1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG LỊCH sử tâm lý học, ôn THI SAU đại học

38 54 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tâm Hồn Của Platon Và Aristote
Tác giả Platon, Aristote
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Tài liệu tham khảo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 313 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TLH đã và đang trở thành một trong những nghành KH có sự phát triển mạnh mẽ về lý luận và khả năng ứng dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra. Các thành tựu đó là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài của TLH. LS TLH bắt đầu từ khi tư tưởng TLH phát triển trong lòng các tư tưởng TH cho đến khi TL trở thành một khoa học độc lập và không ngừng phát triển cho đến nay. Đó là quá trình đấu tranh quyết liệt giữa những quan điểm, trường phái khác nhau và sự đóng góp không mệt mỏi của các nhà TLH hữu danh hay khuyết danh nhằm tìm kiếm và XD một TLH khách quan, khoa học.

Trang 1

Học thuyết tâm hồn của Platon; Aristote

TLH đã và đang trở thành một trong những nghành KH có sự phát triển mạnh mẽ về

lý luận và khả năng ứng dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra Các thành tựu đó làkết quả của một quá trình phát triển lâu dài của TLH LS TLH bắt đầu từ khi tư tưởng TLHphát triển trong lòng các tư tưởng TH cho đến khi TL trở thành một khoa học độc lập vàkhông ngừng phát triển cho đến nay Đó là quá trình đấu tranh quyết liệt giữa những quanđiểm, trường phái khác nhau và sự đóng góp không mệt mỏi của các nhà TLH hữu danhhay khuyết danh nhằm tìm kiếm và XD một TLH khách quan, khoa học

Nhìn lại gđ đầu của LS TLH, trong nền văn minh cổ đại, ở Phương Đông và phươngTây, cùng với sự ra đời và phát triển các tư tưởng TH, định lý toán học, quy luật thiên văn

… đã bắt đầu có những lý giải về đời sống tinh thần của con người đặc biệt từ TK VIITCN lịch sử nhận thức của con người đã có sự thay đổi đó là bắt đầu cuộc CM lần 1 củanhân loại: cuộc CM trong nhận thức chuyển từ lối suy nghĩ thần thánh ngự trị sang tư duykhoa học Quá trình tiến triển khách quan của hoạt động nhận thức, nhưng là tiền đề mạnh

mẽ cho sự phát triển của các khoa học ngày nay

Nói đến nền văn minh cổ đại không thể không nói đến nền văn minh Hi Lạp Hy Lạp

cổ đại là đất nước của thi ca, thần thoại Thần thoại là nơi để con người tưởng tượng, diễngiải các hiện tượng thiên nhiên kỳ bí mà còn là nơi thể hiện đời sống tâm linh, sự hìnhthành số phận cũng như muôn mặt của đời sống thường ngày

Trên góc độ Tâm lý học, vào khoảng từ thế kỷ VII trước công nguyên, trong tư duycủa các triết gia cổ đại, người ta đã đề cập đến khái niệm “tâm hồn”, đó là thế giới tinhthần bí ẩn của con người Nhiều triết gia cổ đại đã đặt thành đối tượng để nghiên cứu, lýgiải

Sau Socrate, các học trò của ông, trong đó có Platon, rồi học trò của Platon làAristote cũng như nhiều triết gia khác nhau lao vào nghiên cứu lĩnh vực tinh thần riêng củacon người, tạo nên các quan niệm khác nhau về “tâm hồn” Trong các tư tưởng tâm lý học

cổ đại, đáng kể là các học thuyết về tâm hồn của Democrite, Platon và Aristote

Platon là học trò của Socrate và sau này là thầy dạy của Aristote Người sáng lập chủnghĩa duy tâm khách quan Tác giả của trên 30 cuộc đối thoại triết học nổi tiếng như

“người nguỵ biện”, “Pacmênit”, “Nhà nước”, Platon là ông tổ của chủ nghĩa duy tâmtriết học ở Tây Âu

Platon chủ xướng học thuyết về sự tồn tại của những hình thức vật thể của cácvật mà ông gọi là những “loài” hay những “ý niệm” và đồng nhất chúng với tồn tại

Cơ sở của trật tự của thế giới này là lĩnh vực của các hình thức vĩnh hằng ẩn dấu saubầu trời, trong vương quốc các ý niệm

- Quan niệm về tâm hồn được xây dựng trên cơ sở “ý niệm”: Tâm hồn là cái vậnđộng nhất và có khả năng tự vận động Hồn nhập vào cơ thể và có sứ mệnh điều khiểncuộc sống của cơ thể Nó là cái có trước còn cơ thể chỉ là mặt tồn tại vật chất vô nghĩa, thụđộng

Cấu trúc tâm hồn: Gồm 3 phần với các chức năng khác nhau: tâm hồn tình cảm, lý trí

và tâm hồn dũng cảm- ý chí

Trang 2

Tóm lại, platon là một trong những nhà TH xuất sắc nhất trong nền TH Hy Lạp cổ

đại, là một trong những đại biểu của TH duy tâm trong LSTH, là một trong những bộ ócbách khoa của Hy Lạp cổ đại Hệ thống Th của ông đề cập đến nhiều học thuyết như ýniệm, nhận thức luận…và cho dù còn hạn chế nhưng ông có công lớn trong việc nghiêncứu các vấn đề ý thức xã hội, đặt nền tảng cho việc xây dựng các khái niệm, phạm trù và

tư duy lý luận Ông đã phê phán sự ngự trị gần 200 năm của các con số của Pythagore, kéocác nhà triết học, tâm lý học đi vào các khía cạnh hiện thực của cuộc sống con người làlĩnh vực đạo đức, trí tuệ Điều này có ý nghĩa to lớn cho sự phát triển tâm lý học Mặc dùkhi giải thích nó ông lại giải thích bằng quan điểm duy tâm Quan điểm về tâm hồn củaPlaton có bước tiến lớn: Nhìn tâm hồn theo quan điểm cấu trúc, chức năng và có thứ bậc.Tuy nhiên các vấn đề mà Palaton đã đề cập trong học thuyết về tâm hồn đã gây ranhiều tranh cãi khác nhau, kích thích việc đi tìm các giải thích mới mà sau đó được ngườihọc trò của là Aristote thực hiện

Học thuyết về tâm hồn của Aristote: “Bàn về tâm hồn - Tác phẩm đầu tiên của Tâm lý học”:

Aristote (384-322 TCN) là tác gia vĩ đại nhất của Tâm lý học cổ đại, sinh ở miền Bắc

Hi Lạp, con một thầy thuốc trong cung đình của Vua Maxêdoan Năm 17 tuổi vào họcviện của Platon, đi dạy học và nghiên cứu khoa học Aristote nghiên cứu nhiều lĩnh vực, lànhà bách khoa toàn thư Có nhiều vấn đề, ông đã phê phán các sai lầm của thầy dạy củamình Aristote là tác giả của tác phẩm tâm lý đầu tiên trong lịch sử “Bàn về tâm hồn”.Bằng việc phân tích tác phẩm “Bàn về tâm hồn” của Aristote có thể nhận thấy cácquan điểm về triết học và tâm lý học của ông trên các vấn đề chủ yếu sau đây:

Aristote rất coi trọng khía cạnh “tâm hồn” trong con người và kêu gọi mọi người hãy

đi vào nghiên cứu “tâm hồn”

Hệ thống lại các nghiên cứu về tâm hồn đã có trước đây: Tâm hồn là cái có khả năng vậnđộng cao nhất, vì nó tự vận động; Tâm hồn là thân thể cấu tạo nên từ các hạt nhỏ nhất, hay tâmhồn ít tính chất thân thể hơn tất cả các cái khác; Tâm hồn hợp bởi các yếu tố đất, nước, khí, lửa

- Nêu ra quan niệm của ông về tâm hồn:

+ Bao gồm cả tư duy, trí nhớ, tình cảm, các quá trình và trạng thái tâm lý, các hànhđộng tác động vào thế giới bên ngoài

+ Muốn hiểu tâm hồn phải đi tìm mối quan hệ ngoài tâm hồn, trong đó Aristote đã để

ý đến mối quan hệ giữa tâm lý và cơ thể

+ Phủ nhận quan niệm tâm hồn hợp bởi đất, nước, lửa, khí Nêu ra định nghĩa vềtâm hồn: “Tâm hồn là cái tự đích của thân thể tự nhiên và có khả năng sống”

+ Theo ông chỉ có các vật thể tự nhiên nào có sự sống mới có tâm hồn

+ Giới thiệu học thuyết về 3 loại tâm hồn: Tâm hồn dinh dưỡng; Tâm hồn cảm giác,thụ cảm; Tâm hồn suy nghĩ

Đánh giá chung:

