1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO các PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU tâm lý

45 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Phương Pháp Trị Liệu Tâm Lý
Tác giả Bs Nguyễn Minh Tiến, Tom Gredler
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Tài liệu tham khảo
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 204,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tom Gredler, đã nghĩ hưu được 6 năm. Ông đã hoạch định trước việc nghỉ hưu của mình: nhưng rồi ông nhận thấy rằng thời gian rảnh rỗi đưa ông tới những đợt trầm cảm (depression). Nhà máy sản xuất những vật phẩm bằng giấy, nơi ông làm việc đã từng là cả cuộc đời của ông. Ông đã làm việc cật lực trong nhiều năm đến nỗi không có một thú vui hoặc một hoạt động nào khác. Giờ đây, 6 năm sau khi nghỉ hưu, ông cảm thấy buồn chán, bất an trước những thử thách và có những cơn lo âu

Trang 1

CÁC PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU TÂM LÝ

BS NGUYỄN MINH TIẾN dịch

Tom Gredler, đã nghĩ hưu được 6 năm Ông đã hoạch định trước việc nghỉ hưucủa mình: nhưng rồi ông nhận thấy rằng thời gian rảnh rỗi đưa ông tới những đợt

trầm cảm (depression) Nhà máy sản xuất những vật phẩm bằng giấy, nơi ông làm

việc đã từng là cả cuộc đời của ông Ông đã làm việc cật lực trong nhiều năm đến nỗikhông có một thú vui hoặc một hoạt động nào khác Giờ đây, 6 năm sau khi nghỉhưu, ông cảm thấy buồn chán, bất an trước những thử thách và có những cơn lo âu Tom Gredler chưa từng được biết về những cơn lo âu như thế Những nỗi sợ hãi

mà ông cảm thấy làm nhịp tim đập nhanh, huyết áp tăng và cảm giác nghèn nghẹn ở

cổ, là những triệu chứng chính của cơn lo âu cấp diễn Lần bị cơn đầu tiên, ông đã đitắm và nằm nghỉ Lần thứ hai ông uống một ly bourbon Lần thứ ba cơn xảy ra khiông đang lái xe khiến ông suýt đâm sầm vào xe tải Tom tìm đến bác sĩ gia đình đểxin giúp đỡ Ông thắc mắc không biết mình có bị bệnh tim không Vị bác sĩ nhanh

chóng nhận diện triệu chứng và chuyển ông đến một nhà tâm lý lâm sàng (clinical psychologist) Trước khi gọi điện cho nhà tâm lý, ông còn bị hai cơn như vậy nữa, có

một cơn vào lúc nửa đêm

Nhà tâm lý cũng trạc tuổi Tom, ông đã từng thấy nhiều người bị những cơn khủnghoảng tương tự khi về hưu Công việc đầu tiên là giúp cho Tom nhận ra vấn đề củamình Phải mất bốn buổi làm việc với nhà tâm lý Tom mới nhận ra ông có đang cảmgiác thiếu thốn, ông thấy rằng không ai còn nhờ cậy ông nữa, và thấy rất nhớ côngviệc ở nhà máy Ông nhớ lại những giá trị mà công việc hằng ngày đã mang lại chođời sống của ông, và ông không biết rằng tình trạng stress đã xảy ra khi ông không

Trang 2

còn làm việc nữa Nhà trị liệu đã giúp Tom nhận ra nỗi sợ hãi của mình, giúp Tom cónhững ý tưởng thực tế về những điều ông có thể và không thể trông đợi từ việc hưutrí của ông, cũng như từ gia đình và bạn bè của ông

Trường hợp của Tom không phải là ít Nhiều người khi về hưu đã bị stress trongcái giai đoạn mà lẽ ra họ phải tận hưởng những lợi ích sau nhiều năm lao động miệtmài Đối với nhiều người, về hưu đồng nghĩa với việc trú ẩn an toàn, một thời gian

để an hưởng Tuy nhiên, với một số người khác, về hưu có thể là khoảng thời giankhủng hoảng, phiền não, nhìn lại và nhận ra những lỗi lầm và cả thành công của bảnthân Khi về hưu, nhiều người đã tự hỏi liệu đời sống hiện tại và đời sống trong quákhứ, giai đoạn nào có ý nghĩa hơn?

Trong khi tự hỏi và tự ngờ vực như vậy, nhiều người dùng thời gian này để xác định xem điều gì là quan trọng đối với họ và tổ chức lại trước khi tiếp tục đáp ứng với những thử thách khác Tuy nhiên, đôi khi sự tự ngờ vực diễn ra quá mức, dẫn đến

lo âu, không hạnh phúc, kém thích nghi Nhiều trường hợp thích nghi được nhờ những nhà chuyên môn, Tom lựa chọn sự trị liệu tâm lý Những người trầm cảm nặng có thể cần đến thuốc chống trầm cảm, hoặc nặng hơn, có thể trị liệu bằng sốc điện Người được chẩn đoán là tâm thần phân liệt có thể cần đến những thuốc chống

loạn thần (antipsychotic drugs) Người có rối loạn ít nghiêm trọng hơn có thể được

trị liệu bằng cách như tự chuẩn bị những chế độ ăn cho mình hoặc luyện tập thể lực Các nhà tâm lý không loại trừ những sự lựa chọn những hình thức trị liệu ấy Thật tế,trong nhiều trường hợp, đây là phương pháp điều trị được ưa thích Tuy nhiên, trị liệu tâm lý là phương pháp mà hầu hết các nhà tâm lý dùng để điều trị những rối loạn

cảm xúc Trị liệu tâm lý (psychotherapy) là trị liệu những tình trạng kém thích nghi

bằng biện pháp tâm lý Mục đích là giúp người ta đương đầu tốt hơn với đời sống và giúp người ta có lối sống thoả đáng hơn về mặt cảm xúc trị liệu tâm lý có thể giúp

Trang 3

những người như Tom thích nghi được với những tình huống thử thách mới trong khiđời sống của họ luôn luôn thay đổi

Nói chung, liệu pháp tâm lý có hai loại: liệu pháp nội thị (insight therapy) cố

gắng giúp đương sự hiểu được những động cơ đằng sau hành vi của họ Các nhà trịliệu nội thị cho rằng sự kém thích nghi và hành vi bất thường xảy ra khi người ta

không hiểu chính mình một cách đầy đủ Trái lại, liệu pháp hành vi (behavior therapy), đôi khi được gọi là sửa đổi hành vi (behavior modification), được dựa trên

giả định rằng hầu hết các hành vi, kể cả bình thường hay bất thường, đều do “họctập” mà có Các nhà trị liệu hành vi cố gắng thay đổi những hành vi bất thường và

kém thích nghi bằng cách dùng những nguyên tắc học tập (learning principles).

