1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao năng lực quản lý khai thái hệ thống công trình của công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi hà nội

110 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Hình 1.1: Mô hình tổ chức và quản lý hệ thống thủy nông tỉnh

  • Hình 2.2 : Sơ đồ bộ máy tổ chức công ty TNHH một thành viên đầu tư phát triển thủy lợi Hà Nội

  • Hình 2.3: Sơ đồ về nguyên nhân công trình thủy lợi xuống cấp

  • Hình 2.4: Sơ đồ Bộ máy quản lý, khai thác công trình thủy lợi

  • Hình 3.1: Sơ đồ Quy trình lập kế hoạch

Nội dung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu a Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý khai thác các công trình thủy lợi b Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Dựa trên lý luận khoa học và thực tiễn v

TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ, KHAI THÁC HỆ THÔNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

Một số khái niệm

1.1.1 Hệ thống công trình thủy lợi

Thủy lợi là một thuật ngữ, tên gọi truyền thống của việc nghiên cứu khoa học công nghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai Ngoài ra, thủy lợi còn có tác dụng chống lại sự cố kết đất Thủy lợi thường được nghiên cứu cùng với hệ thống tiêu thoát nước, hệ thống này có thể là tự nhiên hay nhân tạo để thoát nước mặt hoặc nước dưới đất của một khu vực cụ thể

Thủy lợi theo nghĩa chung nhất là những biện pháp nhằm khai thác tài nguyên nước một cách hợp lý nhằm mang lại lợi ích cho cộng đồng Những biện pháp khai thác nước bao gồm: khai thác nước mặt và nước ngầm thông qua các hệ thống bơm hoặc cung cấp nước tự chảy Sử dụng tài nguyên nước một cách hợp lý có nghĩa là tận dụng những đặc tính hữu ích mà nó mang lại, mặt khác đấu tranh phòng chống và hạn chế những thiệt hại do nước gây ra đối với sản xuất và đời sống Những lợi ích mà nguồn nước đem lại vô cùng to lớn và có ý nghĩa đặc biệt trong phát triển kinh tế, phục vụ đời sống dân sinh, bao gồm nước dùng cho phát triển nông nghiệp (trồng trọt, nuôi trồng thủy sản…), phát triển tiểu – thủ công nghiệp, phục vụ sinh hoạt, tạo cảnh quan phát triển du lịch, cải tạo môi trường sinh thái…

Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại

Hệ thống công trình thủy lợi: Bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định

1.1.2 Quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi

Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát

Khai thác là tổng hợp những hoạt động để những sản vật có sẵn trong tự nhiên, những đối tượng nhân tạo được sử dụng một cách hợp lý nhằm tận dụng hết khả năng tiềm tàng vào phục vụ mục đích của con người

Vậy Quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi là bao gồm những công việc sau:

- Lập kế hoạch: Là một hoạt động của quá trình quản lý mà con người cần hướng vào mục tiêu để đạt được mục đích chung của công trình thủy lợi

- Tổ chức: Là quá trình hoạt động liên quan đến mục tiêu, kế hoạch và xác định trao trách nhiệm quyền quản lý cho các tổ chức cá nhân để có hiệu quả nhất

- Điều hành: Là những hoạt động để xác định phạm vi, quyền hạn ra quyết định, phân bổ và sử dụng các nguồn lực hợp lý, tăng cường quản lý có sự tham gia của cộng đồng và đảm bảo đúng mức độ, mục đích phục vụ của các công trình thủy lợi

- Động cơ thúc đẩy: Nhằm tìm ra được những mặt lợi để thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý sử dụng các công trình thủy lợi có hiệu quả nhất

- Kiểm soát và theo dõi: Là một quá trình theo dõi và đánh giá các kết quả đạt được từ các công trình thủy lợi

1.1.3 Năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi

Năng lực là tổ chức các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng đạt kết quả Năng lực hình thành và bộc lộ trong hoạt động gắn với một hoạt động cụ thể và chịu sự chi phối của môi trường, tính chất hoạt động, và khả năng của cá nhân

Năng lực quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi là khả năng tổ chức, chỉ đạo, triển khai thực hiện, thanh tra kiểm soát hoạt động khai thác các công trình thủy lợi nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân, tổ chức và xã hội.

Các yếu tố thể hiện năng lực quản lý khai thác các công trình thủy lợi

a Yếu tố tổ chức quản lý và sử dụng:

Là hình thức tổ chức quản lý và sử dụng công trình thủy lợi dưới hình thức hợp tác xã dùng nước hay nhóm hộ dùng nước, sự kết hợp giữa quản lý của chính quyền địa phương với cộng đồng, sự đồng nhất giữa người quản lý và người sử dụng công trình Các bộ phận chuyên môn trong đơn vị quản lý (phòng)

Trình độ quản lý, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý và trình độ nhận thức của nông dân, cụ thể

Một là: Cộng đồng trực tiếp hưởng lợi từ các công trình không được trao quyền quản lý và sử dụng một cách chính thức Mặc dù trong những năm gần đây, mô hình chuyển giao quyền quản lý công trình thủy nông đặc biệt là các công trình thủy nông vừa và nhỏ

Hai là: Quy chế huy động cộng đồng có vai trò quan trọng của cộng đồng ngay từ giai đoạn khảo sát thiết kế cho đến khi kết thúc và đi vào sử dụng công trình Bên cạnh đó không có sự tham gia đầy đủ, không phát huy được tính tự giác của cộng đồng trong việc quản lý và sử dụng công trình:

- Khảo sát thiết kế: Cán bộ thiết kế chưa nghiên cứu kỹ càng địa chất tại các công trình và không có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại địa điểm công trình được xây dựng Do tác động của nước tới công trình nên khi công trình hoàn thiện đưa vào sử dụng đã xẩy ra tình trạng vỡ lở ở hệ thống kênh bê tông Từ đó làm hạn chế hiệu quả sử dụng của công trình Trong giai đoạn khảo sát thiết kế, cho phép khai thác các hiểu biết bản địa thì sự tham gia của cộng đồng hưởng lợi là rất quan trọng, làm cơ sở cho các giải pháp kỹ thuật của công trình

- Yếu tố kỹ thuật: Kỹ thuật có tác động rất lớn đến việc quản lý và sử dụng các công trình thủy nông Muốn nâng cấp và làm mới công trình cần phải áp dụng các công nghệ làm sao cho phù hợp với điều kiện làm việc cụ thể của từng công trình từ đó việc nâng cấp, xây mới phục vụ hiệu quả và lâu dài hơn như việc phục vụ tưới tiêu tự chảy, bơm đẩy, tưới tràn

- Quản lý chất lượng: Như đã phân tích ở trên thì yếu tố này cũng làm giảm hiệu quả quản lý và sử dụng công trình thủy nông một cách rõ rệt