Hệ thống tư tưởng của Aristote về tâm hồn lần đầu tiên trong lịch sử phát triển củatâm lý học đã trở thành tiền đề cho sự phát triển các giai đoạn về sau Tác phẩm “Bàn vềtâm hồn” của ông là một trong những đỉnh cao của tư duy khoa học thời cổ

Tuy nhiên Aristote cũng có những hạn chế do điều kiện xã hội- lịch sử qui định: Tư

tưởng của ông là tư tưởng Nhị nguyên luận (khi giải quyết các vấn đề tư duy), còn mang nặng

Trang 3

tư tưởng sinh vật luận máy móc, siêu hình, chưa tiếp cận được tư tưởng quyết định luận xã lịch sử.

hội-Tóm lại, sự phát sinh, hình thành của tâm lý học thời cổ đại đã có công lớn khi đưa

ra và kêu gọi nghiên cứu về tâm hồn Các nghiên cứu, lý giải về tâm hồn thời Hy lạp cổđại lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử cũng chính là những tiền đề đầu tiên cho sự pháttriển của tâm lý học sau này

Các nhà tâm lý học cổ đại đều xuất phát từ quan niệm cho rằng tâm hồn là một lĩnhvực riêng biệt cần phải được nghiên cứu riêng, cần trở thành đối tượng của một khoa họcchứ không phải là một tồn tại tự nó Các quan điểm về tâm hồn của các tác gia thời kỳ nàynhư là “những mô hình thử nghiệm đầu tiên” (V.I.Lênin) còn các tác gia của nó: “Các nhà

tư tưởng Hi Lạp mãi mãi là bậc thầy của chúng ta bởi vì bằng tính hồn nhiên khách quan

to lớn, họ đã tìm ra được đối tượng nghiên cứu dưới dạng thuần khiết sạch sẽ của nó, tuychưa thật rõ nét”

Đỉnh cao của tâm lý học cổ đại là học thuyết về tâm hồn của Aristote được trình bàytrong tác phẩm “Bàn về tâm hồn” của ông

Do hạn chế của lịch sử và mức độ phát triển của khoa học lúc đó, hệ thống quan điểm

về tâm hồn thời cổ đại còn mang tính tự nhiên, tự phát, máy móc, phần lớn mang màu sắcduy linh và còn dừng ở góc độ tiền khoa học

Trang 4

Vấn đề 2: Học thuyết phản xạ của Decaster

Từ thế kỷ thứ XVII, một hiện tượng nổi bật ở châu Âu là sự phát triển mạnh củacác công trường thủ công đã làm cho chủ nghĩa tư bản đã được hình thành và bắt đầuđạt mức phát triển khá cao ở nhiều nước châu Âu như Anh, Pháp, Hà Lan kinh tế tưbản chủ nghĩa phát triển mạnh

Trong khoa học tự nhiên đã bắt đầu có các phát kiến quan trọng phá tan nhiều quanniệm cũ về thế giới, về xã hội, về những tồn tại xung quanh con người, về sinh lý học và

về chính con người Đây cùng là thời kỳ hoàng kim của các hệ thống siêu hình học Chính vì vậy những quan niệm duy tâm phản khoa học đã có trước đây về tâm hồn conngười khó đứng vững Con người đòi hỏi phải có những lý giải khoa học về đời sống tinhthần của con người, về cơ thể và mối quan hệ giữa tâm hồn và cơ thể trên cơ sở của cácthành tựu khoa học đang được con người phát hiện

Các nghiên cứu tâm lý học thời kỳ này bắt đầu được phát triển mở đầu từ những cốgắng của các nhà khoa học đương thời nhằm làm rõ những vấn đề liên quan đến bản chấtcủa các hiện tượng tâm lý Từ việc xác định bản thể của cái tâm lý, nguồn gốc, nguyênnhân của tâm lý Những cố gắng khác nhau nhằm dẫn đến các lý thuyết giải thích sự phátsinh phát triển của các hiện tượng tâm lý người (thuyết nhận cảm, thuyết liên tưởng) Giảithích cơ chế hoạt động của cơ thể (thuyết phản xạ), giải thích các khía cạnh liên quan đếncác lực lượng thúc đẩy hành vi người (hiện tượng động cơ)

Nói đến thành tựu tâm lý học thế kỷ này, phải nói đến phát hiện của Descartes.

Đây là một thành tựu đáng kể nhất trong lịch sử phát triển khoa học thế kỷ XVII Thuyếtphản xạ của Descartes là cơ sở khoa học cho tư tưởng quyết định luận duy vật trong triếthọc và tâm lý học

René Descartes là nhà triết học, toán học, vật lý học nổi tiếng người Pháp, xuất thân

từ một gia đình quí tộc tư pháp- hành chính Descares là một người luôn giữ vững độc lập

về tư tưởng Ông đi nhiều để quan sát, nghiên cứu, giao thiệp rộng rãi, thường sống ở HàLan để tránh sự ngược đãi của giáo hội Năm 1650 ông mất tại Thuỵ điển nhưng 17 nămsau, năm 1667 thi hài của ông đã được đưa về điện Păngtêông (Paris) là nơi tôn vinh các

vĩ nhân nước Pháp Chính quyền đương thời đã không dám công khai tổ chức rước thi hài

vì sợ những tư tưởng tiến bộ của ông

R.Descartes đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị: Các qui tắc chỉ đạo lý trí; Thế giới

; Miêu tả con người; Luận văn về phương pháp ; Mặc tưởng về siêu hình học ; Các nguyên lý triết học ; Khái luận về dục vọng ; Bàn về ánh sáng

Descartes là người theo lập trường nhị nguyên, là người đề xuất học thuyết về hai bảnthể: Cơ thể là một tồn tại còn tâm lý hay tâm hồn là một tồn tại khác Tồn tại của cơ thể làmột tồn tại vật lý còn tồn tại tâm lý, tinh thần là tư duy, suy nghĩ hai bản thể song songtồn tại Ông đã đưa ra luận điểm nổi tiếng “tôi suy nghĩ tức là tôi tồn tại”

Một cách khách quan, Descartes đã làm được một điều vô cùng to lớn là kh.định bêncạnh loại hiện tượng cơ thể người còn có một loại hiện tượng thuộc về tâm hồn, tâm lý conngười Điều này có g.trị to lớn đối với tlh là khẳng định sự tồn tại khách quan có thật củacác hiện tượng tâm lý, ý thức con người khác hẳn với hiện tượng cơ thể đã được biết Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, ông là nhà duy vật Ông quan niệm sự vận động

Trang 5

đó qui lại chỉ là sự di chuyển của các hạt nhỏ vật chất là các nguyên tử Trong lĩnh vực tinh thần, ông đi đến thuyết “hồn vật” mà nội dung là sự vận động của các hạt máu tròn,

nhỏ, nhẵn, tốc độ nhanh, đi tới đâu tạo ra sự vận động ở đó

Từ thuyết “hồn vật”, Descartes đã đi đến thuyết phản xạ Ông khẳng định các cửđộng của cơ thể đều xảy ra theo các khâu:

a Có kích thích từ bên ngoài để tạo ra xung động thần kinh

b Có đường dẫn truyền xung động thần kinh đến trung ương thần kinh

c Có cơ quan thực hiện phản xạ (co cơ, ) Đó là 3 khâu cơ bản của một cung phản

xạ, cho đến nay đã được phát triển hoàn thiện bằng các nghiên cứu của Xêtrênốp, Palov,

Anôkhin Học thuyết phản xạ của Descarter là cơ sở khoa học cho tư tưởng quyết định luận duy vật trong triết học và tâm lý học.