Những kỹ thuật đặc hiệu dùng trong trị liệu tâm lý thay đổi tuỳ theo quan điểm củanhà trị liệu tâm lý về cách phát triển nhân cách và cách phát triển những hành vi bấtthường Ngoài những phương pháp trị liệu tâm lý khác nhau, bài này còn đề cậpnhững yếu tố liên quan đến việc lựa chọn một nhà tâm lý trị liệu thích hợp nhất đốivới những vấn đề đặc thù của đương sự và một số điều kiện cần thiết để điều trị hiệuquả

NHỮNG YẾU TỐ GIÚP ĐIỀU TRỊ TÂM LÝ HIỆU QUẢ

Nhiều người tìm kiếm trị liệu tâm lý như Tom đã thắc mắc liệu cách can thiệp này

có thực sự giúp ích cho họ không Việc trị liệu bằng cách nói chuyện có thực sựmang lại điều gì đổi khác hay không Câu trả lời thật đơn giản: việc trị liệu là có hiệuquả - nhưng không phải tất cả những phương pháp trị liệu, nhà trị liệu và các thânchủ đều giống nhau cả Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến hiệu quả đến việc trị liệutâm lý Trong số đó, yếu tố quan trọng nhất là phái tính, nhân cách, kinh nghiệm và

sự cảm thông của nhà trị liệu Bất kể việc trị liệu tâm lý thuộc loại nào, một số yếu tốcần phải có ở nhà trị liệu lẫn thân chủ để việc trị liệu tạo được sự thay đổi Trước

Trang 4

tiên, một nhà trị liệu tốt phải bày tỏ với thân chủ sự quan tâm, hiểu biết, tôn trọng, cư

xử khéo léo, sự chín chắn và khả năng giúp đỡ Thứ hai, nhà trị liệu tốt phải cónhững đề xuất, khích lệ, diễn giải, ví dụ và (có lẽ) cả khen thưởng để giúp thân chủthay đổi và suy nghĩ lại về tình huống của mình Thứ ba, thân chủ phải sẵn lòng thựchiện một số thay đổi trong suy nghĩ và lối sống của mình; những thay đổi hành vicủa thân chủ sẽ không xảy ra chỉ vì có một người khác muốn họ được hạnh phúc.Một nhà trị liệu có hiểu biết, khách quan và dễ chấp nhận sẽ tạo điều kiện thuận lợi

để thay đổi hành vi, nhưng chính thân chủ sẽ là người thực hiện hành vi đó

Các yếu tố khác như tầng lớp xã hội, tuổi tác, sự giáo dục, kỳ vọng vào việc trịliệu và mức độ lo âu của thân chủ cũng quan trọng Động cơ đúng đắn cũng là điều

quan trọng; thật khó lòng giúp đỡ hay trị liệu một thân chủ có tính miễn cưỡng Giúp một thân chủ có một động cơ để thay đổi thường là mục tiêu đầu tiên của việc trị liệu Tất cả nhà trị liệu cần nhạy bén trước tất cả những yếu tố này

Thông thường người ta cho rằng nhiều thân chủ có thể giảm bớt triệu chứng của

họ mà không cần trị liệu tâm lý Quan điểm này liên hệ đến một yếu tố chung của hai

liệu pháp nội thị và liệu pháp hành vi: đó là hiệu ứng placebo Hiệu ứng placebo là khi sự thay đổi hành vi ra như kết quả của một sự thay đổi kỳ vọng nơi đương sự hơn

là kết quả của bất kỳ điều trị đặc hiệu nào Các thầy thuốc thấy rằng khi bệnh nhân

được kê toa những viên thuốc đường vô hại và được bảo rằng những viên thuốc này

có thể trị được bệnh, thì đôi khi những triệu chứng bệnh cũng giảm bớt Tương tự, những người được trị liệu tâm lý cũng có thể giảm triệu chứng, đơn giản chỉ vì họ được đưa vào trị liệu và giờ đây đang trông chờ sự thay đổi Hiệu ứng placebo trong trị liệu tâm lý chỉ xảy ra thoáng qua; bất kỳ một hiệu quả trị liệu nào có tính lâu dài đều có nhiều khả năng là do sự cố gắng của thân chủ và của nhà trị liệu trong quá trình trị liệu

Trang 5

Có nhiều thử thách đối với hiệu quả của trị liệu tâm lý Tuy nhiên, các nhà nghiêncứu đều cho rằng trị liệu tâm lý rất có hiệu quả Một trong số những nghiên cứu quantrọng nhất của Smith và Glass (1977), dùng các kỹ thuật thống kê tinh vi để phântích kết quả của những phương pháp trị liệu khác nhau Những nghiên cứu phân tíchhiệu quả toàn bộ của trị liệu tâm lý cũng cho thấy hiệu quả tích cực trong một số lớncác tình huống tuy nhiên, hiệu quả trị liệu thay đổi tùy theo loại rối loạn được trịliệu Ví dụ, trị liệu tâm lý có tỉ lệ thành công cao với những chứng ám ảnh sợ đặc

hiệu (specific phobia), nhưng ít thành công với những bệnh tâm thần phân liệt, trị

liệu nhóm dài hạn được thấy hiệu quả hơn trị liệu cá nhân ngắn hạn trong một số rốiloạn, và trị liệu hành vi thường là phương pháp có hiệu quả nhất ở trẻ em

Nhiều nhà nghiên cứu đoan chắc rằng hầu hết các cách trị liệu tâm lý đều tươngđương nhau, nghĩa là bất kể phương pháp nào được áp dụng, kết quả thường là nhưnhau Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà nghiên cứu đều tin rằng như vậy Nhà tâm

lý nổi tiếng Alan Kazdin (1986) khẳng định nghiên cứu về hiệu quả của điều trị tâm

lý là rất khó thực hiện và khó diễn giải Ông cho rằng những nghiên cứu như thếthường được thực hiện trong một điều kiện lý tưởng, dùng những biện pháp tiếp cậnhạn hẹp, không thể mô phỏng những tình huống trị liệu như trong thực tế Ví dụ,nghiên cứu thường được thực hiện với những thân chủ được thu hút qua các quảngcáo trên báo; liệu những nghiên cứu như thế có tính phổ quát đối với số thân chủthực tế không? Kazdin không nói rằng những nghiên cứu đó không nên thực hiện,nhưng mục tiêu hạn hẹp của nó cần được đánh giá cẩn thận và cần pahỉ phát triểnthêm những nghiên cứu mới Có lẽ sẽ vô vọng khi trả lời câu hỏi: “phương pháp trịliệu nào tốt nhất?”; thay vì vậy, việc trả lời cho một câu hỏi như: “phương pháp trịliệu nào hữu ích cho thân chủ nào, với vấn đề nào và với nhà trị liệu như thế nào?”

