1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG ôn THI môn tâm lý học tôn GIÁO, SAU đại học

16 30 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TLHTG là một phân ngành của tâm lý học xã hội, nghiên cứu một hiện tượng xã hội đặc biệt: hiện tượng tôn giáo. Nó có đối tượng nghiên cứu chính là những đặc điểm tâm lý của những người theo tôn giáo, và phân biệt những đặc điểm tâm lý đó trong hành vi của những người theo và không theo tôn giáo.

Trang 1

Câu 1 Đánh giá thuyết xung đột và thuyết tập thể trong tâm lý học tôn giáo?

Mở đầu

TLHTG là một phân ngành của tâm lý học xã hội, nghiên cứu một hiện tượng

xã hội đặc biệt: hiện tượng tôn giáo Nó có đối tượng nghiên cứu chính là những đặc điểm tâm lý của những người theo tôn giáo, và phân biệt những đặc điểm tâm

lý đó trong hành vi của những người theo và không theo tôn giáo

Trong lịch sử hình thành và phát triển của Tâm lý học tôn giáo, có nhiều tư tưởng, học thuyết khác nhau như: thuyết xung đột, tập thể, nhân cách, liên nhân cách, tôn giáo

và cá nhân Trong đó, thuyết xung đột và tập thể là 2 học thuyết tiêu biểu nghiên cứu, lý giải những vấn đề tâm lý cơ bản trong tôn giáo Việc nghiên cứu, đánh giá… giúp có cái nhìn toàn diện và lý giải hợp lý, cũng như có biện pháp phát huy, hạn chế

Nội dung

1 Thuyết xung đột

1.1 Thuyết xung đột của S Freud (1856 -1939)

* Quan niệm của Freud về tôn giáo: tôn giáo siêu nhiên là ảo giác và các

khái niệm tôn giáo là ý niệm của ý thức hoặc là sự hiện hình tâm lý của những nhu cầu nội tâm Văn hóa Do thái là điểm khởi đầu cho quan điểm tôn giáo của Freud

* Nội dung thuyết xung đột: Là người đưa đề ra học thuyết phân tâm Mà bản

chất của học thuyết này theo Freud là học thuyết về sự xung đột của con người… Năm 1913, ông cho xuất bản cuốn sách "Totem and Taboo" (tootem và cấm kỵ) Trong cuốn sách này, ông cho rằng phức cảm Ơdip là căn nguyên cuối cùng của đạo đức và tôn giáo Tại các bộ lạc nguyên thủy thời tiền sử, người cha là người có quyền tối cao trong mọi việc, kể cả quản lý tất cả phụ nữ, coi đó là sở hữu của mình Các con trai do sự thôi thúc của phức cảm Ơ (ham muốn tình dục vô thức) muốn nhưng bị cha khước từ và đuổi ra khỏi bộ tộc Vì vậy đã liên kết giết cha Và sau đó lại xuất hiện cảm giác ăn năn, hối lỗi, pham tội Như vậy, sau khi giết cha họ lại nảy sinh tình cảm thương yêu, kính trọng và sùng bái cha Để chuộc

Trang 2

lỗi, họ đã chọn 1 loại động vật và coi đó là Totem, là hóa thân của người cha và nghiêm cấm giết nó Cùng với sùng bái tôn thời, họ còn cấm cả quan hệ tình dục với người phụ nữ ngang với Totem Đây là cơ sở nảy sinh tôn giáo Như vậy, tôn giáo xuất hiện do cảm giác tội ác và tâm lý hối hận Đồng nghĩa với nguồn gốc của tôn giáo bắt nguồn từ xung đột

Ông cho rằng tôn giáo có chức năng an ủi Giúp cho họ thỏa mãn những ước vọng nội tâm

Cá nhân chúa trời không phải cái gì khác mà chính là người cha Chúa trời chính là hình ảnh TOOTEM

Ông khẳng định vai trò của Tôn giáo đối với sự phát triển của văn hóa nghệ thuật Trong cuốn : "tương lai hư ảo" ông nói: tôn giáo phục vụ to lớn cho văn hóa nhân loại bằng việc kiềm chế, ngăn cản những bản năng của con người và giúp các tín đồ chống lại ưu phiền của mình