Ba là: Sự tham gia và ý thức bảo vệ công trình của cộng đồng hưởng lợi Đây là một trong những yếu tố thể hiện năng lực quản lý và sử dụng các công trình, bởi vì cộng đồng là những người trực tiếp hưởng lợi từ các công trình Nếu phát huy được những mô hình tổ chức thủy nông cơ sở phù hợp với từng vùng, miền và giải pháp để phát triển bền vững cùng với sự phối hợp quản lý và sử dụng của cộng đồng hưởng lợi thì hiệu quả công trình sẽ được nâng cao b Trình độ chuyên môn:

Trong quá trình quản lý khai thác các công trình đây được coi là một điều kiện kiên quyết Hiện nay được thể hiện cụ thể bằng Nghị định 67/NĐ-CP ngày 14/5/2018 của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thô về Quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi, như: Cần bao nhiêu người có trình độ kỹ sư, cao đẳng hay trung cấp cho các đội ngũ quản lý, vận hành hệ thống công trình thủy lợi, quản lý vận hành hồ đập, quản lý thủy nông cơ sở c Trang thiết bị, máy móc: Để nâng cao công tác quản lý, theo dõi, vận hành các công trình đạt hiệu quả cao cần phải được đầu tư nâng cấp, hoàn thiện hệ thống và các trang thiết bị quan trắc, công nghệ để nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm về lũ, hạn, mặn, v.v tăng cường năng lực điều hành hệ thống thủy lợi bằng trang thiết bị hiện đại, đồng bộ bảo đảm an toàn công trình, giảm thiểu thiệt hại nhất là thời đại công nghệ 4.0 như: Công nghệ không gian, ảnh vệ tinh, viễn thám, trạm quan trắc, máy tính, phần mềm

Nội dung công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi

1.3.1 Các mô hình quản lý

Theo số liệu của Tổng Cục Thuỷ lợi, hiện nay cả nước có 96 Công ty khai thác công trình thuỷ lợi (trong đó có 3 công ty liên tỉnh trực thuộc Bộ NN&PTNT, còn lại là các Công ty trực thuộc UBND cấp tỉnh), một số tổ chức sự nghiệp và hàng vạn Tổ chức hợp tác dùng nước (TCHTDN) Trong những năm qua, tiếp tục thực hiện lộ trình sắp xếp, đổi mới hoạt động của doanh nghiệp các địa phương tiếp tục đổi mới, kiện toàn các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và củng cố tổ chức hoạt động của các tổ chức hợp tác dùng nước Một số tỉnh đã kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thuỷ lợi như Thừa Thiên Huế, Hà Giang, Bắc Cạn, Phú Yên đã thành lập các Chi cục Thuỷ lợi hoặc kiện toàn về tổ chức như Quảng Ngãi Các địa phương khác chưa có Chi cục Thuỷ lợi cũng đang trong quá trình xây dựng Đề án thành lập Chi cục Thuỷ lợi Các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi (KTCTTL) thường xuyên chịu tác động của các chủ trương, chính sách mới, dẫn đến việc thường xuyên đưa vào diện được xem xét tách, nhập, tổ chức lại Một số tỉnh đã thực hiện đổi mới, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp KTCTTL (nay chủ yếu chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV thủy lợi) trong tỉnh như TP.Hà Nội sau khi sáp nhập còn 5 doanh nghiệp KTCTTL liên huyện: Sông Đáy, Sông Tích, Sông Nhuệ, Mê Linh và Hà Nội; tỉnh Hải Dương sát nhập các Công ty KTCTTL huyện thành Công ty KTCTTL tỉnh

1.3.2 Công tác quản lý công trình

Quản lý công trình: Kiểm tra, theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố trong hệ thống công trình thủy lợi, đồng thời thực hiện tốt việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp công trình, máy móc, thiết bị; bảo vệ và vận hành công trình theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo công trình vận hành an toàn, hiệu quả và sử dụng lâu dài Cụ thể:

- Sử dụng công trình: Dựa vào tình hình và đặc điểm công trình, điều kiện dự báo khí tượng thủy văn và nhu cầu nước trong hệ thống bộ phận quản lý phải xây dựng kế hoạch lợi dụng nguồn nước Trong quá trình lợi dụng tổng hợp cần phải có tài liệu dự báo khí tượng thủy văn chính xác để nắm vững tình hình và xử lý linh hoạt nhằm đảm bảo công trình làm việc an toàn;

- Công tác quan trắc: Cần tiến hành quan trắc thường xuyên, toàn diện Nắm vững quy luật làm việc và những diễn biến của công trình đồng thời dự kiến các khả năng có thể xảy ra Kết quả quan trắc phải thường xuyên đối chiếu với tài liệu thiết kế công trình để nghiên cứu và xử lý;

- Công tác bảo dưỡng: Cần thực hiện chế độ bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ thật tốt để công trình luôn làm việc trong trạng thái an toàn và tốt nhất Hạn chế mức độ hư hỏng các bộ phân công trình;

- Công tác sửa chữa: Phải sửa chữa kịp thời các bộ phận công trình hư hỏng, không để hư hỏng mở rộng, đồng thời sửa chữa thường xuyên, định kỳ;

- Công tác phòng chống lũ lụt, hạn hán: Trong mùa mưa, bão hay mùa hè cần tổ chức phòng chống, chuẩn bị đầy đủ các nguyên vật liệu cần thiết và chuẩn bị các phương án ứng cứu đối phó kịp thời với các sự cố xảy ra

1.3.3 Công tác quản lý nước Điều hòa phân phối nước, tiêu nước công bằng, hợp lý trong hệ thống công trình thủy lợi, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh, môi trường và các ngành kinh tế quốc dân khác

Cần có một kế hoạch dùng nước cụ thể để đảm bảo công trình làm việc đúng theo chỉ tiêu thiết kế, an toàn và kéo dài thời gian phục vụ, đồng thời gắn việc sử dụng nước với công tác quản lý hệ thống công trình vào nề nếp, tạo dựng tác phong làm việc kiểu công nghiệp Bên cạnh xây dựng kế hoạch dùng nước còn cần phải thực hiện ký kết hợp đồng giữa đơn vị cấp nước và đơn vị, cá nhân nhận nước, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và bảo vệ môi trường nước