có lẽ sẽ được diễn đạt tốt hơn Không phải tất cả các thân chủ, nhà trị liệu, phươngpháp trị liệu và thời gian trị liệu đều tương ứng nhau Vì những lý do này, việc

Trang 6

nghiên cứu về trị liệu cần nhắm vào cả lý thuyết và thực hành Trị liệu tâm lý là cóhiệu quả, nhưng việc nghiên cứu được thực hiện để khảo sát đã không được hòan hảonhư các nhà tâm lý thực hành mong muốn Các chiến lược nghiên cứu mới về trị liệutâm lý còn đang được triển khai Khi có thêm nhiều nghiên cứu được hoàn chỉnh,chúng ta có thể thấy rõ phương pháp trị liệu nào là hiệu quả đối với rối loạn nào, chođối tượng nào

Về mặt thực hành, làm thế nào thân chủ và nhà trị liệu biết được việc trị liệu là

có tiến bộ? Theo Mahrer và Nadler (1986), có 11 dấu hiệu của tiến triển tốt trong trịliệu:

1 Thân chủ đang cung cấp và bộc bạch những tư liệu riêng tư có ý nghĩa

2 Thân chủ đang khám phá những ý nghĩa của cảm xúc và sự việc

3 Thân chủ đang khám phá những tư liệu mà họ tránh né trước khi trị liệu

4 Thân chủ đang bày tỏ khả năng nội thị đáng kể trong hành vi cá nhân của họ

5 Thân chủ có cách giao tiếp chủ động, nhanh nhẹn, giàu nghị lực

6 Có một quan hệ quý trọng lẫn nhau giữa nhà trị liệu và thân chủ

7 Thân chủ tự do bày tỏ những cảm xúc mạnh của mình (tích cực hoặc tiêu cực) đối với nhà trị liệu

8 Thân chủ bày tỏ những cảm xúc mạnh ngoài thời gian trị liệu

9 Thân chủ hướng đến một hệ thống những đặc trưng nhân cách khác

10.Thân chủ biểu hiện sự cải thiện khả năng ngoài lúc trị liệu

11.Thân chủ cho thấy có tình trạng tổng quát tốt, những cảm xúc tốt và thái độ tích cực

LIỆU PHÁP NỘI THI (INSIGHT THERAPY)

Trang 7

Khi trải qua những thay đổi trong cuộc sống, đôi lúc con người sẽ thay đổi nhữngứng xử theo cách khác với bình thường Một số người trở nên sống cô lập, một sốngười bị trầm cảm; một số tìm kiếm những quan hệ mới Tom Gredler, người mở đầuchương sách này, đã bị những cơn lo âu, Tom đã tìm sự giúp đỡ của nhà trị liệu, và

để làm việc đó, đầu tiên ông phải cố gắng hiểu được những cảm xúc của mình Nếu

Tom đến gặp một nhà trị liệu nội thi (insight therapist), có lẽ ông sẽ phải giành nhiều

thời gian để khám phá những mối quan hệ và những cảm xúc trước đây đối vớinhững người có ý nghĩa trong đời của ông Thông qua việc khám phá bằng lời nói ấy,Tom có thể nhận biết được những mâu thuẫn quan trọng trong đời sống của ông,cũng như những động lực thực sự của ông

Hai điều mặc định cơ bản của liệu pháp nội thị là: (1) việc nhận ra động cơ củabản thân sẽ giúp đương sự thay đổi và trở nên thích nghi hơn; và (2) những mâuthuẫn mà đương sự không tự nhận biết được (và do vậy không giải quyết được) là

nguyên nhân của tình trạng kém thích nghi Mục đích của liệu pháp nội thị là chữa trị những nguyên nhân của hành vi bất thường hơn là chữa trị chính những hành vi

đó Liệu pháp nội thị giúp thân chủ xem xét đời sống dưới một nhãn quan khác để họ

có thể lựa chọn những lối sống thích nghi hơn Phần này sẽ trình bày tiêu biểu 3phương pháp của liệu pháp nội thị

Phân tâm học (Psychoanalysis)

Phân tâm học của Freud chú trọng giúp người bệnh bộc lộ những động cơ vô thức

- Những động cơ đã dẫn đến những mâu thuẫn tâm lý và hành vi kém thích nghi.Phân tâm học được thực hiện bởi các nhà trị liệu được đào tạo chuyên biệt về lýthuyết lẫn thực hành Hầu hết các nhà tâm lý lâm sàng, kể cả những người địnhhướng theo kiểu trị liệu nội thị, đều không phải là các nhà phân tâm Tuy nhiên,nhiều nhà trị liệu sử dụng một liệu pháp có ít liên hệ hoặc bắt nguồn từ lý thuyết của

Trang 8

Freud Các nhà tâm lý cho rằng những lý thuyết như vậy được dựa trên cơ cấu tâm

động học (psychodynamic)

Phương pháp phân tâm không phải là thích hợp với tất cả mọi người, vì có nhiềuvấn đề khó khăn khi thực hiện phân tâm như: người bệnh phải tham gia tích cực,phải phát âm rõ ràng, có khả năng nắm bắt được những mối quan hệ phức tạp và tinh

vi đang được khám phá Nhiều người đến trị liệu đã không tham gia tích cực hoặckhông đủ khả năng tài chính để theo đuổi trị liệu phân tâm Việc trị liệu phân tâm cổđiển bao gồm việc gặp gỡ nhà phân tâm 1 giờ mỗi ngày, 5 ngày/ tuần, một trị liệuphân tâm điển hình có thể tốn đến 100.000 USD Nhiều người rõ ràng đã không thểđầu tư đủ thời gian, tiền bạc và sức lực cần thiết để hòan tất đủ một quá trình trị liệuphân tâm

