu, được quy định trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển, và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên quan sát được trong khoảng thời gian so sánh được Biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu là mối quan tâm lớn trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, sinh thái, nông nghiệp và chính trị Ở nhiều nơi, BĐKH đã dẫn tới hiện tượng nóng lên trong suốt thế kỷ vừa qua Trong vòng 30 năm trở lại đây, những ảnh hưởng của BĐKH tới môi trường tự nhiên ngày càng trở nên rõ rệt [34]

Theo Bộ tài nguyên và môi trường: Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người Biến đổi khí hậu hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan [2, 3]

Nghiên cứu của CARE, ADC (2014) cũng nhấn mạnh: “Ở Việt Nam, những lĩnh vực được đánh giá dễ bị tổn thương do BĐKH bao gồm: Nông nghiệp và an ninh lương thực, tài nguyên nước, sức khoẻ Vùng bị dễ tổn thương nhất là ven biển và miền núi Đối tượng dễ bị tổn thương nhất là người nghèo, phụ nữ, trẻ em và đồng bào DTTS Phần lớn cộng đồng dân cư miền núi phía Bắc là người DTTS với nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, hơn thế nữa vùng núi phía Bắc được xem

là nơi nghèo nhất của cả nước” [5] Do vậy, miền núi phía Bắc nói chung (và điểm nghiên cứu xã Đường Hồng, tỉnh Hà Giang nói riêng) được coi là nơi chịu tác động mạnh nhất và dễ tổn thương nhất do BĐKH

2.1.2.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu được thể hiện:

+ Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung

Trang 25

+ Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất

+ Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển

+ Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái

và hoạt động của con người

+ Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác

+ Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển

2.1.2.3 Thích ứng với biến đổi khí hậu

Khí hậu đã và đang biến đổi và có những tác động tiềm tàng, bất lợi đến phát triển Vì thế sự thích ứng ngày càng trở nên quan trọng Thích ứng là một khái niệm rất rộng và khi áp dụng vào lĩnh vực BĐKH nó được dùng trong rất nhiều trường hợp

Đối với IPCC (1996) cho rằng: khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu Sự thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước Như vậy, ở đây vấn đề thích ứng được nói đến chính là mức độ điều chỉnh với biến đổi cả về tính tự phát hay chuẩn bị trước [34]

Burton (1998) lại cho rằng: thích ứng với BĐKH là một quá trình mà con người làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khỏe, đời sống và sử dụng những

cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại Ở đây, thích ứng là làm thế nào giảm nhẹ tác động BĐKH, tận dụng những thuận lợi nếu có thể

Theo Thomas (2007), lại cho rằng: thích ứng có nghĩa là điều chỉnh hoặc thụ động, hoặc phản ứng tích cực, hoặc có phòng bị trước, được đưa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH (Trích dẫn theo Care, 2014) [5]

Như vậy, thích ứng với BĐKH là một quá trình điều chỉnh giảm những tác động bất lợi do biến đổi khí hậu gây ra

Trang 26

2.1.2.4 Đặc điểm của thích ứng với biến đổi khí hậu

- Thích ứng với BĐKH của hiện tại không giống với trong tương lai, và điều này sẽ ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương thức thích ứng

- Thích ứng đòi hỏi sự tham gia của nhiều đối tượng, nhiều thành phần và được thực hiện ở các quy mô khác nhau theo một qui trình thống nhất và lâu dài Thích ứng cần được thực hiện có hiệu quả nhất và phù hợp nhất, không ảnh hưởng, thay đổi đến sinh kế người dân cũng như các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của khu vực

- Thích ứng mang tính chủ động theo ý chí con người nhằm giảm thiểu mức độ tổn thương và hướng tới sự phát triển bền vững

- Thích ứng là một quá trình mang tính liên ngành và tính liên vùng rất cao Không một ngành nào, một quốc gia nào hoặc một nhóm quốc gia nào có thể hành động đơn phương trong thích ứng