* Đánh giá: Đánh giá ưu nhược điểm; Hiện nay ảnh hưởng như thế nào; Ý

nghĩa Thuyết xung đột của S Freud có vị trí rất quan trọng, nó có ảnh hưởng mạnh

mẽ đến văn hóa của thế kỷ chúng ta

1.2 Thuyết xung đột của A Boisen

- Việc nghiên cứu tôn giáo của Boisen được kết hợp với nghiên cứu các bệnh nhân tâm thần Từ đó, ông rút ra giả thuyết về mối quan hệ giữa các bệnh nhân tâm thần ở mức độ nặng với việc đến với tôn giáo Cả 2 loại người này đều có chung một điểm là xung đột và thiếu cân bằng nội tâm

- Kinh nghiệm tôn giáo với tư cách là sự hỗn loạn tâm thần có thể liên quan đến sự thay đổi cảm xúc đột ngột, dữ dội Mặt khác, sự hỗn loạn tâm thần với tư cách là kinh nghiệm tôn giáo có sức mạnh điều chỉnh bản năng Như vậy, kết luận này cho thấy những dạng tất yếu của sự hỗn loạn tâm thần và của kinh nghiệm tôn giáo giống như sự cố gắng của cá nhân để tạo nên sự cân bằng mới của mình

- Những bệnh nhân tâm thần có những đặc điểm chung: họ bị cô lập với bản

bè do thất bại xã hội và bị mất đi lòng tự trọng, đi đến rối loạn thần kinh phải trải

Trang 3

qua những cảm xúc huyền bí khó hiểu, những cảm xúc liều lĩnh, suy nghĩ về cái chết, dẫn đến xung đột (hoang mang, sợ hãi, tự dối trá)

=> Cả 2 ông đều thống nhất rằng những kinh nghiệm tôn giáo nảy sinh trong xung đột Nhưng cách tiếp cận cụ thể khác nhau F dựa vào mặc cảm còn B lại xuất phát từ góc độ của rối loạn tâm thần; khác nhau cả trong đánh giá kết quả của kinh nghiệm Nếu như B tôn giáo thể hiện sự chín muồi của sự điều chỉnh xung đột trong khủng hoảng nhằm thực hiện trách nhiệm đạo đức (tức là sự phát triển) thì F cho rằng tôn giáo là sự thoái bộ và suy giảm

* Đánh giá: Đánh giá ưu nhược điểm; Hiện nay ảnh hưởng như thế nào; Ý nghĩa.

2 Thuyết tập thể

* Nội dung

- C G Jung là đại biểu xuất sắc của học thuyết tập thể về tôn giáo, là người phát triển, kế tục học thuyết của Freud

- Trong học thuyết tập thể về tôn giáo của J, nổi lên là vấn đề xung đột và khắc phục xung đột Xong đối với 1 tập thể, ông tìm thấy những cái chung, cái đặc trưng tạo nên sự hòa hợp, sáng tạo của tập thể

- Nhân cách không có danh giới, chẳng hạn vô thức của cá nhân thể hiện ra ngoài trở thành vô thức tập thể (là tác giả của cuốn VTTT)

=> Do vậy, Kinh nghiệm tôn giáo được tạo nên từ vô thức tập thể Nếu Freud phân tích tôn giáo theo xu hướng hướng vào trong thì Jung thì ngược lại, hướng ra bên ngoài Ông cho rằng tôn giáo được hình thành từ năng lượng vô thức, nó vượt

ra so với ý thức cá nhân Vì vậy cần khám phá những quyền lực thiêng liêng ở bên

cá nhân (quyền lực được tạo nên từ cộng đồng và tồn tại trong cộng đồng) chứ không phải là trong cá nhân như Freud

- Khi tìm hiểu những biểu tượng chung của quyền lực thần bí trong tôn giáo, Ông rút ra kết luận: biểu tượng tôn giáo không phải là sự hư cấu mà được hình thành trên cơ sở những điều kiện sống tự nhiên của con người; là sự khái quát

Trang 4

những sự khác biệt để tạo nên ý chí chung và điều này cũng đúng với các nền văn hóa khác nhau