Mục đích trị liệu

Theo lý thuyết Freud, các mâu thuẫn giữa những suy nghĩ và quá trình vô thức

gây ra hành vi kém thích nghi Là kết quả của một sự mất cân bằng giữa cái Ấy (Id), cái Tôi (Ego) và cái Siêu Tôi (superego) Những mâu thuẫn này hiếm khi được

đương sự nhận biết trực tiếp Những người tìm đến trị liệu tâm lý đã không hài lòng với hành vi của họ, nhưng lại không có khả năng thay đổi được Mục đích của trị liệuphân tâm là giúp người bệnh hiểu được những động cơ vô thức đã kiềm giữ không cho họ thay đổi Chỉ khi người bệnh nhận biết được những động cơ vô thức đã chi phối hành vi của họ, lúc đó họ mới thực sự tự do chọn lựa những hành vi mà từ đó cho phép họ hướng đến đời sống mãn nguyện hơn Vì trị liệu phân tâm dựa trên sự phát triển mối tương quan đặc biệt giữa nhà trị liệu và bệnh nhân, cho nên tính tương

hợp (compatibility) là điều bắt buộc Trong vài buổi gặp đầu tiên, nhà trị liệu và bệnh

nhân phải quyết định xem mình có thoải mái để cùng làm việc với nhau hay không

Trang 9

Kỹ thuật

Trị liệu phân tâm sử dụng một vài kỹ thuật được thiết kế để giúp người bệnh vànhà trị liệu đưa ra ánh sáng và khảo sát những đòi hỏi gây mâu thuẫn của nhân cáchngười bệnh Hầu hết những kỹ thuật này là đặc hiệu của phân tâm học Ví dụ, ngườibệnh trong trị liệu phân tâm kinh điển sẽ nằm trên một băng ghế, và nhà trị liệu thìngồi ngoài tầm nhìn của người bệnh Kiểu bố trí này cho phép bệnh nhân cám thấythư giãn hơn, ít lo sợ hơn khi có sự hiện diện của nhà trị liệu Tương tự, vì Freud tinrằng những hành vi hiện nay có thể là kết quả của những động cơ vô thức có cơ sở từnhững kinh nghiệm hoặc những sang chấn từ thời thơ ấu, nhiều kỹ thuật được dùngtrong phân tâm học có liên quan đến việc khám phá những kinh nghiệm trước đó.Những đồ đệ của Freud ít nhiều bớt cứng nhắc hơn trong khi sử dụng các kỹ thuậtcủa Freud Ví dụ, các nhà phân tâm hiện nay thường dùng cách tiếp xúc mặt-đối-mặthơn là sử dụng chiếc ghế dài Các kỹ thuật sắp bàn đến dưới đây thường được cậpnhật để thỏa mãn những yêu cầu của nhà phân tâm học và bệnh nhân

Hai kỹ thuật chính trong phân tâm học là liên tưởng tự do (free association) và phân tích giấc mộng (dream analysis) Trong liên tưởng tự do, bệnh nhân được yêu

cầu hãy nói ra bất kỳ điều gì xảy ra trong đầu mình, dẫu cho nó có vẻ rất tầm thườnghoặc vô nghĩa, và dù cho người bệnh có muốn hay không muốn bộc lộ những ý nghĩ

nó ra hay không Những mục đích của liên tưởng tự do là nhằm giúp người bệnhnhận diện những mối liên hệ và những mô hình trong ý nghĩ của họ và cho phép vôthức tự thể hiện mà không bị “kiểm duyệt” Mặc dù người bệnh có khuynh hướng tựkiểm duyệt những ý nghĩ, ký ức, suy nghĩ mà họ thấy xấu hổ, ngượng ngùng hoặckhó nói đến, một người nếu làm việc tích cực với nhà trị liệu phân tâm sẽ không cốkiềm giữ bất kỳ một thông tin nào

Trang 10

Trong phân tích giấc mộng, người bệnh được yêu cầu mô tả lại giấc mơ của mìnhcho nhà trị liệu một cách chi tiết Nhà trị liệu thậm chí còn khuyến khích người bệnh

mơ mộng Freud tin rằng giấc mơ là phản ánh của vô thức trong cố gắng tự thể hiệnmột cách có ý thức Vì những giấc mơ cung cấp một con đường đi đến những tư liệucủa cõi vô thức, mục đích của phân tích giấc mộng là khám phá, với sự giúp đỡ củanhà trị liệu, ý nghĩa của những giấc mơ của bệnh nhân và vì thế sẽ bộc lộ những ướcmuốn, những động cơ vô thức của người ấy

Hai khái niệm khác của phân tâm học là kháng cự (resistance) và chuyển di (transference) Kháng cự (hoặc phản kháng) là tình trạng người bệnh không sẵn lòng

hợp tác với nhà trị liệu, đôi khi đến mức chống đối Nhà phân tâm thường diễn giảihành vi này có nghĩa là người bệnh mong muốn tránh né việc bàn đến một chủ đềriêng biệt nào đó; hoặc là một giai đoạn đặc biệt khó khăn của việc trị liệu đang đếngần Để giảm thiểu khả năng kháng cự, nhà trị liệu phải cố gắng chấp nhận hành vicủa người bệnh Khi nhà trị liệu không phán xét, mà chỉ lắng nghe, người bệnh sẽ dễdàng hơn trong việc giải thích và mô tả các cảm xúc của mình một cách hoàn toàn.Người bệnh cũng học được cách chấp nhận những cảm xúc ấy

Trong hiện tượng chuyển di, người bệnh chuyển những cảm xúc có được về một mối quan hệ trước đây sang cho nhà trị liệu Bằng cách cho phép sự chuyển di xảy

ra, nhà trị liệu sẽ tạo cơ hội cho người bệnh hiểu được những cảm xúc ấy tốt hơn và

có thể hướng dẫn hoặc điều khiển đương sự trong việc thám sát những tư liệu bị dồn nén hoặc khó nhận biết việc khảo sát những ý nghĩ hay cảm xúc mà trước đó được coi là không thể chấp nhận được (và vì thế bị dồn nén) sẽ giúp người bệnh hiểu được

và xác định được những mâu thuẫn nằm phía sau chi phối những hành vi của người

ấy

Nhà phân tâm theo hướng ego-analysis (Phân tích cái Tôi)