- Năng lực thích ứng với BĐKH

Công tác thích ứng phụ thuộc cơ bản vào năng lực thích ứng của hệ thống, khu vực và cộng đồng Năng lực thích ứng của đối tượng được xác định bởi các đặc điểm kinh tế, xã hội của chúng Năng lực thích ứng là tổng hợp các điều kiện về kinh tế, xã hội và thể chế và công nghệ có tính chất quyết định, có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc

có thể gây trở ngại đối với sự phát triển

- Phương hướng thích ứng:

+ Ưu tiên sử dụng các giống cây trồng bản địa, vì các loài cây trồng bản địa đã trải qua một thời gian dài sinh trưởng và phát triển ở địa phương nên sẽ có sức chống chịu tốt hơn

+ Tận dụng những lợi thế của địa phương để tổ chức sản xuất

+ Chuyển đổi mô hình sản xuất theo đặc trưng của vùng

2.1.2.5 Thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng

Theo Care (2014), thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng là một cách tiếp cận quan trọng trong ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là ở các nước đang phát triển Biến đổi khí hậu tác động khác nhau lên mỗi khu vực địa lý, với mỗi đối tượng và nguồn sinh kế Do vậy, chỉ có dựa vào cộng đồng thì mới hiểu rõ những tác

Trang 27

động trực tiếp của biến đổi khí hậu với họ và do đó mới có các giải pháp phù hợp đặc trưng và làm lợi cho chính họ [5]

Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng là một quá trình hướng tới cộng đồng, dựa vào những ưu tiên, nhu cầu, kiến thức và khả năng của cộng đồng nhằm trao quyền cho họ trong việc lập kế hoạch để ứng phó với những tác động của BĐKH Đồng thời, thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng cố gắng tính đến tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu lên sinh kế và giảm tình trạng dễ bị tổn thương với thiên tai bằng cách sử dụng tri thức bản địa và kiến thức khoa học về biến đổi khí hậu và tác động có thể có của nó

Các nghiên cứu của Care (2014), ACD (2013) cũng nêu rõ, thích ứng dựa vào cộng đồng đòi hỏi cách tiếp cận tổng hợp, kết hợp giữa kiến thức bản địa với các chiến lược tiên tiến nhằm giải quyết tình trạng dễ bị tổn thương trong khi vẫn tăng cường năng lực thích ứng để đối mặt với những thách thức và biến động mới [1, 5]

Như vậy từ các phân tích trên có thể thấy để áp dụng cách tiếp cận này cần xuất phát từ việc tìm hiểu một cách chi tiết và sâu sắc cộng đồng ở từng vùng địa lý cụ thể, xác định năng lực, tri thức mà họ đang sỡ hữu để đề xuất các giải pháp phù hợp và khả thi Kiến thức bản địa là chìa khóa giúp hiện thực hóa thích ứng BĐKH dựa vào cộng đồng

2.1.3 Nhận xét rút ra từ nghiên cứu tổng quan

Nông lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển Ở các khu vực miền núi từ hoạt động nông lâm nghiệp đóng vai trò chính Tại Việt Nam, biến đổi khí hậu đang diễn biến theo chiều hướng phức tạp, có ảnh hưởng sâu sắc đến sản xuất nông lâm nghiệp và cộng đồng các dân tộc miền núi

Các nghiên cứu về thích ứng BĐKH đã chỉ ra kiến thức bản địa đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo mưu sinh, phát triển sinh kế và phát triển nông thôn bền vững Song song đó, việc sử dụng tri thức bản địa của cộng đồng là một trong những giải pháp hữu hiệu ứng phó với BĐKH Nhiều công trình nghiên cứu đã tổng hợp được các kiến thức bản địa của cộng đồng dân tộc trong sản xuất nông nghiệp thích ứng BĐKH như: sử dụng các giống cây trồng và vật nuôi bản địa, kỹ thuật canh tác trên đất dốc, xây dựng mô hình sản xuất, chăm sóc, bảo quản sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt ở điều kiện thời tiết khí hậu cực đoan