- Ông đánh giá cao vai trò của tôn giáo, tôn giáo sẽ làm giàu thêm và thống nhất ý thức cá nhân bằng những phương sách khôn ngoan

* Đánh giá: Đánh giá ưu nhược điểm; Hiện nay ảnh hưởng như thế nào; Ý nghĩa

Kết luận

- Trên đây là những quan điểm…

- Đối với nhà nghiên cứu, việc tiếp cận các quan điểm khác nhau sẽ thấy toàn diện hơn và là điều kiện để tiếp cận chân lý khách quan…

- Vấn đề tôn giáo…

- Chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo…

- Tìm hiểu là cơ sở để…

Trang 5

Câu 2 Phân tích đặc điểm TLXH của nhân cách tôn giáo? Ý nghĩa thực tiễn.

Mở đầu

- Theo lý luận về nhân cách và sự hình thành, phát triển nhân cách trong tâm

lý học, khi mới sinh ra cá nhân chưa phải là nhân cách, đồng thời cũng chưa phải

là một nhân cách tôn giáo Để trở thành nhân cách tôn giáo, cá nhân đó phải sống trong quá trình tác động tương hỗ với môi trường xã hội

- Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, mỗi khoa học có cách tiếp cận riêng Tâm lý học tôn giáo nghiên cứu nhân cách của những người theo tôn giáo (nhân cách tôn giáo) theo cách tiếp cận của tâm lý học xã hội Có nghĩa là nghiên cứu nhân cách trong các nhóm xã hội cụ thể, trong quá trình xã hội hóa cá nhân và thông qua các hình thức hoạt động cụ thể

- Đặc điểm tâm lý xã hội là một nội dung quan trọng… việc nghiên cứu là cơ

sở đề ra biện pháp tác động, định hướng…

Nội dung

Những đặc điểm tâm lý xã hội của nhân cách tôn giáo được thể hiện chủ yếu thông qua xu hướng nhân cách với những thành phần cơ bản: nhu cầu, động cơ, tâm thế xã hội và các ĐHGT

1 Nhu cầu tôn giáo

* Khái niệm: Nhu cầu là trạng thái của cơ thể, của cá nhân hay của nhóm xã

hội, phản ánh sự phụ thuộc của cá nhân hay nhóm xã hội đó vào những điều kiện khách quan để tồn tại và phát triển Nhu cầu tôn giáo là sự bổ sung, bù đắp những thiếu hụt, bất lực trước thực tế của con người

- Nhu cầu tôn giáo là một dạng nhu cầu tinh thần của con người, nó thể hiện qua niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, niềm tin vào mối quan hệ 2 chiều giữa tin đồ và thánh thần

Nhu cầu tôn giáo của cá nhân, trước hết là nhu cầu trong hành vi sùng bái -phương tiện thực hiện sự tác động giữa con người và thế giới hư vô Nhu cầu tôn giáo là nhu cầu thực hiện các nghi lễ tôn giáo, cầu nguyện tôn giáo

Trang 6

* Các hướng tiếp cận trong nghiên cứu về nhu cầu tôn giáo:

- Tìm hiểu nhu cầu tôn giáo của cá nhân thể hiện trong niềm tin vào thánh thần, nhu cầu như kết quả của sự gặp gỡ giữa con người với thần thánh xảy ra trong tâm hồn con người (đây là hướng tiếp cận theo hướng thân thể)

- Xem nhu cầu tôn giáo là đặc điểm đặc trưng của tâm lý con người (cách tiếp cận theo tâm trạng chủ quan)

- Xem nhu cầu tôn giáo là kết quả của những cảm xúc và khát vọng vô thức của con người (tiếp cận theo hướng sinh học)

- Xem nhu cầu tôn giáo là sự thỏa mãn các nhu cầu xã hội cụ thể của con người (tiếp cận từ môi trường xã hội)

Cách 123 là của TLHPT và 4 là TLHXV

2 Động cơ tôn giáo

Động cơ tôn giáo thể hiện ở 2 khía cạnh:

- Động cơ của niềm tin tôn giáo của cá nhân là cái thúc đẩy cá nhân tin vào lực lượng siêu nhiên (thể hiện sự bất lực, sợ hãi, cầu mong cứu vớt, hy vọng)