Các đơn vị quản lý khai thác hệ thống tưới - tiêu nhận đặt hàng, giao kế hoạch là “diện tích (ha) hoặc mét khối (m3) được tưới nước, tiêu nước và cấp nước” Để xác định chính xác đã tưới/tiêu bao nhiêu m3 nước cần phải xây dựng các công trình kiểm soát, đo đạc nguồn nước trong hệ thống tưới tiêu đầy đủ, đồng bộ và chuẩn hóa Hiện nay nhiều hệ thống còn dùng phao để đo lưu lượng, đa số các hệ thống đều chưa hoàn thiện quy trình quản lý vận hành, việc hướng dẫn, quy định cho công tác quan trắc và kiểm soát nguồn nước còn chưa thật chặt chẽ Ví dụ: theo yêu cầu kỹ thuật cần bố trí công trình đo nước, thiết bị đo nước tại “Thượng, hạ lưu cống lấy nước vào hệ thống, cống đập điều tiết (đầu mối và trên kênh), công trình phân phối nước cho từng hộ dùng nước”, dễ gây hiểu không chính xác, vì số lượng bố trí công trình này trên hệ thống có thể rất nhiều hoặc rất ít, không tạo thuận lợi cho việc áp dụng Ngoài ra, việc quản lý, theo dõi, sổ sách ghi chép, số liệu quan trắc, phân phối nước trên hệ thống không được làm đầy đủ và thường xuyên: các số liệu về nước được đo đạc tại các Cụm, Trạm, ghi chép và lưu trữ ngay tại Cụm, Trạm và báo cáo về công ty hàng ngày, nhưng các số liệu này mới được lưu trữ ở dạng văn bản ghi chép, chưa có các hướng dẫn hay quy định để các đơn vị quản lý tổng hợp, phân tích, số hóa, tính toán hay sử dụng để xây dựng kế hoạch sản xuất, đánh giá hiệu quả quản lý và vận hành của các cụm trạm, hiệu quả hoạt động của đơn vị…Từ đó hoạt động Quản lý nước tưới tiêu không phản ánh được hiện trạng sử dụng và nhu cầu nâng cao mức thâm canh, hiện trạng cấp nước và hiệu quả sử dụng nước của hệ thống Công tác theo dõi, đánh giá không phản ánh được sự thỏa mãn nhu cầu sử dụng nước, tính kịp thời, công bằng, năng lực phân phối nước trực tiếp tới mặt ruộng/năng lực của hệ thống kênh mương

1.3.4 Công tác quản lý kinh doanh

Xây dựng mô hình tổ chức hợp lý để quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tài sản và mọi nguồn lực được giao nhằm thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ khai thác, bảo vệ công trình thủy lợi, kinh doanh tổng hợp theo quy định của pháp luật

Mô hình tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi bao gồm hai khối: Nhà nước và Nhân dân được phân chia thành ba cấp: Nhà nước (Công ty TNHH MTV nhà nước sở hữu 100% vốn, các công ty khác), tập thể (tổ chức hợp tác dùng nước), các hộ nông dân.

Các tiêu chí đánh giá năng lực quản lý khai thác công trình thủy lợi

Hiệu quả của tổ chức bộ máy được xác định bởi hai yếu tố:

- Tổ chức bộ máy khoa học

- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

 Tính khoa học của tổ chức bộ máy được thể hiện qua các đặc tính:

- Khách quan: tính pháp lý của tổ chức bộ máy

- Hợp lý: cơ cấu tổ chức bộ máy

- Đồng bộ: mối tương quan giữa yêu cầu chức năng, nhiệm vụ với việc bố trí lao động

- Hiệu quả Để đạt được những yêu cầu trên, một trong những yếu tố quan trọng là phải xác định được chức năng, nhiệm vụ của tổ chức bộ máy, xác định số phòng ban, biên chế cần thiết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trên cơ sở tiêu chuẩn hoá theo chức danh đối với cán bộ công chức Mỗi cán bộ, công chức phải có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, ngoại ngữ tương ứng để đảm nhận công việc mà bộ máy tổ chức yêu cầu Việc xác định chức danh cán bộ, công chức thực chất là phân công cán bộ, công chức theo vị trí lao động trong bộ máy và xác định trách nhiệm, thẩm quyền trước bộ máy và pháp luật

 Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức:

Trong thực tiễn ngành nào, đơn vị nào quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất tốt, đủ năng lực hoạt động thì ngành đó, đơn vị đó hoạt động hiệu quả Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phải được tiến hành chặt chẽ: đánh giá đúng thực trạng trình độ, năng lực cán bộ, công chức đồng thời có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức mà cán bộ đang yếu, đang thiếu

1.4.2 Mức độ hoàn thiện của các kế hoạch

Trên thực tế, khái niệm tiêu chí thường được sử dụng để kiểm định hay để đánh giá một đối tượng, bao gồm các yêu cầu về chất lượng, mức độ, hiệu quả, khả năng tuân thủ các quy tắc và quy định, kết quả cuối cùng và tính bền vững của các kết quả đó Khái niệm “tiêu chí” còn được sử dụng làm căn cứ để đánh giá, xếp loại, phân loại một sự vật, hiện tượng nào đó

Mỗi tiêu chí có thể bao gồm một hoặc nhiều chỉ số kiểm định, đánh giá để xác định được kết quả định lượng cụ thể thông qua các cấp độ chất lượng từ thấp đến cao của tiêu chí cụ thể Tiêu chí luôn được xác định trước làm cơ sở khi tiến hành đánh giá, xếp loại hay phân loại một sự vật, hiện tượng Tiêu chí được sử dụng hầu hết trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, tùy thuộc vào mục đích, tính chất của việc đánh giá, phân loại mà việc xây dựng tiêu chí được quy định theo các bước khác nhau

Trong hoạt động quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng, khái niệm “đánh giá” được hiểu là việc xem xét theo định kỳ một cách hệ thống và khách quan kết quả đạt được của đối tượng đánh giá, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chí đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động Như vậy, đánh giá không đơn thuần là sự ghi nhận thực trạng mà còn là đề xuất những quyết định làm thay đổi thực trạng Vì thế, đánh giá được xem là một khâu rất quan trọng, đan xen với các khâu kế hoạch và triển khai Đánh giá còn là xem xét tính phù hợp, hiệu quả, hiệu suất, ảnh hưởng và tính bền vững của đối tượng được đánh giá

Mục đích của việc đánh giá là để xác định tính phù hợp và mức độ hoàn thành của kết quả đạt được so với các mục tiêu, tính hiệu quả, những tác động khác của kết quả Quá trình đánh giá cần cung cấp thông tin trung thực, khách quan và hữu ích, cho phép lồng ghép những bài học kinh nghiệm vào quá trình ra quyết định của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý

Ngân hàng thế giới đã đưa ra một quan niệm về đánh giá khá rõ ràng, theo đó “Đánh giá là hoạt động đánh giá một cách có hệ thống và khách quan về một dự án, chương trình hay chính sách đang triển khai hoặc đã hoàn thành, bao gồm đánh giá thiết kế, việc thực hiện và kết quả Mục đích đánh giá là tính phù hợp và việc thực hiện các mục tiêu, hiệu suất phát triển, hiệu quả, tác động và sự bền vững Một hoạt động đánh giá cần phải đem lại những thông tin đáng tin cậy và hữu dụng, giúp tổng hợp các bài học kinh nghiệm vào quá trình ra quyết định…”