Trang 28

Các nghiên cứu về thích ứng với BĐKH đã nhấn mạnh giải pháp thích ứng dựa vào cộng đồng Đây được coi là giải pháp khả thi, mang tính bền vững bởi phát huy được tối đa sự tham gia, năng lực cộng đồng, và nguồn tri thức của họ Các nghiên cứu cũng đi đến thống nhất kiến thức bản địa là chìa khóa giúp hiện thực hóa thích ứng BĐKH dựa vào cộng đồng

Hiện nay các nghiên cứu về hiện tượng thời tiết cực đoan dựa KTBD vào sản xuất nông nghiệp của khu vực miền núi được đề cập rất ít Tại xã Đường Hồng – huyện Bắc Mê – tỉnh Hà Giang thì các nghiên cứu theo hướng này chưa được đề cập đến Là xã vùng cao của tỉnh Hà Giang, có trên 75% dân tộc Dao sinh sống, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn với tỷ lệ hộ nghèo cao, nguồn sinh kế chính là từ sản xuất nông lâm nghiệp, điều kiện canh tác trên đất dốc phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Với những yếu tố đó khi đối chiếu với nghiên cứu của các tổ chức, tác giả về tác động của BĐKH, có thể thấy đây là địa phương sẽ chịu tác động mạnh của quá trình BĐKH trong tương lai

Do đó, việc thực hiện đề tài sẽ góp phần bổ sung cơ sở thực tiễn cho nghiên cứu

về kiến thức bản địa, thích ứng BĐKH dựa trên kiến thức bản địa của người dân, góp phần đề xuất các giải pháp phát triển nông lâm nghiệp bền vững

Trang 29

PHẦN III: NỘI DUNG,PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của điểm nghiên cứu;

- Đánh giá hiện trạng sản xuất nông lâm nghiệp tại điểm nghiên cứu;

- Phân tích ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và hiện tượng thời tiết cực đoan đến sản xuất nông lâm nghiệp tại điểm nghiên cứu;

- Tổng hợp hoạt động ứng phó với BĐKH trong sản xuất dựa trên kiến thức bản địa của người Dao tại điểm nghiên cứu;

- Đánh giá tính thích ứng BĐKH của các mô hình sử dụng đất

- Đề xuất giải pháp phát triển sản xuất nông lâm nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa của cộng đồng dân tộc Dao

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Nghiên cứu và phân tích số liệu thứ cấp

- Nghiên cứu các văn bản pháp luật, chính sách của Nhà nước liên quan đến phát triển mô hình sản xuất, biến đổi khí hậu

- Nghiên cứu các báo cáo, công trình NCKH và các tài liệu liên quan đến biến đổi khí hậu, phát triển sản xuất, mô hình sản xuất

- Nghiên cứu và kế thừa các tài liệu về kiến thức bản địa

+ Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của địa phương

+ Các báo cáo tổng kết của địa phương, các kết quả nghiên cứu đã được công bố

có liên quan đến tình hình sử dụng đất, mô hình sản xuất của địa phương

+ Các báo cáo tổng kết hàng năm về các hoạt động sản xuất của địa phương + Kế thừa các báo cáo tổng kết có liên quan đến nội dung nghiên cứu

+ Thông tin, số liệu được thu thập từ các công trình nghiên cứu khoa học và các nghiên cứu có liên quan đến mô hình sản xuất tại điểm nghiên cứu,…

- Nghiên cứu báo cáo thiệt hại do thiên tai hàng năm của huyện, xã

- Nghiên cứu số liệu khí tượng thủy văn tại Trạm Bắc Mê tỉnh Hà Giang (từ 2008 – 2020)

- Nghiên cứu các kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam và khu vực Đông Bắc

Trang 30

- Các nghiên cứu về kiến thức bản địa và cây trồng bản địa của xã và các vùng khác trên cả nước

- Các chính sách phát triển nông nghiệp nói chung và ứng phó BĐKH của xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang

3.2.2 Chọn điểm nghiên cứu

Theo Donovan (1997), tiêu chuẩn chọn điểm nghiên cứu là: thành phần dân tộc, khả năng tiếp cận và địa hình Với đối tượng nghiên cứu là cộng đồng dân tộc Dao, đề tài chọn điểm nghiên cứu tại 2 thôn: Khuổi Hon và Tiến Minh, xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang vì:

+ Đây là 2 thôn có nhiều người dân tộc Dao sinh sống, mức sống đại diện trong

xã (về tỷ lệ hộ khá, trung bình, nghèo)

+ Khả năng tiếp cận tương đối đồng nhất

+ Địa hình của 2 thôn đại diện cho địa hình trong xã, gồm tất cả các loại hình sử dụng đất và hệ thống cây trồng vật nuôi của địa phương

3.2.3 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

Đề tài sử dụng bộ công cụ và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) để thu thập các thông tin và số liệu hiện trường cần thiết có liên quan đến nội dung nghiên cứu Cụ thể bao gồm các công cụ chính sau:

(1) Phương pháp thăm làng: nhằm khái quát về điều kiện cơ sở vật chất, con

người và tài nguyên thiên nhiên của điểm nghiên cứu để làm cơ sở cho việc thực hiện các công cụ tiếp theo Công cụ này được thực hiện ngay sau khi đến điểm nghiên cứu

và kết hợp sử dụng kỹ năng quan sát, phỏng vấn nhanh bán định hướng và ghi chép

(2) Phương pháp điều tra tuyến và xây dựng sơ đồ lát cắt: Đây là công cụ phân

tích về không gian vừa kết hợp điều tra một cách tổng quát và chuyên sâu Sơ đồ lát cắt sẽ cung cấp hình ảnh sâu sắc về tiềm năng đất đai, cây trồng vật nuôi, hiện trạng sử dụng đất của địa phương

(3) Phương pháp phân tích lịch mùa vụ: nhằm xác định lịch mùa vụ cho các loài

cây trồng chính của địa phương Sử dụng cho việc đánh giá tiềm năng và kinh nghiệm canh tác của người dân Công cụ này sẽ cho phép tìm hiểu kế hoạch gieo trồng và quan

Trang 31

(4) Biểu đồ hướng thời gian: Xây dựng các biểu đồ hướng thời gian là một công

cụ chủ yếu dùng trong PRA nhằm mục đích phân tích tình hình, sự kiện, hiện tượng của thôn, bản theo thời gian

Đề tài áp dụng công cụ này để phân tích sự biến động của các thành phần trong các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nông nghiệp theo thời gian và những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, các hiện tượng thời tiết cực đoan trong thôn bản đối với các hoạt

động đó

(5) Phương pháp phỏng vấn bán định hướng: thông qua bảng hỏi tiến hành

phỏng vấn người dân ở 2 thôn Khuổi Hon và Tiến Minh xã Đương Hồng để tìm ra các loại cây trồng vật nuôi bản địa, những kiến thức về trồng trọt và chăn nuôi của địa phương, các hiện tượng thời tiết bất thường trong những năm gần đây Đề tài phỏng vấn 2 đối tượng chính là cán bộ khuyến nông (xã, thôn) và người dân

+ Cán bộ khuyến nông (xã, thôn): Phỏng vấn về tình hình chung của địa phương, hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, tình hình biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan, tác động đến sản xuất nông lâm nghiệp, định hướng phát triển sản xuất của địa phương

+ Người dân: Đề tài tiến hành phỏng vấn 36 HGĐ người dân tộc Dao có đời sống gắn liền với sản xuất nông lâm nghiệp, đang thực hiện các mô hình sản xuất Nội dung phỏng vấn về tình hình sản xuất, kiến thức bản địa, những hiểu biết về biến đổi khí hậu

và cách thức ứng phó của các HGĐ với các hiện tượng thời tiết cực đoan

(6) Thảo luận nhóm: Mỗi nhóm bao gồm từ 5 người gồm Các nội dung thảo luận

 Tác động của BĐKH đến từng loại cây trồng và vật nuôi tại địa phương

 Các hoạt động thích ứng của cộng đồng người dân địa phương để hạn chế tác động của BĐKH

