1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO để CƯƠNG ôn THI môn LỊCH sử tâm lý học

25 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 145 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thế kỷ thứ XVII, chủ nghĩa tư bản đã được hình thành và bắt đầu đạt mức phát triển khá cao ở nhiều nước châu Âu, kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh. Trong khoa học tự nhiên đã bắt đầu có các phát kiến quan trọng phá tan nhiều quan niệm cũ về thế giới, về xã hội, về những tồn tại xung quanh con người, về sinh lý học và về chính con người. Chính vì vậy những quan niệm duy tâm phản khoa học đã có trước đây về tâm hồn con người khó đứng vững. Con người đòi hỏi phải có những lý giải khoa học về đời sống tinh thần của con người, về cơ thể và mối quan hệ giữa tâm hồn và cơ thể trên cơ sở của các thành tựu khoa học đang được con người phát hiện.

Trang 1

Trong khoa học tự nhiên đã bắt đầu có các phát kiến quan trọng phá tannhiều quan niệm cũ về thế giới, về xã hội, về những tồn tại xung quanh conngười, về sinh lý học và về chính con người Chính vì vậy những quan niệm duytâm phản khoa học đã có trước đây về tâm hồn con người khó đứng vững Conngười đòi hỏi phải có những lý giải khoa học về đời sống tinh thần của conngười, về cơ thể và mối quan hệ giữa tâm hồn và cơ thể trên cơ sở của các thànhtựu khoa học đang được con người phát hiện.

2 Các thành tựu tâm lý học thế kỷ XVII.

2.1 Vấn đề bản chất của tâm lý.

Trong lịch sử phát triển của triết học và tâm lý học, vấn đề bản chất của cái tâm lý vẫn là một vấn đề nan giải, diễn ra vô cùng phức tạp Với sự đụng độ

quyết liệt của các trường phái khác nhau cho đến ngày nay

* Các quan niệm khác nhau về bản thể của tâm hồn, tâm lý.

- Về bản thể của cái tâm hồn, tâm lý, Rene Descartes (1596-1650, Pháp),

người “đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học” thừa nhậntâm hồn và cơ thể là hai thực thể song song tồn tại Thực thể của nhục thể cóthuộc tính là quảng tính, có thể cân đong đo đếm được, còn thực thể của linhhồn có thuộc tính là tư duy

Quan niệm của Descartes đã dẫn đến học thuyết về hai bản thể Tâm hồn

và các quá trình của nó hoàn toàn đóng kín, tách biệt với những hoạt động vậtchất bên ngoài Chủ thể chỉ có thể tự quan sát và tự cảm nghiệm tâm lý của

Trang 2

chính mình, ngoài ra không ai có thể hiểu biết được về nó cả Rõ ràng rằng quanniệm của Descartes thuộc lập trường Nhị nguyên luận trong triết học và tâm lýhọc Thực thể linh hồn và thực thể nhục thể là hai thực thể độc lập với nhau,không phụ thuộc vào nhau, ông viết: “bản chất của thực thể tinh thần hoàn toànkhông bị phụ thuộc vào cơ thể”(1) Sự liên kết của hai thực thể này trong mỗi conngười, R.Descarter đã tìm đến''bàn tay" của thượng đế.

- Các quan niệm của Hobbes Thomas (1588-1679, Anh) và của B Spinoza(1632-1677, Hà Lan) đã chống lại lập trường nhị nguyên của Descarter, cho rằngchỉ tồn tại một thực thể là vật chất Tâm hồn là cái nảy sinh từ các thực thể vậtchất

* Về nguồn gốc của các hiện tượng tâm lý

- R.Descartes và G.W.Leibnitz (1646-1716) nhà triết học người Đức đều

cho rằng tâm hồn là cái bẩm sinh, một tồn tại tự nó Với R.Descarter tâm hồn

gắn liền với ý niệm bẩm sinh liên quan đến tồn tại của thượng đế Còn Leibnitzthì lại gắn liền tâm hồn với cái gọi là đơn tử

- Về vấn đề này John Locke chống lại quan niệm của Descarter về “ý niệmbẩm sinh”, cho rằng tâm lý có nguồn gốc từ kinh nghiệm, từ các hiểu biết cảmtính

* Về nguyên nhân của các hiện tượng tâm lý.