Trang 11

Một số nhà phâm tâm được gọi là ego-analysist hoặc ego-pshychologist đã cải

biên một số ý tưởng của Freud về phân tâm học Giống như Freud, các nhà phân tâmnày coi phân tâm học là phương pháp thích hợp để trị liệu những bệnh nhân bị rốiloạn cảm xúc Tuy nhiên, không giống Freud, họ cho rằng con người có thể kiểmsoát có ý thức đối với những đòi hỏi bức bách về mặt sinh học: kiểm soát việc chúng

có thể được bộc lộ hay không, bộc lộ khi nào, bằng cách nào Những nhà phân tâmtheo nhóm này chấp nhận một liệu pháp nhằm giúp người bệnh phát triển mạnh hơnkhả năng kiểm soát của cái Tôi, tức phần nhân cách điều hành theo những nguyên lýthực tế và cố gắng kiểm soát hành vi bằng cách đáp ứng một cách thực tế đối nhữngđòi hỏi của môi trường Các nhà phân tâm cổ điển chủ yếu chú trọng đến phần vôthức trong cái Ấy và cái Siêu Tôi, và sau đó mới làm gia tăng khả năng kiểm soátcủa cái Tôi ở người bệnh

Tính hiệu quả

Vì trị liệu phân tâm quá tốn tiền và mất thời giờ, nên dễ hiểu là đã có sự lưu ý vềtính hiệu quả của nó Ít có nghiên cứu so sáng nào được thực hiện để cho thấy trị liệuphân tâm có hiệu quả như những liệu pháp khác, trừ việc nó không hiệu quả hơnnhững liệu pháp khác

Liệu pháp thân chủ trọng tâm (Client-centered therapy)

Liệu pháp thân chủ trọng tâm được phát triển bởi Carl Rogers, cũng là liệu phápnội thị, nhưng khác với phân tâm học, nó cho rằng con người có khả năng đáng kể vềlựa chọn, kiểm soát và ý chí tự do trong việc xác định hành vi của họ Freud nhìnthấy con người vốn dĩ có tính ích kỷ và thích hưởng lạc, và những vấn đế về hành vi

được xem xét là do những xung năng có tính đối kháng (conflicting impulses) Trái

lại, Rogers lại nhìn thấy con người cơ bản là những cá thể tốt, thuần thục và có tính

Trang 12

xã hội, luôn tiến bộ và trưởng thành hơn Đối với các nhà trị liệu theo trường pháiRogers, các hành vi “có vấn đề” xảy ra khi môi trường ngăn cản đương sự phát triển

và thể hiện tiềm năng vốn có của con người Những mặc định sau đây giúp định hìnhliệu pháp của Rogers:

1 “Nhân chi sơ tính bổn thiện” con người vốn dĩ là tốt, có thể đương đầu hiệuquả với môi trường

2 Hành vi của con người là có mục đích, được chi phối bởi những mục đích

3 Những người lành mạnh có thể nhận biết mọi hành vi của họ và có thể lựa chọn

mô hình hành vi của họ

4 Những hành vi của thân chủ chỉ có thể được hiểu từ những quan điểm củangười đó Ngay cả khi thân chủ không diễn giải được những sự kiện trong thế gian,nhà trị liệu phải hiểu được cách thức thân chủ xem xét những sự kiện này

5 Trị liệu chỉ hiệu quả khi thân chủ thay đổi hành vi của mình, chứ không phảikhi nhà trị liệu thực hiện điều đó

của Rogers

Trang 13

Mục đích của liệu pháp Rogers là giúp cho con người thực hiện những thay đổi:giải phóng những tiềm năng sẵn có ở một con người vốn có năng lực thuần thục.Theo Rogers thân chủ yêu cầu nhà trị liệu giúp đỡ họ trong tiến trình tự hiện thựchóa và hình thành cái Ngã mạnh mẽ Một nhà trị liệu theo phương pháp Rogers

không mang đến một sự chữa trị (cure) Thay vào đó nhà trị liệu sẽ giúp thân chủ có

một nhãn quan thực tế (một ý nghĩa về một cái Ngã) rồi từ đó xem xét thế giới

Kỹ thuật

Để giúp thân chủ khám phá và hiện thực hóa một cái Ngã chưa được khám phá,

liệu pháp thân chủ trọng tâm của Rogers có tính chất không hướng dẫn directive) Trong liệu pháp không hướng dẫn, nhà trị liệu sẽ không hướng dẫn thân

(non-chủ, mà tạo điều kiện cho thân chủ phát triển khả năng tự xem xét Thân chủ họccách đánh giá thế giới dựa trên những ưu điểm của chính mình, với sự diễn giải rất ítcủa nhà trị liệu Nhà trị liệu sẽ xem xét thân chủ và tình trạng sức khỏe của thân chủ

từ chính quan điểm của người đó Thậm chí, dùng chữ “thân chủ” thay cho chữ

“bệnh nhân” cũng là điều bắt buộc trong phương pháp trị liệu của Rogers Trongphân tâm học, nhà trị liệu hướng dẫn người bệnh cách “chữa trị” và giúp họ hiểuđược hành vi của họ Trong liệu pháp Rogers, nhà trị liệu không phải có uy quyềntoàn năng Một “giáo lý” cơ bản của phương pháp trị liệu thân chủ trọng tâm là nhàtrị liệu phải là người ôn hòa, biết chấp nhận, biết thể hiện những cảm xúc tích cựcđối với thân chủ Để hóa giải những kinh nghiệm tiêu cực của thân chủ đối vớinhững nguời không biết chấp nhận, vì thế đã tin rằng mình là người “xấu”, nhà trịliệu phải bày tỏ sự tôn trọng vô điều kiện và sự quan tâm tích cực Họ cố gắng chấpnhận và nhận biết một cách đầy đủ những tình cảm của thân chủ, khuyến khích thânchủ nói ra những cảm xúc ấy, bất kể thân chủ nói hoặc làm điều gì Sự thấu cảm

(empathic understanding) này là một phần quan trọng trong quan hệ điều trị Nhà trị

Trang 14

liệu chấp nhận thân chủ là một người vừa có điểm tốt vừa có điểm không tốt, tôntrọng các giá trị của thân chủ