Như vậy, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện kế hoạch có thể hiểu là nội dung yêu cầu được xác định trước làm căn cứ, cơ sở để xem xét theo định kỳ một cách hệ thống và khách quan về khả năng đáp ứng của kết quả đối với yêu cầu cần đạt được Để đánh giá mức độ hoàn thiện kế hoạch của công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi thì nên theo 2 tiêu chí phần trăm hoàn thành và chất lượng hoàn thành kế hoạch đề ra Phần trăm hoàn thành được dùng để đánh giá lượng còn chất lượng hoàn thành để đánh giá chất Nếu thiếu một trong hai tiêu chí này thì việc đánh giá cũng không đạt hiệu quả, bởi nếu làm chỉ chú trọng về tăng lượng nước phục vụ cho người dân, mà không để ý đến chất lượng nguồn nước, chất lượng công trình thủy lợi thì kế hoạch cũng được đánh giá là thất bại

1.4.3 Mức độ lãnh đạo thực hiện hoàn thành kế hoạch và đảm bảo đúng mức độ, mục đích phục vụ của các công trình thủy lợi

Mức độ lãnh đạo thực hiện được đánh giá qua mức độ hoàn thành các tiêu chí sau:

- Thiết lập tầm nhìn cho tổ chức: Thông thường nhân tố này bị xem là mông lung, song thực tế cho thấy tầm nhìn chính là ngọn hải đăng chỉ đường cho mỗi tổ chức Không có tổ chức nào có tầm nhìn kém, không có tầm nhìn rõ ràng hay thậm chí không có tầm nhìn lại thành công trong thực tế

- Tập hợp quần chúng: Mức độ tập hợp được quần chúng, mức độ làm cho họ thấu hiểu, thích thú, đam mê và tin tưởng Quần chúng trong trường hợp nào cũng là nền tảng cho thành công

- Cổ vũ, động viên toàn bộ đội ngũ: Công việc quản lý thường làm cho các thành viên bị ức chế và cảm thấy mất động lực hành động Chính vì vậy sự cổ vũ, động viên của lãnh đạo lại càng cần thiết

- Xây dựng chiến lược cho tổ chức: Đây là công việc hay bị bỏ qua song lại rất cần thiết

- Ra quyết định: Là bước quan trọng nhất, song lại chỉ là kết quả của cả một quá trình

- Tạo ra những sự thay đổi: Tình hình bên ngoài luôn có những biến động; bao gồm cả môi trường toàn cầu, biến động kinh tế toàn cầu đến tình hình quốc gia, tình hình của cả ngành kinh doanh đó Kết hợp với thay đổi của các nhân tố nội tại công ty đòi hỏi có sự thay đổi và lãnh đạo cần phải là người tạo ra thay đổi đó

- Tạo dựng môi trường làm việc lành mạnh: Cần hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ Có vô số công ty đã thành công trong kinh doanh Song các thành công không tính đến các nhân tố phát triển bền vững sẽ đều phải trả giá sớm muộn

1.4.4 Mức độ kiểm soát các quá trình

Kiểm soát: Là một quá trình theo dõi và đánh giá các kết quả đạt được từ các công trình thủy lợi

Hoạt động kiểm soát cần được thực hiện thường xuyên để phát hiện kịp thời quá trình quản lý khai thác công trình thủy lợi đạt kết quả tốt nhằm khen thưởng động viên kịp thời, ngược lại nhanh chóng đưa ra các giải pháp cải thiện, nâng cao hiệu quả

Tiêu chí đánh giá mức độ kiểm soát các quá trình:

- Mức độ thường xuyên nắm bắt tình hình, thu thập thông tin và thông báo kịp thời, đầy đủ và chính xác cho lãnh đạo để ra quyết định

- Thực hiện báo cáo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo, ban ngành liên quan về tình hình, kết quả hoạt động kinh doanh, vấn đề tài chính của tổ chức và việc thực hiện các nhiệm vụ được giao

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý khai thác các công trình thủy lợi

1.5.1 Nhóm nhân tố chủ quan a) Chậm đổi mới theo cơ chế thị trường, duy trì quá lâu cơ chế bao cấp trong quản lý khai thác công trình thủy lợi

Hiện nay, trên 90% doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi trên cả nước hoạt động theo phương thức giao kế hoạch công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi Cơ chế này một mặt thiếu công cụ giám sát cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, mặt khác hạn chế quyền tự chủ của doanh nghiệp Đây là nguyên nhân dẫn tới chất lượng quản trị của doanh nghiệp yếu kém, bộ máy cồng kềnh, năng suất lao động thấp, số lượng cán bộ, công nhân viên có xu thế ngày càng tăng; hệ thống công trình thủy lợi bị xuống cấp nhanh; chất lượng cung cấp dịch vụ thấp; thiếu cơ chế để phát huy tiềm năng, lợi thế về đất đai, nước, cơ sở hạ tầng và các nguồn lực khác của tổ chức quản lý khai thác để tăng nguồn thu Nhiều hệ thống công trình thủy lợi có tiềm năng khai thác để cấp nước sạch nông thôn, cấp và tiêu thoát nước đô thị, công nghiệp, dịch vụ cũng như cho nông nghiệp công nghệ cao nhưng đã không được tận dụng triệt để Phương thức hoạt động như vậy dẫn tới cơ chế tài chính thiếu bền vững, chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước Đồng thời, cơ chế bao cấp đã hạn chế thu hút đầu tư từ khu vực tư nhân, hạn chế cơ chế cạnh tranh cho đầu tư xây dựng, quản lý khai thác công trình b) Quản lý thủy nông cơ sở chưa phát huy được vai trò chủ thể và quyết định của người dân, sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương

Việc thành lập và hoạt động của tổ chức thủy nông cơ sở còn mang nặng tính áp đặt, thiếu sự tham gia chủ động, tích cực của người dân Đây là nguyên nhân quan trọng, cơ bản nhất khiến nhiều tổ chức thiếu bền vững

Chưa làm rõ chủ trương miễn, giảm thủy lợi phí của nhà nước làm cho một bộ phận cán bộ, người dân coi công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi là nhiệm vụ của nhà nước dẫn tới tư tưởng trông chờ ỷ lại vào nhà nước, sử dụng nước lãng phí

Việc hỗ trợ người dân thông qua chính sách miễn, giảm thủy lợi phí là cần thiết nhưng phương thức chi trả theo hình thức gián tiếp (phần lớn cấp bù qua doanh nghiệp), nên chưa gắn kết được trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ với người hưởng lợi, giảm tiếng nói, vai trò giám sát của người dân trong dịch vụ cung cấp nước đồng thời tạo tâm lý sử dụng nước lãng phí

Mô hình tổ chức và cơ chế quản lý bất cập hiện nay đã hạn chế sự tham gia của các thành phần kinh tế và người hưởng lợi trong quản lý khai thác công trình thủy lợi Các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là người dân chưa được tạo điều kiện, cơ chế để tham gia