- Có quan niệm cho rằng nguyên nhân đó nằm ngay trong nội tại các hiệntượng tâm lý Laibnitxơ cho rằng thế giới tâm lý là sự vận động nội tại bên trongmột “đơn tử” Đây là tư tưởng quyết định luận tâm lý

- Descartes đã có quan niệm đúng, cho rằng nguyên nhân của các hiện tượng tâm lý nằm ở bên ngoài hiện tượng này.

2.2 Thuyết phản xạ của Descartes

2.3 Các nghiên cứu về quá trình nhận cảm, liên tưởng.

1 R.Descarter, Tuyển tập, tiếng nga, Matxcơva 1950, Tr 303.

Trang 3

nhận cảm (thuyết nhận cảm) Nhiều công trình đã đi sâu nghiên cứu hoạt động

của các giác quan

Những kết quả nghiên cứu đã đi đến khẳng định rằng:

- Cảm giác tri giác của con người là hiệu quả của một tác động từ bên ngoàilên cơ thể Các tác động từ bên ngoài chỉ đóng vai trò nguyên nhân chứ khôngquyết định nội dung của cảm giác và tri giác

Các kết quả dẫn ra ở trên có ý nghĩa khoa học to lớn ở chỗ vào thời kỳ này,

do ảnh hưởng thống trị của các quan điểm duy tâm, đã có không ít người đãquan niệm cảm giác của con người có được là do tự cảm nhận thấy từ bên trong,không có liên quan đến các kích thích bên ngoài, hoặc cảm giác có được là do

sự kết hợp (phức hợp) hoạt động đặc biệt của các giác quan

* Thuyết liên tưởng.

Có tác giả giải thích các hiện tượng tâm lý nảy sinh bên trong cơ thể sau

khi có tác động từ bên ngoài Dòng các nghiên cứu này tạo thành thuyết liên tưởng Đây là những cố gắng nhằm thử nghiệm tìm tòi, phát hiện ra cơ chế vận

động của tâm hồn, tâm lý

- Các kết quả cũng đã dẫn ra các qui luật khác nhau của liên tưởng như:

Qui luật tương phản;Qui luật hỗn phối ,Qui luật kế cận.

Trang 4

Nhìn chung, những quan niệm đạt được trên lĩnh vực này vẫn là nhữngquan niệm cơ giới, tự nhiên, máy móc và vì thế cũng không thể lý giải được mộtcách khoa học các hiện tượng tâm hồn phức tạp ở người.

2.4 Các nghiên cứu về lực lượng thúc đẩy hành vi.

liên quan đến lĩnh vực động cơ của con người Khẳng định lợi ích cá nhân

là một trong những động lực cơ bản trực tiếp của hoạt động của mỗi con người

và toàn xã hội

Đánh giá chung

Sự phát triển của tâm lý học thế kỷ XVII có một vai trò đặc biệt trong sựphát triển của tâm lý học Thời kỳ này tựa như một bước ngoặt, bắt đầu từ đây,dựa vào các thành tựu khác nhau của khoa học tự nhiên, tâm lý học đã thay đổicách nhìn các phạm trù cơ bản của nó, cũng như các phương pháp nghiên cứuchung

II TÂM LÝ HỌC THẾ KỈ THỨ XVIII

1 Khái quát chung

Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thế kỷ XVIII phát triển rộng khắp ở nhiềuquốc gia Đồng thời xã hội tư bản phát triển đã đặt ra nhiều vấn đề về giáo dụcnhân cách con người nói chung, đạo đức nói riêng đòi hỏi cần phải lý giải nhữngvấn đề phức tạp trong đời sống tinh thần con người Tất cả các điều trên mộtcách khách quan đã làm cho tâm lý học phát triển

2 Các thành tựu tâm lý học thế kỷ XVIII.

2.1 Tâm lý học liên tưởng Anh

Tâm lý học liên tưởng của G.Berkeley và Hium cũng là những đóng góp đáng kể trong dòng tâm lý học liên tưởng Anh.