 Các kiến thức bản địa trong dự đoán thời tiết

Trang 32

 Các loại cây trồng bản địa, kỹ thuật bản địa và kinh nghiệm của người dân trong SXNLN thích ứng với BĐKH (giữ giống, làm đất, thời vụ, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, cơ cấu cây trồng, mùa vụ, )

 Đánh giá mô hình thích ứng biến đổi khí hậu theo bộ tiêu chí

(7) Phân tích SWOT: nhằm tìm hiểu những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách

thức trong sản xuất nông lâm nghiệp tại điểm nghiên cứu

3.2.4 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu

3.2.4.1 Phương pháp thống kê mô tả

- Được sử dụng để mô tả lại thực trạng sản xuất, các hiện tượng thời tiết cực đoan, lịch sử thiên tai, tình hình biến đổi khí hậu tại địa phương

- Mô tả các kiến thức bản địa của người dân trong các hoạt động sản xuất

3.2.4.2 Phương pháp phân tích so sánh

- Đây là phương pháp sử dụng nhằm thấy rõ được sự khác biệt về các yếu tố khí tượng qua từng năm, sự thay đổi về hoạt động sản xuất, hệ thống cây trồng và các mô hình sản xuất của địa phương theo thời gian

3.2.4.3 Phương pháp phân tích định tính

Dựa vào nguồn số liệu PRA, phỏng vấn sâu, để phân tích định tính kiến thức bản địa thích ứng với biến đổi khí hậu của người Dao

3.2.4.4 Phương pháp phân tích định lượng

Từ số liệu điều tra, phỏng vấn đề tài tiến hành xử lý số liệu trên Exel để lượng hóa, phân tích thông tin

Trang 33

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

Hình 4.1 Vị trí địa lý xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang

(Nguồn: Google map, 2019) 4.1.1.2 Địa hình, đại mạo

Xã Đường Hồng nằm ở độ cao trung bình từ 300 – 500m so với mặt nước biển; được chia thành 10 thôn, địa hình khá phức tạp, bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều khe sâu và dốc lớn Vì vậy, việc bố trí, tổ chức sản xuất nông nghiệp cũng như phát triển mạng lưới giao thông thủy lợi gặp nhiều khó khăn

Trang 34

4.1.1.3 Khí hậu, thủy văn

Xã có thời tiết trong năm chia thành hai mùa rõ rệt: Là mùa khô kéo dài từ tháng

11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa mưa thời tiết nóng ẩm, lượng mưa lớn, chiếm 80% lượng mưa cả năm, trong đó lượng mưa lớn nhất

ở các tháng 6, 7, 8 (bình quân trên 300mm/s), lượng mưa trung bình 1616mm Mùa khô: lượng mưa ít thường dưới 50mm/tháng, lượng bốc hơi lớn nên thường gây khô hạn, thiếu nước cho sản xuất và sinh hoạt

- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,30C

- Nhiệt độ trung bình hàng tháng cao nhất là 32,40C

- Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 12,60C

Do sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và thấp nhất là 19,80C

4.1.1.4 Tài nguyên

a Loại đất

Tại địa phương gồm có 2 loại đất chính, loại thứ nhất là nhóm đất feralit trên núi

có mầu vàng đến nâu vàng, phần lớn tầng dày trên một mét là điều kiện tốt trồng cây lâu năm và cây rừng phát triển Loại thứ 2: Nhóm đất phù sa bồi tụ ven suối, núi có độ dốc thấp, nhóm này là đất tốt cho cả cây trồng nông nghiệp và cây lâm nghiệp

Nhờ sự đa dạng của các yếu tố sinh thái, địa hình và thổ nhưỡng mà hệ động thực vật trên địa bàn khá đa dạng và phong phú, là nơi hội tụ của các loài động thực vật Đối với rừng sản xuất, cây trồng chủ yếu là cây Mỡ, Sa mộc, Xoan, Keo trữ lượng rừng thuộc mức trung bình, rừng gỗ hiện nay thuộc loại rừng non và rừng nghèo

c Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt chủ yếu phụ thuộc vào chế độ nước tự nhiên của hệ thống suối, dòng chảy không ổn định, lưu lượng nước không đều trong hai mùa, mùa mưa có lưu lương dòng chảy lớn, mùa khô lưu lượng dòng chảy nhỏ, hạn chế việc cung cấp nước Bên cạnh đó, nguồn nước ngầm trữ lượng ít, khó khăn trong việc khai thác