Trong liệu pháp thân chủ trọng tâm, thân chủ học cách đánh giá lại thế giới bằngcách sử dụng hệ tham chiếu mới Riêng trong liệu pháp Rogers, thân chủ phải họccách làm rõ và chấp nhận những quan điểm của chính họ để cảm thấy mình có giá trị

và được mãn nguyện Mặc dù cách nhà trị liệu thân chủ trọng tâm có tính chất khônghướng dẫn, tuy vậy họ vẫn phải được đào tạo thuần thục Khi họ phát hiện ra mộthành vi hoặc một thái độ không đúng, họ có thể hướng dẫn thân chủ đơn giản bằngcách đặt câu hỏi thích hợp, hoặc đáp ứng lại bằng những lời cảm thán “ồ” hay “à, à”.Thậm chí, chỉ bằng những cử động nhỏ như một cái gật đầu, một cái khoát tay họ cóthể giúp thân chủ đi đúng hướng

Trong liệu pháp Rogers, nhà trị liệu và thân chủ ngồi đối diện nhau, thường là

ngồi trên những chiếc ghế đặt cùng một bên của bàn làm việc Một không khí làm

việc tập trung được duy trì thay vì một không khí thư giãn, và thân chủ được dẫn vàocuộc hội thoại Lúc đầu, thân chủ có khuynh hướng bày tỏ những thái độ và ý tưởng được người khác chấp nhận Vì thế, một cảm giác ép buộc phải thành công có thể nói

“tôi nên đạt điểm cao trong các khóa học của mình” khi cô muốn ngụ ý rằng “bởi vì cha mẹ tôi mong muốn tôi thành đạt” Khi cuộc trị liệu tiếp diễn và thân chủ cảm nhận được sự thấu cảm từ nhà trị liệu, người nữ thân chủ thường sẽ dùng những ý tưởng của chính mình để đánh giá bản thân Kết quả là cô sẽ nói về mình bằng nhữngcách tích cực hơn và cố gắng cư xử như chính cô muốn hơn là theo cách mà cô nghĩ

là người khác muốn cô phải có Giờ đây, cô có thể tuyên bố đại loại như: “Tôi nên đạt điểm cao trong các khóa học vì chúng có ý nghĩa với tôi” Lời tuyên bố này phản ánh một tái độ mới, tích cực hơn, dễ chấp nhận hơn về chính bản thân cô Khi thân chủ cảm nhận tốt hơn về chính mình, cô sẽ dần dần yêu cầu nhà trị liệu cho cô biết làm thế nào để đương đầu với thế giới và có thể cô đã sẵn sàng rời khỏi sự trị liệu

Trang 15

Fredrick S Perls (1893-1970) là người khởi xướng liệu pháp Gestalt Là một thầythuốc và là một nhà phân tâm được đào tạo tại châu Âu, ông đã đến Hoa Kỳ và nóichung được xem như một kẻ bị giới phân tâm ruồng bỏ Thay vì nhấn mạnh lý do

“tại sao” của những hành vi trong quá khứ như Freud và Rogers, Perls nhấn mạnhvào những sự kiện trong hiện tại là “cái gì” và diễn ra “như thế nào” Perls cho rằngcách tốt nhất để giúp bệnh nhân chấm dứt lo âu và các cảm giác không thoải máikhác là phải nhắm vào sự hiểu biết và nhận thức của người bệnh về thế giới tronghiện tại hơn là những tình huống và kinh nghiệm trong quá khứ

Mục đích trị liệu

Các nhà trị liệu Gestalt tin rằng những người không nhận biết một cách đầy đủnhững sự kiện xung quanh họ sẽ cảm thấy yếu đuối, bị cách ly, tràn ngập sự căngthẳng, và bị héo mòn dần

Bởi những nỗi sợ hãi, lo âu khiến che phủ sự nhận biết của họ về thực tại Chỉ khi

nào đương sự nhận biết được cái gì “tại đây và vào lúc này” (here and now) thì họ

mới trở nên nhạy cảm với những căng thẳng và dồn nén mà trước đó đã gây ra nơi

họ những hành vi kém thích nghi Một khi họ nhận biết được những cảm xúc hiện tạicủa mình và chấp nhận chính mình, người bệnh sẽ có thể hiểu hành vi trước đây và

hoặc định những hành vi thích hợp trong tương lai Vì thế, mục đích của liệu pháp

Trang 16

Gestalt là mở rộng sự nhận biết của người bệnh về những thái độ và cảm xúc trong hiện tại (self-awareness), và từ đó chức năng thích nghi tự nhiên có thể họat động trở lại

Từ quan điểm của trường phái Gestalt, một người lành mạnh là người đang tiếpxúc với những cảm xúc của mình và với thực tế Khi một người có một “công việcchưa hoàn tất”, hoặc một mâu thuẫn chưa được giải quyết, những cảm xúc này phảiđược giải quyết (Perls gọi những mâu thuẫn này là những “Gestalt chưa hoàn tất”)

Vì thế, việc trị liệu theo các nhà tâm lý Gestalt nhắm vào việc tái lập lại và hướngđương sự trở về cái Ngã toàn vẹn của chính mình

Kỹ thuật

Liệu pháp Gestalt không tập trung vào việc bộc lộ các căn nguyên từ quá khứ đốivới các hành vi hiện tại Nó khảo sát những cảm xúc và hành vi mà thân chủ có lẽkhông nhận biết được Liệu pháp Gestalt nên được xem là một liệu pháp dựa trênkinh nghiệm được thiết kế nhằm giúp thân chủ tự phát triển một cách hoàn hảo hơntrước những tình huống hiện tại Nhà trị liệu thường yêu cầu tập trung vào nhữngcảm xúc trong hiện tại về một kinh nghiệm khó khăn trong quá khứ Giả định cơ bảncho rằng những cảm xúc được biểu lộ hiện tại có thể được hiểu và giải quyết dễ dànghơn là những đáp ứng và những sự kiện được gợi nhớ lại Vì thế, các nhà trị liệuGestalt có thể yêu cầu người bệnh làm sống lại một tình huống và bàn về điều đónhư thể nó đang xảy ra trong hiện tại

Nhiều kỹ thuật Gestalt được thiết kế để giúp bệnh nhận tỉnh táo hơn đối vớinhững cảm giác quan trọng trong bản thân họ và về môi trường xung quanh họ Mộttrong số những kỹ thuật đó là cho người bệnh thay đổi cách thức mà họ nói về thếgiới, để nói về những cảm xúc và tình cảm như thể chúng là của một người khác