Với học thuyết hai bản thể, Descarte đã phát triển đến đỉnh cao tư tưởng của Aristote

cho rằng tâm hồn và cơ thể hợp lại thành tồn tại sống Ông đã đặt nền móng cho nền tâm

lý học hiện đại Công lao của Đề các:

- Cống hiến: Nhà bác học nổi tiếng đương thời với phát kiến Thuyết Phản xạ, ông đặt nềnmóng cho sự phát triển KH đương thời và TLH

- Hạn chế: Học thuyết hai bản thể của ĐC là nhị nguyên luận, mặt khác nhận thức luận ĐC làduy lý luận bởi vì ông không giải thích được nguồn gốc, cội nguồn của cái ý thức con người,ông đã gói tất cả mọi cái của con người vào cái suy nghĩ Chính vì vậy ĐC khởi đầu chophương pháp nội quan (DT) Đánh giá chung:

Sự phát triển của tâm lý học thế kỷ XVII có một vai trò đặc biệt trong sự phát triểncủa tâm lý học Thời kỳ này tựa như một bước ngoặt, bắt đầu từ đây, dựa vào các thànhtựu khác nhau của khoa học tự nhiên, tâm lý học đã thay đổi cách nhìn các phạm trù cơbản của nó, cũng như các phương pháp nghiên cứu chung

Các thành tựu đạt được ở thế kỷ này là đáng kể: khái niệm ý thức được dùng thay chokhái niệm “tâm hồn” thời cổ Nhờ áp dụng các phương pháp khác nhau mà các hiện tượngtâm lý phức tạp của con người đã bị khám phá từng bước một từ việc xác định nguyênnhân nảy sinh, sự vận hành biến đổi và bản chất thực sự của nó Nổi bật ở thế kỷ này vẫn

là sự xuất hiện thuyết phản xạ của Descarte mà ảnh hưởng của nó là rất lớn bao trùm cáclĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và con người

Các nhà tâm lý học thế kỷ XVII như F.Engghen đánh giá xứng đáng là những người

“khổng lồ”: “Từ xưa tới nay, nhân loại đã trải qua, đó là một thời đại cần có những con ngườikhổng lồ và đã sinh ra những con người khổng lồ: Khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệttình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng”(1)

Ý nghĩa của Thuyết Phản xạ: có ý nghĩa to lớn đối với khoa học nói chung với TLh nói riêng, ông đã khảng định tư tưởng DV trog TH, KHTN, TLH Học thuyết Là cơ sở KH

cho tư tưởng QĐL trong TH và TLH

Vấn đề 3: Những tư tưởng TLH của W.Wundt

Có thể những tiền đề cho sự ra đời của một khoa học tâm lý đã được xác định rõ,

song vai trò quyết định của một cá nhân với tư cách một lãnh tụ của một khoa học ở thờiđiểm này không ai khác ngoài con người mang tên W.Wundt (1832-1920) Khảng định

Trang 6

trước hết muốn có khoa học, thì phải có đội ngũ những người làm công tác nghiên cứukhoa học, đến thời điểm này đã có phương hướng nghiên cứu cụ thể đồng thời có điềukiện, phương tiện để thực hiện phương hướng ấy Đây là sự phản ánh khách quan của sựtiến bộ xã hội nói chung và của khoa học nói riêng Vì vậy sự xuất hiện của một nghànhkhoa học mới được xem là một tất yếu khách quan.

W ông sinh tại Đức, con của một gia đình linh mục ông bảo vệ luận án TS lúc 24tuổi , ông đã có nhiều đóng góp to lớn trong lĩnh vực nghiên cứu các vấn đề của tâm lý vàsinh lý học như: Học thuyết về sự vận động của các cơ; Tư liệu về lý thuyết tri giác cảmtính; Tâm lý học dưới góc độ của khoa học tự nhiên; Những bài giảng về tâm hồn người vàđộng vật; Cơ sở sinh lý học; Tâm lý học dân tộc đây là những nội dung cơ bản cho việcthành lập phòng thực nghiệm TLH của ông thời bấy giờ, đặc biệt với công trình trọn bộ 10tập về TLH dân tộc được coi là cơ sở thực sự để TLH ra đời Mặt khác nó cũng còn khảngđịnh cần phải có một đội ngũ cán bộ nhà khoa học, nhân viên, chuyên gia nghiên cứunhằm tiến hành các thực nghiệm và thực hiện những công trình nghiên cứu phức tạp củalĩnh vực này

Với TLH dân tộc Ông tập trung nghiên cứu tính dân tộc, tâm lý dân tộc, nghiên cứutinh thần dân tộc thông qua các truyện cổ tích, thần thoại vì vậy để hiểu được TLH dân tộcphải dùng phương pháp thuật lại và suy diễn qua các sản phẩm văn hóa

Tâm lý học của Wundt được thể hiện trên một số tư tưởng chính sau đây:

Thứ nhất: Toàn bộ tâm lý học của Wundt xuất phát từ quan niệm coi con người là

một thể thống nhất tâm- vật lý trong đó có những hiện tượng có thể thấy được như các cửđộng, mắt nhìn, tay sờ…W cho rằng trung tâm tâm lý người là một điểm cố định của ýthức được bao quanh bởi các vòng tròn: vòng tiêu cự, vòng chú ý, trường ý thức, ngưỡng ýthức Đây là tư tưởng cơ bản mà W đề cập trong việc nghiên cứu TL người, đồng thờicũng là cơ sở để ông đưa ra các nội dung tư tưởng quan trọng tiếp theo

Thứ hai: Tất cả các hiện tượng tâm lý đều ở trong vòng các hiện tượng tinh thần của

con người và đều xuất phát từ ý thức Wundt coi tâm lý là cái thứ nhất, mọi cái trong thựctại đều bắt nguồn từ ý thức Do đó, tâm lý học do Wundt chủ trương thực chất là tâm lýhọc duy tâm Tâm lý học duy tâm của Wundt còn được gọi là tâm lý học nội quan, tâm lýhọc ý chí luận trong việc nghiên cứu TLH

Wundt đưa ra khái niệm Tổng giác Đây là khái niệm quan trọng trong hệ thống lý luận của Wundt Theo quan niệm của Wundt thì tổng giác là hạt nhân của ý thức, ý chí của

con người Tổng giác là một cái gì đó không hiểu được vốn có trong thế giới nội tâm củacon người Tổng giác phản ứng với những cái do cảm giác, tri giác mang lại, giúp cho conngười “cảm thấy” những cái xảy ra trong mình Nhờ có “tổng giác” mà trong con người

có đủ mọi thứ do mình tạo ra và tất cả những cái đó không liên quan gì đến hoạt động với

thế giới bên ngoài Tổng giác tạo thành “con người tí hon” nằm trong và điều khiển “con người thể xác to lớn”bên ngoài.

Thứ ba: Tâm lý học của Wundt tuân theo “nguyên tắc siêu hình” Wundt quan niệm,

“con người tí hon” được tồn tại và nhận thức theo nguyên tắc đóng kín trong thế giới nộitâm Mỗi người tự mình hiểu lấy chính mình Không ai có thể hiểu mình ngoài bản thân

mình Do đó tâm lý học của Wundt là tâm lý học duy tâm, chủ quan, ý chí luận Đó cũng chính là tâm lý học nội quan lấy phương pháp nội quan làm phương pháp duy nhất để

nghiên cứu tâm lý con người Nội quan tức là tự quan sát, tự thể nghiệm trong chính mình

Trang 7

Phương pháp này do Descartes và Locke khởi xướng từ thế kỷ XVII Tâm lý học củaWundt thực chất là cái vòng luẩn quẩn, phản ánh sự bế tắc của tâm lý học duy tâm, nộiquan

Vào năm 1879 khi làm giáo sư triết học ở Leipzig, Wundt đã tổ chức ra phòng thực

nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới Ông cũng đã công bố một cương lĩnh mới về xâydựng khoa học tâm lý: Xây dựng tâm lý học thực nghiệm và tâm lý học xã hội Về tâm lýhọc thực nghiệm, ông chủ trương tiếp tục nghiên cứu các vấn đề tâm sinh lý học các giácquan và tâm vật lý học Với tâm lý học xã hội, ông chủ trương nghiên cứu tâm lý học dântộc, nghiên cứu tinh thần dân tộc qua các truyện cổ tích, thần thoại.Theo Wundt, những tưtưởng tâm lý học dân tộc tồn tại trong các sản phẩm văn hoá như truyện cổ tích, truyệndân gian, thần thoại, trong phong tục tập quán của các dân tộc… và để hiểu được những tưtưởng tâm lý học dân tộc này phải dùng phương pháp thuật lại và suy diễn từ các sản phẩmvăn hoá

Có thể nói, trong hàng loạt các sự kiện diễn ra vào những năm cuối thế kỷ XIX thì sựkiện Wundt tổ chức ra phòng thực nghiệm tâm lý học đầu tiên vào năm 1879 là sự kiện nổibật nhất Sự kiện này ghi nhận sự trưởng thành đầy đủ của một ngành khoa học mới là khoahọc tâm lý Chính vì lẽ đó mà các nhà tâm lý học lấy đây như một cái mốc đánh dấu sự ra đờicủa tâm lý học với tư cách là một khoa học độc lập

Tuy vậy TLH của W cũng có nhiều hạn chế, vừa DT nội quan vừa siêu hình, ý chíluận đã giải thích sai lệch bản chất của hiện tượng tâm lý và vì thế nền TLH này cũngkhông tránh khỏi đi vào bế tắc Sự bế tắc của TLH DT chủ quan ngày càng bộc lộ rõ Đến

TK XIX, đầu XX đã dấy lên một làn sóng chống lại TLH DT nội quan làm xuất hiện nhiềudòng phái TLH mới như: TLH chức năng của W.James và Angell, TLH cấu trúc của E.Titchener, tâm lý học mô tả của W.Dilthay và E.Spranger nhưng những dòng TLH nàycũng ko tránh khỏi bế tắc vì về cơ bản đã ko thoát ra khỏi TLH DT nội quan