Chính quyền cấp xã và các tổ chức đoàn thể cơ sở chưa quan tâm đến quản lý công trình thủy lợi, mà coi đó là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn Nhiều công trình thủy lợi phân cấp cho xã quản lý nhưng không có chủ quản lý thực sự c) Khoa học công nghệ chưa bám sát yêu cầu sản xuất, thiếu động lực áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nguồn nhân lực còn hạn chế

Khoa học công nghệ mặc dù được quan tâm đầu tư rất nhiều bằng nguồn lực trong nước và quốc tế nhưng việc áp dụng và hiệu quả hạn chế: Khoa học công nghệ chưa bám sát hoặc dự báo đúng nhu cầu thực tế, chậm áp dụng công nghệ tiên tiến trong dự báo hạn, úng, xâm nhập mặn, hỗ trợ ra quyết định trong phòng chống thiên tai; nguồn lực phân tán, dàn trải, năng lực công nghệ không được nâng cao, không được đơn vị sản xuất chấp nhận Số lượng đề tài khoa học công nghệ có kết quả ứng dụng vào sản xuất rất thấp (20-30%), hoặc chỉ được áp dụng trong phạm vi hẹp, không có tác động lớn cho phát triển thủy lợi; còn nặng về công nghệ, xem nhẹ nghiên cứu nâng cao năng lực thể chế, làm luận cứ cho xây dựng cơ chế, chính sách Hiệu quả hợp tác quốc tế trong việc ứng dụng, học tập kinh nghiệm quốc tế về quản lý khai thác công trình thủy lợi còn thấp

Cơ chế quản lý không tạo được động lực và nhiều lúc còn là rào cản cho việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đặc biệt là các dự án đầu tư công Việc nghiên cứu cơ chế, chính sách tạo động lực, đổi mới công tác quản lý khai thác, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý, vận hành công trình thủy lợi chưa được quan tâm đúng mức, nhất là kỹ thuật sử dụng nước tiết kiệm d) Cải cách thể chế, cải cách hành chính chậm, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao

Quản lý khai thác công trình thủy lợi chủ yếu vẫn thực hiện theo cơ chế bao cấp, với hình thức giao kế hoạch, theo cơ chế cấp phát - thanh toán không gắn với số lượng, chất lượng sản phẩm nên việc hạch toán kinh tế chỉ mang tính hình thức, gây nên sự trì trệ, yếu kém trong quản lý khai thác công trình thủy lợi Vai trò của các cơ quan chuyên ngành mờ nhạt trong khi cơ quan cấp phát không chịu trách nhiệm đến kết quả cuối cùng, chưa tạo sự chủ động cho tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi Phân phối lương không dựa vào kết quả làm bộ máy cồng kềnh, năng suất lao động thấp

Thiếu cơ chế chính sách tạo động lực để người dân tham gia xây dựng, quản lý khai thác công trình thủy lợi nội đồng Thiếu cơ chế, động lực để thu hút nguồn nhân lực có trình độ, chất lượng cao Thiếu thể chế ràng buộc quyền lợi và trách nhiệm của người đứng đầu với hiệu quả sử dụng tiền vốn, tài sản, lao động của nhà nước

Phân giao nhiệm vụ quản lý Nhà nước của cơ quan chuyên ngành và các cơ quan phối hợp trong quản lý tài nguyên nước, quản lý khai thác công trình thủy lợi thiếu tính khoa học và chưa phù hợp với xu hướng đổi mới quản lý dịch vụ công theo cơ chế thị trường

Cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý khai thác công trình thủy lợi chưa phù hợp, nên hiệu lực và hiệu quả chưa cao e) Nhận thức về quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi còn hạn chế

Nhận thức của một số lãnh đạo quản lý và người dân chưa đúng, chưa đủ về các chính sách hiện hành trong quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, đặc biệt là chính sách miễn, giảm thủy lợi phí Phần lớn hiểu chính sách miễn, giảm thủy lợi phí là bỏ thủy lợi phí, trong khi đó thực chất đây là hỗ trợ của Nhà nước nhằm giảm gánh nặng chi phí sản xuất nông nghiệp cho người dân và có nguồn kinh phí để tu sửa, chống xuống cấp công trình Do vậy, đã không phát huy được sự tham gia của người dân trong quản lý khai thác công trình thủy lợi, đặc biệt là công trình thủy lợi nội đồng Ở một số địa phương, người dân không nộp thủy lợi phí nội đồng, coi công tác thủy lợi là trách nhiệm của Nhà nước Tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước vẫn còn nặng nề, đặt nặng vấn đề đầu tư xây dựng công trình, xem nhẹ quản lý, chưa khơi dậy và huy động được sức mạnh toàn dân, toàn xã hội tham gia vào xây dựng, quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi f) Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng chưa được coi trọng

1.5.2 Nhóm nhân tố khách quan Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tác động bất lợi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội gây ra (suy giảm chất lượng rừng, phát triển hồ chứa thượng nguồn, khai thác cát và lún ở vùng hạ du; phát triển cơ sở hạ tầng đô thị, công nghiệp, giao thông cản trở thoát lũ ) tác động bất lợi cho hệ thống công trình thủy lợi, đặc biệt hệ thống lấy nước dọc các sông lớn trên toàn quốc, hệ thống thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long

Tổng quan về hệ thống tổ chức quản lý công trình thủy lợi ở nước ta trong thời gian qua

1.6.1 Về quản lý nhà nước Để quản lý, khai thác và sử dụng công trình thủy lợi, trong nhiều năm qua Nhà nước và các địa phương đã quan tâm xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý, thể chế và chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống công trình thủy lợi, đáp ứng yêu cầu nước cho các ngành kinh tế, xã hội và môi trường

Kết quả điều tra đến hết năm 2011, hiện trạng mô hình quản lý, khai thác công trình thủy lợi trên phạm vi cả nước khá đa dạng với nhiều loại mô hình khác nhau UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã sắp xếp tổ chức bộ máy quản lý ngành về thủy lợi các cấp trên địa bàn như sau: a Tổ chức bộ máy cấp tỉnh

Tất cả các tỉnh điều tra trên cả nước đều có mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước quản lý thủy lợi là các Chi cục thủy lợi, hoặc ở một số tỉnh là Chi cục thủy lợi và phòng chống lụt bão, Chi cục Thủy lợi và Thủy sản (tỉnh Gia Lai); có tỉnh thành lập Phòng thủy lợi thuộc sở (tỉnh Đồng Nai) Trong tổng số 63 tỉnh thành trên cả nước có: 24 tỉnh thành lập Chi cục Thủy lợi và phòng, chống lụt, bão; 22 tỉnh thành lập Chi cục Thủy lợi; 15 tỉnh thành lập Chi cục Thủy lợi và Chi cục Đê điều và phòng chống lụt bão; 01 tỉnh thành lập Chi cục Thủy lợi – Thủy sản (tỉnh Gia Lai); 01 tỉnh không thành lập Chi cục chuyên ngành thủy lợi mà chỉ có Phòng Thủy lợi thuộc sở Nông nghiệp và PTNT (tỉnh Đồng Nai)