Trang 17

Một kỹ thuật khác là yêu cầu thân chủ cư xử theo một cách thức trái ngược lại vớicách mà họ cảm thấy Ví dụ, một người cảm thấy thù địch và gây hấn với ông chủcủa mình có thể được yêu cầu hãy cư xử như thể anh ta có một mối quan hệ ôn hòa

và đầy tình cảm với ông chủ của mình Quan điểm cho thân chủ sử dụng những lời lẽkhác và giải quyết tình huống theo những cách khác là nhằm giúp họ hiểu được cảmxúc thật sự của họ và vì thế mở rộng những hiểu biết của họ về thế giới Những lo âutrước đó được kinh qua trong hiện tại và được hướng vào những hành vi có tính xãhội hơn, sáng tạo hơn

Mục đích trị liệu là nhằm giúp người bệnh giải quyết những mâu thuẫn cũ và chophép họ giải quyết được những mâu thuẫn trong tương lai Việc trị liệu không “cốđịnh” con người; hơn nữa, nó còn giúp chính bản thân họ và cho phép họ sống thíchnghi trong tương lai

Liệu pháp hướng dẫn,trong đó nhà phân tâmđóng vai trò chủ động diễngiải các giấc mộng và liêntưởng tự do của ngườibệnh

Liệu pháp không hướngdẫn, trong đó thân chủ tựphân tích hành vi của chínhmình; môi trường trị liệu

Trang 18

tâm mãn những tiềm

năng cá nhân

hoàn toàn có tính chấpnhận với sự quan tâm vôđiều kiện của nhà trị liệu

Liệu

pháp

Gestalt

Mở rộng khả năngnhận biết về tìnhhuống hiện tại vàtái lập các chứcnăng tự nhiên

Liệu pháp tự chọn trong đóthân chủ được yêu cần xemxét thế giới theo một nhãnquan khác và được khuyếnkhích nhắm vào các tìnhhuống hiện tại hơn là quákhứ

Liệu pháp hành vi (Behavior Therapy)

Một số người không muốn bàn về những kinh nghiệm thời thơ ấu, khám phánhững động cơ vô thức, hoặc tìm kiếm giải pháp cho những mâu thuẫn nội tâm.Giống như Tom Gredler, họ chỉ muốn làm sao để hòa hợp với công việc và đời sốnggia đình Đôi khi, các nhà trị liệu đồng ý rằng vấn đề đưa thân chủ vào liệu pháp nộithị không bảo đảm được một sự khám phá như thế; và liệu pháp hành vi thường đượclựa chọn

Nhưng cũng có những lý do khác Nếu Tom tìm đến một nhà trị liệu hành vi vìông bị chứng lo âu, nhà trị liệu có lẽ sẽ chỉ dẫn cho Tom làm thế nào để giải quyết vàlàm giảm bớt lo âu Việc khám phá những mâu thuẫn hoặc động cơ nội tại có lẽ sẽđược giới hạn ở mức tối thiểu hoặc không cần đến Các nhà trị liệu luân phiên chútrọng đến việc hướng dẫn cho Tom những hành vi có tính thích nghi hơn và giúp ôngloại bỏ những hành vi cũ kém thích nghi đã dẫn đến chứng lo âu

Liệu pháp hành vi, hoặc đôi khi gọi là sửa đổi hành vi, liên quan đến việc áp dụng

một cách hệ thống các nguyên lý học tập (learning principles) để giúp con người

Trang 19

thay thế những hành vi kém thích nghi bằng những hành vi mới Nhà trị liệu hành vi không quan tâm nhiều đến những nguồn gốc của một hành vi, mà chỉ quan tâm đến việc thay đổi hành vi Vì thế, mục đích trị liệu cho một người có tình trạng căng

thẳng là làm sao để loại bỏ tình trạng đó Vì trọng tâm trị liệu là hành vi hiện có, nênngay cả khi nhà trị liệu không kết luận được chắc chắn những nguyên nhân của hành

vi có vấn đề ấy, thì sự thiếu những thông tin như thế vẫn không ảnh hưởng nhiều đếnphương pháp trị liệu Các nhà trị liệu hành vi trước tiên sẽ cho đương sự học cáchloại bỏ những hành vi cũ, sai lầm và sau đó sẽ học những hành vi mới Sự nội thị

(insight) không được xem là cần thiết cho sự thay đổi hành vi, và những khái niệm như động cơ vô thức (unconsious motivation) cũng không được sử dụng

Các nhà trị liệu hành vi cho rằng con người biểu hiện những hành vi bất thườngbởi vì họ có vấn đề kém thích nghi với tình huống của họ; nếu như họ được hướngdẫn những cách đối phó mới, tình trạng kém thích nghi sẽ không còn

Các nhà trị liệu hành vi không luôn chú trọng đến những vấn đề về hành vi,nguồn gốc đưa thân chủ đến với trị liệu Đôi khi, trong lúc xem xét các vấn đề củathân chủ, nhà trị liệu có thể nhận thấy rằng vấn đề hiện tại của thân chủ được gây nênbởi một số tình huống khác Trong trường hợp đó, nhà trị liệu có thể quyết định tậptrung vào việc thay đổi tình huống căn nguyên Ví dụ, nhà trị liệu có thể khám phá rarằng việc hôn nhân của thân chủ bị “trục trặc” do có quá nhiều cuộc cãi vã với ngườibạn đời và sự cãi vã thường xảy ra một lúc sau khi uống nhiều rượu Nhà trị liệu cóthể khám phá thêm rằng việc uống rượu lại hay xảy ra sau một ngày làm việc căngthẳng ở cơ quan, mà điều này càng trầm trọng thâm do thân chủ đặt ra những kỳvọng quá cao cho chính năng suất làm việc của mình Trong tình huống đó, nhà trịliệu có lẽ sẽ tập trung vào việc giúp thân chủ phát triển những tiêu chuẩn thực tế từ

đó làm giảm nhẹ căn nguyên nguồn gốc gây ra vấn đề của anh ta tức là sự căng thẳngđược cảm thấy tại cơ quan Nhà trị liệu tập trung giúp thân chủ phát triển những tiêu

Trang 20

chuẩn thực tế phù hợp với những khả năng đã được biết rõ của thân chủ, những nănglực làm việc trong quá khứ, và khả năng thực tế trong tương lai

Những thân chủ trong liệu pháp hành vi không được khuyến khích nhận lấynhững giá trị của nhà trị liệu hoặc diễn giải những sự kiện trong quá khứ để tìm ýnghĩa của chúng Mặc dù một nhà trị liệu hành vi có thể làm bộc lộ một chuỗi sựkiện dẫn đến một hành vi đặc hiệu, nhưng khám phá đó sẽ không gợi ra một sự đisâu khảo sát những kinh nghiệm trước kia của thân chủ Thật vậy, các nhà trị liệuhành vi xem sự thăm dò không cần thiết trước kia của thân chủ là một sự xâm phạmđời tư cá nhân