Nghiên cứu “thai nghén”, hình thành, phát triển và đi vào bế tắc của TLH nội quancủa W.Wundt giúp chúng ta, những người nghiên cứu giảng dậy TLH quân sự có được cáinhìn toàn cảnh về một giai đoạn mấu chốt trong lịch sử phát triển TLH Qua đó, mỗi nhànghiên cứu có thể tự rút ra cho mình những bài học quý giá trong quá trình hoạt động nghềnghiệp Mà bài học lớn nhất, cấp thiết nhất đó là vấn đề xác định đối tượng nghiên cứu,nhiệm vụ nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cần phải thực sự khách quan, khoa học.TLH quân sự là một phân ngành của TLH nghiên cứu các hiện tượng TL người trongnhững điều kiện hoàn cảnh đặc thù: cụ thể là tâm lý quân nhân và tập thể quân nhân tronghoạt động quân sự Muốn thu được kết quả thực sự khách quan, khoa học trong quá trìnhnghiên cứu, nhà nghiên cứu cần phải phản ánh đầy đủ tính đặc thù đó trong lựa chọnkhách thể, đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Một vấn đề nữa cũng rất quan trọng đặt ra là tri thức của TLH chỉ thực sự có ý nghĩakhi nó ứng dụng có hiệu quả trong đời sống thực tiễn chứ ko phải nghiên cứu rồi để nótrong sách vở, tủ tài liệu vì vậy, vấn đề chuyển giao, ứng dụng phải thông qua quán triệt,giáo dục Song TLH DT nội quan của W lại là cơ sở của nền giáo dục tự biện, của lối dạyhọc vẹt, học nhồi nhét, ép buộc người học theo ý muốn của người dạy Bởi vì theo Wngười học ko thể hiểu được nếu thông qua con đường học vẹt và chấp nhận tri thức màthôi Như vậy, đó là nền giáo dục chủ quan, ý chí luận Do đó TLH quân sự muốn pháttriển cũng phải coi đây là một bài học kinh nghiệm rất lớn, đó là ko thể áp đặt tri thức, ko

Trang 8

thể áp đặt nội dung mà phải làm cho nội dung thật sinh động, cuốn hút, phù hợp với thựctiễn hoạt động quân sự, phải trở thành tri thức “khả tri”.

Vấn đề 4: Các tiền đề KH để TLH ra đời với tư cách là khoa học độc lập.

Từ nửa sau thế kỷ XIX, những thành tựu của khoa học tâm lý trên tất cả các lĩnh vực

đã phá vỡ về căn bản những quan niệm trứơc đó về kết cấu và thuộc tính của vật chất và

do thế đã ảnh hưởng rất lớn đến việc nhìn nhận thế giới tinh thần của con người

Trang 9

Sự kiện có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành tâm lý học như một khoa học độclập là việc áp dụng các phương pháp thực nghiệm vào nghiên cứu các hiện tượng tâm lýngười Những thực nghiệm tâm sinh lý học các cơ quan cảm giác cũng như tâm vật lý học

đã tiến hành đo đạc, tính toán đưa ra những số liệu khách quan tựa như những nghiên cứu

ở các lĩnh vực khoa học tự nhiên khác, đồng thời khẳng định sự tồn tại có thật của các hiện tượng tâm lý Đây là một bước tiến vượt bậc trong việc tìm kiếm, làm rõ đối tượng

của tâm lý học gắn liền với tên tuổi của H.Helmholtz , D.Reymond, G.T Fechner, E.H.Weber,

Vào năm 1879, tại Leipzig(Đức), lần đầu tiên trên thế giới, một phòng thựcnghiệm tâm lý học được thành lập theo sáng kiến của nhà tâm lý học người Đức tên làW.Wundt Ngay từ những ngày khởi đầu, phòng thực nghiệm của ông đã đi vào hoạtđộng có hiệu quả, phát huy ảnh hưởng to lớn của nó đến hoạt động nghiên cứu tâm lýhọc của nhiều nước cả về nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Sự kiệnnày đã có một ý nghĩa vô cùng to lớn, được ghi nhận như là mốc khởi đầu xuất hiệntâm lý học với tính cách là một khoa học độc lập

Việc TLH ra đời với tư cách là một khoa học độc lập được bắt nguồn từ những tiền đề KH sau đây:

Thứ nhất, TLH ra đời được bắt nguồn từ Tâm sinh lý học các giác quan

Tâm sinh lý học giác quan là một hướng nghiên cứu nhằm làm rõ mối quan hệ giữa kích thích vật lý, các quá trình xảy ra trong hệ thần kinh và các quá trình cảm tính (cảm giác, tri giác) của con người Đại biểu của lĩnh vực nghiên cứu này trước tiên phải kể đến

công lao của nhà sinh lý học người Đức tên là H Helmholtz và nhà nghiên cứu tâm sinh

lý học người Pháp D Reymond

H Helmholtz đã có công nghiên cứu bằng thực nghiệm nhằm chứng minh các tác

động bên ngoài đến các giác quan của con người làm xuất hiện các hình ảnh về sự vật hiệntượng trong não Ông đã tiến hành công trình nghiên cứu tri giác các vật thể, quan tâm tới

sự khác nhau giữa hình ảnh mà mắt người ghi nhận được với việc vẽ hình ảnh đó trêngiấy hoặc chụp lại các vật thể đó Ông đã nhận thấy rằng mắt “nhìn thấy” sự vật nhiềuhơn hình ảnh phẳng được ghi lại trên giấy hoặc ống kính máy ảnh chụp lại vật thể đó, bởi

vì mắt cảm nhận được, phát hiện được các quan hệ đằng sau cái nhìn đó, chẳng hạn, độlớn thực sự của vật, chiều sâu của vật…và những lần tri giác sau thì khác những lần tri

giác trước vì ít nhiều đã có cái mà H Helmholtz gọi đó là “kinh nghiệm” Các phát hiện

của ông hoàn toàn đúng, nhưng giải thích nguyên do của sự kiện đó, ông đã mắc sai lầm là

quay về với luận điểm duy tâm của “thuyết năng lượng chuyên biệt” của J.P Muller.

Các thực nghiệm của H Helmholtz cũng như nhiều thực nghiệm khác ở thời kỳ này đã

dẫn con người đi đến bác bỏ cái gọi là “năng lượng chuyên biệt” của các giác quan và khẳng định mỗi giác quan có liên quan và thích ứng với một loại kích thích, chẳng hạn:

ánh sáng liên quan đến mắt, âm thanh liên quan đến tai…

Các công trình ng.cứu của H Helmholtz đã giúp ta đi đến những kết luận quantrọng:

+Thế giới khách quan bên ngoài tác động trực tiếp vào các giác quan của con người tạo

ra những xung động thần kinh trong các giác quan

Trang 10

+Nhờ hoạt động của các giác quan mà con người có được những hình ảnh tương ứngvới sự vật hiện tượng khách quan bên ngoài Hoạt động của các giác quan giữ vai trò quantrọng quyết định quá trình nhận biết sự vật.

+Kinh nghiệm đã tham gia tích cực vào việc tạo thành hình ảnh cảm tính

Rõ ràng là có một loại hiện tượng mà từ trước đến nay chưa có một khoa học nàochuyên tâm nghiên cứu Hiện tượng mà từ hàng nghìn năm trước đó Socrate, Platon,

Democrite, Aristote và sau này là Descartes đã nói tới Đó là hiện tượng tâm lý Hiện

tượng tâm lý người là có thật

Cùng với các kết quả đạt được của Helmholtz, nhiều người đã buộc phải để tâm tớimột vấn đề có ý nghĩa to lớn hơn là xác định đối tượng của khoa học tâm lý Helmholtz đã

lần lượt công bố các kết quả nghiên cứu của mình trong các công trình mang tên “Học thuyết về cảm giác nghe là cơ sở sinh lý học của lý thuyết âm nhạc”, “Quang học sinh lý học”.

Thứ hai, TLH ra đời được bắt nguồn từ Tâm vật lý học

Tâm vật lý học là một dòng nghiên cứu đi sâu làm rõ quan hệ giữa cường độ kích thích với hình ảnh tâm lý xuất hiện và biểu thị chúng bằng công thức toán học.