Trang 35

Là xã đặc biệt khó khăn, địa hình phức tạp, đất dốc, ruộng bậc thang, hệ thống thủy lợi chủ yếu là tự chảy, không có trạm bơm Các nguồn nước là các khe suối, thường cạn nước về mùa khô, bị lũ quét lũ ống tàn phá vào mùa mưa Diện tích tưới manh mún, nhỏ hẹp Số đập kênh mương thủy lợi được kiên cố còn ít, chủ yếu là đập tạm, mương đất Hàng năm phải tu sửa rất tốn kém

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Toàn xã có 10 thôn, năm 2019 có 865 hộ với 4376 khẩu; tổng số người trong độ tuổi lao động là: 2958 người, chủ yếu là lao động thuần nông (chiếm 90%) Tỷ lệ lao động qua bồi dưỡng đạt 11,75% Nhìn chung địa phương có nguồn nhân lực dồi dào, nhưng chất lượng thấp

Xã có 4 dân tộc cùng sinh sống, đa số là dân tộc Dao (chiếm trên 75 %), còn lại

là dân tộc khác như Tày (chiếm 20%) Nùng, Kinh Thành phần các dân tộc xã Đường Hồng thể hiện ở biểu đồ 2.1

(Nguồn: UBND xã Đường Hồng, 2019)

Biểu đồ 4.1 Thành phần các dân tộc xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang

Dân tộc Dao đã sống từ lâu đời và có nhiều kiến thức về kỹ thuật sản xuất nông lâm nghiệp, đặc biệt là những kiến thức bản địa trong trồng trọt và chăn nuôi Người Kinh là người có nguồn gốc từ nơi khác đến buôn bán và cư trú ở nơi đây đã nhiều năm nhưng không làm ảnh hưởng tới cách sản xuất của người dân bản địa Tiếng nói chung để giao lưu giao dịch trong địa bàn xã chủ yếu là tiếng Dao, Tày, tiếng phổ thông (tiếng Việt)

Tỷ lệ hộ nghèo của xã năm 2019 là 41,27% Hộ cận nghèo còn nhiều, khả năng tái nghèo cao, số hộ nằm sát trên chuẩn nghèo còn khá lớn và nếu gặp thiên tai, rủi ro,

Trang 36

thay đổi của cơ chế chính sách và tác động leo thang của giá cả thị trường thì khả năng tái nghèo của nhóm này là rất cao

Đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn với hơn 90% số hộ dân có nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp, sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, tự cung tự cấp và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên

Đường Hồng còn nhiều phong tục tập quán mang đậm bản sắc dân tộc Tất cả những di tích lịch sử văn hóa, phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, hiện đang giữ gìn, tôn tạo, quảng bá sẽ là cơ hội phát triển du lịch

4.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm cơ bản của điểm nghiên cứu

Qua quá trình nghiên cứu về đặc điểm cơ bản của địa phương đề tài rút ra một số nhận xét sau:

4.1.3.1 Khó khăn

Giao thông đi lại còn khó khăn, đường đi thôn bản chưa được bê tông hóa và địa hình bị chia cắt mạnh làm cho việc khai thác, trao đổi hàng hóa nông lâm sản và đi lại của người dân rất khó khăn đặc biệt là mùa mưa lũ

Người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc áp dụng khoa học, tiến bộ kỹ thuật

và cơ giới hóa trong sản xuất nông lâm nghiệp là do nguồn lao đông chưa qua đào tạo làm việc trong lĩnh vực này là chủ yếu, địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh cũng là nguyên nhân khó áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông lâm nghiệp tại địa phương