Mục đích trị liệu

Mục đích của sự thay đổi hành vi là gây ảnh hưởng đối với hành vi hiện có bằng cách sử dụng những nguyên lý học tập cơ bản nhằm tái cấu trúc những đáp ứng của đương sự Sử dụng một mô hình giáo dục hơn là y khoa, một nhà trị liệu hành vi

hướng dẫn cho thân chủ những kỹ năng hơn là chữa trị một căn bệnh Các nhà trịliệu hành vi cho rằng hành vi của con người bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi trong môitrường sống của họ, trong cách thức mà họ đáp ứng với môi trường và trong cách mà

họ quan hệ với người khác Dĩ nhiên, khi đương sự bước vào một quan hệ trị liệu,nhiều hành vi của họ có thể thay đổi, không chỉ riêng hành vi được điều trị đặc hiệu

Vì thế, một người được điều trị vì chứng tic do căng thẳng (nervous tic) có thể thấy

rằng không chỉ tần số của tic giảm đi, mà anh ta còn trở nên tham gia một cách dễdàng hơn vào những cuộc thảo luận về các chủ đề tình cảm và làm việc tốt hơn.Ngoài ra, các nhà trị liệu hành vi cho rằng, một khi hành vi của một người được thayđổi, nhiều thái độ, nỗi lo sợ và những mâu thuẫn cũng có thể trở nên dễ được sửa đổihơn

Trang 21

Hầu hết các nhà trị liệu nội thị cho rằng nếu chỉ có hành vi biểu hiện công khai

được điều trị thì sự thay thế triệu chứng sẽ xảy ra Thay thế triệu chứng (symptom substitution) là sự xuất hiện một hành vi này để thay thế cho một hành vi khác đã bị

loại bỏ do được trị liệu Vì thế, theo các nhà trị liệu nội thị, nếu nhà trị liệu chỉ loại

bỏ tic do căng thẳng mà không xem xét đến các nguyên nhân bên dưới của tình trạngtic đó, thân chủ có thể sẽ biểu lộ rối loạn của mình bằng cách phát sinh một triệuchứng khác như nói lắp chẳng hạn Trái lại, nhà trị liệu hành vi thì cho rằng sẽ khôngxảy ra sự thay thế triệu chứng

Một vài nghiên cứu đã hỗ trợ quan điểm của các nhà hành vi học: Nếu trị liệu baogồm việc sử dụng đúng các nguyên tắc hành vi thì sự thay thế triệu chứng sẽ khôngxảy ra Dữ liệu cũng cho thấy rằng liệu pháp hành vi ít nhất cũng hiệu quả như liệupháp nội thị và trong một số trường hợp còn hiệu quả hơn

Các kỹ thuật cơ bản

Tất cả các thông số quan trọng đối với liệu pháp nội thị cũng quan trọng đối vớiliệu pháp hành vi Bầu không khí trong hai kiểu gặp gỡ làm việc dường như giốngnhau đối với tất cả thân chủ lẫn nhà quan sát Tuy nhiên, những kỹ thuật áp dụng nóichung khác nhau rất nhiều

Liệu pháp hành vi nói chung bao gồm ba thể thức: (1) Nhận diện hành vi có vấn

đề và tần số xuất hiện của nó; (2) Trị liệu chính hành vi đó, có thể gồm giáo dục lại

(reeducation), huấn luyện giao tiếp (communication training) và một số hình thức điều kiện hóa ngược (counter-conditioning); (3) sau đó quan sát để đánh giá xem có

sự thay đổi hành vi lâu dài hay không Nếu thân chủ vẫn thể hiện hành vi theo kiểumới, nhà trị liệu có thể biết rằng việc trị liệu đã có hiệu quả

Trang 22

Liệu pháp hành vi sử dụng bốn kỹ thuật tổng quát để giúp các thân chủ thay đổi

hành vi của họ: điều kiện hóa có tác động (operant conditioning), điều kiện hóa ngược (counter-conditioning), làm mẫu (modeling) và tái cấu trúc nhận thức (cognitive restructuring) Trước khi mô tả các kỹ thuật, chúng tôi xin nhấn mạnh

rằng việc trị liệu thường bao gồm một hoặc nhiều kỹ thuật phối hợp với nhau Mộtrối loạn phức tạp, nhà trị liệu càng cần phải lồng ghép, phối hợp và sử dụng một tậphợp nhiều kỹ thuật trị liệu khác nhau

Một nhà trị liệu cũng có thể sử dụng một vài kỹ thuật trị liệu hành vi khác nhau

hoặc phối hợp các kỹ thuật trị liệu nội thị với trị liệu hành vi Một nhà trị liệu tâm lý giỏi sẽ áp dụng bất kỳ sự phối hợp kỹ thuật nào cần thiết để giúp đỡ thân chủ một cách đầy đủ và hiệu quả Khi nhà trị liệu phối hợp các phương pháp, cách này gọi là phương pháp chiết trung (eclectic approach)

Điều kiện hóa có tác động ( operant conditioning )

Điều kiện hóa có tác động bao gồm việc tạo ra sự củng cố (reinforcer) và khen thưởng (reward) một cách tích cực đối với những đáp ứng đúng Sự củng cố là bất

kỳ điều gì làm gia tăng khả năng tái xuất hiện một đáp ứng đã có trước đó Việc

củng cố có thể được sử dụng để phát triển và duy trì những hành vi có ích Ngoài ra,loại bỏ một sự củng cố tích cực cũng có thể dùng để làm giảm tần số xuất hiện của

những hành vi chống đối xã hội (antisocial behavior) Những kỹ thuật củng cố tích cực (positive reinforcement techniques) đã được áp dụng ở những nơi như lớp học,

bệnh viện tâm thần, nhà tù, nhà hàng… Chúng cũng được dùng để giúp cho những aimuốn làm giảm cân, bỏ thuốc lá hoặc muốn có bạn mới

Các thủ thuật điều kiện hóa có tác động được sử dụng trong nhiều hệ thống để tạo

ra những hành vi mong muốn, bao gồm việc gia tăng tốc độ đọc, cải thiện hành vi

Ngày đăng: 31/05/2021, 09:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w