Hình 1.1: Mô hình tổ chức và quản lý hệ thống thủy nông tỉnh

Nguồn: Trung tâm Tư vấn & Chuyển giao Công nghệ Thủy lợi

Số lượng và trình độ nhân lực của chi cục quản lý về thủy lợi của các tỉnh trên cả nước như ở bảng sau

Bảng 1.1: Nhân lực của chi cục quản lý về thủy lợi của các tỉnh

Nhân lực quản lý thủy lợi

Khác Đại học Cao đẳng

1 Vùng Miền núi phía Bắc 219 132 6 19 62

3 Bắc Trung bộ và Duyên hải MT 226 152 1 14 59

Nguồn: Trung tâm Tư vấn & Chuyển giao Công nghệ Thủy lợi

UBND HUYỆN CHI CỤC THỦY LỢI

CÔNG TY THỦY NÔNG TỈNH (Quản lý từ kênh cấp I đến điểm nhận nước của Hội dùng nước)

 Đánh giá những mặt mạnh, yếu của tổ chức quản lý nhà nước cấp tỉnh trong vùng:

- Đội ngũ nhân sự của chi cục quản lý thủy lợi nhìn chung đang được trẻ hóa, nhiệt tình làm việc Hầu hết đều là con em địa phương nên hiểu rất rõ địa hình, đặc điểm công trình thủy lợi ở địa phương

- Đội ngũ nhân sự của chi cục hầu hết còn trẻ nên rất thiếu kinh nghiệm trong công tác quản lý CTTL Bên cạnh đó, đa số là con em đồng bào dân tộc nên trình độ và năng lực chưa cao

- Thu nhập của chuyên viên chi cục thủy lợi chỉ có từ lương ngân sách nhà nước nên không thu hút được nguồn năng lực có trình độ cao về làm việc

- Các công trình thủy lợi của vùng miền núi, vùng sâu thường là nhỏ lẻ, manh mún và có số lượng công trình rất lớn trong khi nguồn nhân sự của chi cục mỏng nên Chi cục thủy lợi gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý

Mặt khác, các công trình thủy lợi nhỏ hầu hết đều do người dân tự làm nên không có hồ sơ thiết kế, một số công trình có hồ sơ thiết kế nhưng được xây dựng từ rất lâu nên bị thất lạc trong lũ lụt và chiến tranh

- Các Chi cục thủy lợi chưa thực sự quan tâm đến công tác tăng cường năng lực, phát huy sự tham gia của cộng đồng trong công tác QLKT CTTL

- Trang thiết bị, phương tiện đi lại phục vụ cho hoạt động của các Chi cục chưa đầy đủ

- Đa số các Chi cục thủy lợi chưa phối hợp chặt chẽ với các phòng Nông nghiệp & PTNT huyện nên ít nắm được thông tin về công trình thủy lợi và tổ chức quản lý ở cấp xã Hơn nữa, Chi cục cũng không đủ nhân sự để kiểm tra, theo dõi, hướng dẫn các phòng Nông nghiệp huyện cũng như các tổ chức quản lý thủy nông trong công tác QLKT CTTL và phòng chống lụt bão

- Mối quan hệ giữa các cơ quan, đơn vị trực thuộc UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp & PTNT trong quản lý nhà nước, sự nghiệp công và doanh nghiệp công ích về thủy lợi chưa rõ, làm hạn chế vai trò, hiệu lực của các tổ chức này Cơ cấu tổ chức ngành thủy lợi có tỉnh được phân ra thành cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan quản lý đầu tư xây dựng công trình riêng biệt, cả ở cấp tỉnh và cấp huyện Mối quan hệ giữa hai nhóm cơ quan này thiếu chặt chẽ, ảnh hưởng nhiều đến việc quản lý, đánh giá chất lượng công trình sau đầu tư cũng như việc bàn giao quản lý, sử dụng công trình b Tổ chức bộ máy cấp huyện Ở cấp huyện, hiện không có phòng chuyên trách về thủy lợi, đê điều Theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008, Phòng Nông nghiệp & PTNT ở các huyện và Phòng Kinh tế ở các quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, tham mưu, giúp ủy ban cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương về: Nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi, thủy sản, phát triển nông thôn, phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại nông thôn, kinh tế hợp tác xã nông, lâm, ngư, diêm nghiệp gắn với ngành nghề, làng nghề ở nông thôn và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật, bảo đảm thống nhất quản lý của ngành, lĩnh vực công tác ở địa phương Như vậy nhiệm vụ quản lý về nước sạch nông thôn ở cấp huyện không rõ, chưa có và thực tế hiện nay chưa có huyện nào có tổ chức quản lý nhà nước về lĩnh vực này Phòng NN & PTNT, phòng kinh tế thực hiện quản lý kỹ thuật về thuỷ lợi trên địa bàn huyện, giám sát hiệu quả hoạt động quản lý công trình thủy lợi của các tổ chức dùng nước

- Hướng dẫn kỹ thuật vận hành bảo dưỡng CTTL cho các tổ chức dùng nước

- Kiểm tra, hỗ trợ công tác phòng chống lụt bão đảm bảo an toàn hồ đập

- Theo kết quả điều tra, số lượng và trình độ nhân lực quản lý thủy lợi của phòng nông nghiệp, kinh tế quản lý về thủy lợi của các tỉnh như ở Bảng 1.2

Bảng 1.2: Nhân lực của bộ máy quản lý thủy lợi cấp huyện

Nhân lực quản lý thủy lợi

Khác Đại học Cao đẳng Trung cấp

1 Vùng Miền núi phía Bắc 186 122 7 41 16

3 Bắc Trung bộ và Duyên hải MT 569 106 7 18 438

Nguồn: Trung tâm Tư vấn & Chuyển giao Công nghệ Thủy lợi

Từ bảng trên cũng cho thấy số lượng nhân sự của bộ máy quản lý thủy lợi cấp huyện là rất khác nhau tại các tỉnh Hầu hết các tỉnh nguồn nhân lực quản lý thủy lợi cấp huyện còn rất mỏng, mỗi huyện chỉ có từ 1-2 cán bộ quản lý thủy lợi

Nhìn chung, nguồn nhân sự quản lý ở cấp huyện của đa số các tỉnh còn thiếu nên chưa thể đáp ứng yêu cầu cơ bản về công tác quản lý CTTL ở huyện Trình độ đại học có chuyên môn về thủy lợi ở các huyện còn ít, số nhân sự có trình độ trung cấp và không có chuyên môn về thủy lợi hiện nay tại các huyện chiếm khoảng 30,8%

 Đánh giá tình hình chung của tổ chức quản lý nhà nước cấp huyện Đại đa số các phòng nông nghiệp huyện chưa phối hợp chặt chẽ với các ban chuyên môn cấp xã (nông nghiệp, giao thông - thủy lợi xã) nên hầu như không nắm được các thông tin về CTTL và tổ chức quản lý ở cấp xã