Hai đại biểu lớn nhất của dòng phái này là G.Fechner và E.Weber Khi nghiên cứuphản ứng của da và cơ bắp, E Weber đã tìm ra công thức biểu thị mối tương quan giữaphản ứng cảm tính và tác nhân kích thích từ bên ngoài vào Đồng thời ông cũng phát hiện

ra ngưỡng cảm giác sai biệt Khẳng định tương quan giữa kích thích vật lý và phản ứngcảm giác là tương quan có tính quy luật Với từng loại cảm giác, ngưỡng sai biệt là một

hằng số Cùng với Weber, Fechner cũng tiến hành các nghiên cứu tương tự và tìm ra công

thức biểu thị mối tương quan giữa kích thích và cảm giác

Đó là: cường độ của cảm giác tỷ lệ thuận với lôgarít cường độ kích thích

(trong đó C là cường độ cảm giác, S là cường độ kích thích, k là một hằng số tuỳ thuộc vào từng loại kích thích)

Ngày nay công thức này được gọi là công thức Fechner- Weber để ghi nhớ công laohai nhà bác học đã tìm ra nó Các kết quả do tâm vật lý học đem lại đã minh chứng choviệc khẳng định các quá trình tâm lý là có thật, có thể biểu đạt được nó qua các công thứctoán học, đồng thời có thể nghiên cứu các hiện tượng tâm lý bằng phương pháp thựcnghiệm tức là bằng các phương pháp khách quan Phương hướng này cần được ủng hộ vìđây chính là các tư tưởng duy vật trong nghiên cứu các hiện tượng tâm lý người

Thứ ba, TLH ra đời được bắt nguồn từ nghiên cứu thời gian phản ứng

Đây là hướng nghiên cứu nhằm vào làm rõ mối tương quan giữa hiện tượng sinh lý

và hiện tượng tâm lý bằng phương pháp thực nghiệm Người tiến hành nghiên cứu theo

hướng này là nhà sinh lý học người Hà Lan tên là F.K.Donders với sự kế thừa các kếtquả nghiên cứu của H Helmholtz trước đó

Vào năm 1850, nhờ máy ghi vận động do Helmholtz chế tạo ra, người ta đã ghi đượcthời gian phản ứng của các cơ, từ đó xác định được tốc độ dẫn truyền thần kinh và nhậnthấy rằng tốc độ dẫn truyền này không lớn như người ta tưởng

C= k.lgS

Trang 11

Donders và các cộng sự của ông đã phân ra 3 loại phản ứng tâm lý: Phản ứng tâm lý đơn giản; Phản ứng tâm lý lựa chọn; Phản ứng tâm lý phân biệt Nghiên cứu thời gian

phản ứng của F Donders đã chỉ ra rằng: Trong thực tế có một hiện tượng khác với hiệntượng trong sinh lý học thần kinh nghiên cứu, đó chính là hiện tượng tâm lý chứ khôngphải là sinh lý Đồng thời bằng công trình nghiên cứu của mình Donders cũng chỉ ra là cóthể dùng phương pháp khách quan để nghiên cứu hiện tượng tâm lý ở con người Và việcnghiên cứu đó phải được tiến hành bằng một khoa học mới đó là khoa học tâm lý học.Tóm lại, các công trình nghiên cứu của Tâm sinh lý học giác quan, tâm vật lý học,nghiên cứu thời gian phản ứng trong giai đoạn cuối TK XIX đã dẫn đến những kết luận rấtquan trọng đó là:

Các hiện tượng tâm lý là một hiện thực khách quan có thật, tồn tại theo những quyluật riêng của nó, cần phải nghiên cứu vấn đề này nhằm tìm ra quy luật hiện thực của cáchiện tượng tâm lý

Hiện tượng tâm lý người khác hẳn với các hiện tượng sinh lý đã nghiên cứu, đã từngbiết đến, cho đến nay chưa có một khoa học nào nghiên cứu

Muốn phát hiện ra các hiện tượng tâm lý phải có các phương pháp khách quan vàphương tiện tương ứng để nghiên cứu nó, đồng thời tiến hành tổ chức nghiên cứu vấn đềnày là một yêu cầu bức thiết đặt ra nhằm làm sáng tỏ các hiện tượng của đời sống tâm lýngười Có thể nói những nghiên cứu của Helmholtz, Fechner, Weber, Donders đã thực

sự là cơ sở quan trọng cho việc đưa TLH trở thành một khoa học độc lập Chính những kếtquả nghiên cứu này đã tạo ra một cuộc CM mới cho sự hình thành và phát triển của KH

TL được đánh dấu vào năm 1879 gắn liền với tên tuổi của W.Wundt

Vấn đề 5: Tại sao nói “C.Wolff là người đã làm cho khoa học Tâm lý có tên

gọi”?

Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thế kỷ XVIII phát triển rộng khắp ở nhiều quốc gia Vàođầu thế kỷ XVIII thị trường tiền tệ thế giới (chủ yếu là các nước châu Âu) phát triển kèm

Trang 12

theo sự xuất hiện bộ máy tài chính đồ sộ của các nước Thời kỳ này đã bắt đầu xuất hiệncác công ty cổ phần với việc mua bán cổ phiếu rộng rãi Thị trường chứng khoán ở Anhđược mở và đi vào hoạt động Trong nông nghiệp, việc áp dụng các kỹ thuật gieo trồngbằng máy đã được thực hiện (trồng rau và trồng nho tại Pháp) Cũng nhờ áp dụng côngnghệ canh tác mà thâm canh được thực hiện Trong công nghiệp, xuất hiện máy hơi nước(vào năm 1760) thay thế các loại máy cơ giới khác Xuất hiện những cách mạng trong các

kỹ nghệ khai thác mỏ, luyện kim, chế tạo vũ khí và dệt Các loại máy dệt với “cái thoibay” đã tiêu thụ khá nhiều sợi kéo theo các ngành công nghiệp liên quan đến dệt pháttriển mạnh Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thế kỷ XVIII đã làm thay đổi nhiều vấn đềliên quan đến cách nhìn nhận về con người và cuộc sống thực của con người Đồng thời xãhội tư bản phát triển đã đặt ra nhiều vấn đề về giáo dục nhân cách con người nói chung,đạo đức nói riêng đòi hỏi cần phải lý giải những vấn đề phức tạp trong đời sống tinh thầncon người Tất cả các điều trên một cách khách quan đã làm cho tâm lý học phát triển.Các nhà tâm lý học thế kỷ XVIII đã hướng cố gắng của mình vào khắc phục các tưtưởng nhị nguyên còn rơi rớt từ Descartes và Locke Nhiều tác giả đã bỏ công sức giảithích nguyên nhân, sự vận hành của các hoạt động tâm lý bằng các thành tựu mới của vật

lý, sinh lý, sinh vật học Nổi bật ở thế kỷ này là công lao của các nhà tâm lý học liêntưởng Anh và các nhà tâm lý học duy vật Pháp

Tóm lại, các nhà tâm lý học duy vật Pháp thế kỷ XVIII đã biết dựa chặt vào cácthành tựu của khoa học tự nhiên trong việc phát hiện qui luật, giải thích các hiện tượngtâm lý người Ph.Ănghghen đã nhận định, các nhà duy vật Pháp cho đến thế kỷ XVIII,luôn luôn “cố gắng cắt nghĩa thế giới bằng bản thân nó, không dựa vào nguyên do nào bênngoài cả” Thiếu sót chủ yếu của các nhà triết học, tâm lý học duy vật Pháp là họ vẫn nhìncon người và tâm lý con người máy móc, mang nặng quan điểm cơ giới siêu hình mà chưathấy được bản chất của hiện tượng tâm lý người là sản phẩm của quá trình xã hội- lịch sử.Đương nhiên, cống hiến của các nhà tâm lý học duy vật Pháp là vô cùng to lớn cho lịch sửphát triển tâm lý học bởi nó định hướng duy vật và đặt nền móng cho việc xây dựng mộtnền tâm lý học thực sự khách quan cho thế kỷ sau

Wolf.C với tác phẩm mang tên tâm lý học

Wolf (Vônphơ) (1679-1754) nhà triết học duy tâm người Đức, người hệ thống hoá vàtruyền bá triết học Laibnitxơ Căn cứ vào lý luận của triết học và các khoa học khác cóliên quan đến con người, Wolf đã chia nhân chủng học (khoa học nói chung về con người)

ra làm 2 khoa học: Khoa học về cơ thể và khoa học về tâm lý Trong tâm lý học, ông chia

ra làm 2 loại, tâm lý học kinh nghiệm chủ nghĩa và tâm lý học lý trí Các tác phẩm ông đã

viết: Lôgíc hay là tư tưởng hợp lý về sức mạnh của lý trí con người ; tâm lý học kinh nghiệm Trong tác phẩm này ông mô tả các sự kiện và nói rõ các kết quả mà ông quan sát được về các hiện tượng thuộc đời sống tâm lý Tác phẩm Tâm lý học lý trí được ông đi

vào khai thác mặt bản chất của tâm hồn, được hiểu như là năng lực của biểu tượng biểuthị trong dạng nhận thức và ước muốn, coi đó là sức mạnh chủ yếu Wolf là đại biểu xuất

sắc của tâm lý học năng lực Tác phẩm của ông đã đề cập nhiều mối quan hệ giữa tâm

lý-não, nhưng vẫn theo quan điểm tâm- sinh lý song hành

Có thể nói, công lao của G.Wolf đối với tâm lý học rất to lớn Ông là người đã làmcho khoa học tâm lý có tên gọi, một nấc thang dẫn đến việc ra đời của khoa học tâm lý họcvới tư cách là một khoa học độc lập