- Động cơ của hành vi sùng bái tôn giáo là cái thúc đẩy con người thực hiện các hành vi sùng bái thần thánh hay tôn giáo của mình

Hai khía cạnh không đồng nhất, song có quan hệ chặt chẽ với nhau

Các nhà XHH Ucraina nghiên cứu chia ra 6 loại động cơ cơ bản:

- Nhằm thỏa mãn nhu cầu trí tuệ

- Tôn giáo hứa hẹn sẽ cứu vớt con người

- Đem lại cảm xúc yên tâm, vui sướng

- Là con đường hoàn thiện đạo đức

- Đề phòng bất trắc

- Tin theo phong tục, truyền thống

3 Tâm thế xã hội và định hướng giá trị của xu hướng nhân cách tôn giáo.

- Tâm thế xã hội là sự chuẩn bị của cá nhân cho hành động trên cơ sở của sự đánh giá nhất định Có 3 thành tố: nhận thức về khách thể, trạng thái cảm xúc về khách thể và ứng xử với khách thể

Trang 7

Tâm thế xã hội của tín đồ đóng vai trò là một bộ lọc đặc biệt (lựa chọn) đối với hành vi của cá nhân trước tác động của môi trường xung quanh

- Định hướng giá trị của những người theo tôn giáo trước hết là sự hướng đến những giá trị cơ bản của tín ngưỡng như Thượng đế, Chúa trời, Thần thánh, Thiên đường… Kết quả của một số công trình nghiên cứu cho thấy định hướng giá trị cơ bản của nhiều tín đồ là hướng đến sự cứu thế sau cuộc sống ở trần gian…

4 Ý nghĩa:

Những đặc điểm này là những biểu hiện cơ bản, thể hiện chiều hướng cơ bản, nắm được những đặc điểm này ở các tín đồ là cơ sở để định hướng, giáo dục và đề

ra biện pháp tác động…

Kết luận

- Nhân cách tôn giáo là một trong những nội dung quan trọng khi nghiên cứu tôn giáo dưới góc độ tâm lý…

- Nắm được những đặc điểm tâm lý xã hội nhân cách tôn giáo cũng có nghĩa

là nắm được chiều hướng chung trong đời sống và hoạt động của tín đồ…

- Là cơ sở có biện pháp tác động, định hướng…

- Giải quyết tốt vấn đề tôn giáo…

Trang 8

Câu 3 Làm rõ cơ sở lý luận về tình cảm tôn giáo Rút ra ý nghĩa thực tiễn?

Mở đầu

- Tình cảm tôn giáo là một trong những nội dung quan trọng khi nghiên cứu tôn giáo dưới…

- Trong thực tiễn, sự hình thành và phát triển của bất kỳ một tôn giáo nào đều gắn liền với tình cảm tôn giáo, và khái niệm tình cảm tôn giáo bao giờ cũng có vị trí trung tâm Thuật ngữ "tín đồ" trong ý thức của chúng ta đồng nghĩa với khái niệm "con người có tình cảm tôn giáo Một người sẽ không thể đến với tôn giáo hoặc trở thành tín đồ của tôn giáo nếu họ không có tình cảm tôn giáo

- Nghiên cứu tình cảm tôn giáo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì nó là một trong những đường nét chính thể hiện chân dung tâm lý của những người theo tôn giáo Đồng thời góp phần vào giải thích sự tồn tại và phát triển của tôn giáo

- Là cơ sở để giải quyết tốt vấn đề tôn giáo…

Nội dung

1 Khái niệm tình cảm và tình cảm tôn giáo

- Tình cảm là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong não người bằng những rung động, biểu thị thái độ của chủ thể có nhu cầu đối với sự vật, hiện tượng xung quanh có ý nghĩa đối với mình

Có ý nghĩa quan trọng…

- Tình cảm tôn giáo là cảm xúc của tín đồ với đối tượng là thế giới hư ảo mà

họ tôn thờ Tình cảm tôn giáo tạo ra động lực to lớn, mạnh mẽ

Tình cảm tôn giáo là loại tình cảm ở mức độ cao: trong sếp hạng thứ bậc, tình yêu với tôn giáo đặt trước cả tình yêu con người: nam nữ, cha con, vợ chồng