Bài học kinh nghiệm trong công tác nâng cao năng lực quản lý khai thác công trình thủy lợi

1.7.1.1 Kinh nghiệm về quản lý khai thác các công trình thủy lợi trên thế giới Để phát triển sản xuất nông nghiệp, hầu hết Chính phủ các nước trên thế giới đều rất chú trọng đến công tác thủy lợi cả về đầu tư xây dựng hệ thống các công trình thủy lợi, cả về quản lý, khai thác các công trình Tùy theo điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước mà Chính phủ quan tâm, đầu tư cho công tác thủy lợi theo các mức độ khác nhau

Công tác quản lý, khai thác các công trình thủy lợi ngày càng được hoàn thiện đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp và các lĩnh vực khác kịp thời, hiệu quả Hình thức tổ chức quản lý, khai thác công trình thủy lợi rất đa dạng, phong phú như: các Công ty Nhà nước trực tiếp quản lý, các Hợp tác xã, Tổ chức hợp tác dùng nước… Mô hình quản lý, khai thác phổ biến và có hiệu quả cao nhất ở đại đa số các nước là sự kết hợp giữa Nhà nước với các tổ chức của người dân

Một xu hướng chung gần đây trong tổ chức quản lý, khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp là khuyến khích sự tham gia của cộng đồng những người hưởng lợi trực tiếp từ các công trình thủy lợi Người dân được huy động ngay từ khâu thiết kế tới thi công, quản lý, sử dụng và bảo vệ công trình thủy lợi

Mô hình quản lý thủy nông Nhật Bản rất nổi tiếng trên thế giới bởi tính bền vững và hiệu quả của nó Ngày nay, tổ chức quản lý hệ thống thủy nông và cải tạo đất chủ yếu ở Nhật Bản là hội cải tạo đất (LID)

Thành viên của LID là toàn bộ nông dân canh tác đất đai trên phạm vi hệ thống Tổ chức quyền lực cao nhất của LID là đại hội đại biểu Cơ quan điều hành là ban giám đốc và ban thanh tra do hội đồng đại biểu bầu ra Hoạt động của LID do các bộ phận chuyên ngành đảm nhiệm, mỗi bộ phận do một hoặc vài giám đốc điều hành LID là một tổ chức tự trị về tài chính cũng như về điều hành phân phối nước Ở Nhật Bản, theo nguyên tắc, chi phí cho việc vận hành và bảo dưỡng hệ thống thủy nông là do LID tự trang trải Chi phí vận hành bảo dưỡng hệ thống, kể cả chi phí cho việc sử dụng nước hồi quy ở hạ lưu, là do toàn bộ các thành viên của hội đóng góp trên cơ sở diện tích hưởng lợi Như vậy trong điều kiện bình thường về nguồn nước, để tiết kiệm lao động, sự phân phối nước không đồng đều giữa hạ lưu và thượng lưu là không tránh khỏi Tuy nhiên sự bình đẳng được bù lại bằng phương thức đóng góp chi phí và lao động cho vận hành bảo dưỡng bao gồm cả cho việc sử dụng nước hồi qui ở hạ lưu Trong hạn hán, việc thực hiện tưới luân phiên được áp dụng Tuy nó đòi hỏi người dân sử dụng một lực lượng lao động nhiều gấp bội so với điều kiện bình thường để phân phối nước nhưng để tránh mâu thuẫn, tranh chấp nước và thiệt hại do hạn hán gây ra các thành viên của hội chọn lựa phương án chung lưng đấu cật, phân phối nước đồng đều sao cho ở mọi nơi cây lúa có thể nhận được một lượng nước 4 - 5 mm/ngày đáp ứng nhu cầu sinh học trong thời điểm khó khăn

Chính phủ Nhật Bản có chính sách đầu tư không những khuyến khích người dùng nước tự nguyện đóng góp vốn xây dựng công trình mà còn tạo cho họ ý thức sở hữu đối với công trình Bởi vậy người dân có tinh thần tự giác và trách nhiệm cao trong việc quản lý bảo dưỡng công trình

Tổ chức quản lý thuỷ nông ở Nhật Bản hoạt động có hiệu quả là do các hoạt động của nó được tiến hành trên cơ sở ba yếu tố quan trọng (1) Tổ chức quản lý tự trị với mura, cộng đồng thôn xóm cổ truyền là đơn vị cơ bản; (2) Bình đẳng trong phân phối nước cũng như đóng góp lao động và chi phí cho vận hành bảo dưỡng hệ thống; (3) Chính phủ có chính sách trợ cấp vốn huy động được sự đóng góp của người sử dụng nước một cách hiệu quả nhưng không ảnh hưởng đến tính tự trị của tổ chức quản lý thủy nông

Mỹ là một quốc gia có nguồn tài nguyên nước phong phú Trước kia mức thu thủy lợi phí dựa trên cơ sở chi phí vận hành và bảo dưỡng công trình cho các vùng đất canh tác khác nhau Bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Nhà nước đã xây dựng luật theo đó thủy lợi phí bao hàm cả việc bảo vệ tài nguyên nước Thủy lợi phí đã được thu tăng lên đáng kể Năm 1998 thủy nông huyện Broadview đã tăng mức thu từ 40 USD/ha lên 100 USD/ha

1.7.1.2 Kinh nghiệm về quản lý khai thác công trình thủy lợi ở tỉnh Thái Bình

Lựa chọn mô hình quản lý phù hợp để khai thác hiệu quả hệ thống công trình thủy lợi cho phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh là vấn đề được thảo luận trong nhiều năm gần đây Thái Bình là tỉnh đầu tiên thực hiện phân cấp quản lý trong hoạt động khai thác công trình thủy lợi Ở đây, hệ thống thủy nông đã được đã quy hoạch cơ bản hoàn chỉnh từ năm 1975 Nguyên tắc thực hiện phân cấp rút ra từ tỉnh Thái Bình là: Phải giữ được sự ổn định trong quá trình bàn giao và sau khi bàn giao trong việc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; Đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ, không cát cứ, cục bộ, củng cố mối quan hệ giữa công ty thủy nông với địa phương và TCHTDN; Bàn giao nguyên trạng công trình, đồng loạt, nhanh gọn, đơn giản, dân chủ và đúng pháp luật giữa Công ty thủy nông cho HTX dưới sự giám sát của Ban chỉ đạo tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn; Việc sửa chữa, tu bổ công trình có thể thực hiện trước, trong, hoặc sau khi bàn giao nhưng phải đảm bảo hoạt động tại thời điểm bàn giao