Trang 14

lý, nền tâm lý học này cũng đã đi vào bế tắc Việc xuất hiện nhiều dòng phái tâm lý họckhác nhau ở nhiều nước trong việc tìm kiếm một lối thoát cho tâm lý học cũng là một nhucầu khách quan

Một điều kiện lịch sử quan trọng của việc hình thành dòng phái tâm lý học Gestalt là

sự khủng hoảng trong khoa học tự nhiên Cuộc khủng hoảng trong vật ký học từ góc độ

phương pháp luận là biểu hiện sự sụp đổ của quan niệm siêu hình về cấu trúc của vật chất,coi vật chất được cấu tạo từ những nguyên tử đơn lẻ, cứng nhắc Chính vì thế mà từ năm

1907 đến 1913 đã xuất hiện 3 dòng phái tâm lý học: tâm lý học Gestalt; tâm lý học hànhvi; phân tâm học

Tâm lý học Gestalt ra đời vào năm 1913, thời kỳ khủng hoảng của tâm lý học thếgiới, do bộ ba các nhà tâm lý học cấu trúc người Đức tên là M Wertheimer, V.Kohler , K.Koffka lập ra Đây là một trường phái chuyên nghiên cứu về tri giác, ít nhiều nghiên cứu

về tư duy con người nhằm chống lại tâm lý học nội quan, đồng thời chống lại cả tâm lýhọc liên tưởng, tham vọng xây dựng một nền tâm lý học khách quan theo kiểu mẫu của vật

lý học

Các nội dung cơ bản của tâm lý học Gestalt:

Các công trình nghiên cứu của M.Wertheimer đã thu hút được nhiều người trong đó

có hai nhà tâm lý học người Đức tên là K.Koffka và W Kohler Chính hai ông đã cộng táctích cực với M Wertheimer với tư cách là người thử nghiệm trong các nghiên cứu củaWertheimer và sau đó tham gia giải thích các kết quả thực nghiệm Theo hướng đề ra của

M Wertheimer, Koffka và Kohler đã tập trung nghiên cứu về tri giác, về lĩnh hội vànhững sự khác biệt hành vi trí tuệ của người và động vật v.v…

Những kết quả nghiên cứu mà tâm lý học Gestalt đạt được là vô cùng phong phú, cóthể trình bày khái quát như sau:

* Tri giác và các quy luật cơ bản của tri giác:

- Quy luật hình và nền: Quy lụật này do Rubin, nhà tâm lý học Đan mạch tìm ra Quy

luật đó thể hiện ở chỗ khi ta tri giác thì bao giờ cũng có một phần của trường tri giác nổibật lên, đậm nét, rõ ràng, có ý nghĩa còn những vật xung quanh thì mờ nhạt, không có ý

nghĩa, giữa chúng có sự tách biệt tương đối tạo nên cái gọi là “hình” và “nền”

Các nhà tâm lý học Gestalt quan niệm: Hình là cái luôn luôn có trong quan hệ với bộ phận còn lại của trường, đó là nền Hình là cái có tính chất đối tượng, là cái gì đó có tính độc lập với cái xung quanh được xác định bởi đường viền bao quanh nó Hình thường là cái hài hoà, cân đối

Nền là cái đằng sau sự vật, là cái khó xác định và nói chung là cái không xác định Nền là cái có tính chất vật chất Nền là cái vừa làm nổi hình lên nhưng đồng thời cũng là nơi tan biến của hình, như sóng tan biến trên mặt biển.

Về quan hệ giữa hình và nền, các nhà tâm lý học Gestalt cho rằng, Hình là cái được

sắp xếp gần hơn nền bởi tính hiệu quả của định vị chủ quan Cái trước hết là nền Hình có nổi được không là nhờ nền Do các nền khác nhau mà cùng một hình, có thể có những

cảm nhận khác nhau Mức độ thể hiện của hình phụ thuộc vào nền chứa nó Đây là nhữngtri thức hết sức lý thú làm phong phú cho các quá trình nhận thức của con người Nhữngquy luật của ảo giác trong tâm lý học của các quá trình tâm lý nhận thức đều bắt nguồn từcác thực nghiệm này của các nhà tâm lý học Gestalt

Trang 15

Một thí nghiệm khác do Ehrenstein tiến hành vào năm 1954 cho thấy nền có thể ảnh

hưởng đến hình, làm cho ta nhận biết sai lệch, xuất hiện cái gọi là “ảo giác”.

- Quy luật tương quan (Quy luật chuyển hoá):

Tri giác phản ánh các mối quan hệ giữa vật này với vật kia Gần với quy luật hình và

nền còn có quy luật tương quan, đó là sự tương quan trong không gian V Kohler đã làm

thực nghiệm trên gà, cho gà ăn tấm trên một cái mẹt sơn mầu xám (I) để cạnh một cái mẹtmàu đen (II), tức là mầu của mẹt I sáng hơn mầu của mẹt II Sau khi tập cho gà quen ăn

trên mẹt I, tức là gà quen ăn trên cái mẹt có mầu sáng hơn, người ta để mẹt I vào cạnh mẹt sơn trắng (III) ( đương nhiên, mẹt III có mầu sáng hơn cả) Người ta nhận thấy rằng, lúc

thả gà chuẩn bị cho chúng ăn, gà chạy đến, đứng chờ sẵn để ăn ở mẹt III Như vậy, gà đãtri giác trên cơ sở sự tương quan các vật của hoàn cảnh đó, tức là, trong mối tương quan

“hoàn chỉnh” của các cặp mẹt, mẹt mầu sáng đối với nó là có ý nghĩa hơn cả Rõ ràng là,

khi tri giác, con vật không phản ứng với từng kích thích riêng lẻ, cũng không phản ứng với

độ sáng tuyệt đối mà là phản ứng với mối quan hệ của cả tổ hợp kích thích

- Quy luật bổ sung:

Theo quy luật này tri giác bao giờ cũng có xu hướng làm cho hình ảnh tri giác được

“hoàn chỉnh”, trọn vẹn, “đẹp mắt” Ví dụ nhìn một tam giác thiếu một góc, ta vẫn thấy nó

là một tam giác đủ cả ba cạnh và ba góc Thấy một góc ngôi nhà là có thể hình dung ra đủ

cả cái nhà Hiện tượng này thường gặp trong cuộc sống, cũng như trong hội họa, điệnảnh… Như vậy, hình ảnh tri giác, theo quy luật Gestalt có một hình thái trọn vẹn, đẹp,hoàn chỉnh, hài hoà đối với người tri giác tại thời điểm đó Điều đó cũng nói lên rằng trigiác không phải là hệ quả của tổng các kích thích, cũng không phải là kết quả của phản

xạ này liên tưởng với phản xạ kia Cũng phải thấy rằng qui luật bổ sung mà các nhà tâm

lý học Gestalt phát hiện ra là hoàn toàn đúng, về sau này được giải thích do con người trigiác sự vật hiện tượng bằng cả vốn sống, kinh nghiệm hoạt động của mỗi người

- Quy luật về tính gần gũi:

Các sự vật có tính chất giống nhau (về độ lớn, hình dáng, mầu sắc…) tức là có tính gần gũi về một phương diện nào đó, thường có khuynh hướng nhóm lại, tách ra khỏi các

sự vật khác Đây là kết quả thực nghiệm của W.Wertheimer tiến hành năm 1923

- Qui luật về tính không đổi (tính ổn định): Nghĩa là hình ảnh do tri giác tạo ra có

tính chất ổn định (không đổi) Ví dụ một hòn than đen lúc nào cũng được tri giác như mộthòn than đen, dù điều kiện ánh sáng có thay đổi giữa trời nắng chói chang hay lúc tranh tốitranh sáng; một cục phấn trắng có nhìn dưới ánh sáng đèn dầu ban đêm ta vẫn thấy nótrắng… Như vậy là, điều kiện khác nhau, kích thích từ bên ngoài vào khác nhau nhưnghình ảnh cảm tính vẫn không thay đổi Sở dĩ như vậy vì, theo các nhà tâm lý học Gestalt

tất cả các hiện tượng tâm lý đều tuân theo qui luật của thuyết đồng cấu, đồng hình Các

hình ảnh tâm lý có cùng một cấu trúc với các quá trình sinh lý, cũng như với các khách thểvật lý ở đây các tác giả dã có lí song đã không thấy hết được tính phức tạp trong tác độngqua lại của các giác quan khi tạo ra một hình ảnh tâm lý đồng thời cũng không thấy đượcảnh hưởng của vốn kinh nghiệm xã hội lịch sử truyền cho từng người trong việc tạo ra tínhchất toàn vẹn, ổn định của các hình ảnh tâm lý

* Tư duy và giả thuyết về sự bừng hiểu:

Trang 16

Các nghiên cứu về tư duy và giả thuyết về “sự bừng hiểu” do W Kohler tìm ra khi

nghiên cứu trên khỉ dạng người Ông là cộng sự của W Wertheimer, đồng thời là mộttrong những người sáng lập tâm lý học Gestalt

Kohler nhận bằng tiến sĩ tại Đại học tổng hợp Berlin với công trình nghiên cứu tâm lý học thính giác và cũng thời gian này, ông tiến hành nghiên cứu vật lý và đã trở thành chuyên gia trong lĩnh vực âm học Công trình “Nghiên cứu trí tuệ khỉ hình người” do ông phụ trách trong đó ông đã đưa ra cái gọi là “insight” ( sự bừng hiểu) ở động vật, và được

vận dụng vào con người Kohler là người đã tích cực bảo vệ các nguyên tắc của tâm lý

học Gestalt trong các cuộc tranh luận với các nhà hành vi chủ nghĩa Công trình “Nghiên cứu trí tuệ khỉ hình người” do ông phụ trách đã giải quyết một loạt các nhiệm vụ thực nghiệm về lý trí - trí tuệ - hành vi Năm 1920 ông cho công bố “Gestalt vật lý trong sự yên tĩnh và trạng thái tĩnh tại” trong đó ông tuyên bố về thuyết đồng cấu, đồng hình Năm

1929, cuốn sách mang tên “Gestalt- Tâm lý học” của ông là một sự phát triển và bênh

vực cho các nguyên tắc của tâm lý học Gestalt

Theo các nhà Gestalt, tư duy là một quá trình nảy sinh trong một tình huống có vấn

đề Quá trình tư duy là một trường hợp riêng của một quá trình đã được điều chỉnh bởi cácmối tương quan bên trong hình thành trong quá trình đó Chẳng hạn, khi thấy ra rằngtrong quá trình giải quyết có những khía cạnh mới xuất hiện hay giữ vai trò chủ đạo thìđiều đó không được giải thích là chủ thể khám phá ra những khía cạnh mới trong kháchthể mà là do sự thay đổi, chuyển trọng tâm (theo M.Wertheimer) của tình huống Sựchuyển đổi ấy chính là quá trình tư duy Như vậy theo các nhà Gestalt, tư duy chỉ còn

là mối tương quan lẫn nhau, mối quan hệ giữa các tình huống chuyển hóa qua lại trong

tư duy, trong nhận thức thuần tuý Mối tác động qua lại chủ yếu nhất giữa chủ thể tưduy với đối tượng bên ngoài không còn nữa Chuyển từ kết quả nghiên cứu trên độngvật sang nhìn nhận tư duy của con người, rõ ràng là các nhà tâm lý học Gestalt đã phủnhận vai trò của hoạt động thực tiễn, của ngôn ngữ, đánh đồng hoạt động trí tuệ giữacon người và động vật

* Thuyết đồng cấu, đồng hình trong tâm lý học Gestalt:

Các nhà tâm lý học Gestalt giải quyết mối liên hệ giữa tâm lý, sinh lý, vật lý bằngkhái niệm đồng cấu, đồng hình Họ quan niệm rằng, cấu trúc sinh lý thần kinh của cơ thểtương ứng với cấu trúc vật lý bên ngoài, còn cấu trúc tâm lý lại tương ứng với cấu trúcsinh lý Như thế nghĩa là các hình ảnh tâm lý có cùng một cấu trúc với các quá trình sinh

lý cũng như các khách thể vật lý Các tác giả của tâm lý học Gestalt hiểu là trong não vốn

có các cấu trúc như thế nào đó để có thể chuyển các cấu trúc vật lý (ở các vật thể) thànhcác cấu trúc tâm lý (hình ảnh, tri giác, insight ) thông qua khâu trung gian đó là các quátrình sinh lý của cơ thể Các quá trình sinh lý của cơ thể là cầu nối giữa hai trường đó Đâycũng là một tư tưởng tiến bộ, nó gần với quan điểm sinh lý chức năng hiện đại trong vấn

đề giải quyết câu hỏi cơ bản của tâm lý học: cơ sở sinh lý của các quá trình tâm lý Tuynhiên thực chất của quan niệm đồng cấu, đồng hình đã chứng tỏ tâm lý học Gestalt đãkhông thoát khỏi vòng ảnh hưởng của thuyết duy tâm tâm-sinh lý và tâm- vật lý songhành Tâm lý, ý thức vẫn là huyền bí, không có nguyên nhân, nhưng là cái gì nội tại, đóngkín, một cấu trúc “tiền định” do đó vẫn không giải quyết được những bế tắc mà chính tâm

lý học nội quan đã mắc phải

* Quan niệm về nhân cách trong tâm lý học Gestalt:

Trang 17

Các nhà tâm lý học Gestalt cũng có đề cập đến nhân cách trong lập luận của mình,nhưng khi giải thích về nhân cách, họ đã vận dụng khái niệm “hình thức hoàn chỉnh”, “cấutrúc hoàn chỉnh” để giải thích đờì sống xã hội và sự phát triển có tính chất xã hội của conngười.

Hoà trộn hai yếu tố cá nhân và hoàn cảnh tâm lý thành một thể thống nhất mà các nhà

tâm lý học Gestalt gọi là “không gian sống”.Trong không gian này có những điểm hình

học, tức là những con người chuyển động Cả cá nhân và thế giới khách quan đều lan toả

trong không gian sống mà L Lewin gọi là không gian hodos (tiếng Hy lạp gọi là đường

đi) Sự di động trong không gian này được gọi là hành động Di động là do nhu cầu,

nhưng nhu cầu lại do trạng thái căng thẳng (đó là các năng lượng thuần tâm lý ) của cơ

thể gây ra Cá nhân , theo họ, tựa như một máy phát tạo ra các năng lượng tâm lý có thểbiểu diễn được bằng các véc tơ Con người phát ra năng lượng, nhưng về thực chất lại lànhững sinh vật tiêu cực do những lực bên ngoài thúc đẩy Những quan niệm về nhân cáchnhư vậy là không đầy dủ và thiếu chính xác

Ý nghĩa :

Có thể nhận thấy cơ sở lý luận và phương pháp luận của các nhà Gestalt là quan điểmhiện tượng luận của Husserl (1859-1938) Đây cũng là thế giới quan của đa số các nhà tựnhiên học thời kỳ đó Do không có quan điểm biện chứng trong nhìn nhận sự vật nên họ

đã phủ nhận quyết định luận duy vật, đi vào tìm hiểu các quá trình phức tạp của vận độngvật chất theo quan điểm hiện tượng luận Các nhà tâm lý học Gestalt đã dùng hình mẫuvật lý học để giải thích các quá trình tâm lý

Tâm lý học Gestalt phát triển chủ yếu trong những năm 20 của thế kỷ XX, hiện nay

nó không còn tồn tại là một trường phái độc lập, có quan điểm phương pháp luận và hệ

phương pháp nghiên cứu riêng Tuy vậy Tâm lý học Gestalt đã có những đóng góp tíchcực, có vị trí nhất định trong việc phát hiện và xây dựng nền tâm lý học khách quan Cácqui luật mà các nhà Gestalt tìm ra hiện nay vẫn được tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vàothực tiễn cuộc sống Sự xuất hiện của tâm lý học Gestalt đã đáp ứng đòi hỏi khách quancủa khoa học tâm lý học: phải trở thành một khoa học khách quan thực sự Trường pháiGestalt cũng để lại nhiều hiện tượng khoa học (kiểu hiện tượng “phi”) và một số qui luậtcho đến nay vẫn được nhắc tới và được vận dụng trong thực tiễn cuộc sống, nhất là trong

lĩnh vực hội hoạ, nghệ thuật, sân khấu, điện ảnh, thời trang Tóm lại sự xuất hiện của tâm

lý học Gestalt và những đóng góp của nó đã có một ý nghĩa không nhỏ cho sự phát triển của khoa học tâm lý học.

Vấn đề 7   : Tâm lý học hành vi

Đầu thế kỷ XX, trước đại chiến thế giới lần thứ nhất, nền công nghiệp của các nước

tư bản, đặc biệt là công nghiệp của Mĩ phát triển khá mạnh Vấn đề đặt ra là cần phải tổchức tốt, hợp lý hơn nữa lao động của con người, điều khiển có hiệu quả hành vi củangười lao động, kích thích con người trong quá trình làm việc là những đòi hỏi hợp lý.Con người, xã hội loài người đã bắt đầu đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết đòi hỏi các khoa

Trang 18

học trong đó có tâm lý học phải giải quyết như vấn đề tự do của con người; tự do của

xã hội loài người; vấn đề điều khiển huấn luyện con người các vấn đề nêu trên lànhững cơ sở xh kích thích việc nảy sinh dòng TLH mới, trong đó có TLH hành vi

Tâm lý học hành vi ra đời vào năm 1913 ở Mĩ từ một bài báo có tính chất cương lĩnh

do J.Watson viết với tiêu đề “Tâm lý học từ những quan điểm của nhà hành vi”.