Tình cảm là sự an ủi, là chức năng quan trọng của tôn giáo: vì tôn giáo là sự

an ủi, xoa dịu nỗi đau, nuôi hy vọng, tạo niềm tin vào tương lai trong thế giới bất công, khổ đau, oan trái…Vì vậy, tình cảm tôn giáo chính là sự an ủi con người Nhất là tầng lớp nghèo khổ

Trang 9

Cũng giống như tình cảm, tình cảm tôn giáo cũng bao gồm những tình cảm tích cực và tiêu cực

2 Các giai đoạn phát triển tình cảm tôn giáo và yếu tố tác động đến sự biến đổi cường độ cảm xúc trong quá trình thực hiện nghi lễ tôn giáo (cúng lễ, cầu nguyện).

* Giai đoạn:

Trong quá trình thực hiện nghi lễ tôn giáo, tình cảm tôn giáo phát triển qua 3 giai đoạn:

- Giai đoạn bắt đầu: Chủ yếu là cảm xúc tiêu cực, và cường độ tăng lên từ từ

- Giai đoạn đỉnh cao: cường độ tăng lên nhanh đạt cường độ cao nhất Và từ tiêu cực sang tích cực, thanh thản

- Giai đoạn kết thúc: Sau khi lên đỉnh điểm, thì cảm xúc trở về gần như ở thời điểm ban đầu Song khác với giai đoạn đầu là tích cực

* Yếu tố tác động:

- Các yếu tố sinh lý: hoạt động thần kinh cấp cao, Co2

- Ăn chay: tăng hoạt động trí tuệ, tập trung hơn; làm sức khỏe, tăng trực giác, tưởng tượng, ám ảnh

- Cơ chế tâm lý: cơ chế thôi miên, bắt chước, ám thị và lây lan tâm lý

3 Đánh giá biểu hiện trên thực tiễn vấn đề tình cảm tôn giáo và tác động của nó như thế nào hiện nay.

Trong những năm gần đây sinh hoạt tôn giáo ở nước ta có phần phát triển, đình chùa miếu mạo, thánh thất được tu sửa và tôn tạo xây cất lại Số người tham gia các hoạt động tôn giáo gia tăng, những hoạt động lễ hội gần đây gần gũi với tôn giáo càng nhiều, mang nhiều màu sắc khác nhau bao gồm cả mê tín dị đoan Thực trạng trên, một mặt phản ánh nhu cầu tinh thần của quần chúng sau một thời kỳ chưa được quan tâm đúng mức, nay có xu thế đổi mới và dân chủ hoá nên có điều kiện thể hiện, đáp ứng nguyện vọng của các tín đồ Mặt khác cũng nói lên điều không bình thường

vì trong đó không chỉ có sinh hoạt tôn giáo thuần tuý mà còn biểu hiện lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để phục vụ mưu đồ chính trị và hoạt động mê tín di đoan

Trang 10

Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng Chống mọi hành động vi phạm tự do tin ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của

Tổ quốc và nhân dân, tổn hại đến công cuộc xây dựng xã hội Xã hội chủ nghĩa

4 Ý nghĩa thực tiễn

- Là phẩm chất nhân cách, có vai trò rất lớn

- Phát huy những ảnh hưởng tích cực

- Hạn chế tiêu cực: bằng nhiều phương pháp

- Coi trọng vấn đề tôn giáo, và giải quyết vấn đề này

Kết luận

- Tình cảm tôn giáo là một phẩm chất nhân cách

- Vai trò 2 hướng với sự phát triển cá nhân, cộng đồng và xã hội

- Trên góc độ quản lý xã hội, nắm được bản chất, đặc trưng và biểu hiện cơ bản của tình cảm tôn giáo sẽ giúp chúng ta đề ra được những chủ trương, biện pháp phù hợp và có hiệu quả trong việc tuyên truyền giáo dục những người theo tôn giáo, để họ có thể phát huy và cống hiến tiềm năng của mình cho công cuộc đổi mới đất nước nhằm xây dựng một xã hội ấm no, tự do, hạnh phúc, công bằng và văn minh: “tốt đời đẹp đạo”

Ngày đăng: 31/05/2021, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w