Theo đó, hai Công ty KTTL Bắc Thái Bình và Nam Thái Bình đã bàn giao 285 trạm bơm điện, 742 km sông dẫn nước vào trạm bơm, 216 cống đập nội đồng nhỏ trên kênh, 5.781 km kênh mương cấp 1, 2 sau trạm bơm cho các HTX dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn 7 huyện, thành phố (trừ Thái Thụy đã bàn giao từ 1994) Việc phân cấp công trình trạm bơm hoàn thành trong năm 2007 và phân cấp quản lý hệ thống sông trục hoàn thành trong năm 2009 Kết quả bước đầu cho thấy việc phân cấp quản lý đã tạo ra nhiều hiệu ứng tích cực Các công trình thủy lợi từ đầu mối đến mặt ruộng đều có chủ quản lý thật sự Các địa phương chủ động điều phối nước tưới theo tiến độ mùa vụ cho từng khu vực, từng nhóm cây trồng (lúa, đậu phộng, cà chua…); khi có mưa lớn xảy ra, việc tiêu nước chống úng cũng linh hoạt nên giảm được thiệt hại mùa màng nhiều hơn; chi phí điện giảm, tăng hiệu quả khai thác công trình

Bên cạnh những kết quả nói trên, quá trình thực hiện việc phân cấp như trên cũng cho thấy có một số vấn đề phát sinh cần giải quyết: Các công ty thủy nông phải tính đến việc sắp xếp lại lao động Trong trường hợp của tỉnh Thái Bình, các công nhân vận hành trạm bơm và đa số lao động gián tiếp dôi dư là những người còn trẻ, chưa đủ tiêu chuẩn giải quyết nghỉ theo chế độ, nên việc bố trí sắp xếp công việc mới để tránh gây khó khăn cho họ cũng là vấn đề không dễ; Các HTXDVNN tuy nhận công trình bàn giao từ công ty thủy nông nhưng lại chưa chuẩn bị lực lượng đội ngũ kỹ thuật để vận hành nên cũng gặp khó khăn; Việc xác định cống đầu kênh chưa thật sự rõ ràng nên khó cho việc xác định chi phí đầu tư tu bổ nâng cấp công trình sẽ lấy từ nguồn vốn do dân đóng góp hay từ nguồn thủy lợi phí cấp bù; Trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc xử lý vi phạm khai thác và bảo vệ công trình chưa được coi trọng; chẳng hạn, việc cấp phép cho các hoạt động trong phạm vi khai thác và bảo vệ hệ thống sông trục chỉ mới tiến hành trên một số sông trục chính, còn lại hầu như chưa được quản lý

1.7.2 Những bài học rút ra

Mô hình quản lý là yếu tố cơ bản, quan trọng hàng đầu quyết định tới hiệu quả quản lý, khai thác các công trình thủy lợi Cùng là công tác quản lý, khai thác các công trình thủy lợi nhưng ở 2 tỉnh Thái Bình và Vĩnh Phúc lại có 2 cách làm có thể nói là trái ngược nhau Thái Bình thực hiện phân cấp quản lý, khai thác tới cấp HTXDVNN, còn Vĩnh Phúc lại thu toàn bộ công trình thủy lợi về cùng một đơn vị quản lý Cách làm của Thái Bình là theo xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới, trong đó điển hình có Nhật Bản

Từ thực tế tại các tỉnh trong nước và các nước trên thế giới, có thể rút ra một số điểm lưu ý sau:

- Không có một mô hình mẫu nào có thể áp dụng được cho tất cả các hệ thống thủy nông Ở từng hệ thống thủy nông cụ thể, phải căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động, điều kiện kỹ thuật, trình độ khoa học công nghệ và các đặc điểm về văn hóa xã hội, phong tục tập quán, trình độ dân trí của khu vực để nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức và quản lý cho phù hợp;

- Công tác quản lý thủy nông không thể tách rời vai trò của người hưởng lợi, nếu chỉ do các tổ chức Nhà nước thực hiện sẽ không có hiệu quả và là gánh nặng cho Nhà nước trong việc cấp bù chi phí để duy trì sự hoạt động của hệ thống;

- Hệ thống thủy nông muốn hoạt động có hiệu quả phải có một cơ chế tổ chức và quản lý khoa học, phân công phân cấp hợp lý Hệ thống cơ chế chính sách phải đồng bộ và kịp thời, phù hợp với các thể chế chính sách chung của Nhà nước;

- Hệ thống thủy nông là công trình cơ sở hạ tầng, phục vụ đa mục tiêu nên không thể thiếu vai trò hỗ trợ của Nhà nước;

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ, KHAI THÁC HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THỦY LỢI HÀ NỘI

Ngày đăng: 31/05/2021, 12:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[5] 5. Thái Thị Khánh Chi (2011), Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý khai thác hệ thống thủy nông Bắc Đuống – Bắc Ninh, Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật, Trường Đại học Thủy lợi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 5. Thái Thị Khánh Chi (2011), "Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý khai thác hệ thống thủy nông Bắc Đuống – Bắc Ninh
Tác giả: 5. Thái Thị Khánh Chi
Năm: 2011
[8] 8. Trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ Thủy lợi (2011). Dự án điều tra về quản lý, khai thác và sử dụng công trình thủy lợi của Trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ Thủy lợi năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 8. Trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ Thủy lợi (2011)
Tác giả: 8. Trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ Thủy lợi
Năm: 2011
[1] 1.Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2011), Thông tư số 40/2011/TTBNNPTNT về quy định năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia quản lý, khai thác công trình thủy lợi, ngày 27 tháng 05 năm 2011 Khác
[2] 2. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2011), Quyết định số 1296/QĐ- BNN-TCTL ngày 15 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc phê duyệt quy hoạch thủy lợi hệ thống Bắc Nam Hà Khác
[3] 3. Chính Phủ (2012), Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ về Sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định 143/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi Khác
[4] 4. Chính Phủ (2013), Nghị định số 139/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2013 của Chính quy định xử phạt vi phạm hành chính về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi;đê điều, phòng, chống lụt, bão Khác
[6] 6. Nguyễn Bá Tuyn (1998), Quản lý khai thác công trình thủy lợi, NXB nông nghiệp, Hà Nội Khác
[7] 7. Thủ tướng Chính phủ (2008), Quyết định số 87/2008/QĐ-TTg ngày 03 tháng 07 năm 2008 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nam Định đến năm 2020 Khác
[9] 9. Nguyễn Bá Uân, Ngô Thị Thanh Vân (2006), Giáo trình Kinh tế thuỷ lợi, Nhà xuất bản xây dựng, Hà Nội Khác
[10] 10. Nguyễn Bá Uân (2009), Kinh tế quản lý khai thác công trình thủy, Tập bài giảng, Đại học Thủy lợi Hà Nội Khác
[11] 11. Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012 và Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước Khác
[12] 12. Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 ngày 16/09/2017 và Nghị định số 67/2018/NĐ-CP ngày 14/05/2018 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thủy lợi Khác
[13] 13. Nghị định số 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ về việc sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích Khác
[14] 14. Số liệu về hiện trạng công trình, hiện trạng quản l khai thác của công ty Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w