Đặc biệt Thuyết dao động của D Hartley được đánh giá là đỉnh cao của tư

tưởng tâm lý học duy vật thế kỷ XVIII, khẳng định rằng các hiện tượng tâm lý

Trang 5

người diễn ra là có qui luật; theo một cơ chế nhất định Con người có thể nhậnthức được các hiện tượng này và điều khiển được nó

2.2 Tâm lý học duy vật Pháp thế kỷ XVIII.

Thành tựu của nền tâm lý học thế kỷ XVIII còn được đánh dấu bằng sự cómặt của các nhà tâm lý học duy vật Pháp, mà sự cống hiến của họ có một ýnghĩa nổi bật trong lịch sử phát triển của tâm lý học

Quan điểm chung của các nhà tâm lý học duy vật Pháp ở thế kỷ này cónhiều điểm đáng chú ý:

- Khẳng định cái tâm lý xuất hiện một cách khách quan ở những vật chất có

tổ chức cao Tâm lý là chức năng của não

- Không thể tách rời cái tâm lý ra khỏi cấu trúc của cơ thể

- Trong xem xét lý giải các vấn đề tâm lý, các nhà duy vật Pháp thế kỷ 18

đã bắt đầu có xu hướng nhìn nhận với quan điểm phát triển và có thứ bậc, thấy

rõ hơn nguyên do của các biểu hiện tâm hồn khác nhau của con người Chủnghĩa duy vật Pháp có sự liên hệ chặt chẽ với hệ thống vật lý của Descartes

- Nổi bật trong các nhà triết học và tâm lý học duy vật Pháp có thể nhận

thấy: Môngtexkiơ, Vônte ,Điđơrô, Rút- xô

2.3 Wolf.C với tác phẩm mang tên tâm lý học.

Vônphơ nhà triết học duy tâm người Đức, người hệ thống hoá và truyền bátriết học Laibnitxơ Căn cứ vào lý luận của triết học và các khoa học khác cóliên quan đến con người, ông đã chia nhân chủng học (khoa học nói chung vềcon người) ra làm 2 khoa học: Khoa học về cơ thể và khoa học về tâm lý Trongtâm lý học, ông chia ra làm 2 loại, tâm lý học kinh nghiệm chủ nghĩa và tâm lýhọc lý trí Có thể nói, công lao của Vônpho đối với tâm lý học rất to lớn Ông làngười đã làm cho khoa học tâm lý có tên gọi, một nấc thang dẫn đến việc ra đờicủa khoa học tâm lý học với tư cách là một khoa học độc lập

III TÂM LÝ HỌC NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

Trang 6

1 Khái quát chung

Đầu thế kỷ XIX, kinh tế của các nhà nước tư bản châu Âu đạt được nhữngthành tựu đáng kể Những phát kiến trong các lĩnh vực khoa học khác nhau; đặcbiệt là trong sinh lý học, vật lý, hoá học đã làm cho chính xác hơn cách nhìncủa con người về các hiện tượng thuộc đời sống tâm hồn, kích thích các nghiêncứu về tâm hồn, tâm lý con người phát triển, đặc biệt là các nghiên cứu tronglĩnh vực nhận thức

2 Các thành tựu tâm lý học nửa đầu thế kỷ XIX

2.1 Học thuyết phản xạ

- Quan niệm về phản xạ đã có từ các thế kỷ trước, từ Descartes nhưngnhững hiểu biết về sự kiện này còn chưa rõ Những năm đầu thế kỷ XIX đã cónhiều công trình nghiên cứu làm rõ về vấn đề này:

Chuyên nghiên cứu sâu về sự truyền dẫn của các dây thần kinh tuỷ sống.Bell , Hall và Muller

2.2 Học thuyết về các cơ quan cảm giác

Nửa đầu thế kỷ XIX xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về hoạt độngcủa các cơ quan cảm giác đưa đến những kết luận quan trọng về các qui luậttâm- sinh lý giác quan người

Các thành tựu trong lĩnh vực này có thể kể đến:

- Nghiên cứu hoạt động của thị giác và cấu trúc thần inh thị giac; “Vòng thần kinh” , nghiên cứu bằng thực nghiệm tính nhạy cảm của da và cơ được

E.H.Weber

2.3 Học thuyết về đại não

Nửa đầu thế kỷ XIX đã xuất hiện ngày càng nhiều các công trình nghiêncứu về hoạt động của đại não từ đó đi đến xác định bản thể của hoạt động tâm

Trang 7

- Nổi lên trong số đó là một loạt các công trình nghiên cứu của Gall, ông làngười đề xuất lý thuyết định khu chức năng tâm lý trên vỏ các bán cầu đại não

và “bướu” năng khiếu

- Các nghiên cứu về bán cầu đại não và tiểu não Phrurensơ : Các quá trìnhtâm- sinh lý cơ bản là tri giác, trí tuệ, ý chí là sản phẩm của não như là một cơquan hoàn chỉnh Tiểu não phối hợp vận động Thị giác có quan hệ với củ nãosinh tư Chức năng của tuỷ sống là tiến hành thúc đẩy kích thích thần kinh Cáccông trình của P.Phrurensơ giữ vai trò quan trọng trong việc phá vỡ bức tranhthần thoại phản khoa học về hoạt động của não và “bướu” năng khiếu mà Gall

đã đề ra

2.4 Tâm lý học liên tưởng

Dòng Tâm lý học liên tưởng đã có từ thế kỷ XVIII, sang thế kỷ này vẫn được

tiếp tục phát triển nhưng đã có những biến đổi để phù hợp với những tiến bộ mớicủa khoa học tự nhiên Chẳng hạn, rung động của các sợi thần kinh như rung độngcủa sợi dây đàn theo quan niệm của Hartley là không thể đứng vững

Có một tác gia đáng quan tâm đến sự phát triển tâm lý học liên tưởng thời

kỳ nửa đầu thế kỷ XIX là Herbart

=> Kết luận 2 ý

*1 So sánh sự phát triển giữa các thời kỳ: So sanh Hoc thuyết pxa 17 và 19

và So sánh TLH liên tưởng 17,18,19; So sánh trình độ giữa 3 thời kỳ

* Đánh giá vai trò của 3 thời kỳ với tư cách là tiền đề, cơ sở cho sự thànhlập TLH

CÂU 2 HỌC THUYẾT PHẢN XẠ CỦA DESCARTES,

Ý NGHĨA THỰC TIỄN.

2.1 Vài nét về tiểu sử của Descartes.

Trang 8

Descartes (1596-1650) là nhà triết học, toán học, vật lý học nổi tiếng ngườiPháp, xuất thân từ một gia đình quí tộc tư pháp- hành chính Descartes là ngườitheo lập trường nhị nguyên, là người đề xuất học thuyết về hai bản thể: Cơ thể làmột tồn tại còn tâm lý hay tâm hồn là một tồn tại khác Tồn tại của cơ thể là mộttồn tại vật lý còn tồn tại tâm lý, tinh thần là tư duy, suy nghĩ hai bản thể songsong tồn tại Ông đã đưa ra luận điểm nổi tiếng “tôi suy nghĩ tức là tôi tồn tại”.Descartes đã làm được một điều vô cùng to lớn là khẳng định bên cạnh loại hiệntượng cơ thể người còn có một loại hiện tượng thuộc về tâm hồn, tâm lý conngười Điều này có giá trị to lớn đối với tâm lý học là khẳng định sự tồn tạikhách quan có thật của các hiện tượng tâm lý, ý thức con người khác hẳn vớihiện tượng cơ thể đã được biết.

R.Descartes đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị: Các qui tắc chỉ đạo lý trí (1630); Miêu tả con người; Các nguyên lý triết học Đặc biệt , ông đã cho ra đời

học thuyết phản xạ Đây là một trong những thành tựu ớn nhất trong lịch sử pháttriển khoa học thế kỷ XVII Nói đến thành tựu tâm lý học thế kỷ 17, không thểkhông nói đến học thuyết này

2.2 Cơ sở đưa ra học thuyết phản xạ (vận động hồn vật)

D nghiên có những đóng góp rất lớn trên nhiều lĩnh vực khoa học và cuộc

sống Trong lĩnh vực tinh thần, ông nghiên cứu và đã đưa ra thuyết “hồn vật”.

Theo ông, tinh thần, tâm lý là do "hồn vật" sinh ra, và "hồn vật" đó chính là sựvận, động của các hạt máu tròn, nhỏ, nhẵn, tốc độ nhanh, đi tới đâu tạo ra sự vậnđộng ở đó

Từ thuyết “hồn vật”, Descartes đã đi đến thuyết phản xạ, là cơ sở để ôngxây dựng lên học thuyết phản xạ

2.3 Nội dung học thuyết phản xạ

Ông khẳng định các cử động của cơ thể đều xảy ra theo các khâu:

- Có kích thích từ bên ngoài để tạo ra xung động thần kinh

- Có đường dẫn truyền xung động thần kinh đến trung ương thần kinh

Trang 9

- Có cơ quan thực hiện phản xạ (co cơ, ) Đó là 3 khâu cơ bản của mộtcung phản xạ, cho đến nay đã được phát triển hoàn thiện bằng các nghiên cứucủa Xêtrênốp, Palov, Anôkhin.

2.4 Ý nghĩa thực tiễn.

Là một cống hiến to lớn của D đối với khoa học nói chung và tâm lý học,

nó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn

- Học thuyết phản xạ của Descarter là cơ sở khoa học cho tư tưởng quyết định luận duy vật trong triết học và tâm lý học.

- Là cơ sở để sinh lý học hiện đại ngày nay

- Cơ sở để nghiên cứu tâm lý: đo đếm, lượng hóa

=> Ông đã đặt nền móng cho nền tâm lý học hiện đại

CÂU 3 ĐÁNH GIÁ NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ

CỦA TÂM LÝ HỌC GESTALT.

3.1 Khái quát hoàn cảnh ra đời

Trang 10

- Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tâm lý học thế giới đi vào cuộc khủnghoảng Đó là cuộc khủng hoảng về phương pháp luận Việc xuất hiện nhiềudòng phái tâm lý học khác nhau ở nhiều nước trong việc tìm kiếm một lối thoátcho tâm lý học cũng là một nhu cầu khách quan

- Một điều kiện lịch sử quan trọng của việc hình thành dòng phái tâm lý

học Gestalt là cuộc khủng hoảng trong vật lý học từ góc độ phương pháp luận

bởi quan niệm siêu hình về cấu trúc của vật chất, coi vật chất được cấu tạo từnhững nguyên tử đơn lẻ, cứng nhắc

Tâm lý học Gestalt ra đời vào năm 1913, do bộ ba các nhà tâm lý học cấutrúc người Đức tên là Wertheimer (1880-1943), Kohler (1887-1967), Koffka(1886-1941) lập ra Đây là một trường phái chuyên nghiên cứu về tri giác, ítnhiều nghiên cứu về tư duy con người nhằm xây dựng một nền tâm lý học kháchquan theo kiểu mẫu của vật lý học

3.2 Về cơ sở triết học ảnh hưởng đến sự nảy sinh của tâm lý học Gestalt, có thể kể đến:

- Triết học tiên nghiệm của E.Kant với luận điểm “Vật tự nó” Theo quan

niệm của Kant, là vật thể tồn tại độc lập với ý thức, ta không thể nhận thức đượcnhưng lại phù hợp với những biểu tượng của con người

- Luận điểm triết học duy tâm của E Mach nổi tiếng với luận điểm sự phối hợp cảm giác (hình ảnh SVHT chẳng qua chỉ là sự phức hợp các cảm giác)

- Quan điểm hiện tượng học của E Husserl cho rằng có “ý thức thuần tuý”

tách khỏi tồn tại và không liên quan gì đến tồn tại (có ảnh hưởng vô cùng lớnđến ý tưởng của những người sáng lập tâm lý học Gestalt)

- Quan điểm tinh thần của con người là một dòng ý thức W James

- Phát triển của vật lý học Gadile, newton… đặc biệt là những nghiên cứu

về lực trường (mọi svht luôn có liên quan đến nhau)

3.3 Quan điểm tiếp cận:

Trang 11

Quan điểm tiếp cận nghiên cứu các hiện tượng tâm lý: Gestalt là gì? Đó làmột hình ảnh tâm lý có cấu trúc trọn vẹn, hoàn chỉnh Tâm lý học Gestalt còngọi là tâm lý học cấu trúc, tâm lý học hình thái Theo các nhà tâm lý học Gestaltthì đối tượng của tâm lý học phải nghiên cứu đó là “tồn tại những mối liên hệ”,(những chỉnh thể trọn vẹn).

- Với cách tiếp cận như vậy, các nhà Gestalt cho rằng đặc trưng của mộtquá trình tâm lý, hiện tượng tâm lý đó là tính trọn vẹn, tổng thể, cấu trúc hoànchỉnh (gestalten) Đây là cách tiếp cận nghiên cứu hiện tượng tâm lý của pháiGestalt và cũng là tiền đề để họ đi vào nghiên cứu các hiện tượng tâm lý, rút racác qui luật của chúng

3.4 Các nội dung cơ bản của tâm lý học Gestalt.

Những kết quả nghiên cứu mà tâm lý học Gestalt đạt được là vô cùngphong phú, có thể trình bày khái quát như sau:

3.4.1 Tri giác và các quy luật cơ bản của tri giác

* Quy luật hình và nền: Quy luật đó thể hiện ở chỗ khi ta tri giác thì bao

giờ cũng có một phần của trường tri giác nổi bật lên, đậm nét, rõ ràng, có ýnghĩa còn những vật xung quanh thì mờ nhạt, không có ý nghĩa, giữa chúng có

sự tách biệt tương đối tạo nên cái gọi là “hình” và “nền”

* Quy luật tương quan (Quy luật chuyển hoá)

Tri giác phản ánh các mối quan hệ giữa vật này với vật kia Khi tri giác,con vật không phản ứng với từng kích thích riêng lẻ, cũng không phản ứng với

độ sáng tuyệt đối mà là phản ứng với mối quan hệ của cả tổ hợp kích thích

* Quy luật bổ sung

Theo quy luật này tri giác bao giờ cũng có xu hướng làm cho hình ảnh trigiác được “hoàn chỉnh”, trọn vẹn, “đẹp mắt”

* Quy luật về tính gần gũi:

Trang 12

Các sự vật có tính chất giống nhau (về độ lớn, hình dáng, mầu sắc…) tức là

có tính gần gũi về một phương diện nào đó, thường có khuynh hướng nhóm lại,

tách ra khỏi các sự vật khác

* Qui luật về tính không đổi (tính ổn định): Nghĩa là hình ảnh do tri giác

tạo ra có tính chất ổn định (không đổi) dù điều kiện tri giác có thay đổi VD:than đen, phấn trắng Sở dĩ như vậy vì, theo các nhà tâm lý học Gestalt tất cả

các hiện tượng tâm lý đều tuân theo qui luật của thuyết đồng cấu, đồng hình (sẽ

trình bày ở dưới)

3.4.2 Tư duy và giả thuyết về sự bừng hiểu

Tư duy là một quá trình tích cực kết hợp các yếu tố trong trường thị giác đểthành một hình thức hoàn chỉnh và phát hiện ra vấn đề Ở đây học đưa ra kháiniệm "insight" (bừng chợt hiểu) với VD hắc tinh tinh

=> Chuyển từ kết quả nghiên cứu trên động vật sang nhìn nhận tư duycủa con người, rõ ràng là các nhà tâm lý học Gestalt đã phủ nhận vai trò củahoạt động thực tiễn, của ngôn ngữ, đánh đồng hoạt động trí tuệ giữa conngười và động vật; đề cao cách học trực giác

3.4.3 Thuyết đồng cấu, đồng hình trong tâm lý học Gestalt

Các nhà tâm lý học Gestalt giải quyết mối liên hệ giữa tâm lý, sinh lý, vật

lý bằng khái niệm đồng cấu, đồng hình Nghĩa là các hình ảnh tâm lý có cùngmột cấu trúc với các quá trình sinh lý cũng như các khách thể vật lý Đây cũng

là một tư tưởng tiến bộ, nó gần với quan điểm sinh lý chức năng hiện đại: cơ sởsinh lý của các quá trình tâm lý Tuy nhiên thực tế, nhiều khi cấu trúc sinh lýkhông trùng với tâm lý (run là mệt chứ không phải sợ hãi) Thực chất của quanniệm đồng cấu, đồng hình đã chứng tỏ tâm lý học Gestalt đã không thoát khỏivòng ảnh hưởng của thuyết duy tâm tâm-sinh lý và tâm- vật lý song hành Tâm

lý, ý thức vẫn là huyền bí, “tiền định” do đó vẫn không giải quyết được những

bế tắc mà chính tâm lý học nội quan đã mắc phải

3.4.4 Quan niệm về nhân cách trong tâm lý học Gestalt

Ngày đăng: 31/05/2021, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w