Về các tiền đề triết học và sự phát triển của khoa học nói chung ảnh hưởng đến sự ra đời của tâm lý học hành vi, có thể nhận thấy:

Chủ nghĩa thực dụng mà đại biểu là Pierce và W.James Chủ nghĩa thực dụng là

một trào lưu duy tâm chủ quan được phổ biến khá thịnh hành ở phương Tây đầu thế kỷXX Chủ nghĩa thực dụng đưa ra cái gọi là “Nguyên lý thực dụng” trong đó, theo quan

điểm của Pierce thừa nhận giá trị của chân lý là ở tính có ích, còn điều đó có phù hợp với

thực tiễn hay không lại là chuyện khác Điều này đã phù hợp với quan niệm của các nhàhành vi chỉ cần quan tâm đến kết quả cụ thể của hành vi mà không cần hiểu hành vi sẽdiễn ra theo kiểu nào, miễn là đạt được ý định đề ra mà không cần đến những suy nghĩ bêntrong, đến những biến đổi của thái độ, ý thức

Chủ nghĩa thực chứng mà đại biểu là Auguste Comte (1789-1857).

Người sáng lập ra chủ nghĩa thực chứng là Auguste Comte, nhà triết học Pháp Chủnghĩa thực chứng là một khuynh hướng của triết học tư sản hiện đại tuyên bố công khai

quan điểm cho rằng nhiệm vụ của khoa học là mô tả các sự kiện, chứ không phải là đi giải

thích chúng Bởi vậy, những người theo chủ nghĩa thực chứng rất coi trọng các khoa học

cụ thể, khoa học kinh nghiệm vì các khoa học này mang lại cho con người những kiếnthức chân chính Sự xuất hiện của chủ nghĩa thực chứng là một cảnh báo cho tính bất lực,

tư biện, vô bổ của triết học đương thời chỉ lo bàn những lý luận trừu tượng mà không gắn

lý luận này với hiện thực Theo tư tưởng này, các nhà hành vi chủ nghĩa đã bỏ công sứclao vào nghiên cứu, mô tả các hành vi của con người trước tác động của các kích thích bênngoài Khoa học tâm lý phải được xây dựng lại theo hướng như thế mới trở thành khoahọc thực sự và có khả năng thoát khỏi cuộc khủng hoảng về phương pháp luận trong tâm

lý học

Toàn bộ luận điểm gốc và cơ bản của TLH hành vi do J.Watson soạn thảo được trình bày trong bài báo « TLH trong con mắt của nhà hành vi » đăng tải trong tạp chí « TLH » năm 1913 Ngay sau khi bài báo ra đời, bài báo được coi là bản tuyên ngôn của TLH hành vi Nội dung cơ bản của tâm lý học hành vi được thể hiện tập trung ở các luận điểm sau :

* Một là, Tâm lý học hành vi tuyên bố không quan tâm đến việc mô tả giảng giải các

trạng thái tâm lý của ý thức mà chỉ quan tâm đến hành vi của tồn tại người Đối tượng của tâm lý học hành vi là hành vi Hành vi được xem như là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài.

Luận điểm này là luận điểm cơ bản của tâm lý học hành vi Các nhà tâm lý học hành

vi tỏ rõ thái độ chống lại quan điểm xây dựng tâm lý học như là khoa học về các hiệntượng trải nghiệm chủ quan trực tiếp, bởi vì các trải nghiệm chủ quan này không có thểđược nghiên cứu một cách khách quan Ý thức của con người cũng không có thể nghiêncứu một cách khách quan vì theo tâm lý học ý thức, ý thức của mỗi người tự thân vậnđộng tự đóng kín trong mỗi người Mỗi một người chỉ có khả năng hiểu được chính mình

Trang 19

tâm lý học ý thức đang bị công kích mãnh liệt Người ta đã vạch ra tính thiếu căn cứ củacác quan điểm lập trường của tâm lý học ý thức đặc biệt là trong giải quyết vấn đề tư duy

và động cơ Những thực nghiệm cũng đã chứng minh được là có những hiện tượng khôngđược ý thức nhưng vẫn tồn tại trong con người Đây cũng là một trong những lý do khiếnJ.Walson và các nhà hành vi chỉ tập trung vào các hành vi của con người trước các tácđộng của kích thích bên ngoài

Việc quan tâm vào nghiên cứu hành vi là cái có thể quan sát được đã làm cho tâm lýhọc hành vi trở thành một khoa học khách quan và chuyển sang hẳn phía chủ nghĩa duyvật P.K.Anokhin đã nhận xét “Với cương lĩnh đầu tiên của mình, thuyết hành vi củaJ.Watson thực sự đã tạo ra “một không khí khoa học hoàn toàn mới” khác hẳn toàn bộ tâm

lý học thời đó Do lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu và dùng phương pháp khoa học

tự nhiên, tâm lý học lần đầu tiên có dáng dấp tâm lý học khách quan”(1)

Quan niệm hành vi như là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kích thích củamôi trường bên ngoài Quan niệm này là sự kế thừa các kết quả nghiên cứu của E.Thorndike về các phản xạ của động vật sau đó được chuyển sang cho xem xét về hành vingười Rõ ràng ở đây, J.Watson và các nhà hành vi đã đồng nhất hành vi người và hành vicủa động vật mà về thực chất là có sự khác biệt lớn như C Mác đã có nhận xét nổi tiếng

mà chúng ta từng được biết về sự khác nhau căn bản giữa hành vi xây tổ của con ong giỏinhất và hành vi xây nhà của người kiến trúc sư tồi nhất

Lý thuyết của tâm lý học hành vi loại trừ không chỉ các hiện tượng của ý thức mà cảcác quá trình sinh lý thần kinh, bởi vì các quá trình sinh lý thần kinh đã tạo nên đối tượngcủa một khoa học khác là sinh lý học thần kinh bộ não Các khái niệm đã biết như hìnhảnh, ý nghĩ, lý tưởng, tình cảm được J.Watson đề xuất thay thế bằng các khái niệm về phảnứng tư duy Các cảm xúc được ông đồng nhất với các phản ứng của các cơ quan bên trong còn

tư duy của con người được đồng nhất với hoạt động của não bộ Huấn luyện, học tập theoJ.Watson diễn ra nhờ vào các phản xạ tư duy trong kết quả phức hợp lắp lại có liên quan vớicác kích thích nhất định mà các kích thích đó về sau gây nên phản xạ đó(2)

*Hai là, Quan sát cũng như giảng giải hành vi đều phải tuân theo công thức S R

(Stimulant: Kích thích; Reaction: Phản ứng) Điều đó có nghĩa là bất kỳ một hành vi nào của người và động vật đều có thể quan sát, nghiên cứu, phân tích một cách khách quan.

Một kích thích Sn bất kỳ đều có thể đem đến một hiệu quả hành vi Rn xác định và ngượclại, một khi cần một kết quả hành vi Rk nào đó, thì về nguyên tắc có thể chỉ ra được mộtkích thích SK xác định Như vậy hành vi người và động vật trước các kích thích khác nhaucủa môi trường đều có thể nhìn thấy một cách khách quan Theo hướng này, tâm lý học cóđiều kiện trở thành một ngành khoa học khách quan như các ngành khoa học tự nhiênkhác Với công thức S R, J.Watson đã đặt cho thuyết hành vi mục đích cao cả là điềukhiển hành vi động vật và con người Tâm lý học theo hướng này có thể thoát khỏi tìnhtrạng mô tả nội quan, giải thích một cách tư biện các trạng thái tâm lý, ý thức người, gắntâm lý học với đời sống thực tiễn

* Ba là, Bằng các kết quả nghiên cứu hành vi của động vật trong các mê cung, trong

các “lồng có vấn đề” được thiết kế theo kiểu đặc biệt nào đó cũng như các máy móc, công

cụ cho việc nghiên cứu, tham gia khẳng định các biểu hiện khác nhau của năng lực hành

1 Phạm Minh Hạc, Hành vi và hoạt động, Viện khoa học giáo dục, H.1983, tr 50.

2 Từ điển tâm lý học, A.V.Pêtơ rốpxki và M.G.Iarôsepski chủ biên, Nxb CTQG, M.1990, Tr 416 (Tiếng

Ngày đăng: 31/05/2021, 10:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w