Trang 37

Nắng nóng khô hạn kéo dài dẫn đến thiếu nước trong sản xuất nông lâm nghiệp

và chăn nuôi Mùa đông lạnh kéo dài nhiệt độ xuống thấp từ 0 – 30C làm cho cây trồng không phát triển, gia súc gia cầm bị chết Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiên nay, các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất cao cường độ tàn phá ngày càng mạnh làm cho người dân gặp nhiều khó khăn trong việc ứng phó và thích nghi với sự biến đổi đó

Như vậy, qua tìm hiểu về điều kiện cơ bản của địa phương có thể thấy xã Đường Hồng xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê có những thuận lợi và không ít khó khăn trong sản xuất và phát triển kinh tế hộ Người Dao là cộng đồng dân tộc thiểu số sống lâu đời tại đây, có đời sống phụ thuộc vào sản xuất nông lâm nghiệp, đời sống còn nhiều khó khăn, với tỷ lệ hộ nghèo cao đã và đang chịu nhiều tác động của BĐKH

4.2 HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP TẠI ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Đất đai ở xã Đường Hồng được chia thành 3 nhóm đối tượng chính Trong đó, đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn hơn là 88%; nhóm đất chưa sử dụng chiếm khoảng

7%; nhóm đất phi nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 4% tổng diện tích tự nhiên của xã Hiện trạng sử dụng đất và chi tiết các loại đất nông nghiệp năm 2019 của xã được thể hiện ở biểu đồ 2.2 dưới đây

Qua kết quả tổng hợp ở biểu đồ 2.2 cho thấy: Trong 88% diện tích đất nông nghiệp, thì diện tích đất lâm nghiệp chiếm khoảng 62% là điều kiện thuận lợi cho xã phát triển lâm nghiệp để nâng cao đời sống cho nhân dân; diện tích đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm khoảng gần 30% Hiện trạng các loài cây trồng nông, lâm nghiệp và vật nuôi chính của xã được tổng hợp ở các biểu đồ 2.3, 2.4, 2.5 dưới đây

Trang 38

Biểu đồ 4.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2019 ở xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang

(Nguồn: UBND xã Đường Hồng, 2019)

Trang 39

Biểu đồ 4.3 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp năm 2019 của xã Đường Hồng

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ báo cáo UBND xã Đường Hồng, 2019)

Biểu đồ 4.4 Hiện trạng sản xuất lâm nghiệp năm 2019 của xã Đường Hồng

(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ báo cáo UBND xã Đường Hồng, 2019)

Biểu đồ 4.5 Tình hình chăn nuôi gia súc năm 2019 của xã Đường Hồng

376.2

515.5

0100200300400500600

Trang 40

Từ kết quả điều tra hiện trạng sản xuất nông lâm nghiệp của địa phương cho thấy:

- Hiện trạng sản xuất nông lâm nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế, cũng là sinh kế chính của cộng đồng với 90% số hộ sống phụ thuộc vào sản xuất nông lâm nghiệp và chăn nuôi

- Hiện tại xã đang có các chương trình, định hướng cho người dân phát triển nông lâm nghiệp và chăn nuôi tại địa phương bao gồm:

- Chương trình hố trợ cho các hộ dân vay vốn không lãi suất trong 3 năm đầu

để phát triển chăn nuôi trâu bò và dê;

- Chương trình hỗ trợ 50% chi phí xây dưng chuồng trại trâu, bò, dê và lợn;

- Hỗ trợ 25% tiền mua giống ngô cho người dân;

- Xã định hướng cho người dân phát triển nông lâm nghiệp và chăn nuôi theo hướng hàng hóa, trang trại hộ gia đình

4.2.1 Kết quả điều tra tuyến và vẽ sơ đồ lát cắt điểm nghiên cứu

Qua quá trình nghiên cứu tại địa phương, chúng tôi đã xác định được hiện trạng sản xuất nông lâm nghiệp tại xã Đường Hồng qua sơ đồ lát cắt dưới đây:

Ngày đăng: 31/05/2021, 13:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm